TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAM (Paul Trần Vỹ): Chương II

Chương II
CUỘC CHIẾM ĐÓNG CỦA CỘNG SẢN

NHỮNG NGÀY ĐẦU

Ngày 30 tháng 04 năm 1975 vào 08 giờ sáng, tôi nghe trên đài phát thanh lời kêu gọi của Tổng Thống chính phủ vừa mới thành lập, ra lệnh cho binh sĩ quân đội Quốc Gia Việt Nam đơn phương ngưng chiến đấu.

Đã nhiều ngày nay, nhất là từ khi không nghe thấy tiếng rồ của trực thăng Mỹ nữa, và có lẽ ngoại trừ một vài thành viên ngây thơ của chính phủ này, trong lo âu và sợ hãi mọi người chờ sự tiến quân sắp đến của đoàn quân Cộng Sản vào Saigon. Riêng tôi, tôi có một cảm giác lạ thường, tâm hồn trống rỗng khi nghe lời kêu gọi ấy. Có thể nói như khi đứng trước mặt một người hấp hối sắp chết, nghe tiếng nấc cuối cùng kèm theo một sự im lặng kéo dài làm nát lòng người ta.

Saigon khốn nạn ơi, để che chở mi, mi đã có những tướng lãnh và chính trị gia mà tinh thần danh dự là con số không: đối với bọn này, đầu hàng không chiến đấu, phản bội công khai là tột điểm của sự khôn ngoan chính trị.

Saigon khốn nạn ơi, chính những đứa con mi đã phản bội mi, anh em mi đã hiếp đáp mi, bóp cổ mi, tuy vậy chén đắng của mi chưa đầy. Chẳng bao lâu sau đó, người ta còn muốn vĩnh viễn xoá tên mi khỏi trí nhớ của chúng ta và người ta sẽ cướp mất tên mi.

Ngày mà trong trại tập trung, chúng tôi biết được giọt nước cuối cùng thêm vào chén khổ nhục của mi., một trong anh em chúng tôi vẫn còn biết tìm ra những từ ngữ thich đáng để tự khích lệ:

“Stalingrad bây giờ không còn nữa. Volga đã lấy lại tên mình! Vậy thì Saigon cũng thế, như con phượng hoàng trong huyền thoại, một ngày nào đó, sẽ sống lại tùu đống tro tàn”.

Trong lúc ấy, ở dinh Độc Lập, Dương Văn Minh trong bộ quân phục tướng bốn sao, bên cạnh có Vũ trọc đầu và phần đông những thành viên của chính phủ giờ thứ 24, đang chờ trong lo âu “những đại biểu toàn quyền” cộng sản để thành lập một chính phủ liên minh gồm 3 thành phần (Cộng Sản, Quốc Gia và chính họ, những người trung lập). Thương thay cho họ, họ phải chờ cho đến ngày xuống mồ … vì những lời đầu tiên mà người sĩ quan Bắc Việt nói với họ là: “các anh là tù binh của chúng tôi”.

Chính tại thành phố Saigon, cuộc tiến quân Cộng Sản vào lúc 11 giờ không có chi là “ngoạn mục”. Vài trung đội thiết giáp, tiếp theo là những xe vận tải chở đầy lính vũ trang hùng hậu, mặc đồ ngụy trang, tiến vào Saigon từ ngả xa lộ Biên Hoà và phân tán theo những trục lưu thông chính để chiếm những điểm chiến lược của thành phố.

Cũng chẳng có những đám đông hiếu kỳ để cổ võ họ. Chỉ có vài nhóm người e sợ yên lặng đứng trước cửa nhà nhìn họ đi qua. Mặc dù nhà tôi ở gần chùa Xá Lợi, nơi một thuở đã là trụ sở của phong trào Phật Giáo chống chánh phủ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và không xa lắm Vương Cung Thánh Đường Saigon, tôi đã không nghe tiếng trống hay tiếng chuông đổ để đón chào những người Cộng Sản như một vị tu sĩ nào đó sống ở Gia Nã Đại tưởng là đã nghe được!

Không phải như ở Hà Nội năm 1945, mà cờ Việt Minh được treo hầu hết mọi mặt nhà, cả trước khi họ giành được chính quyền! Dù rằng, ở Saigon những ngày ấy, không có người nào để ngăn cản bất cứ ai muốn treo cờ! Chỉ 24 giờ sau khi đoàn quân Cộng Sản đã vào người ta mới thấy xuất hiện những toán thanh niên do “cán bộ Cộng Sản nằm vùng” tập họp lại.

