TÂM SỰ NƯỚC NON 2 (Minh Võ): Khủng bố 911 và viễn ảnh thế chiến IV

frontcover_tamsunuocnon210. Khủng bố 911 và viễn ảnh thế chiến IV

Chuyện tầy trời xảy ra ngày 11 tháng 9 vừa qua (người Mỹ thường viết ngược: tháng 9 ngày 11 = 9.11; xin phép gọi tắt là 911, và 911 là con số điện thoại cấp cứu) giống như chuyện phong thần kiếm hiệp hay khoa học giả tưởng. Cứ như là ảo thuật. Nhà ảo thuât trứ danh Mỹ David Copperfield với tài xuất quỷ nhập thần có thể làm cho tượng nữ thần Tự Do của Mỹ biến mất trước con mắt khán giả. Hai nhà chọc trời cao nhất Nữu Ước cũng bị nhà ảo thuật này làm cho bỗng dưng biến mất. Có điều cần lưu ý là sau đó, đâu lại hoàn đó. Nghĩa là rồi hai tòa nhà đó lại trở về nguyên vị trí cũ.

Còn chuyện khủng bố xảy ra ngày”911″, thì lại khác. Nghĩa là chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ, hai tòa nhà Trung Tâm Mậu Dịch Thế Giới đã bị phá hủy hoàn toàn bình địa, mà nguyên việc thu dọn sắt thép và bê-tông, gạch vụn cũng đòi phải cả năm mới hy vọng hoàn tất. Và không ai dám nghĩ là sẽ có thể xây lại được hai tòa nhà khác giống như thế ngay tại chỗ cũ.

Câu chuyện khủng bố kinh khủng cứ như ảo thuật này sẽ đưa nước Mỹ tới đâu? Diệt khủng bố để đem lại an bình, hay sa lầy vào một cuộc chiến rộng lớn ảnh hưởng tới cả thế giới?

Lược thuật diễn tiến sự việc.

(1) Đúng 8 giờ 45 phút sáng ngày 911 (xin cho phép gọi thế), chiếc máy bay Boeing 767 của hãng hàng không American Airlines, chuyến bay mang số 11, khởi hành từ phi trường quốc tế Logan ở Boston, MA, cất cánh lúc 7 giờ 59 phút, để đi Los Angeles, chở 81 hành khách, 2 phi công và 9 tiếp viên, đã bị tên Atta và 4 đồng phạm cướp lái đâm vào tầng thứ 79 của tòa nhà chọc trời phía Bắc. Tiếng nổ kinh hoàng do khoảng 90,000 lít xăng trong bụng phi cơ bốc cháy đã khiến hơn 600 nhân viên của một công ty thương mại lớn ở Nữu Ước (phải chăng là công ty Cantor Fitzgerald?) đang làm việc ở tầng lầu này hóa thành than chết liền tại chỗ (chỉ có ông giám đốc vì có chuyện phải ra ngoài nên thoát chết). Nổ, cháy và đổ vỡ đã gây thiệt mạng cho hàng ngàn người nữa tại 109 tầng khác. Cho đến 9 giờ 50 thì tòa nhà sụp đổ vì cốt thép không chịu nổi sức nóng do hỏa hoạn của 90,000 lít nhiên liệu phát nổ gây nên.

Cái khối khổng lồ hàng vạn tấn thép và bê-tông ấy đè nặng trên một cái nền mấy chục ngàn thước vuông làm cho đất lún sâu xuống trên hai chục mét khiến những toa xe điện ngầm khởi hành từ một thành phố nào đó ở New Jersey vừa tới đúng đó bị nghiền nát, tất cả hành khách trên chuyến xe lửa chết tức khắc không toàn thây. Tôi có một người cháu có anh con trai ngoài đôi mươi (một trong số khoảng 50,000 nhân viên làm việc trong hai tòa nhà chọc trời) đáng lẽ cũng bị nạn trên chuyến xe điện ngầm đó. Nhưng nhờ trời khiến ngủ quên dậy trễ, không bắt kịp chuyến xe lửa nên đã thoát chết như một phép lạ!

(2) Mười tám phút sau khi chiếc máy bay số bay 11 nói trên đâm vào tòa nhà 110 tầng phía Bắc, nghĩa là vào đúng 9 giờ 03, một chiếc Boeing 767 khác của hãng hàng không United Airlines, số chuyến bay 175, khởi hành lúc 8:14 từ phi trường Logan để đi L.A. chở 56 hành khách và 9 nhân viên phi hành đoàn đã bị tên Marwan al-Sshehhi và 4 đồng đảng cướp lái đâm vào tòa nhà chọc trời thứ hai (phía Nam) với tốc độ 414 dặm/giờ. Tòa nhà bốc cháy và sụp đổ bình địa vào lúc 10:29.

Đến 5:25 chiều cùng ngày thì tòa nhà 47 tầng, cao thứ 3, gần đấy cũng sụp đổ vì hỏa hoạn mặc dù không bị phi cơ tấn công. Tưởng cũng nên nhớ là Trung Tâm Mậu Dịch Thế Giới (World Trade Center), ngoài hai tòa nhà chọc trời”sinh đôi” nói trên còn có 5 tòa nhà khác thấp hơn ở kề cận đó, và tòa nhà cao thứ ba đã sụp đổ theo.

(3) 9 giờ 43, không đầy một giờ sau khi tòa nhà chọc trời phía Bắc ở New York bị tấn công, thì một chiếc phi cơ Boeing 757 của American Airlines số bay 77, cất cánh từ phi trường Dulles gần thủ đô mang theo 58 hành khách và 11 nhân viên phi hành đoàn, đi L.A., bị tên Nawaff Alhazmi và 4 đồng đảng khác (trong số này có 2 tên đã từng sống ở San Diego như Alhazmi là Khalid al-Midhar, và Hani Hanjoor) chiếm, lao vào trụ sở bộ Quốc Phòng, phá hủy một trong năm cánh của tòa nhà Ngũ Giác Đài này (hay”Lầu Năm Góc” như Việt Cộng thường gọi). Trong số 20,000 quân nhân và nhân viên dân sự làm việc tại đây có ít nhất trên 100 người thiệt mạng, trong đó có cả một trung tướng. Nhưng ngay chiều hôm đó bộ trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld đã triệu tập phiên họp tại đây để tìm cách đối phó với mọi bất trắc trong tương lai.

(4) 10:37 một chiếc máy bay Boeing 757 khác của hãng United Airlines, chuyến bay số 93, cất cánh từ Newark, N.J., để đi San Francisco bị rớt cách Pittsburgh, PA, khoảng 80 dặm về phía đông nam. Được biết 4 tên khủng bô trên chiêc máy bay này đã không đâm được vào mục tiêu (có lẽ là tòa Bạch Ốc) là nhờ có sự chống cự mãnh liệt của những hành khách cam đảm. Nhưng dù sao thì những vị anh hùng đó đã đều tử nạn với toàn thể mọi ngựời trên máy bay. Được biết tên đầu sỏ trong số 4 tên cướp máỵ bay này là Ziad Jarrahi.

Có tất cả 19 tên khủng bố quyết tử trong 4 vụ cướp máy bay và phá hoại quan trọng này: 5 tên cho mỗi phi cơ, trừ chiếc cuối cùng chỉ có 4 tên. Ít tuần sau CIA phối hợp các cơ quan an ninh và tình báo Âu Châu (đặc biệt là của Đức, Anh và Bỉ) đã biết thêm là có tất cả 30 tên đã được điều động vào vụ khủng bố quỷ khốc thần sầu này. Công cuộc truy lùng 11 tên còn sống đang tiếp diễn.

Các giới chức trong tổ chức hàng không toàn quốc cho biết vào lúc xảy ra vụ khủng bố nói trên, có khoảng từ 4,000 đến 4,500 chiếc máy bay đang bay trên không phận Hoa Kỳ và hàng trăm chiếc khác đang chờ lệnh cất cánh.

Thiệt hại sơ khởi:

Về vật chất, 4 chiếc máy bay Boeing với 266 người chết tất cả trên đó. Ba tòa nhà cao tổng cộng 267 tầng bị phá hủy hoàn toàn. Một đoàn xe điện ngầm tan nát dưới móng hai tòa nhà nói trên. Một phần của Ngũ Giác Đài trong cảnh đổ nát.

Về nhân mạng, ngoài 266 người trên máy bay, tổng số người chết và mất tích tại New York và Wa D.C. được ước tính lên tới 7,000 (sau này được xác định lại là 2,977), không kể khoảng 3,000 người bị thương nặng đã được đưa đi điều trị tại các bệnh viện lân cận. Trong số nạn nhân phải kể đến khoảng hơn 300 lính cứu hỏa và cảnh sát đã hy sinh tính mạng để làm nhiệm vụ ở New York cũng như Wa D.C..

