TRĂM HOA ĐUA NỞ TRÊN ĐẤT BẮC (Hoàng Văn Chí): Hoàng Cầm

Hoàng Văn Chí

TRĂM HOA ĐUA NỞ TRÊN ĐẤT BẮC


Phần II:
TÀI LIỆU (NHÂN VẬT VÀ TÁC PHẨM)

o O o

Chương 3:
Các nhà văn đứng tuổi

HOÀNG CẦM

Hoàng Cầm sinh năm 1921 ở Làng Lạc Thổ, Huyện Thuận Thành, Tỉnh Hải Dương. Xét về tuổi thì ông thuộc về phái thanh niên, nhưng nếu xét về thành tích thì ông đáng được xếp vào hạng những văn sĩ đứng tuổi, đã có địa vị trong làng văn từ trước cuộc Thế Giới Chiến Tranh Thứ Hai.

Hoàng Cầm học Trung Học ở Bắc Ninh, đỗ bằng Cao Đẳng Tiểu Học năm 1937 và đỗ Tú Tài năm 1940. Nhưng ngay từ khi ông mới học Đệ Tứ, ông đã dịch cuốn Graziella của Lamartine sang tiếng Việt, lấy nhan đề là Hận Ngày Xanh. Ông được nhiều người ưa chuộng từ ngày ấy. Tiếp theo ông dịch cuốn Một Nghìn Lẻ Một Đêm, đăng trong Tạp Chí Tân Dân.

Hoàng Cầm cũng có viết một cuốn tiểu thuyết đầu tay nhan đề là Thôi Mộng, nhưng nghệ thuật chính của Hoàng Cầm là viết kịch thơ. Cho đến ngày nay, Hoàng Cầm giữ địa vị cao nhất trong Văn Học Việt Nam về ngành kịch thơ, vì những vở kịch sau đây:

– Viễn Khách, tả một câu chuyện về đời Hồ Quý Ly, đăng trong Tiểu Thuyết Thứ Bẩy, với bút hiệu là Hoa Thu.

– Kiều Loan, tả một câu chuyện đời Tây Sơn.

– Lên Đường, nói về thanh niên thờ Nhật chiếm đóng.

Sau ngày toàn quốc kháng chiến, Hoàng Cầm tham gia bộ đội và trở thành bạn thân của Trần Dần, Lê Đạt. Ông được kết nạp vào đảng cộng sản năm 1951, và chịu ảnh hưởng của tư tưởng Mác Xít về nghệ thuật, ông từ bỏ lối viết kịch thơ. Trong một buổi lễ ở Việt Bắc, trước sự hiện diện của đông đủ anh em Văn Nghệ Sĩ, ông đã lên án những tác phẩm cũ của ông bằng cách ‘’thắt cổ’’ mấy bản kịch thơ do ông viết, buộc thòng lọng vào môt. sợi giây và treo lên cành cây. Lúc bấy giờ ông hoàn toàn tin theo cộng sản và quyết tâm ‘’lột xác’’ để ‘’theo kịp đà tiến của xã hội hiện thực chủ nghĩa’’ trong văn chương.

Nhưng từ năm 1953, sau khi ông được đi ‘’tham quan’’ (đi dự nhưng không được tham gia ý kiến ‘’Cải Cách Ruộng Đất’’, ông nhận thấy ra thực chất của chế độ cộng sản. Từ ngày ấy Hoàng Cầm trở lại con người cũ và viết kịch thơ như ngày xưa.

Năm 1956 Hoàng Cầm hoạt động tích cực trong nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm và được anh em gọi đùa là ‘’con ngựa chiến’’. Ông có viết nhiều bài trong Nhân Văn để bút chiến với phe đảng, nhưng về thơ chỉ có hai bài đặc sắc nhất mà chúng tôi trích sau đây để giới thiệu nghệ thuật làm thơ của ông.