Từ hơn 48 giờ, cùng với gia đình, tôi cảm thấy như bị túm vào trong một cái lưới, tuy rằng vài ngày trước đó khoa trưởng đại học của tôi đã gặp lãnh sự Mỹ đặc trách chương trình di tản và ông này đã hứa là sẽ đem đi kịp thời tất cả các công chức cấp cao của đại học và gia đình của họ. Thật vậy, sáng 28 tháng 04 thật sớm, vài người trong chúng tôi đã nhận được điện thoại báo hãy sẵn sàng vì có xe ca sẽ đến đón. Chúng tôi đã uổng công chờ cả ngày cho đến khi hết phi vụ trực thăng di tản. Lúc bấy giờ như chuột sa bẫy, chúng tôi chạy đôn chạy đáo để săn tin hầu cố trốn khỏi Saigon.

Ngày mồng 1 tháng 5, buổi sáng, một bà hàng xóm và cũng là bạn, cho tôi hay rằng đệ thất hạm đội Mỹ còn đi tuần ngoài khơi Vũng Tàu và người ta có thể từ Vũng Tàu ra bắt kịp và xin được tiếp nhận. Chúng tôi quyết định cùng với hai gia đình hàng xóm khác thử rời khỏi nước bằng đường này. Rất nhanh, vì những hành lý của chúng tôi đã sẵn sàng từ nhiều ngày rồi, chúng tôi lên xe đi ra bến tàu Saigon.

Tại đây, sau nhiều giờ thương thuyết khó khăn, chúng tôi thành công trong việc thuyết phục chủ một chiếc tàu xà-lúp bằng lòng đưa chúng tôi tới Vũng Tàu với một giá mười lần đắt hơn giá thường ngày. Vậy chớ cũng phải hơn một giờ sửa soạn chúng tôi mới có thể lên đường. Vào ba giờ chiều, đến hợp lưu sông Saigon và sông Đồng Nai khoảng cách Saigon độ 15 cây số chúng tôi thấy hai tàu xà-lúp chở đầy người đi ngược lại; khi đi ngang qua họ, chúng tôi hỏi vì sao họ trở về Saigon và họ trả lời vắn tắt là không thể đi ngả Vũng Tàu được nữa. Mặc dầu rất thất vọng, chúng tôi vẫn tiếp tục hành trình và ít lâu sau đó, chúng tôi lại gặp một chiếc xà-lúp mà chủ là bạn của chủ thuyền chúng tôi. Ngừng lại bên nhau anh ấy giải thích vì sao anh trở về: những tàu của đệ thất hạm đội Mỹ không còn ngoài khơi Vũng Tàu nữa và từ chiều hôm qua, Việt Cộng cấm ra khơi, kể cả những thuyền nhỏ đánh cá Những lời giải thích cặn kẽ này làm tan biến nỗi hy vọng của chúng tôi và chúng tôi quyết định trở về Saigon. Về đến vài trăm thước phía nam hải cảng, chủ tàu cặp vào cầu nhỏ sau nhà và mời chúng tôi nghỉ chốc lát ở bờ sông.

Vì trời tối rồi, ông ta bảo dọn cơm cho chúng tôi ăn và chúng tôi bàn bạc xem còn có thể kiếm con đường nào khác để trốn. Ông ta đề nghị chúng tôi đi một lần nữa về hướng Vũng Tàu. Một khi đến cửa sông Đồng Nai và sông Cửu Long và qua những con kỉnh chúng tôi sẽ đến Rạch giá, thành phố nằm ở vịnh Thái Lan. Ông ta nghĩ là ở đó người ta có thể dễ dàng thuê một thuyền chài để đi dọc theo bờ biển và rời khỏi nước. Dự tính này có vẻ thực hiện được, nhưng chúng tôi nài nỉ ông ta nhận môi giới cho chúng tôi những người đánh cá ở Rạch Giá để thuê thuyền. Ông ta từ chối và nói rằng sẽ không khó khăn gì tìm được một người bằng lòng chở chúng tôi đến tận Thái Lan. Chúng tôi bàn bạc tới khuya và đồng ý là mỗi gia đình sẽ nghiên cứu vấn đề này và sáng hôm sau, ai muốn sẽ đi, và những người kia sẽ trở về Saigon bằng xe cyclo đạp.