Về kinh tế, ngành hàng không bị nặng nhất. Nhiều chuyến bay quốc nội và quốc tế bị hủy bỏ trong nhiều ngày. Riêng phi trường Reagan sát thủ đô thì mãi tới đầu tháng 10 mới mở cửa lại. Số hành khách tự hủy bỏ chuyến bay đã mua vé, hay bỏ quyết định du lịch bằng đường hàng không làm cho số thu hoạch của ngành hàng không bị giảm đi từ 25 đến 30 phần trăm. Nhân viên hàng không, nhất là ngành an ninh phải làm việc thêm giờ, hành khách bị chờ đợi để kiểm soát an ninh cũng khiến số chuyến bay bị giảm sút. Đến cuối tháng 9 nhà chức trách FAA cho biết số hành khách mỗi ngày chỉ còn trên 600 ngàn so với một triệu vào năm ngoái. Tuy chính phủ đã trợ cấp 15 tỉ MK nhưng sợ rằng nhiều hãng có thể phải khai phá sản.

Từ ngành hàng không sự thiệt hại lây lan sang các ngành du lịch và giải trí… Những khách sạn nổi tiếng như Hotel Del Coronado ở San Diego, nơi cựu Tổng Thống Clinton thường lưu lại khi tới thành phố này đã phải giảm giá tới 50% (từ 500 MK còn 250 MK). Mà vẫn vắng khách. Mấy ngày sau vụ khủng bố, khách vào xem Sở Thú nổi tiếng nhất thế giới có lúc bỏ chạy tán loạn vì có tin kẻ khủng bố sắp tấn công. Sea World ở đây cũng bị nạn tương tự. Đó là chỉ nêu một vài nơi làm ví dụ.

Vì giá xăng tăng vọt, và vì tình hình an ninh bất ổn, người dân giảm bớt sự di chuyển và mua sắm khiến cho mọi ngành sản xuất cũng bị ảnh hưởng lây.

Đặc biệt là thị trường chứng khoán đã bị đóng cửa bốn ngày (lâu chưa từng thấy kể từ thế chiến II), và khi mở cửa lại, sau khi đồng ca bản”God Bless America”, thì thấy chỉ số giảm tới 500 điểm. Thị trường New York dĩ nhiên ảnh hưởng đến thị trường London và Tokyo và lan ra khăp thế giới. Nhưng giới tài phiệt Mỹ sẽ có cách chứng tỏ nền kinh tế Hoa Kỳ vẫn vững và Hoa Kỳ vẫn xứng đáng là nước phồn thịnh nhất thế giới.

Về tâm lý, từ nay dân Mỹ cảm thấy vô cùng bất an. Không biết bọn khủng bố sẽ xuất hiện ở đâu, ra tay lúc nào đây? Liệu các cơ quan an ninh đã không biết gì về một vụ tầy trời hôm 911, có sẽ tinh ý hơn, cẩn trọng hơn để khám phá kịp thời hầu ngăn chặn các cuộc khủng bố tiếp theo không.

Họ nhớ lại cách đây 8 năm hai tòa nhà chọc trời này cũng đã từng bị đặt bom gây cho 6 người chết và một ngàn người bị thương (1993). Và rồi sau đó 2 năm, đến lượt cao ốc số một ở Oklahoma cũng bị đặt bom làm thiệt mạng 168 thường dân vô tội (1995). Nhìn lại, người dân thấy càng ngày bọn khủng bố càng tiến xa hơn và dùng tới những kỹ thuật tinh vi hơn. Như vậy tương lai sẽ ra sao? Liệu rồi chúng có dùng tới bom hạt nhân, hơi ngạt, vũ khí vi trùng không. Những hãng sản xuất mặt nạ chống hơi ngạt cho biết mấy ngày qua khách hàng đã ùn ùn đến mua mặt nạ đông gấp bội ngày thường.

Nghị sĩ Richard Shelby (Cộng Hòa, tiểu bang Ala- bama) đã đề nghị cách chức giám đốc CIA Tenet. Nhưng ngày 27, Tổng Thống Bush đã đến trụ sở CIA để cám ơn và khen ngợi nhân viên sở này đã không quản ngại khó nhọc, làm việc suốt ngày đêm, đêm ngủ lại tại sở, không về nhà với con cái… Đồng thời ông cũng xác nhận sự tín nhiệm của riêng ông đối với vị giám đốc gặp chuyện xui xẻo này. Đó là sự khôn ngoan tế nhị của vị lãnh đạo không muốn làm giao động tâm lý các nhân viên ngành an ninh trong lúc an ninh quốc gia đang cần họ hơn bao giờ hết.

Phản ứng của chính quyền và nhân dân Hoa Kỳ

Khi biến cố xảy ra thì Tổng Thống Busht đang ở Florida. Ồng đã không về thẳng ngay thủ đô để quyết định các biện pháp đối phó, mà lại đi vòng sang Louisiana và Nebraska, để đánh lạc hướng quân khủng bố, vì sợ chiếc máy bay của ông cũng có thể là mục tiêu chăng. Điều đó khiến một số người phê bình ông. Nhưng dù sao những lời tuyên bố và hành động của ông sau khi đã về tòa Bạch Ốc cũng đã khiến mọi người hài lòng và ca ngợi ông là vị lãnh tụ xứng đáng.

Sau một ngày bay mệt nhọc, ngay tối hôm đó ngồi tại phòng bầu dục ông đã tuyên bố sẽ”trừng trị những kẻ đứng đàng sau nhĩmg hành động tàn ác đó”. Ông nói:“Chúng ta sẽ không phân biệt giữa những tên khủng bố đó với những kẻ chứa chấp dung túng chúng.” Và:

“Những vụ tấn công khủng bố có thể làm lay đổ nền móng của những tòa nhà lớn nhất của chúng ta, nhưng không thể đụng tới được nền tảng của Nước Mỹ.”

Mấy hôm sau tổng thống đã đề nghị quốc hội chấp thuận một ngân khoản 43 tỉ Mỹ kim để giải quyết những khó khăn tài chính của những công ty lớn, và tăng cường an ninh chung, đồng thời ban hành lệnh gọi nhập ngũ 35 000 quân trừ bị.

Chẳng những chính phủ mà cả quốc hội lưỡng viện của lưỡng đảng đều tán thành và ủng hộ tổng thống trong quyết tâm tìm ra thủ phạm đê trừng trị. Ít khi dân Mỹ thấy các nghị sĩ và dân biêu của cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ nắm tay nhau đồng ca bài”God Bless America”. Một biểu hiện của lòng tin của dân Mỹ nơi Thượng Đế, như đồng Mỹ Kim minh thị tuyên xưng, hàng giờ hàng phút vẫn đập vào mắt người tiêu tiền.

Ít ngày sau đó cựu Phó Tổng Thống Gore đã tuyên bố tại một đại hội đảng Dân Chủ ở Iowa:

“George W. Bush là vị tổng tư lệnh của tôi. Tổ quốc lúc này đây đoàn kết hơn bất cứ lúc nào trong đời tôi, như tôi nhớ được.” Và:“Là công dân Mỹ, tất cả chúng ta đứng sau lưng tổng thống và nhắn với thế giới rằng chúng ta sẽ thắng cuộc chiến tranh chống khủng bố này.”

Có nhớ lại những ngày tranh cử gay go và số phiếu sít sao giữa AI Gore và George W. Bush, khiến phải đếm đi đếm lại nhiều lần, mới hiểu hết tầm quan trọng của lời nói và thái độ của ông Gore trong dịp này.

Ngay ngày hôm sau tổng thống đã cùng với Ngoại Trưởng Powell thay phiên nhau tiếp xúc với các nhà lãnh đạo trên khắp thế giới để vận động cho một liên minh toàn cầu chống khủng bố.

Và ngày thứ năm 27 tháng 9 tổng thống đã đọc một bài diễn văn quan trọng khiến uy tín ông tăng vọt chưa hề thấy đối với một tổng thống Mỹ từ trước tới nay (những cuộc thăm dò dư luận cho biết hiện 90% dân Mỹ ủng hộ ông.) Trong bài diễn văn này ông phân biệt rõ bọn khủng bố với nhân dân Ả Rập và tín đồ Hồi Giáo, ông”chính thức yêu cầu chính quyền Taliban, từng chứa chấp dung túng bọn khủng bố mà đứmg đầu là Osama Bin Laden và tổ chức al-Qaeda của y, 4 điều sau đây:

1. Hãy giao nạp ngay những kẻ cầm đầu tổ chức al- Qaeda hiện đang lẩn trốn tại quốc gia này.

2. Hãy trả tự do cho tất cả những nggười ngoại quốc kể cả những người quốc tịch Mỹ mà họ đang giam giữ một cách bất hợp pháp….

3. Hãy đóng cửa ngay lập tức các trại huấn luyện khủng bố tại A Phú Hãn (Afghanistan) và giao ngay những tên khủng bố, từng tên một, và hệ thống yểm trợ của bọn chúng cho các giới chức hữu trách.

4. Hãy để Hoa Kỳ toàn quyền ra vào những khu trại huấn luyện khủng bố để chúng ta có thể bảo đảm là những trại này không còn hoạt động nữa.”

