TÂM SỰ NƯỚC NON 2 (Minh Võ): Một thế chiến lược toàn cầu mới đã ló dạng

frontcover_tamsunuocnon212- Một thế chiến lược toàn cầu mới đã ló dạng

Trong các cuốn Ngô Đình Diệm Lời Khen Tiếng Chê, Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư, rồi Tâm Sự Nước Non, đã nhiều lần tôi nói đến thế chiến 3 để nói về cuộc chiến tranh “lạnh” giữa khối cộng và thế giới tự do.[1] Bởi vì thực sự nó là một thứ chiến tranh thế giới. Chỉ có điều vũ khí do phía cộng sản dùng để tấn công thế giới tự do lúc ấy không phải là vũ khí cổ điển thông thường như trong hai cuộc thế chiến trước. Khi cuộc khủng bố đại quy mô dưới hình thức tối tân về kỹ thuật thực hiện vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, tôi đã viết một bài dài đăng liên tiếp 2 kỳ trên Văn Nghệ Tiền Phong liền sau đó nhan đề “Khủng bố 911”, trong đó tôi nói đến triển vọng sẽ xảy ra thế chiến 4. Và tôi mong các nhà lãnh đạo Tây Phương sẽ đặt nặng hơn nữa vấn đề tuyên truyền, tình báo, chứ đừng chỉ chú trọng đến mặt thuần túy quân sự. Nếu không sẽ khó tránh việc sa lầy như trong chiến tranh Việt Nam.

Những biện pháp mạnh và chớp nhoáng được quân đội Hoa Kỳ và đồng minh áp dụng trong hai cuộc chiến A Phú Hãn và Iraq ban đầu đã tỏ ra hữu hiệu, nhất là tại A Phú Hãn. Đồng thời công tác tuyên truyền tình báo và tài chánh, ngoại giao vân vân cũng được chú ý nhiều. Nhưng xem ra vẫn chưa đủ, nếu so với các biện pháp quân sự. Tình hình khủng bố tiếp tục gia tăng tại Iraq hiện nay khiến các chiến lược gia Tây Phương phải suy nghĩ

Đặc biệt là hai cuộc đánh bom tự sát tại Istanbul trong tuần qua khiến trên năm chục người chết và gần một nghìn người bị thương đã cho thấy ló dạng môt thế chiến lược mới của “quân khủng bố”. Cái gọi là quân khủng bố trong ngoặc kép này có phải chỉ là một bọn lưu manh, côn đồ nhắm giết người bừa bãi để khủng bố mà thôi không? Hay đây là cả một tổ chức chiến tranh có chiến lược sách lược hẳn hòi, nhằm những mục tiêu lâu dài theo một lý tưởng xã hội hay tôn giáo mà chúng ta không thể coi thường?

Cuộc tấn công đầu xảy ra ngày thứ bảy 16 tháng 11- 2003, nhắm vào những thánh đường Do Thái Giáo (synagogues). Chỉ 5 ngày sau, vào ngày thứ năm, 20-11- 2003, một cuộc tấn công khác với những phương tiện tương tự và hình thức tương tự nhắm vào tòa lãnh sự Anh và một ngân hàng của người Anh.

Ta hãy chú ý tới hai sự kiện: Thứ nhất, cuộc tấn công xảy ra trên đất nước Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey), là một nước Hồi Giáo thân Tây Phương. Thổ cũng là nước Hồi Giáo duy nhất có chân trong tổ chức Hiệp Ước Liên Phòng Bắc Đại Tây Dương (NATO). Thứ hai, cuộc tấn công nhắm vào cộng đồng Do Thái và chính phủ Anh Quốc, là hai đồng minh gắn bó nhất với Hoa Kỳ.

Suy nghĩ một chút ta thấy ngay kẻ chủ trương nhắm chia rẽ khối liên minh, nếu không thì cũng làm cho nhân dân các nước này nhất là Thổ và Anh cảm thấy đứng chung với Hoa Kỳ trong lúc này là bất lợi và nguy hiểm. Có lẽ vì ý thức được tác dụng bất lợi đó nên các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ, Anh và Thổ đều đã lên tiếng bày tỏ quyết tâm tiếp tục hợp tác và yểm trợ lẫn nhau trong cuộc chiến chống khủng bố. Ngay sáng hôm thứ sáu, Tống Thống Bush trên đường từ Luân Đôn lên vùng Đông Bắc Anh quốc đã gọi điện thoại cho thủ tướng Thổ Recep Tayyip Erdogan nói chuyện trong 7 phút. Theo phát ngôn viên Toà Bạch Ốc Sean McCormack thì hai nhà lãnh đạo Mỹ – Thổ đã xác quyết một lần nữa là sẽ sát cánh bên nhau trong cùng một lập trường. Cùng ngày ngoại trưởng Anh Jack straw đã tới Istanbul hội đàm với ngoại trưởng Thổ Adullah Gul và trong cuộc họp báo chung đã tuyên bố: Những cuộc tấn công này nhắm thẳng vào nhân dân Thố cũng như những quyền lợi của Anh Quốc.