Sáng hôm sau, gia đình tôi và một gia đình nữa quyết định trở về Saigon, hai gia đình kia thử một cuộc mạo hiểm mới. Trong lúc chúng tôi lên xe cyclo đạp thì họ lên xà-lúp. Năm ngày sau họ cũng trở về Saigon, kiệt quệ về thể xác và tài chánh.

Ở thành phố, từ hôm trước, đài vô tuyến truyền hình phát thanh một thông cáo của bộ chỉ huy quân đội Cộng Sản ở Saigon, ra lệnh cho toàn dân phải tiếp tục hoạt động như trước, nếu không sẽ bị trừng phạt nặng nề. Công chức phải đến chỗ làm việc trong tất cả những cơ sở hành chánh, thợ thuyền phải đến xưởng và những người buôn bán đến cửa tiệm hay quày hàng ở chợ … Tôi gọi điện thoại đến sở tôi và biết được là phần đông các đồng nghiệp của tôi đã trình diện, tôi nói với người thư ký là tôi bị bệnh, nhưng người ta bảo tôi là chiều phải đến. Khoảng ba giờ chiều tôi đến sở và đi gặp cán bộ, người đã tiếp thu cơ quan của chúng tôi. Tôi thấy thật nhẹ nhõm khi nhận ra anh ta là một trong những người đàn anh của tôi ở đại học Hà Nội, và cũng là một đồng nghiệp ở Thanh Hóa, khi mà tôi còn ở trong hàng ngũ kháng chiến quốc gia chống ngoại xâm. Chứng tôi khá thân và ngày nay tôi còn nhớ đến một cuộc hành trình chung trong liên khu ba (vùng châu thổ sông Hồng Hà khi chúng tôi đến dự ‘Hội Nghị Quân Y’ . Trong hành trình này chúng tôi phải vượt một chặng đường vào đêm vì có thể đi gần một trạm kiểm soát của quân địch, nhưng thay vì đi chặng đường nguy hiểm này chúng tôi đã thuê một chiếc thuyền nhỏ đi trên một khúc sông, để khỏi phải đi bộ vào ban đêm. Đêm hôm ấy trời sáng trăng, chúng tôi ở trước mũi thuyền, người chèo thuyền ở đằng sau. Thuyền lắc lư ru chúng tôi ngủ, trong thanh tịnh và tươi mát của đêm khuya. Chúng tôi thật thoải mái, đó là một trong những giây phút thật hiếm có mà tâm hồn thổ lộ sự thực thà và tạm thời quên đi sự giả dối thường trực mà mọi người trí thức sống dưới chế độ Cộng Sản buộc phải tự bó mình vào lời nói và cử chỉ. Lúc bấy giờ chúng tôi trò chuyện thân mật về tương lai về chuyện gì sẽ xẩy ra trong năm hoặc mười năm nữa, lúc hết chiến tranh, lúc chúng tôi trở về thành phố … “Lúc ấy so với các đồng nghiệp đã ở lại thành phố, chúng tôi sẽ bị, mỗi ngày mỗi bị vượt qua, dốt nát hơn trong địa hạt khoa học; cả về phương diện chính trị chúng tôi cũng sẽ không được đối đãi hơn họ vì ông cha “tiểu tư sản”, vì với học vấn trong những trường thực dân không khi nào Đảng sẽ tin cậy vào chúng tôi! Tuy vậy mà “chính nghĩa” có vẻ ở về phía chúng tôi và đảng, bởi vì nền độc lập mà đồng bào ở thành phố khoe khoang đã có, chỉ là bằng miệng lưỡi, vì toàn thể chánh quyền ở trong tay công chức Pháp, kể cả những đồn cảnh sát nhỏ, còn về lính Việt Nam thì là những vệ binh bản xứ, những phụ lực quân dưới quyền điều khiển của đạo quân viễn chinh Pháp”.