Một bài đăng trong Giai Phẩm Mùa Thu, nhan đề ‘’Em bé lên sáu tuổi’’ tố cáo việc cộng sản bao vây những gia đình địa chủ để bắt con cái phải chết hết và một bài đăng trong báo Văn là một đoạn kịch thơ, nhan đề là ‘’Tiếng hát’’ trong đó ông dùng lời Trương Chi để kêu gọi nhân dân hãy nổi dậy đấu tranh chống đảng.

Trường hợp của Hoàng Cầm chứng tỏ rằng một người có tâm hồn nghệ sĩ và thành thật yêu chuộng tự do không thể nào hòa mình được với chế độ cộng sản.

EM BÉ LÊN SÁU TUỔI

I

Em bé lên sáu tuổi
Lủi thủi tìm miếng ăn
Bố: cường hào nợ máu (1)
Mẹ bỏ con lay lắt
Đi tuột vào trong Nam


Từ khi lọt lòng mẹ
Ăn sữa, ngủ giường êm
Áo hoa lót áo mền
Nào biết mình sung sướng

Ngọn sóng đang trào lên
Ai nghĩ thân bèo bọt
Nhưng người với con người
Vẫn sẵn lòng thương xót

Có cụ già đói khổ
Lập cập đi mò cua
Bố mẹ nó không còn
Đứa trẻ nay gầy còm
Bỗng thương tình côi cút
Cụ nhường cho miếng cơm

Chân tay như cái que
Bụng phình lại ngẳng cổ
Mắt tròn đỏ hoe hoe
Mở nhìn đời bỡ ngỡ :
‘’Lạy bà xin bát cháo
Cháu miếng cơm, thầy ơi!’’

II

Có một chị cán bộ
Đang phát động thôn ngoài
Chợt nhìn ra phía ngõ
Nghe tiếng kêu lạc loài.

Chị rùng mình nhớ lại
Năm đói kém từ lâu
Chị mới năm tuổi đầu
Liếm lá khoai giữa chợ

Chạy vùng ra phía ngõ
Dắt em bé vào nhà
Nắm cơm dành chiều qua
Bẻ cho em một nửa.

Chị bần cố nông cốt cán (2)
Ứa nước mắt quay đi:
‘’Nó là con địa chủ
Bé bỏng đã biết gì
Hôm em cho bát cháo
Chịu ba ngày hỏi truy’’ (3)

Chị đội (4) bỗng lùi lại
Nhìn đứa bé mồ côi
Cố tìm vết thù địch
Chỉ thấy một con người

Em bé đã ăn no
Nằm lăn ra đất ngủ
Chị nghĩ: ‘’sau lấy chồng
Sinh con hồng bụ sữa’’.

III

Chị phải đình công tác
Vì câu chuyện trên kia
Buồng tối lạnh đêm khuya
Thắp đèn lên kiểm thảo

Do cái lưỡi không xương
Nên nhiều đường lắt léo
Do con mắt bé tẻo
Chẳng nhìn xa chân trời
Do bộ óc chây lười
Chỉ một màu sắt rỉ,
Đã lâu năm ngủ kỹ
Trên trang sách im lìm
Do mấy con người máy
Đầy gân thiếu trái tim

IV

Nào ‘’liên quan (5) phản động’’
‘’Mất cảnh giác lập trường’’
Mấy đêm khóc ròng rã
Ngọn đèn soi tù mù
Lòng vặn lòng câu hỏi:
‘’Sao thương con kẻ thù ?
Giá ghét được đứa bé
Lòng thảnh thơi bao nhiêu!’’

HOÀNG CẦM
(Trích Giai Phẩm Mùa Thu )

Chú giải:

1) Trả nợ máu: Bị xử tử

2) Cốt cán: Nông dân được đảng tín nhiệm (chưa phải là đảng viên)

3) Hỏi truy: Tra khảo

4) Chị đội: Cán bộ phụ nữ trong đội Cải cách ruộng đất.