Các nhà lãnh đạo tinh thần trong nước thì tổ chức cầu nguyện, trước hết là cầu siêu cho linh hồn các nạn nhân, sau là cầu xin bình an cho xã hội và tổ quốc. Phần nhiều các bài giảng thuyết của giáo sĩ trong ngày chủ nhật sau đó đều nhắc đến sự nhân từ của Thượng Đế đã khẽ cảnh cáo con cái Người hãy bớt kiêu ngạo, bớt tự phụ là giầu mạnh nhất thế giới, cái gì cũng biết, cái gì cũng có thê làm. Và nhât là hãy bớt xa xỉ, phung phí, để chia sẻ những cái dư thừa, thậm chí cả những điều mình đang có một cách tạm đủ, cho những dân tộc khó nghèo, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm. Có vị không ngần ngại nói thẳng ra rằng sự giầu mạnh vô song của Hoa Kỳ và sự thờ ơ của đa số dân Mỹ trước cảnh đói khổ của nhiều dân tộc trên thế giới đã khơi dậy lòng đố kỵ ghen ghét, là mầm mống của những hành động khủng bố dã man, liều chết và không đếm xỉa gì đến những nạn nhân vô tội. Nhìn xem những bộ mặt sầu não của tín hữu đủ các tôn giáo tại giáo đường, thánh thất trong những ngày đó, người ta đã cảm nhận được ơn thiêng còn giành cho dân tộc có truyền thống tự do dân chủ này.

Cũng từ hôm ấy, cái ngày 911, khắp nơi người ta thấy mọc lên những bảng hiệu với những hàng chữ lớn:”God Bless America” và”United We Stand”. Trên nhiều đài truyền hình truyền thanh cũng thường nghe những câu đó.

Tại nhiều ngả đường những toán người tình nguyện đi quyên tiền cứu trợ nạn nhân. Họ cầm một chiếc giầy ống chìa cho khách bộ hành, leo lên các loại xe chuyên chở công cộng giơ ra cho hành khách quyên góp. Có nhiều người khi cầm tiền bỏ vào chiếc ủng đã khóc sướt mướt vì cảm thương những nạn nhân và thân nhân của họ.

Có một trường hợp được báo chí địa phương đưa lên trang nhất là hình ảnh hai chị em Leilani 11 tuôi và Lydia10 tuổi đã vào vườn tình nguyện hái trái cây cho chủ vườn để lấy tiền công mua trái cây đem bán lại lấy thêm tiền lời quyên giúp các nạn nhân.

Điều khiến người Việt chúng ta phải suy nghĩ là những biện pháp an ninh mà chính phủ cho áp dụng đã khiến người dân phải chọn lựa giữa tự do và an ninh, giữa quyền sống riêng tư và sự an toàn của xã hội. Hầu hết đã sẵn sàng chấp nhận hy sinh một chút tự do cá nhân vì sự an toàn, ngăn ngừa khủng bố. Tuy nhiên, lác đác trên mặt báo người ta cũng thấy có những ý kiến dè dặt đối với việc thay đổi một số luật lệ về an ninh và giới hạn quyền tự do cá nhân.

Một điều nữa còn đáng quan ngại hơn: Trong vài ngày đầu, phản ứng của một số cá nhân trong quần chúng và cả một vài giới chức trong ngành an ninh đã quá nóng giận gây nên những vụ tấn công vào những sắc dân Ả Rập và Hồi Giáo ngay tại Hoa Kỳ. Đã có tới 500 vụ như vậy, trong số đó một vài người bị tử vong! Cũng may là nhờ tổng thống sớm lên tiếng trấn an nên những vụ như vậy không còn tiếp diễn nữa.

Để tiến hành chiến tranh chống khủng bố, mà Tổng Thống Bush đã nói trước là sẽ lâu dài và đòi nhiều hy sinh của nhân dân Mỹ, quốc hội trong một ngày gần đây sẽ phải thông qua một số đạo luật nhằm tăng thêm quyền hành cho Hành Pháp và hạn chế một số tự do tối thiểu của người dân. Không phải như vậy có nghĩa là người dân sẽ phải chọn giữa tự do và an ninh. Nhưng muốn bảo đảm an ninh chung, mỗi người dân sẽ phải hy sinh môt phần nào về tự do cá nhân và sự riêng tư của đời sống. Điều này chắc chắn sẽ có nhiều ý kiến khác nhau, và sẽ cho thấy quyết tâm diệt khủng bố của chính phủ, quốc hội, và nhân dân Mỹ đạt đến mức độ nào. Nhưng dầu sao thì trong thực tế tự do bao giờ cũng phải trả một cái giá nào đó chứ không phải là sản phẩm biếu không, tặng miễn phí, như thành ngữ Mỹ vẫn nói: ‘Treedom is not free”. Mặc dầu ai cũng biết là Thượng Đế khi dựng nên con người đã tặng con người món quà miễn phí Tự Do.

Phản ứng của thế giới:

Ngay sau khi được tin dữ, các vị quốc trưởng trên hầu khắp thế giới kể cả một số nước theo Hồi Giáo và những nước cộng sản như Trung Quốc và Việt Nam, đã gửi lời phân ưu với nhân dân và chính phủ Hoa Kỳ, lên án bọn khủng bố. Khỏi nói những nước đồng minh thân hữu lâu đời như Anh, Pháp, Ý, Bỉ, Canada v.v… đã tuyên bố sẵn sàng cùng với Hoa Kỳ quyết tâm tiêu diệt bọn khủng bố. Để khỏi phải nhắc lại quá nhiều lời tuyên bố của các vị đó, chúng tôi xin trích một đoạn vắn trong lời tuyên bố tiêu biểu của ông Kofi A. Annan, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc là tổ chức bao gồm hầu hết các quốc gia trên thế giới:

“Bọn khủng bố khi tấn công Hoa Kỳ ngày 911 đã chi nhắm vào một nước, nhưng chúng đã làm tổn thương toàn thể thế giới. Rất hiếm khi, nếu không nói là chưa từng bao giờ, thế giới lại đoàn kết như vào cái ngày khủng khiếp ấy. Đây chính là một sự đoàn kết phát sinh từ kinh tởm, sợ hãi, xúc phạm, lăng nhục và thương cảm sâu xa với nhân dân Mỹ

“Tôi đã bày tỏ với Tổng Thống Bush và các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ sự liên đới chặt chẽ hoàn toàn của Liên Hiệp Quốc với nhân dân Hoa Kỳ trong cơn đau buồn của họ. Chưa đầy 48 tiếng đồng hồ sau vụ khủng bố, hội đồng Bảo An LHQ và Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã cùng tôi lên án các cuộc tấn công đó và đã biểu quyết ủng hộ những hành động chống lại những kẻ chủ mưu và các quốc gia trợ giúp chúng, về sự đoàn kết nhất trí này, xin đừng có ai nghi ngờ.

“Và cũng đừng có ai đặt dấu hòi về sự quyết tâm đấu tranh chống khủng bố khi còn cần phải chống. Câu trả lời toàn cầu hùng hồn nhất cho đến nay đối với những cuộc tấn công ở Nữu Ước và Hoa Thịnh Đốn chính là sự dấn thân, cam kết của các quốc gia thuộc mọi tín ngưỡng và trên mọi vùng đất để cương quyết hành động chống khủng bố.”

Có nhìn thấy những hình ảnh sống động và rất cảm động trên màn ảnh nhỏ trong mấy ngày liền sau vụ khủng bố 911, người ta mới hiểu được đầy đủ ý nghĩa của những lời sau cùng vừa nêu của tổng thư ký LHQ. Khán thính giả đài ABC hẳn còn nhớ những cảnh hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn người (riêng ở Canada con số ghi được là 60,000) đã tụ tập nhau, thắp nến cầu nguyện, trong các giáo đường, thánh thất, đền thờ, những syna-gogues, những mosques… và ở công viên, trên đường phố… Đây là lúc nhân loại thấy cần đến bàn tay che chở của Trời Cao! Người ta cầu nguyện, không chỉ vì con số người chết nhiều quá, không phải chỉ vì cảm tình với nhân dân Hoa Kỳ. Người ta cầu nguyện vì thấy Ác Thần quá nguy hiểm, mạng sống của mình quá mong manh và tự hỏi”Thượng Đế đi vắng tự bao giờ?”

Sau thái độ của Liên Hiệp Quốc là thái độ còn manh mẽ dứt khoát hơn nữa của tổ chức Bắc Đại Tây Dương (gọi tắt là NATO), mới tăng cường thêm các nước Đông Âu, sau khi khối Vác-xô-vi khai tử, nay đã lên tới con số 18 thành viên. Chẳng những các không phận, phi trường hải cảng của các nước này sẽ dành cho Hoa Kỳ sử dụng trong cuộc chiến, mà Tổng Thư Ký George Robertson còn nói sẽ có các chiến hạm của tổ chức được phái tới vùng Đông Địa Trung Hải để sẵn sàng tiếp ứng. Theo cam kết của Hiệp Ước thì khi một nước bị tấn công coi như tất cả bị tấn công.

Nói chung, như vậy là đã rõ mọi người đều nhất trí phải chống khủng bố. Nhưng về cách thức chống khủng bố thì có nhiều khác biệt và dè dặt.

Không phải chỉ có Trung Cộng và Việt Nam Cộng Sản đòi phải trưng bằng chứng trước khi hành động, và không đồng ý phải làm chiến tranh toàn diện. Mà ngay Tổng Thống Putin của Nga, Tổng Thống Jacques Chirac của Pháp cũng không thấy cần dùng tới hai chữ chiến tranh. Nhiều nước trong khối Ả Rập, kể cả Ai Cập, cũng yêu cầu chỉ ra tay khi có bằng chứng.