Sự thẳng thắn dầu sao cũng có giới hạn của nó và chúng tôi giữ im lặng nhiều phút; mỗi người chìm đắm trong ý nghĩ thầm kín của mình… Trong những năm sau đó, tôi thường nhớ đến những giây phút cởi mở này và vào những năm đầu thập niên năm mươi, khi cộng sản bắt đầu thôn tính và lợi dụng kháng chiến quốc gia, khi họ kiếm cách thay thế những người Quốc Gia có chức phận ít nhiều quan trọng bằng những đảng viên của họ, khi vị giám đốc khu vực chỉ huy tôi bị một anh cộng sản “giờ chót” thay thế, ông ta bảo tôi dọn gia đình, lúc ấy ở gần thị xã Thanh Hóa, về một làng ở vùng núi xa biển, những suy tư trước đây lại trở về với tôi, đó là đi về miền tự trị Phát Diệm do tự vệ của Đức Giám Mục Lê Hữu Từ kiểm soát.

Vậy là buổi chiều ngày mồng 02 tháng 05 năm 1975, tôi lại đã ở đại học và gặp lại tất cả đồng nghiệp cũng như tôi, đã hoài công chờ chiếc xe buýt đáng lẽ phải đưa chúng tôi đến trực thăng di tản. Khoảng 16 giờ, cán bộ chính trị đại diện cho bộ Y Tế (6) (Hà Nội) đến viếng thăm đại học và gặp nhân viên, vì trong guồng máy cộng sản đại học y khoa trực thuộc bộ Y Tế. Ông ta đọc một bài diễn văn ngắn bảo chúng tôi cộng tác trung thành với chế độ mới và hẹn sẽ trở lại đề nói về việc giáo dục y khoa theo quan điểm của Cộng Sản. Ngày hôm sau chúng tôi được triệu tập tới dự một cuộc họp tất cả nhân viên mà trưởng phòng hành chánh và cũng là chánh trị viên của đại học, bảo chúng tôi viết báo cáo tiểu sử của mình và phải nộp cho ông ta trong vòng 24 giờ. ông ta phác họa nhiều điều mục bắt buộc: dòng họ nội ngoại (họ, tên, nghề nghiệp, hoạt động nghề nghiệp, khuynh hướng chính trị, tiểu sử cá nhân, từng chi nết từ tiểu học đến đại học (tên trường, địa chỉ, tên thầy cô), bạn bè, sở thích, những công việc, những nơi liên tiếp đã ở, danh tánh của chồng/vợ, dòng họ, tiểu sử cá nhân từng chi tiết …, bà con trực hệ và bàng hệ, hai bên nội ngoại … Đúng là một sự thẩm tra gắt gao vừa về chiều sâu (theo thời gian) và về bề mặt (liên can đến vòng quan hệ họ hàng và quen biết)!

(6) “Cadre politique” trong nguyên bản Pháp văn là chữ dịch ra tiếng Pháp của chữ “cán bộ” chữ này là phiên âm bằng tiếng Việt của chữ Tàu “Kan Po”. Nhưng từ này cũng chỉ là phiên âm thu gọn lại của những tiếng Nga “Kadz polilitcheskii”. Những cán bộ chính trị trước hết là những cán bộ của đảng Cộng Sản, là những người mà đảng coi là có khả năng cho chức vụ lãnh đạo nào đó trong đảng hay trong chính phủ do tư tưởng mác-xít họ đã thấm nhuần, cho phép họ giải thích mọi điều và lãnh đạo tất cả. Trong một chính thể thật sự cộng sản, như là ở Việt Nam, không có giáo sư, không có bác sĩ, không có kỹ sư như chúng ta quan niệm, nhưng chỉ có những cán bộ giáo huấn, y-tế, kỹ-thuật. Thật sự thì những người này để chính trị mác-xít lên trên chức vụ kỹ thuật của họ. Bởi thế, trong một cuốn sách khoa học Liên Xô về đề tài “Thiết lập và Tồn Tại của phản xạ trên não bộ” tác giả đã không ngần ngại viết rằng lý luận của Pavlov là đúng vì nó phù hợp với lý thuyết vật chất lịch sử của Marx!

Những ngày sau đó, người ta triệu tập chúng tôi từng nhóm nhỏ vào bàn giấy chính ủy để làm căn cước mới có lăn dấu tay. Người ta cũng bắt đầu kiểm kê vật liệu của mỗi khu, kiểm kê thật tỉ mỉ, nhất là những gì liên can đến chất hóa học đều được cân, những gì trong lọ gắn kín cũng lấy ra cân và sau đó được để lại vào lọ!