Nhưng nhân dân Thổ thì sao? Hãy nghe một vài neười phát biểu nhân hai cuộc tấn công này. Cô Zehra Toprakceker, 24 tuổi, khóc người bạn chết trong vụ tấn công vào tòa lãnh sự Anh đã nói: “Chính Mỹ đã khởi đầu mọi chuyện!” Và trong đám tang của một nạn nhân, một người đàn ông để râu xồm nói: “Chúng tôi trả giá cho quyền lợi của ngoại bang. “

Chính ra không nên trưng dẫn hai câu nói của người dân Thổ trong bài này. Nhưng chúng tôi chỉ trích dịch lại lời của nhà báo Mỹ Craig S. Smith của tờ Nữu Ước Thời Báo. Tại sao lại nói không nên trích lại hai câu nói này? Vì nó có tác dụng phản tuyên truyền rất lớn. Người dân Mỹ sẽ vin vào những lời phát biểu đó để có thái độ tiêu cực đối với chiến tranh chống khủng bố. Tôi không biết rõ lập trường của ký giả này ra sao, và khi ông lấy tin, ông có gặp người dân Thổ nào phát biểu ý kiến hận thù bọn khủng bố hay không. Tôi nghĩ là thế nào cũng có. Thế thì tại sao không trích dẫn những câu thuận lợi cho cuộc chiến, thay vì hai câu bất lợi này. Phải chăng tác giả bài báo muốn gián tiếp lên án chính quyền Bush đã lật đổ Saddam Hussein để đưa tới cuộc chiến dai dẳng này?

Thực ra trong hàng chục vụ tấn công bằng bom tự sát của quân khủng bố tại Iraq trong 6 tháng qua, kể từ ngày Tổng Thống Bush tuyên bố cuộc chiến Iraq đã hoàn tất tốt đẹp vẫn thường có những lời phát biểu của người dân Iraq một cách giống như dân Thổ, được các phong viên trích dẫn đưa lên mặt báo, khiến người đọc lấy làm ngại.

Dù muốn dù không thì các giới chức quân sự nhất là bộ Quốc Phòng không thể nào làm ngơ trước sự việc trên. Liền sau 4 vụ đặt bom tự sát tại Istanbul tuần qua, hôm thứ sáu 21-11-03 một giới chức quân sự đã cho biết là Bộ Quốc Phòng trù tính sẽ phải giữ mức 100,000 binh sĩ Mỹ tại Iraq cho đến tháng 3 năm 2006.

Đồng thời thứ trưởng Quốc Phòng đặc trách về tình báo cũng công nhận là ngành này thực có “hơi thiếu người”.

Lời xác nhận trên đã phần nào cho thấy nguyên nhân của tình hình bất ổn kéo dài. Nó cũng cho thấy một khía cạnh khác của cuộc chiến, phức tạp hơn các nhà quân sự thường nghĩ lúc đầu.

Nhưng thú nhận tình báo yếu kém mà thôi chưa đủ. Cần phải nêu lên và nhấn mạnh về sự thiếu vắng một kế hoạch tuyên truyền sâu rộng trong dân chúng, trong các cộng đồng người Ả Rập trên khắp thế giới. Vì rõ ràng “quân khủng bố” đã nhân danh chủng tộc Ả Rập và đạo Hồi để tấn công vào cái mà chúng gọi là “tập đoàn vô đạo Thiên Chúa Giáo” hay Ki Tô Giáo do Anh Mỹ đứng đầu. Chúng kêu gọi thánh chiến để tiêu diệt kẻ thù của đấng Allah.

Nhìn vào những sự kiện trên và xem xét lập luận của những tổ chức quá khích từng ủng hộ al-Queda, bin Laden và Hussein, chúng ta không khỏi nghĩ cuộc chiến này cũng là một cuộc chiến ý thức hệ gần giống như cuộc chiến của Cộng Sản trong gần một thế kỷ trước.