Hơn nữa, cần ghi nhận rằng tuy nhà cầm quyền các quốc gia tuyên bố như thế, nhưng trong nội bộ mỗi quốc gia phản ứng cũng rất phức tạp. Hãy chỉ nêu vài ví dụ:

Ngay tại nước láng giềng phía nam Hoa Kỳ là Mễ Tây Cơ, khi bộ trưởng Ngoại Giao George Castaneda nhìn nhận là Hoa Kỳ có quyền đánh trả bọn khủng bô, thì một số nghị sĩ thiên tả đã lên án ông là cổ võ cho sự can thiệp vào nội bộ các nước và đòi cách chức ông. Không rõ những chính khách thiên tả này có chút lòng thương xót khoảng 500 người Mễ vô tội đồng bào của họ đã hy sinh oan uổng trong vụ khủng bố 911 hay không.

Tại các nước Ả Rập và Hồi Giáo thì phản ứng càng phức tạp hơn. Tỷ dụ Pakistan là nước đã giữ liên lạc ngoại giao với chính quyên Taliban của A Phú Hãn cho đến mấy ngày gần đây. Chính quyền của Tổng Thống (tướng) Pervez Musharaff thì ủng hộ lập trường của Hoa Kỳ nhưng dân Hồi Giáo ở xứ này thì chia rẽ. Giáo sĩ Mưfti Nizamuddin Shamzai, lãnh tụ một giáo phái rất có thế lực ở Karachi, là người trong ngày đầu đã lên án vụ khủng bố nhưng gần đây lại lên tiếng cực lực chống đối việc Mỹ có thể sẽ tấn công A Phú Hãn để tìm bắt Osama bin Laden. Tại đây hàng ngàn dân Hồi Giáo đã biểu tình chống Mỹ và chống chính phủ”thân Mỹ” Musharaff. Được sự ủng hộ của những nhóm cực đoan này, nhà cầm quyền Taliban ở A Phú Hãn càng thêm mạnh miệng.

Thái độ của dân Pakistan càng phức tạp hơn nữa. Tờ San Diego Union Tribune số ra ngày 24-9-01 có đăng hình một thanh niên Pakistan tên Muhammad, anh này nói anh ta yêu và coi Osama bin Laden như một anh hùng, dù rằng anh ta cũng yêu nước Mỹ nữa. Một thanh niên khác, con dòng họ Afridi tên là Amar Afridi, sinh viên luật, đã nói:”Mọi người đều thương cảm cho nước Mỹ, nhưng nếu người Mỹ giết nhiều người thì cảm tình đó sẽ thay đối. Và nếu quốc dân thay đổi thì Tổng Thống Musharraff sẽ không kiểm soát được tâm trạng cua đám đông.” Theo những người Pakistani này thì chướng ngại to lớn cho việc liên minh giữa Mỹ và các nước Hồi Giáo chính là cuộc xung đột giữa dân Ả Rập và Do Thái. Anh chàng sinh viên trên nói tiếp:”Mỹ sẽ còn bị tấn công cho đến khi nào xung đột ở Trung Đông được giải quyết.”

Vì dân tình Pakistan phức tạp như vậy, nên mặc dù là nước kề sát bên A Phú Hãn của nhóm Taliban đang dung dưỡng và che chở tên trùm khủng bố Osama bin Laden và mặc dù chính quyền Pakistan hiện nay ủng hộ Hoa Ky triệt để trong vấn đề diệt khủng bố, mà Hoa Kỳ Van không dám dùng nước này làm căn cứ xuất phát cuộc trừng phạt Taliban. Một lý do quan trọng khác là vì quốc gia 140 triệu dân này lại có vũ khí hạch tâm. Chỉ vụng về đôi chút, sẽ làm cho tình hình xáo trộn, những nhà lãnh đạo hiện nay có thể bị lật đổ bởi những kẻ quá khích và khi chúng có vũ khí nguyên tử trong tay thì hiểm họa sẽ không thể lường được.

Về phía Jordan, Quốc vương Abdullah tuyên bố-“Đa số người Ả Rập và tín đồ Hồi Giáo sẽ hợp đoàn với các đồng nghiệp của chúng ta trên khắp thế giới hầu chấm dứt cái tai nạn khủng bố khủng khiếp này.” Nhưng phần đông các nước Hồi Giáo vẫn dè dặt khuyên Mỹ đừng tấn công vào thường dân vô tội, và vẫn chưa sẵn sàng tích cực tham gia vào công cuộc săn lùng và tiêu diệt bọn al-Qaeda của Osama bin Laden.

Ả Rập Saudi cũng tuyên bố tích cực ủng hộ việc tiêu trừ khủng bố. Nhưng lại không muốn Hoa Kỳ dùng căn cứ của mình để từ đó tấn công các nước Hồi Giáo trong vùng. Các viên chức bộ ngoại giao Ả Rập Saudi cũng đặt câu hỏi: liệu Mỹ có tấn công Sudan và Iraq không? Vì hai nước này thường được Mỹ coi là những nước dung túng bọn khủng bố. Hôm 20-9-01 một giới chức bộ ngoại giao Ả Rập Saudi còn tuyên bố minh bạch là nước ông tuy là đồng minh chính yếu của Hoa Kỳ trong vùng, nhưng”sẽ không đồng ý, bất cứ với điều kiện nào, cho Mỹ đánh những quốc gia anh em như Syria, hoặc các nhóm chống sự chiếm đóng của Israel như nhóm Hamas, Islamic Jihad và Hezbolỉah” Ai cũng biết là những nhóm này đều nằm trong danh sách các nước hay tổ chức ủng hộ quân khủng bố của CIA Mỹ.

Hai quốc gia trong Liên Xô cũ, là Uzbekistan Tajikistan có chung biên thùy với A Phú Hãn thì được Mỹ chú ý và mong muốn được hai nước này yểm trợ bằng cách cho sử dụng các căn cứ của họ. Nhưng lại chỉ mới có Tổng thống Nursultan Nazar-Bayev của nước Kazakstan (cũng thuộc Liên Xô cũ) là quốc gia ở rất xa A Phú Hãn tuyên bố sẵn sàng cho Mỹ sử dụng không phận nước ông, nếu Mỹ yêu cầu.

Còn chính tổng thống Liên Bang Nga Putin thì tuyên bố'”Chúng tôi đã phối hợp lập trường này với các đồng minh của chúng tôi trong số các quốc gia Trung Á. Họ đều chia sẻ lập trường này và không loại bỏ khả năng là có thể cho phép sử dụng phi trường của họ.” Thực ra Nga đang tích cực ủng hộ chính phủ đối lập với nhà cầm quyền Taliban ở Bắc A Phú Hãn, mà Putin cho rằng là chính phủ (tuy chỉ kiểm soát độ 5 % lãnh thổ A Phú Hãn) được nhiều nước trên thế giới công nhận. Nhung thái độ cúa các nước trong khối Liên Xô cũ như vậy là vẫn chưa rõ rệt.

Tại Iran, Tổng Thống Mohamad Khatami có xu hướng cải cách và ôn hòa thì ủng hộ Mỹ; sau ngày 911, đã có 4,000 người tụ tập thắp nến canh thức và cầu nguyện cho các nạn nhân. Nhưng cuộc thắp nến canh thức này đã bị nhóm cực đoan đả phá kịch liệt. Còn lãnh tụ tối cao tinh thần là Ayatollah Ali Khamenei thì tuyên bố thẳng thừng sẽ không để Mỹ đụng đến các nước Hồi Giáo anh em, dù đó là A Phú Hãn của nhóm Taliban mà Iran vốn không thừa nhận. (Chẳng những không thừa nhận mà còn tích cực ủng hộ phe đối lập với Taliban, là Liên Minh Phương Bắc”.)

Trái lại nước Hồi Giáo Sudan trước kia vẫn được ClA Mỹ liệt vào danh sách những nước dung túng và giúp đỡ bọn khủng bố lại có phản ứng trái ngược: Họ đã bắt giữ 30 người ngoại quốc bị nghi là có dính líu đên tổ chức khủng bố của bin Laden!

Nhân dân PalestineIraq đã biểu lộ sư vui mừng trong những ngày đầu khi vừa nghe tin hai tòa nhà cạo nhất New York bị phá hủy. Nhưng chủ tịch Arafat đã nhanh chóng bày tỏ sự cảm thương đối với các nạn nhân và khán giả truyền hình Mỹ đã thấy ngay trong mấy ngay đầu, hình ảnh vị lãnh tụ Palestine này giang tay ra cho nhân viên y tế lấy máu để tiếp cho những nạn nhân ở Mỹ

Riêng tại Việt Nam cộng sản:

Chủ tịch Trần Đức Lương đã theo gương Giang Trạch Dân của Trung Cộng gửi điện phân ưu với nhân dân Mỹ 4 ngày sau vụ khủng bố. Có lẽ vì xã giao và vì cái hiệp ước thương mại song phương. Nhưng cũng ngày hôm đó tại Sài Gòn, Hà Nội người ta đã tổ chức biểu tình mít tinh, đả kích Mỹ thậm tệ về đạo luật về nhân quyền đi kèm với thương ước. Như vậy thì những lời phân ưu giả dối của Trần Đức Lương có nghĩa gì? Linh mục Chân Tín, một khuôn mặt phản kháng có hạng, đã viết:”Cộng sản Việt Nam chống Mỹ sau vụ khủng bố dã man, thì cũng dã man như những tên khủng bố.”