Trong lúc đó thì “ủy ban Phường” được thành lập ở thành phố và người ta phát cho mỗi nhà mẫu khai lý lịch những người cư trú với những chi tiết về căn cước và tình trạng hộ tịch.

Ngay khi trở về, sau cuộc vượt biên qua ngã Vũng Tàu thất bại, dĩ nhiên tôi tiếp tục thăm dò những khả năng của một mưu toan khác. Ngày 06 tháng 05, tôi gặp một người bạn cũ, cựu dân biểu thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm và chúng tôi đồng ý tổ chức một cuộc ra đi bằng đường biển từ Phước Hải, một làng cách vài cây số ở phía bắc Vũng Tàu. Anh ấy cần một tuần lễ để góp đủ số tiền cần thiết. Ngày 12 tháng 05 anh ấy trở lại gặp tôi cùng con trai, một phụ giảng đại học. Chúng tôi đồng ý gởi cậu này ra Phước Hải để thương lượng mua một chiếc tàu đánh cá và thực hiện những chuẩn bị cần thiết. Vì từ vài ngày nay tôi có nghe nói là Việt Cộng cho phép những người di tản chạy trốn quân đội Cộng Sản được trở về địa phương quê quán của mình cho đến ngày 20 tháng 5, tôi căn dặn cậu ta cố gắng hết sức để có thể ra đi trễ lắm là ngày 17 tháng 5.

Ngày 14 tháng 5, cậu ấy trở về và nói là đã mua được một tàu đánh cá dài mười thước với 1 động cơ bốn khối, nhưng còn phải cho kiểm tra lại đầu máy và sửa lại lặt vặt vài chỗ trước khi sử dụng. Cậu ấy hy vọng là chúng tôi sẽ lên đường trước ngày 16 thámg 5, đồng thời cậu nói thiếu tiền và phải kiếm thêm hai hoặc ba người cùng đi nữa, để chia sẻ tổn phí hành trình. Ngày hôm sau, tôi giới thiệu với cậu một gia đình nữa gồm ba người trong đó có một bé thơ, cũng muốn đi cùng chúng tôi. Tôi cũng nói với cậu là ngày 18 tháng 5 là ngày khởi hành cuối cùng mà tôi có thể chấp nhận được và sau ngày đó tôi sẽ rút lui không đi nữa. Ngày 18 tháng 5, cậu đến nhà tôi lúc 12 giờ trưa để đưa gia đình tôi ra Phước Hải. Vào 15 giờ chúng tôi lên xe ca thường, ra đi đường Saigon-Vũng Tàu. Đến quãng cách Vũng Tàu 20 cây số, chúng tôi xuống xe và đi vào một con đường làng nhỏ đưa đến làng Phước Hải, ở vài cây số phía bắc Vũng Tàu. Một vài gia đình đã đến đó rồi, vài gia đình khác đến tiếp theo và khi đêm xuống mọi người tới đông đủ. Người ta cho chúmg tôi trọ trong hai nhà tranh, lẫn lộn trên những chiếc chiếu trải ngay dưới đất. Dù thế, chúng tôi cũng không bất mãn lắm khi nghĩ rằng chỉ còn đợi một, vài giờ nữa thôi. Nhưng sau bữa cơm, cậu phụ giảng đại học trẻ tuổi phụ trách chuyến đi báo cho chúng tôi biết những khó khăn giờ chót: đầu tiên là chỉ có xăng nhớt tiếp tế đầy đủ vào đêm hôm sau, và phần khác là Ủy Ban Hành Chánh xã đáng lẽ cấp giấy thông hành giả cho chúng tôi, đã làm khó dễ, cho nên cậu bảo mỗi gia đình chúng tôi đóng góp thêm một lạng vàng và ráng đợi thêm một ngày nữa. Những yêu sách liên tiếp này, những đóng góp mới, sự thiếu tiện nghi của chỗ ở chật chội và ồn ào vì trẻ con la khóc.., thời hạn chậm trễ bất trắc, sự bất lực trong tiến trình sự việc, làm cho vợ chồng chúng tôi bất mãn.