5) Liên quan: Có liên hệ với địa chủ

Trích: 2 đoạn trong hồi thứ nhất vở kịch thơ dài TIẾNG HÁT TRƯƠNG CHI

NHÂN VẬT: (trong 2 đoạn này)

MỴ NƯƠNG

HỒNG HOA, nữ tỳ

TIẾNG HÁT TRƯƠNG CHI

Cảnh: Một gian phòng trong lầu Tây nhìn ra sông.

Mở màn:

Một buổi sớm mùa Xuân. Tiếng nhạc phía trong văng vẳng. Sân khấu vắng một lát rồi Hồng Hoa rón rén bước ra, tay cầm một bông hoa đỏ, ngắm một lát rồi bỏ vào siêu thuốc.

Lớp I

– HỒNG HOA
– TIẾNG HÁT

HỒNG HOA

Tiếc quá! Những bông hoa đẹp nhất
Ngắt cụt đi làm thang thuốc! Lạ đời!
Gạn lọc hết tinh hoa trong trời đất
Đã chắc đâu cứu vãn đưọc lòng người

(nhìn vào trong)

Công nương chừng vẫn ngủ
Ba ngày chẳng nói năng
Tám thày lang chạy chữa
Bệnh mỗi ngày mỗi tăng
Bệnh một đàng, các cụ chữa một nẻo
Khuôn mặt công nương ngày một héo
Thày lang dốt nát chỉ nói mò
Bốc thang thuốc nào cũng thật to
Người bệnh uống vào, mặt nhăn nhó
Thừa tướng lập nghiêm, cấm không nhổ
Nuốt ực đắng cay vào trong người
Nẫu ruột nẫu gan vì lửa bỏng dầu sôi…

(Tiếng hát Trương Chi bên ngoài vẳng lên)

TIẾNG HÁT

Hò khoan, núi thẳm sông sâu
Đi cùng thiên hạ chẳng đâu biết mình…

HỒNG HOA

Ồ! tiếng hát… (Hồng Hoa hé rèm nghe ngóng)

TIẾNG HÁT

Ta khao khát phương trời đỏ rực bình minh
Đến khi trời mọc, ta vẫn lênh đênh giữa dòng
Đến đâu bờ bến không cùng
Thuyền đi vô tận, ai hiểu lòng ta đâu ?

HỒNG HOA

Tiếng hát chín mười đêm im vắng
Nay lại về vỗ mạnh bên lầu
Nhìn xuống sông kia, nào có ai đâu ?
Phẳng lặng trường giang trắng xóa…
Kể từ tiếng hát bốc cao
Đời ở lầu Tây thay đổi cả
Công nương ốm ròng rã
Đêm đêm nghe bão nổi quanh giường
Riêng mình tôi hầu hạ
Cũng thấy như tòa lầu xiêu đổ
Trong đêm dài tăm tối, thê lương
Thừa tướng luôn chau mày giận dữ
Đàn ca tắt rụi bốn chân tường
Vườn Xuân đã tàn hoa nụ
Con chim trong lồng sõa cánh chết đêm qua…
Còn tôi ?…
Ở hầu công nương từ lên mười tuổi
Mắt quen nhìn nhung lụa gấm hoa
Nay bỗng thấy buồn tênh, trơ trọi
Nhớ làng xưa quê cũ mịt mù xa…
Tôi cũng muốn được bay theo tiếng hát
Trở về tìm nghĩa mẹ, tình cha.

(nhìn vào trong)

Kìa nếp chăn sóng sánh
Lá màn lay
Chừng công nương đã tỉnh.
Bát thuốc này cay đắng lắm, đổ đi thôi.
Vì cứ trông người bệnh nuốt từng hơi,
Mặt nhăn nhó, tôi chẳng còn muốn sống!