Và mặc dù đã có rất nhiều vòng hoa được dân chúng có cảm tình đem đến đặt trước tòa đại sứ và tổng lãnh sự Mỹ, nhưng lại có những sinh viên và giáo sư đại học tuyên bố với phóng viên báo Đức tỏ vẻ hả hê khi thấy nhà chọc trời Mỹ bị phá hủy. Thậm chí có sinh viên còn ca ngợi lòng dũng cảm của bọn khủng bố và thương cho chúng đã phải hy sinh, mà chẳng thèm tỏ lòng trắc ẩn đối với hàng ngàn người vô tội đã chết trong vụ khủng bố. Phải chăng, hận thù trong cuộc chiến cách nay một phần tư thế kỷ còn quá sâu đậm, hay vì những người này chỉ muôn nói cho hợp đường lối của đảng để khỏi bị rắc rối vì tiếp xúc với báo giới nước ngoài? Hay là do chính cán bộ đảng đã chỉ thị cho phải nói thế? Ai cũng biết khủng bố là sở trường của Việt cộng khi chúng còn yếu thê dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Việt cộng là bậc thầy về khủng bố. Cho nên thấy khủng bố thành công trong việc giết hại dân lành thì họ vui mừng là phải.

Xin kể 3 trong số nửa tá trường hợp đã được tờ Deutsche Press-Agentun phỏng vấn.

Một sinh viên đã đậu cử nhân đại học Xây Dựng Hà Nội đã phát biểu: “Nhiều người ở đây xem vụ khủng bố là hành động anh hùng vì họ dám đụng tới siêu cường Mỹ.”

Một sinh viên khác tên Đặng Quang Bảo thì nói:“Vụ khủng bố sẽ làm Mỹ mở mắt vì Mỹ đã mù quáng áp đặt lên thế giới bằng cách cấm vận và can thiệp vào nội bộ các nước. Khi nghe nói Mỹ bị tấn công, nhiều người đã nói, như thế là đáng lắm!”

Một giáo sư của viện Bang Giao Quốc Tế nói: “Chẳng qua vì thủ tục ngoại giao nên những nhà lãnh đạo các nước mới phải lên án vụ khủng bố. Chứ tôi tin rằng có tới 80 phần trăm dư luận thế giới ca ngợi hành động khủng bố này”!

Phản ứng của tên trùm khủng bố Osama bin Laden và nước chứa chấp y.

Theo tài liệu của ông Phạm Đình Mai thì Osama bin Laden sinh năm 1957 tại Saudi Arabia, là con thứ 17 trong số 53 anh chị em. Mẹ y là vợ thứ 10 của Muhamad Awad. Ông này chết (1968) đã để lại cho Laden hàng tỉ Mỹ kim. Y có 4 vợ và 14 con. Năm 1987 y thành lập tổ chức khủng bố al-Qaeda, ban đầu nhằm mục đích chống Liên Xô. Nhưng sau khi LX rút khỏi A Phú Hãn, y chuyển sang chống Do Thái và Hoa Kỳ. Năm 1991 y bị đuổi khỏi A Phú Hãn sang Sudan và 3 năm sau bị tước bỏ quốc tịch Ả Rập Saudi vì chống quốc vương.

Năm 1996 y tuyên bố thánh chiến để giải phóng Hồi Giáo và trở về A Phú Hãn tìm sự che chở của phe nhóm Taliban. Y thường sử dụng những hầm trú ẩn kiên cố mà Hoa Kỳ đã thiết kế giúp chính quyền A Phú Hãn trong chiến tranh chống Liên Xô. Ngày 20 tháng 8 năm I998 hải quân Hoa Kỳ đã phóng hỏa tiễn tự điều khiển để giết y lúc đó được báo cáo là sẽ có mặt trong một cuộc họp mặt khoảng hơn 200 tên khủng bố. Nhưng y đã rời nơi đó một giờ trước. Kể từ đó để bảo đảm an ninh cá nhân y không dám dùng phương tiện liên lạc bằng điện tử nữa chỉ nói miệng với những tay chân thân tín để truyền lệnh cho nên ngày nay, muốn tìm tung tích của y rất khó.

Trong những ngày đầu khi mọi người khắp nơi trên thế giới lên án vụ khủng bô 911, thì Osama bin Laden lên tiếng phủ nhận y không dính líu trong vụ này. Nhà cầm quyền Taliban ở A Phú Hãn cũng chối và bảo Laden đã ra khỏi nước. Nhưng rồi lại thấy Laden lên tiếng công kích Mỹ và kêu gọi thánh chiến chống kẻ thù của Hồi Giáo là Hoa Kỳ, nêu đích danh Tồng Thống Bush mà y gọi là kẻ cầm đầu thập tự quân chống Hồi Giáo.

Ngày 23-9-01 sau khi được tin một vài tín đồ đã tử thương trong các cuộc xô xát với cảnh sát Pakistan, Laden đã đưa ra một lời kêu gọi thánh chiến được hệ thống truyền hình al-Jazeera truyền đi, và được hãng thông tấn AP dịch từ tiếng Ả Rập sang Anh ngữ. Sau đây chúng tôi trích dịch một đoạn vắn:

“Nhân danh đấng Allah chí nhân, chí thánh. Gửi anh em Hồi Giáo ở Pakistan. Chúng ta hy vọng là những anh em đó là những vị thánh tử đạo đầu tiên trong cuộc chiến của đạo Hồi trong vùng này chống lại liên minh Thập Tự Quân Do Thái Giáo và Ki Tô Giáo do tên đầu sỏ thập tự binh George Bush cầm đầu dưới ngọn cờ Thập Giá…”

Tổ chức al-Qaeda của y còn đe dọa:“Bất cứ nơi nàọ có người Mỹ và Do Thải, chúng đều là mục tiêu phải tấn công.” Về phía mình, nhóm al-Qaeda khẳng định:“Chúng ta đủ sức tự vệ. Chiến binh của cuộc thánh chiến đã sẵn sàng.”

Nhà cầm quyền Anh đã tịch thu được tại nhà một kẻ ủng hộ bin Laden gần sân bay Heathrow, Luân Đôn, một tài liệu huấn luyện thánh chiến 200 trang trong đó bin Laden đã dạy cách đánh bom các tòa nhà ở trung tâm thương mại, hành hạ và giết các con tin như thê nào. Tập tài liêu có tên là”Binh Pháp về Thánh Chiên chống bạo quyền”. Trong tài liệu này có ghi huấn thị cho những tên khủng bố quyết tử như sau:”(Trước khi tự sát) Hãy tỏ ra vui mừng và mãn nguyện, vì bạn sắp làm một việc mà Thượng Đế yêu thích.”

Nhà cầm quyền Taliban ở A Phú Hãn từng che chở cho bin Laden đã tổ chức những cuộc biểu tình chống Mỹ, xé, đốt quốc kỳ Mỹ và hình nộm Tổng Thống Bush. Mặc dầu đã bị cô lập hoàn toàn với thế giới, vì phái bộ ngoại giao duy nhất của Pakistan cũng đã rút khỏi nước này, nhưng thủ lãnh Taliban là Mullah Mohammed Omar vẫn còn nói giọng thách thức nhắm vào Hoa Kỳ:“Dù cho Mỹ có giết được Osama bin Laden và chính tôi, thì cũng đừng hòng thoát ra khỏi cơn khủng hoảng này.” Bộ trưởng quốc phòng A Phú Hãn thì nói Taliban có đủ vũ khí đạn dược để chống trả lục và không quân Mỹ. Ông ta cũng nói là số quân tình nguyện đã tăng làm cho hàng ngũ nhân dân tự vệ dư thừa. Ông ta còn khoe là đã có 300,000 quân có kinh nghiệm trong cuộc”thánh chiến”, và khuyên nhân dân A Phú Hãn hãy tỉnh thức và chuẩn bị cho cuộc thánh chiến.

Nhưng gần cuối tháng 9 thì viên đại sứ A Phú Hãn ở thủ đô Pakistan lại nói Osama bin Laden hãy còn ở trong nước và đang do bọn họ kiểm soát. Nếu Hoa Kỳ trưng được bằng chứng là y chủ mưu vụ khủng bố 911 thì sẽ thương lượng để giao nộp y. Nhưng, như vậy thì làm sao tin được. Vì chỉ mới ít lâu trước đó bọn họ đã chối là không biết Laden ở đâu, hoặc y có thể đã ra khỏi nước. Với cuộc dàn quân của Hoa Kỳ chung quanh nước này, dân A Phú Hãn đã ùn ùn chạy trốn sang Pakistan bất chấp mọi nguy hiểm. Hiện nay số người tỵ nạn này đã vượt quá con số 2 triệu. Đầu tháng 10, có tin từ phía”Liên Minh Phương Bắc” nói rằng bọn đầu sỏ Taliban cũng đã tìm đường tẩu thoát và có nhiều bộ lạc đang muốn liên kết với Liên Minh này để chống Taliban. Nhưng cũng có thể là bọn đầu sỏ chỉ bỏ các vùng thành thị, trốn lên rừng núi để chuẩn bị “thánh chiến”.

Những biện pháp Hoa Kỳ áp dụng để trừ tận gốc nạn khủng bố.

