TRĂM HOA ĐUA NỞ TRÊN ĐẤT BẮC (Hoàng Văn Chí): Tố Hữu

Hoàng Văn Chí

TRĂM HOA ĐUA NỞ TRÊN ĐẤT BẮC


Phần II:
TÀI LIỆU (NHÂN VẬT VÀ TÁC PHẨM)

o O o

Chương 3:
Các nhà văn đứng tuổi

Chúng tôi xếp vào hạng đứng tuổi những nhà văn hiện nay từ 40 đến 55 tuổi, đã có địa vị trong làng văn từ trước ngày kháng chiến. Nhưng căn cứ vào tuổi tác và thái độ chính trị của họ, chúng tôi phải chia họ thành hai phái, mới .

Phái mới gồm những nhà văn xuất hiện từ 1940 đến 1945, hấp thụ được nền giáo dục của Pháp nhưng chưa được hưởng thụ dưới chế độ thực dân. Vì ra đời muộn màng, không bị ảnh hưởng sa đoạ của phong trào truỵ lạc từ 1930 đến 1940, nên họ còn giữ được tính nết ngay thẳng, tinh thần đấu tranh không vụ lợi. Tất cả đều tham gia kháng chiến rất tích cực và hầu hết đều là đảng viên cộng sản.

Nhưng ngày nay tất cả đã chống lại Đảng, duy có một mình Tố Hữu vẫn trung thành với Đảng. Nhưng dù theo cộng sản hoặc chống lại cộng sản, họ đều là những người hiện nay có một lập trường dứt khoát, không có thái độ mập mờ thụ động .

Phái cũ gồm những nhà văn đã xuất hiện từ 1930 đến 1940. Phần lớn là công chức dưới thời Pháp thuộc, như Tú Mỡ (công chức Sở Phi năng), hay Xuân Diệu (công chức nhà đoan). Một số là những người đã dùng ngòi bút để ca tụng chế độ cũ, như Vũ Ngọc Phan (viết báo Franco-Annamite) hay Hoài Thanh (viết báo Patrie Annamite). Một số nữa là những người đã sống bằng văn chương lãng mạn dưới chế độ cũ như Thế Lữ và Nguyễn Tuân.

Vì vậy nên tất cả phái này ngày nay khôgn chống cộng, cũng như ngày xưa họ không chống thực dân. Họ là những người đã được hưởng thụ trong thời tiền chiến nên đã mất hết tinh thần đấu tranh. Đa số hiện nay vẫn làm công chức cho Đảng như ngày xưa họ đã làm công chức cho Pháp. Chỉ có một điều khác trước là ngày nay họ không sáng tác nữa. Thế Lữ có thể coi là điển hình cho nhóm này.

Một thiểu số có thái độ xu thời như Hoài Thanh, Xuân Diệu ngày nay chạy xung quanh Tố Hữu, cũng như ngày xưa chạy xung quanh Phạm Quỳnh. Nhóm này ngày nay cũng chỉ làm “công chức văn nghệ”, không sáng tác, hoặc quên mất sáng tác. Họ là những người mà Phùng Cung mệnh danh là “Con ngựa già của Chúa Trịnh”.

Một thiểu số nữa có tâm địa bất trắc. Hễ Đảng chiều thì ca tụng Đảng, hễ Đảng hắt hủi thì quay ra chống lại Đảng. Nguyễn Tuân và Nguyễn Công Hoan thuộc vào hạng này

Vì những nhà văn công chức đã giải nghệ không sáng tác, nên trong phần này chúng tôi chỉ giới thiệu :

• Tố Hữu là nhà văn xưa này vẫn trung thành với cộng sản;

• Nguyễn Tuân tiêu biểu cho một bọn văn nhân xoay xở, lúc nịnh Đảng, lúc chửi lại Đảng;

• Văn Cao, Trần Duy, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Sỹ Ngọc, Chu Ngọc, Như Mai, là những nhà văn hiện nay dứt khoát chống cộng.

Tóm lại về phương diện tư tưởng thì những người trước kia đã chống thực dân, thì nay cũng chống cộng (trừ trường hợp Tố Hữu), còn những nhà văn trước kia chịu đựng hoặc phục vụ thực dân thì ngày nay cũng chịu đựng hoặc phục vụ cộng sản. Một mặt khác, xét về phương diện văn chương thuần tuý, thì về nghệ thuật viết văn, phái cũ đã nhường chỗ cho phái mới. Những bài chúng tôi trích sau đây chứng tỏ điều đó.

TỐ HỮU

Tố Hữu là thần tượng của thi ca cộng sản Việt Nam cũng như Mayakovski ngày xưa là thần tượng của thi ca Liên Xô. Ông là một trong 18 Trung ương Uỷ viên của Đảng Lao động Việt Nam và hiện giữ nhiệm vụ lãnh đạo văn nghệ ở Bắc Việt.

Tố Hữu sinh ở Huế, học ở trường Khải Định và trong khi đương còn là học sinh đã gia nhập Đảng Cộng sản và đã nổi tiếng về văn thơ. Ông bị bắt năm 1939, đầy đi Lao Bảo, cho đến năm 1945, nhân dịp chính phủ Trần Trọng Kim tha các tù chính trị ông mới được thoát khỏi trại giam.