(Hồng Hoa đổ bát thuốc vào chậu cây)

TIẾNG HÁT

Thuyền trôi, trôi mấy khúc sông,
Ta đi xa bến biết lòng ai theo…

HỒNG HOA (Mỉm cười)

Biết lòng ai theo!

Lớp II

– HỒNG HOA
– MỴ NƯƠNG
– TIẾNG HÁT

MỴ NƯƠNG (Ở phía bên trong rèm lảo đảo bước ra, mặt xanh xao tóc xõa.)

Hồng Hoa ơi!
Em hãy tìm về đây tiếng hát của người…
Lòng chị như lò than cháy đỏ
Em hãy tìm về đây dòng sông đang trôi.

HỒNG HOA

Chị đừng ra đây! Gió sông lồng lộng!
Tiếng hát ngoài kia, đâu phải tiếng người!

MỴ NƯƠNG

Có một người hát vang lừng trên sông…

HỒNG HOA

Đó là lời than cây cỏ bốn phương trời..
Chị đừng nghe…
Càng nghe, càng nặng bệnh!
Mà…lòng chị ra sao ? Thừa tướng biết rồi.

MỴ NƯƠNG

Phụ thân ta ?…

HỒNG HOA

Tướng công vừa truyền lệnh
Khóa kín lấp cửa lầu, lấp cả dòng sông
Để không còn tiếng hát!

MỴ NƯƠNG

(lo sợ) Có thực không?
Chị van em, em đi tìm tiếng hát!
Giấu tướng công, em lót áo đem về

HỒNG HOA

Lót áo đem về! Chị nói dễ nghe!

MỴ NƯƠNG

Còn dòng sông, chị van em! Đừng lấp!
Hãy khơi dòng nước uốn đến chân lầu
Để thuyền của chàng dù xa xa tắp
Cũng biết đường tìm đến buộc lòng nhau

HỒNG HOA (tinh nghịch)

Chàng nào nhỉ ? À, công nương phạm tội!
Dám nói đến chàng! Này, ở bên kia
Thừa tướng vẫn rình nghe sớm tối…

MỴ NƯƠNG

Không em ơi! Chị thức giấc canh khuya
Chỉ thấy mặt phụ thân hiền từ cúi xuống…

HỒNG HOA (nghiêm trang)

Người đã nghe…Người biết chị say mê
Người giận lắm!…Người sẽ xây kín cửa
Thì còn đâu nữa những chiều Xuân
Chị bước ra hiên, đất trời nghiêng ngửa
Sáng bừng lên vì nhan sắc tuyệt trần ?
Còn đâu nữa, những sớm mai nắng mọc
Em đứng nhìn chân mây, tìm bóng khói quê hương ?

MỴ NƯƠNG

Em đừng mách Tướng công, này mớ tóc
Rối như vò, chị gỡ biết bao xong
Nước xanh mát, ngoài kia, em nhẹ bước
Đưa chị ra chải tóc giữa dòng sông
Tiếng hát nằm trên tay như giọt nước
Chị uống hết mùa Xuân, mát rợi trong lòng

HỒNG HOA

Công nương con quan Thừa tướng
Mười chín mùa Xuân khép cánh song
Nữa bây giờ ốm lả trong phòng
Gót chân công nương nhón trên nhung gấm
Nhung gấm còn êm sước ngón son
Thân quấn lụa the lung linh vàng ngọc
Vàng ngọc lụa the còn sợ đau vai tròn.

MỴ NƯƠNG

Không!
Từ khi tiếng hát lọt qua song
Thì chân ngọc đã rơi tàn trên đá lạnh
Thì lụa the nhung gấm
bỗng kho ròn như lá chiều đông…

TIẾNG HÁT (lại văng vẳng)

Nào người quả phụ trắng khăn tang
Nào đứa em mồ côi khát sữa
Nào ai sống nhục thác oan
Nào ai tan lìa đôi lứa
Nghe tiếng hát này nguôi dần nổi khổ
Dòng sông như lụa quấn quanh người.