Trong hàng loạt bài diễn văn và những lời tuyên bố từ ngày 911 đến nay, Tổng Thông Bush và các phụ tá của ông đã cho thấy chính phủ sẽ dùng mọi biện pháp để:

1) Truy nã tên chính phạm Osama bin Laden và đồng đảng, nhất là tổ chức al-Qaeda của y.

2) Phong tỏa mọi nguồn tài chính của y và các tổ chức ngoại vi tài trợ khủng bố.

3) Bắt buộc nhà cầm quyền Taliban ở A Phú Hãn phải trao tên chính phạm bin Laden, bằng không thì sẽ dùng biện pháp quân sự lật đổ chính quyền Taliban.

4) Tìm cách liên lạc và yểm trợ tổ chức chống Taliban, mệnh danh là “Liên Minh Phương Bắc”, để đem tổ chức này lên thay thế nhóm Taliban.

5) Mở cuộc vận động ngoại giao trên khắp thế giới để tranh thủ sự đồng tình và quyết tâm diệt khủng bố của càng nhiều quốc gia càng tốt.

Ta hãy xem cho đến nay chính quyền Bush đã làm được những gì trong kế hoạch đã nêu.

1. Các lực lượng an ninh quốc gia như FBI và CIA đã tận lực làm việc trong suốt tháng 9 để tìm thêm thủ phạm và nghi can trong nước và ở ngoại quốc. Trên khắp thế giới đã có 150 người bị bắt giữ để điều tra. Và nhờ có sự hợp tác của cơ quan an ninh Đức quốc, ngưòi ta đã biết thêm được rằng không phải chỉ có 19 tên quyết tử trong vụ 911, mà còn thêm 11 tên nữa. Nhưng chúng là ai thì chưa được tiết lộ. Cũng nhờ các cơ quan an ninh nước ngoài mà ta còn biết có thể trong tương lai sẽ có những cuộc khủng bố bằng vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học, vi trùng, có thể làm hàng triệu người chết. Vì vậy chính phủ đang xin Quốc Hội trao quyền rộng rãi thêm để, ví dụ, có thể giữ những nghi can lâu hơn là luật định chỉ trong vòng 24 tiếng.

2. Cho đến cuối tháng 9, theo lời Tổng Thống Bush, có 6 triệu trong các trương mục ngân hàng dính líu đến bọn khủng bố đã bị phong tỏa. Tại Mỹ 30 trương mục liên hệ đến bin Laden và tổ chức al-Qaeda đã bị phong tỏa cộng với 20 trương mục khác ở ngoại quốc.

3. Việc làm áp lực với nhà cầm quyền Taliban giao nộp bin Laden cho Hoa Kỳ, xem ra không có kết quả. Mặc đù Pakistan đã nhắn tiếng cho nhóm này biết là Mỹ đã sẵn sàng để tấn công vào A Phú Hãn. Bọn họ muốn Hoa Kỳ trưng bằng chứng để thương lượng. Nhưng chính Tổng Thống Bush đã từng khẳng định không thể thương lượng, hay trì hoãn.

Căn cứ vào những lời tuyên bố ngoan cố và hiếu chiến của bin Laden và tổ chức al-Qaeda của y ở phần trên, có lẽ khó tránh biện pháp quân sự.

Trọng điểm là A Phú Hãn, nhưng cũng nên biết rằng tổ chức tay sai của Osama bin Laden không phải chỉ có ở nước này, mà còn ở rải rác trên nhiều quốc gia khác, kể cả Nga, Canada và chính Hoa Kỳ. Nhưng theo tài liệu của CIA cho biết thì al-Qaeda có cơ sở mạnh nhất tại các nước Á Phi sau đây: Pakistan, Yemen, Sudan, Ai Cập, và Algeria. Vì vậy có thắng ở A Phú Hãn, và bắt được bin Laden, thì xem ra cũng chưa chấm dứt được nạn khủng bố.

Hiện nay lực lượng tác chiến của Mỹ chung quanh vùng chiến lược này có thể kể sơ: Căn cứ không quân tại Incirlik, Thổ. Căn cứ không quân Prince Sultan tại Ả Rập Saudi. Một số máy bay, chiến xa và 3000 bộ binh tại cặn cứ Ahmed-al Jabr. tại Kuwait. Căn cứ không quân Jufair tại Bahrain. Tại Vịnh Ba Tư thì có hàng không mẫu hạm Carl Winson với 70 máy bay, một tiềm thủy đĩnh, nhiều tầu tuần dương và khu trục và 400 hoảa tiễn tầm xa. Và sau cùng tại Ấn Độ Dương thì có hàng không mẫu hạm Enterprise với 4 phi đoàn chiến đấu cơ, 14 tầu chiến và 500 hỏa tiễn tầm xa Cruise. Nghe nói hàng không mẫu hạm Kitty Hawk mới được điều động từ Nhật sang vùng này.

Ngoài ra đã có 29,000 quân tác chiến đã lên đường và 17,000 lính trừ bị đã được lệnh nhập ngũ.

Đó là chưa kể hàng ngàn gián điệp, đặc công của CIA đã được tung vào trận chiến. Có điều khó tin là những vụ khủng bố nhắm vào người Mỹ đã xảy ra hàng chục năm nay rồi mà nay CIA mới bắt đầu tuyển nhân viên biết nói tiếng A Rập, vì từ trước tới nay không có điệp viên nào thông thạo tiếng Ả Rập sẵn sàng vào hoạt động trong các nước Ả Rập hay Hồi Giáo!

Tuy nhiên nếu căn cứ vào lời tuyên bố của Tổng Thống Bush, cuộc chiến này là một cuộc chiến lâu dài gian khổ đòi nhiều kiên nhẫn và hy sinh, và nếu coi đây là cuộc chiến ngay trên đất Mỹ lần đầu tiên, thì cũng nên xét đến thực lực của quân lực Mỹ hiện nay, so với cách nay một thập kỷ. Trước khi Liên Xô sụp đổ, quân lực Mỹ tổng số trên 2 triệu: lục quân 750 ngàn; hải quân 583 ngàn, không quân 539 ngàn, thủy quân lục chiến 197 ngàn. Nay chỉ có 1 triệu 384 ngàn: lục quân gần nửa triệu, hải quân 373 ngàn, không quân 355,700; thủy quân lục chiến 173 ngàn. Đó là chưa kể vũ khí cũng như tầu chiên, phi cơ đã cũ và chưa được tân trang đúng mức.

Do đó sự cố gắng hy sinh về nhân lực vật lực và tài chánh phải nhiều hơn người ta tưởng.

4. Một khi thuyết phục và làm áp lực với nhóm Taliban không thành công thì phải dùng đến những phần tử hiếu hòa, hiện đang chống chính quyền Taliban. Trong số này, Hoa Kỳ đã chú ý tới tổ chức mệnh danh là”Liên Minh Phương Bắc”. Trước ngày 911, tổ chức này do một tướng lãnh có tài là Amed Shah Massoud cầm đầu, tiếc rằng ông đã bị trúng bom và mất ngày 15 tháng 9 vừa qua, chỉ 4 ngày sau vụ khủng bố. Có nhiều khả năng Osama bin Laden đã ra lệnh giết ông. Tổ chức này tuy chỉ kiểm soát khoảng 5 phần trăm lãnh thổ A Phú Hãn, nhưng được nhiều nước thừa nhận, kể cả Liên Xô. Người lên thay Massoud là Mohammed Fahim. Gần đây có tin cựu quốc vương Mohammed Zahir Shah tuy đã 86 tuổi (hiện sống lưu vong ở Roma, Ý) cũng mới lên tiếng sẵn sàng hợp tác với tổ chức liên hiệp các lực lượng chống Taliban trong nước. Được tin này lãnh tụ Taliban Omar liền lên tiếng chế riễu và thách thức chẳng những vị vua này mà cả Hoa Kỳ nữa. Người ta hy vọng, khi vị cựu hoàng này nhập cuộc, thì sẽ có thể lôi kéo được một số bộ lạc sẽ bỏ nhóm Taliban đi theo nhà vua cũ.

Theo cách dàn quân của Mỹ tại vùng này, và với hy vọng dựa vào”Liên Minh Phương Bắc” thì ta có thể hiểu Hoa Kỳ muốn đưa quân tác chiến vào A Phú Hãn để giúp phe đối lập đoạt chính quyền, rồi bắt bin Laden, phá hủy các căn cứ huấn luyện và đào tạo đạo quân khủng bố. Nhưng chuyện này theo các phân tích gia thì rất phiêu lưu và có thể trở thành một thứ Việt Nam mới. Vì chính Liên Xô đã thất bại ở đây trước khi tan rã. Và lịch sử A Phú Hãn với 25 triệu dân này còn ghi rằng trước đó (giữa thế kỷ 19) đế quốc Anh cũng đã thất bại ê chề. Vì chẳng những địa thế hiểm trở, mà người dân nghèo đói không biết sợ chết trong khi chiến đấu cho một lý tưởng tôn giáo cuồng tín. Họ được nhóm quá khích tuyên truyền rằng đây là một cuộc”thánh chiến” để bảo vệ “đạo pháp” (nói theo kiểu Thích Trí Quang) chống bọn”vô đạo” (infidels) là Do Thái và Hoa Kỳ.