Do đó, nếu Cộng Sản ban đầu đã thắng bằng các phương tiện và thể thức phi quân sự (như tình báo gián điệp, khuynh đảo, nhất là bằng tuyên truyền), và cuối cùng bị tiêu diệt bởi những chiến lược sách lược phi quân ự và tâm lý chiến như đã diễn ra tại Ba Lan cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, thì ngàỵ nay những biện pháp phi quân sự và nhất là tuyên truyền cũng phải vận dụng tối đa mới mong kết quả mỹ mãn.

Vậy thì nhìn nhận thiếu người trong ngành tình báo thôi chưa đủ. Phải nhìn ra một thiếu sót quan trọng hơn là đoàn quân tâm lý chiến. Và nhất là một kế hoạch cụ thể đươc soạn thảo dưới con mắt của các chiến lược gia và các nhà sách lược tâm lý chiến. Làm sao nói hết được nhu cầu về mặt này, khi mà cuộc chiến đã hiện lên rõ rệt là một cuộc chiến tranh ý thức hệ?

Hãy chỉ nêu hết sức vắn tăt vài nét đại cương về vấn đề này. Cần có rất nhiều người nói thông thạo các tiếng Ả Rập biết nhiều về kỹ thuật tuyên truyền, đồng thời am hiểu phong tục tập quán từng sắc dân trong vùng, nhất là am tường về đạo Hồi. Phải tung rất nhiều tiền hầu nắm được một số đài và báo bằng tiếng Ả Rập, ngõ hầu giải thích cho nhân dân các nước Ả Rập và Hồi Giáo thấy mục tiêu của cuộc chiến chống khủng bố. Bằng mọi cách phân biệt tôn giáo (Hồi Giáo) với sự cuồng tín bạo động mà không một tôn giáo nào chủ trương vân vân…

Bài học Việt Nam cho thấy chính nhờ tuyên truyên có kế hoạch, kỹ thuật và nghệ thuật mà Hồ Chí Minh đã biến cuộc chiến phi nghĩa của một đảng cộng sản theo Nga, Tầu thành ra một cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam. Và cuối cùng đã thắng vì tuyên truyền và vì đối phương coi nhẹ tuyên truyền, để cho ngành truyền thông của mình tự biến thành quân đánh thuê cho Việt Cộng. Để rồi cho đến ngày nay Hồ Chí Minh được một bộ phận nhân dân VN và đa số dư luận thế giới ca ngợi là nhà ái quốc vĩ đại, là “Cha già dân tộc”.

Muốn nhìn rõ khía cạnh bi đát này, không thể chỉ bằng vài trang báo như thế này mà phải nghiên cứu sâu rộng hơn về nghệ thuật tuyên truyền cộng sản. Một số chương trong cuốn Tâm Sự Nước Non của Minh Võ xuất bản năm 2002, và tác phẩm Hồ Chí Minh Nhận Định Tổng Hợp xuất bản cuối năm 2003 đã cố phân tích một số khía cạnh liên quan đến vấn đề đó. Những ai quan tâm đến cuộc chiến hiện nay tại Iraq, và rộng hơn tại Trung Đông có thể tìm đọc hai cuốn sách trên, để so sánh thế chiến III và khả năng có thể có một thế chiến IV.[2]

[1]Cuốn NĐDLKTC xuất bản tháng 5-1998, tái bản tháng 10 cùng năm, in lần thứ 3 năm 2002. Cuốn PTPKTHH xuất bản năm 1999. Cuốn TSNN xuất bản năm 2002. Trong những cuốn sách này tôi đã trưng dẫn giáo sư Strausz-Hupé và 3 đồng tác giả cuốn Protracted Conflict, nhà báo Max Eastman, và nhà văn Nga giải Nobel về Hòa Binh Alexander Solzhenitsyn là 3 người đã minh thị gọi cuộc chiến tranh “lạnh” giữa hai khối Đông Tây ở thế kỷ 20 là ‘thế chiến III”.

[2] Về kế hoạch phi quân sự mà chính quyền Cộng Hòa Mỹ áp dụng tại Ba Lan với sự yểm trợ và tiếp tay của Vatican, nhằm đánh đổ đế quốc Liên Xô vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 thế kỷ trước đã được mô tả trong chương 10, cuốn Tâm Sự Nước Non, Ai Giết Hồ Chí Minh? . Vấn đề kỹ thuật và nghệ thuật tuyên truyền của CS đã được bàn qua trong hai chương 6 và 7 của cuốn sách trên.

minhvo_sign
San Diego ngày 22-11-2003

<—Trở về Mục Lục
—>13. Bầu cử ở Iraq và Phiếu Trắng

This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, MINH VÕ: Tâm Sự Nước Non. Bookmark the permalink.