Ra khỏi nhà tù, ông về ngay Thanh Hoá hoạt động Việt Minh. Vì dáng người nhỏ nhắn, nên ông thường cải trang làm con gái, lẩn quất ở vùng Sầm Sơn. Ông điều khiển cuộc khởi nghĩa ở Thanh Hoá, và sau này giữa chứ Bí thư Tỉnh bộ. Năm 1947 ông lên Việt Bắc, được bầu làm Ủy viên Trung ương dự khuyết và đến năm 1954 trở thành Uỷ viên thực thụ. Vì là văn sĩ nên Đảng giao cho ông nhiệm vụ lãnh đạo văn nghệ.

Trong suốt thời gian kháng chiến ông chỉ làm được một số bài thơ ca tụng kháng chiến, ca tụng “Bác Hồ” và “ông Sít-ta-lin”. Trong thời gian Sửa sai, ông lánh mặt sang Tàu, mãi đến gần đây, sau khi đã đàn áp xong phong trào đối lập, ông mới trở về giữ chức vụ cũ.

Để giới thiệu với độc giả lối thơ tán dương lãnh tụ rất phồn thịnh trong nền thi ca cộng sản, chúng tôi trích sau đây hai bài thơ đặc biệt nhất của Tố Hữu.

Lời thơ của ông rất hay, nhưng vì ông chuyên dùng ý thơ để ca tụng lãnh đạo nên cũng như những loại thơ ca tụng khác, đọc giả cảm thấy tinh thần thấp hèn của người viết.

Hiện nay ông có một địa vị tương đương với địa vị của Myakovski năm 1930, nhưng có người tiên đoán rằng, cũng như Mayakovski, ông sẽ tự tử ngày nào không biết. Điều đó có lẽ không đúng vì con người Mayakovski khác mà con người Tố Hữu khác.

Bài ca tháng Mười Thuở Anh chưa ra đời

Trái đất còn nức nở
Nhân loại chửa thành người
Đêm ngàn năm man rợ
Nước mắt, máu, mồ hôi
Đong hàng bát, hàng bát
Bán đổi lấy cơm ôi
Nhặt từng hạt, từng hạt
Từ khi Anh đứng dậy
Trái đất bắt đầu cười
Và loài người, từ đấy
Ca Bài ca tháng Mười
Những mắt buồn sắp nhắm
Bừng dậy, thấy tương lai
Những bàn tay lại nắm
Cờ đỏ qua đêm dài
Những đầu lên máy chém
Nhìn đao phủ, hiên ngang:
“Muôn năm, Đảng Cộng sản!
“Chào Xô Viết Liên bang!”
Ơi người Anh dũng cảm
Luỹ thép sáng ngời ngời
Đây Việt Nam tháng Tám
Em Liên Xô tháng Mười!
Hoan hô Xta-lin
Đời đời cây đại thọ
Rợp bóng mát hoà bình
Đứng đầu ngọn sóng gió
Hoan hô Hồ Chí Minh
Cây hải đăng mặt biển
Bão táp chẳng rung rinh
Lửa trường kỳ kháng chiến! (1950)

Đời đời nhớ Ông

Bữa trước mẹ cho con xem ảnh
Ông Sta-lin bên cạnh nhi đồng
Áo Ông trắng giữa mây hồng
Mắt Ông hiền hậu, miệng
Ông mỉm cười

Trên đồng xanh mênh mông
Ông đứng với em nhỏ
Cổ em quàng khăn đỏ
Hướng tương lai
Hai ông cháu cùng nhìn

Sta-lin! Sta-lin!

Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Sta-lin!
Mồm con thơm sữa xinh xinh
Như con chim của hoà bình trắng trong

Hôm qua loa gọi ngoài đồng
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao
Làng trên xóm dưới xôn xao
Làm sao, Ông đã… làm sao, mất rồi!

Ông Stalin ơi, Ông Stalin ơi!
Hỡi ơi, Ông mất! Đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương Ông thương mười

Yêu con yêu nước yêu nòi
Yêu bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu!
Ngày xưa khô héo quạnh hiu
Có người mới có ít nhiều vui tươi

Ngày xưa đói rách tơi bời
Có người mới có được nồi cơm no
Ngày xưa cùm kẹp giày vò
Có người mới có tự do tháng ngày

Ngày mai dân có ruộng cày
Ngày mai độc lập ơn này nhớ ai
Ơn này nhớ để hai vai
Một vai ơn Bác một vai ơn Người

Con còn bé dại con ơi
Mai sau con nhé trọn đời nhớ Ông!
Thương Ông mẹ nguyện trong lòng
Yêu làng, yêu nước, yêu chồng, yêu con

Ông dù đã khuất không còn
Chân Ông còn mãi dấu son trên đường
Trên đường quê sáng tinh sương
Hôm nay nghi ngút khói hương xóm làng

Ngàn tay trắng những băng tang
Nối liền khúc ruột nhớ thương đời đời.

(5-1953) (Trích tập thơ Việt Bắc) *

—> Phần II: Chương 3- Nguyễn Tuân
<— Trở về Mục Lục

Advertisements
This entry was posted in HOÀNG VĂN CHÍ: Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, Nhân Văn Giai Phẩm, Tài-liệu - Biên-khảo and tagged , , , , , . Bookmark the permalink.