5. Về phương diện ngoại giao, để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các đồng minh, nhất là của một số nước Ả Rập và Hồi Giáo, Hoa Kỳ kỳ vọng rất nhiều ở chính quyền Pakistan hiện nay với dân số 140 triệu. Nhưng xem ra càng ngày Tổng Thống Musharaff càng gặp thách đố do các phần tử Hồi Giáo cực đoan trong nước. Nhóm này do Mufti Nizamuddin Shamzai lãnh đạo, trước đây đã lên án bọn khủng bố. Nhưng nay bỗng nhiên đưa ra một sắc lệnh tôn giáo kêu gọi “thánh chiến” chống Hoa Kỳ và cả Tổng Thống Musharraf. Nhóm này rất mạnh tại thành phố lớn nhất Pakistan.

Ai Cập cũng là đồng minh của Hoa Kỳ từ lâu. Vậy mà lần này Tổng Thống Mubarack nhất định muốn Hoa Kỷ phải có bằng chứng trùm Osama bin Laden là chủ mưu vụ khủng bố mới nên khai chiến.

Có thể hiểu rằng các nước Ả Rập và Hồi Giáo tuy có một số thân Tây phương và đã từng nhận viện trợ hậu hĩnh của Hoa Kỳ, nhưng vẫn còn sợ ảnh hưởng của Osama bin Laden. Y là tỉ phú, lại có nhiều tổ chức tay sai tại nhiều nước trên thế giới, có nhiều cán bộ được huấn luyện kỹ, lại cuồng tín, sẵn sàng liều chết để nghe lời y, thì dĩ nhiên y làm cho các chính quyền thân Mỹ phải e ngại. Y đã kêu gọi chống chính phủ Pakistan, thì y cũng có thể kêu gọi chống các chính phủ Jordan, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ v.v…, nếu các nước này tiếp tay cho Mỹ đế tiêu diệt nhóm Taliban, có thể y sẽ lật đổ hay ám sát.

Vả lại trong khối Ả Rập và Hồi Giáo, ngoài A Phú Hãn với nhóm cuồng tín Taliban còn nhiều chính quyên chống Mỹ như Iraq với Saddam Hussein, Lybia với Gaddafi, Iran với Khamenei v.v… Và như đã nói trên, ngay tại các nước mà chính quyền phần nào thân Mỹ các nhóm chính trị đối lập, có xu hướng cực đoan lại kịch liệt chống Mỹ và lôi kéo theo một số đông dân chúng chống Mỹ.

Vì vậy, vận động các chính phủ không đủ. Điều quan trong là quần chúng trong các quốc gia Ả Rập và Hồi Giáo. Hình như Tổng Thông Bush chưa đặt đúng mức vấn đề này, tuy – chỉ trong một bài diễn văn – ông phân biệt rất rõ giữa bọn khủng bố với nhân dân Ả Rập và tín đồ Hồi Giáo. Điều quan trọng là sự phân biệt rất quan trọng này phải được phổ biến rộng rãi, nhắc đi nhắc lại một cách có hệ thống và có phối khí (orchestration), để có thể đến tai nhân dân các nước Ả Rập và Hồi Giáo. (Muốn được vậy, phải dịch ra tiếng Ả Rập và vận động để các đài và báo các nước Ả Rập cho phổ biến nhiều lần. Không coi trọng vấn đề tuyên truyền, thì không thể nào làm được điều đó, dù có binh hùng tướng mạnh đến mấy.)

Một vài ý kiến cá nhân

Suốt trong tháng 9 nhân dân Mỹ trên toàn quốc đã quan tâm đặc biệt đến tình hình đất nước và những biện pháp mà chính phủ trù tính sẽ áp dụng, trong cũng như ngoài nước, để bảo vệ tự do và an ninh tổ quốc. Trước khi kết luận, chúng tôi xin trích dưới đây một ý kiến đã được đăng tải trên các báo địa phương:

Douglas Foight, San Diego:

“Bây giờ, khi mà Tổng Thống đã kêu gọi chúng ta cầu nguyện…
“Bây giờ, khi mà Quốc Hội đã kêu gọi chúng ta cầu nguyện…
“Bây giờ, khi mà Thống Đốc (Cali) đã kêu gọi chúng ta hãy cầu nguyện…
“Bây giờ khi mà Thị Trưởng (San Diego) đã kêu gọi chúng ta cầu nguyện…
“Bây giờ, khi mà các cơ quan truyền thông thuộc khuynh hướng tự do, và hầu hết các ngành trong xã hội Mỹ đều đã kêu gọi chúng ta hãy cầu nguyện….
“Bây giờ khi mà các giáo hội của chúng ta tập họp lại trong lời kinh đặc biệt…
“Vậy thì bây giờ có phải đã đến lúc “OK” cho con cháu chúng ta cũng được cầu nguyện tại các trường hoc không?”

(Cách đây ít năm, việc để học sinh đọc kinh vài phút trong các trường học Ki Tô Giáo đã bị cấm, viện lý do không nên đưa tôn giáo vào học đường, căn cứ vào sự phân biện giữa nhà thờ và nhà nước.)

Kết luận:

Qua những lời tuyên bố và phản ứng của chính quyền và nhân dân Mỹ cũng như của các nước đồng minh của Mỹ, và qua phản ứng của tay trùm khủng bố và nhà cầm quyền Taliban dung dưỡng che chở y, nhất là qua phản ứng của các chính quyền các nước Ả Rập và Hồi Giáo một đàng và đàng khác, của nhân dân và phe đối lập trong các nước đó, ta có thể nhận định một cách khái quát như sau:

Hoa Kỳ đã quyết tâm tiêu diệt khủng bố, dù cho phải dùng biện pháp quân sự, dù nhân dân Mỹ có phải hy sinh trong một thời gian dài. Những biện pháp mà chính phủ Mỹ áp dụng cho thấy rõ quyết tâm đó.

Phương pháp phong tỏa các tài khoản của bọn khủng bố đã bắt đầu có kết quả. Nhưng còn phải làm hơn thế nhiều lắm mới hy vọng làm cho nguồn tài trợ khủng bố cạn kiệt, hòng làm tê liệt các chương trình kế hoạch dã man của chúng. Và ai cũng thấy là rất khó, vì có nhiều tổ chức từ thiện cũng tài trợ chúng, nhiều chính phủ có lẽ cũng phải “hối lộ” chúng để hỏa tiễn, xe bom, máy bay không lao vào các công sở.

Nổ lực của các cơ quan an ninh trong nước cũng như ở ngoại quốc trong tháng 9 cũng cho thấy thêm nhiều mắt xích mới trong dây chuyền tổ chức khủng bố thế giới. Các chính phủ Tây phương đã giúp các cơ quan an ninh Mỹ tìm thêm nhiều nghi can, và hy vọng sẽ trình được bằng chứng tên trùm bin Laden là thủ phạm vụ 911, hay ít nhất cũng dính líu đến các vụ khủng bố trong thập niên vừa qua. Và như vậy nếu bọn Taliban không chịu giao Laden cho Hoa Kỳ, thì Hoa Kỳ sẽ có lý do tấn công vào A Phú Hãn, với sự tiếp tay của nhiều quốc gia khác.

Hoa Kỳ đã sẵn sàng và thực tế đã dàn binh bố trận chung quanh vùng này. Nhưng triển vọng thắng nhanh thắng mạnh như thời chiên tranh vùng Vịnh thập niên trước thì thật mỏng manh. Nếu không bắt được chính phạm, không phá hủy được các căn cứ của bọn chúng rải rác ở nhiều nơi trên thế giới, thì hiểm họa chiến tranh thế giới khó tránh khỏi.

Những vận động ngoại giao với các nước thân hữu, các nước trong thế giới thứ ba cũng có vẻ thành công. Nhưng điều cần là vận động nhân dân các nước Ả Rập và Hồi Giáo thì có lẽ mới chỉ có trong dự định. Việc thực hiện đòi phải có những cố gắng mới, thoát ra ngoài nề nếp suy tư chiến lược vốn có của Mỹ. Nghĩa là phải có một đạo quân tuyên truyền rộng lớn, hữu hiệu, được trang bị bằng những kiến thức vững chắc về tâm lý, phong tục tập quán của nhân dân các nước Hồi Giáo. Sự khó khăn của các cơ quan an ninh trong việc tuyển dụng những cán bộ thông thạo tiếng Ả Rập cho thấy công việc chưa có gì đáng khích lệ.

Về chuyện này, có thể rút kinh nghiệm trong chiến tranh Việt Nam. Cho đến nay, sau khi Liên Xô tan rã và khối cộng sản Đông Âu sụp đổ, không còn ai nghi ngờ là cộng sản là xấu là ác. Vì nó đã giết hại 5 lần nhiều hơn Quốc Xã thời thế chiến II. Vậy mà phe quốc gia Việt Nam và sau này cả Hoa Kỳ không sao thuyết phục được cho dân chúng Việt Nam đừng ủng hộ Việt Minh cộng sản, để đến nỗi ngày nay đảng cộng sản (không còn phải giấu giếm, đội lốt đảng Lao Động trá hình nữa) thống tri cả nước đặt lên đầu lên cổ nhân dân một chế độ độc tài đảng trị. (Tuy không còn dám dùng những biện pháp dã man như trước, vì, một mặt đối với kẻ chiến thắng như họ, ngày nay không còn cần lắm, một mặt vì thế giói ngày nay, sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, không còn nước cộng sản nào dám làm như thế nữa.)