MỴ NƯƠNG (muốn xô ra ngoài)

Còn tiếng hát! Người sẽ không bỏ bến
Người sẽ đến đây! Em mở cửa, trời ơi!

HỒNG HOA

Chị đi đâu ? Cửa ngoài bằng đá tảng
Tiếng hát đẩy được vào
Vì đó là tiếng gọi của trời cao
Của đất rộng, của quê hương tôi hửng nắng
Nhưng còn chị…
Phận gái mỏng manh, tay mềm dùng dắng
Hé làm sao cánh cửa khóa lâu đời!

MỴ NƯƠNG (gan góc)

Ta mở được, ta vượt qua tường đá
Ta chạy ra sông! Đi bốn phương trời
Tìm tiếng hát…ta đi cùng thiên hạ
Tấm lòng chàng…riêng ta biết mà thôi…

HỒNG HOA

Công nương lại sắp nói mê nói sảng
Thôi, để em dìu bước chị vào phòng

MỴ NƯƠNG (như mê)

Phòng nào đâu! Ta chỉ có con sông
Chàng đến kia rồi! Em hãy trông
Người đi trên mặt nước
Áo đúc màu da trời
Mắt đọng ánh sao rơi
Từng tiếng sóng trầm trầm
Nâng gót chân rồn đến…
Ta gặp người đây! Nghìn năm ước hẹn
Em Hồng Hoa!… Đừng mách Tướng công!

HỒNG HOA

Em ngỡ chị là người sung sướng nhất
Ai ngờ đâu, chị lại khổ hơn em
Thôi, để em buông rèm
Xóa màu xanh nước sông
Chị đừng mơ ước nữa!

MỴ NƯƠNG

Ta nghe rõ tiếng chàng
Lùa tóc này óng ả
Từng sợi còn ngân vang
Chàng ở ngoài sông lạnh lắm
Lầu Tây này cũng giá băng
Tay chàng lửa ấm
Áo xanh bừng nắng điểm trang

HỒNG HOA

Làm gì có áo xanh ?
Người ấy chắc là nón mê áo tải
Tiều tụy thân hình
Cũng như em khi còn mồ côi bố mẹ
Lìa quê, hành khất đến đây…

MỴ NƯƠNG

À, không!
Áo tải nón mê càng đẹp
Lòng chị thương, dệt gấm mặc cho người
Cũng như em ngày nay…
À, không , chàng là hoàng tử
Từ nước non xa lạ ghé qua đây
Ta mời lại. Chàng buộc thuyền, ở lại
Chàng hát, ta so giây cung đàn giăng
Ăn ở với nhau chẳng đếm bao năm
Rồi người đón ta lên thuyền
Trôi đi mãi, bến bờ xanh triền miên

(Mỵ Nương đánh đàn, bỗng giây đứt)

Em van chàng! Em lạnh buốt bàn tay
Sao người nỡ bỏ đi ?
Gió nổi, thuyền nghiêng đắm
Ai làm nên biệt ly ?

(đàn rơi)

Người chết rồi! Tiếng hát cũng tan rồi
Ai cứu được chàng! Ai cứu được tôi ?

(Mỵ Nương ngã xuống)

HỒNG HOA

Em biết ngay mà! Mê mê mộng mộng
Bệnh càng tăng. Rồi Tướng công quở mắng
Tội thân em Ai cứu sống công nương ?

Hồng Hoa đỡ Mỵ Nương vào trong. Sân khấu vắng. Một điệu đàn trầm đục. Ngoài xa…một tiếng sáo tha thiết.

HOÀNG CẦM
(Trích báo Văn số 24 ra ngày 18-10-1957)

—> Phần II: Chương 3- Hữu Loan
<— Trở về Mục Lục

Advertisements
This entry was posted in HOÀNG VĂN CHÍ: Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, Nhân Văn Giai Phẩm, Tài-liệu - Biên-khảo and tagged , , , , , . Bookmark the permalink.