Tại sao vậy? Là vì ngay từ ban đầu Việt Minh cộng sản đã khéo dùng mánh lới tuyên truyền thuyết phục dân chúng rằng họ không phải cộng sản, mà chỉ là một tổ chức yêu nước. Tiếc rằng những luận điệu như thế đã có tính thuyết phục ngay từ đầu. Và vì cộng sản nói trước nói nhiều nên đã thắng kẻ nói sau, nói ít.

Cũng như thế, ngày nay bọn khủng bố tấn công Hoa Kỳ nhân danh”Đấng Allah chí nhân, chí thánh”. Nếu Hoa Kỳ và các nước tự do không đả phá ngay từ đầu luận điệu đó, thì sẽ là kẻ nói sau, nói ít. Mà muốn tuyên truyền thắng lợi, vào sâu trong mọi tầng lớp nhân dân A Rập và Hồi Giáo thì không thể nào không có sự tiếp tay của nhà cầm quyền của các nước đó, không có sự hưởng ứng của tầng lớp trí thức trong các nước đó, không có sự ủng hộ của các giáo sĩ Hồi Giáo, và nhất là không có một đạo quân tuyên truyền thông thạo tiếng Ả Rập như tiếng mẹ đẻ, được huấn luyện đầy đủ về phong tục, tập quán của từng nước, và nhất là về giáo lý Hồi Giáo.

Bao lâu người dân các nước nói trên còn tin theo lời đường mật của Osama bin Laden rằng giết người Mỹ và người Do Thái là làm đẹp lòng Đấng Allah, thì cuộc chiến của Tổng Thống Bush cổ võ sẽ là một cuộc chiến phi nghĩa, vì chống Đấng Allah, Thượng Đế của nhân dân Ả Rập, Hồi Giáo. Trừ phi có thể giết tên đầu sỏ bằng một hỏa tiễn tối tân, mà không sát hại người dân vô tội.

Một điểm nữa cũng có thể rút kinh nghiệm từ Việt Nam vì Việt Nam là nơi nạn khủng bố hoành hành từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Khủng bố vốn là vũ khí của kẻ yếu, hành động của kẻ hèn, kẻ giấu mặt lén lút trong bóng tối. Cho nên nó rất khó nhận diện, rất khó trừ khử. Nước Mỹ này mới chỉ bị khủng bố có mấy lần, không kể một số tòa đại sứ ở Kenya, và Tanzania cách đây ít năm. Nhưng thời đệ nhất Cộng Hòa, Việt Nam hầu như đêm nào cũng có khủng bố. Lúc ấy, cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60 dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, miền Nam Viêt Nam sống sung túc, phồn thịnh hơn miền Bắc cộng sản bội phần. Điều này khiến cộng sản ghen tức và cảm thấy yếu thế nên cố tình phá khuấy làm khổ nhân dân để chứng tỏ chính quyền miền Nam yếu kém. Nhưng vì chúng yếu thế nên chỉ có cách khủng bố: ám sát, bắt cóc, phá hoại. Tính ra trong một năm, số người bị giết còn cao hơn con số nạn nhân trong vụ khúng bố 911. Nhưng vì nó lẻ tẻ tùng ngày, nên người ngoài không thấy được sự trầm trọng của nó. Trong vụ khủng bố 911, nhân dân Mỹ đã thấy là muốn bảo vệ an ninh, chống khủng bố, họ sẵn sàng hy sinh chút tự do cá nhân, không than phiền. (Các cuộc thăm dò cho thấy trên 70% dân sẵn sàng hy sinh chút tự do cá nhân để được an toàn). Nhưng thời đệ nhất Cộng Hòa, vì để bảo đảm an ninh cho dân quê, chính quyền Miền Nam có áp dụng đôi chút hạn chế tự do, thì bị báo chí thiên tả lên án là độc tài, phát xít. Lúc ấy, để đối phó với nạn khủng bố thường xuyên, rộng khắp các tỉnh, chính quyền Ngô Đình Diệm đã phải áp đụng quốc sách Ấp Chiến Lược, gom một số dân sống thưa thớt tại những vùng hẻo lánh lại thành từng ấp có hàng rào, có lính canh, thì bị báo chí thiên tả của Mỹ chỉ trích theo luận điệu của Việt Cộng, là”bắt dân lìa bỏ mồ mả tổ tiên, tập trung vào những trại tù.”

Đến cuối năm 1959, khi nạn khủng bố gia tăng, quốc hội Đệ Nhất Cộng Hòa đã thông qua luật 10/59 đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, thì cũng báo chí thiên tả cùa Mỹ, hùa theo Việt Cộng, lên án là”đạo luật phát xít”.

Nhưng hãy nghe Nguyễn Văn Linh, nguyên tổng bí thư đảng CSVN, đã từng hoạt động lâu năm tại miền Nam nói với tay nhà báo thiên tả Neil Sheehan, cực kỳ ác cảm với”nhà Ngô”, tố cáo Ngô Đình Diệm muốn tái lập nhà Ngô (Ngô Quyền). Sheehan đã thuật lại lời Nguyễn Văn Linh trong cuốn sách nhỏ nhan đề After the War Was Over. Theo Sheehan thì Nguyễn Văn Linh đã sợ luật 10/59 và chính sách tố cộng cúa Đệ Nhất Cộng Hòa hơn cả B52 vì nó đã tiêu diệt 80% trong số 10 ngàn cán binh Việt Cộng để lại miền Nam sau 1954. (Sách đã dẫn trang 77)

Đó là Sheehan ghi lại theo lời Nguyễn Văn Linh nói, theo trí nhớ. Còn Văn Tiến Dũng trong cuốn về Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước, xuất bản năm 1996, dựa theo các tài liệu chính thức thì nói không phải 80% mà tới 90%: “… Chỉ tính trong 4 năm từ 1955-1958, cả miền Nam tổn thất 9 phần 10 số cán bộ, đảng viên. Ở Nam bộ chỉ còn 5000 đảng viên so với 60,000 trước đó.” (Sách đã dẫn trang 16.)

Nếu không dùng biện pháp mạnh, nếu không bắt người dân phải hy sinh đôi chút tự do, và nếu không dùng biện pháp thuyết phục rằng mình có chính nghĩa còn phe cộng thì không, thì làm sao có được thành quả đó. Nhưng sở dĩ chính quyền Ngô Đình Diệm chống cộng hữu hiệu không phải vì nhờ bạo lực khủng bố, mà nhờ lúc ấy có chính nghĩa. Chính nghĩa đó, một phần nhỏ, nhờ tiếng tăm cá nhân ông Ngô Đình Diệm là người yêu nước, và phần lớn là vì không còn sự hiện diện của quân đội Pháp, và số cố vấn Mỹ trong những năm đó không đáng kể (chỉ mới có mấy trăm).

Nhưng có một số trí thức miền Nam bị ảnh hưởng của báo chí thiên tả của Mỹ đã thà muốn có thêm đôi chút tự do (ở thành thị) mà mất an ninh ở nông thôn, còn hơn hy sinh đôi chút để diệt khủng bố. Cho nên ngày nay đất nước mới ra nông nỗi này, và người dân trong nước thì không có tự do còn phần đông những nhà trí thức đó thì phải chạy ra ngoại quốc mới có chút không khí tự do mà thở.

Vì vậy, muôn diệt khủng bố thành công, chính phủ, quốc hội và báo giới, nói chung ngành truyền thông Mỹ cần rút kinh nghiệm từ những bài học trong dĩ vãng để cân nhắc và ra những quyết định thích đáng, đừng để thành kiến cá nhân hay ảo tưởng làm mất sáng suốt. Bởi vì những quyết định thiếu sáng suốt trong trường hợp này sẽ có thể dẫn đến đại chiến thế giới trong đó các loại vũ khí hạch tâm, hóa học và vi trùng sẽ không phân biệt kẻ thắng, kẻ bại. Đó sẽ là một cuộc chiến ý thức hệ mới, không phải do cộng sản chủ trương, dựa trên hận thù giai cấp như trước đây, mà do thiểu số cuồng tín chủ trương, dựa trên hận thù chủng tộc, tôn giáo, mặc dù chúng vẫn biết không tôn giáo nào lại dạy hận thù ghen ghét. Đó sẽ là thế chiến IV, bởi vì cuộc chiến tranh gọi là lạnh giữa thế giới tự do và khối cộng đã được nhiều người (trong đó có nhà báo Max Eastman, giáo sư Robert Strausz- Hupé, đại văn hào giải Nobel Solzhenitsyn và Tổng Thông Nixon) mệnh danh là thế chiến III rồi.

Ẩn số đáng sợ nhất trong cuộc chiến này là nước nào (thủ đắc vũ khí hạt nhân) sẽ đứng về phe nào. Mong rằng đại họa thế chiến không xảy ra cho nhân loại trong đầu thiên niên kỷ này.

minhvo_sign
Nam Cali 01-10 -01

<—Trở về Mục Lục
—>11.Hoàng Xuân Hãn đúng hay sai?

This entry was posted in MINH VÕ: Tâm Sự Nước Non. Bookmark the permalink.