Chúng tôi tự hỏi không biết cậu thanh niên này có lừa dối chúng tôi không, có làm eo sách chúng tôi không khi đòi hỏi thêm tiền mãi. Có lúc chúng tôi toan bò cuộc và trở về Saigon. Nhưng cũng không dễ gì kiếm phương tiện để rời khỏi làng này và dù sao đi nữa chúng tôi cũng đã trả hết những phí tổn phần của chúng tôi. Tình trạng khó chịu này kéo dài hai ngày cho đến chiều ngày 20. Lúc ấy người phụ giảng trẻ tuổi cho chúng tôi hay là mọi chuyện đã được thu xếp xong xuôi và chúng tôi sẽ lên đường sáng hôm sau. Tin này làm chúng tôi đỡ băn khoăn mặc dầu còn lo âu vì chiều hôm đó một thiếu nữ trong làng đã cho vợ tôi hay sáng nay Việt Cộng đã bắt lại cả một chiếc tàu đầy người kiếm cách rời nước và họ hiện đang bị giữ trong một trại tù binh ở bên kia sông. Cả đêm tôi không sao nhắm mắt được, tâm thần tôi đi từ giấc mơ đến ác mộng, khi thì tôi thấy tàu chúng tôi bị ca-nô Việt Công đuổi bắt, khi thì tàu yên lặng lướt sóng trên biển cả, còn khi thì tôi lại cùng bạn đồng hành ngồi chồm hổm trên một bãi biển dưới sự canh gác của công an Việt Cộng, bộ mặt đầy thù hận sát nhân, súng liên thanh chia thẳng vào đầu chúng tôi. Vào ba giờ sáng, mọi người đều đã thức dậy. Chúng tôi mặc quần áo vội vã bồn chồn dọn dẹp đồ đạc, va li, túi bị, rồi…chờ. Người ta dọn cho chúng tôi một bữa cơm sơ sài. Vào lúc bốn giờ, chúng tôi bắt đầu ra đi. Vừa đi được khoảng 100 thước, chúng tôi dừng lại, trong bóng tối ai đó đi giữa chúng tôi và bảo rằng du kích làng làm khó dễ và phải cho họ chút ít nữa? Nhiều người còn tiền trong túi đưa cho họ, riêng chúng tôi chẳng còn bao nhiêu, chúng tôi đưa cho anh ta đồng hồ đeo tay của con trai chúng tôi. Sau đó chúng tôi lại lên đường. ít lâu sau đã đến bờ sông, chúng tôi đi dọc theo bến vài trăm thước thì đến tàu. Nhờ một tấm ván bắc nghiêng chúng tôi đi xuống từng gia đình một, vào ba khoang trong tàu. Trên boong chỉ còn người lái và anh phụ giảng trẻ tuổi.

Lúc đó khoảng 04 giờ rưỡi sáng. Mỗi người đều lo nguyện cầu; người thì cầu Chúa và “Mẹ vô nhiễm nhân từ” , kẻ khác “Phật cứu khổ cứu nạn”. Người ta cao giọng nguyện cầu, như thể là tiếng cầu kinh có thể làm dịu đi nỗi lo âu của mình. Tàu sẽ khởi hành sau năm giờ sáng như dự tính, vi Việt Cộng chỉ cho phép tàu bè đánh cá ra biển từ giờ đó thôi.

Thế rồi chúng tôi nghe được vài chiếc tàu đó về phía cửa sông, vài phút sau đó chúng tôi nhận thấy tiếng ù ù của động cơ tàu chúng tôi và vỏ tàu chuyển động; tiếng cầu nguyện cũng dịu dần. Từng phút dài trôi qua, đột nhiên chúng tôi nghe tiếng tắc tắc của tiều liên và cảm thấy tàu đổi hướng.

“Chuyện gì vậy ? Tôi kêu lên và đi về phía cửa boong tàu.

– Chúng nó đang bắn vào chúng ta!

– Mặc kệ! hãy cứ tiếp tục! cứ tiếp tục!

– Chúng nó đã bắn trúng vào mũi tàu!”

Hoa tiêu đã hướng tàu chúng tôi vào bến. Chúng nó không bắn nữa nhưng ra lệnh cho chúng tôi cặp bến.

Thất vọng đến nỗi không ai nói nên lời, tiếng nguyện cầu cũng đã im bặt. Riêng tôi, tôi thấy bình thản một cách lạ thường, như vào những giây phút cuối cùng của tử tù trước giờ bị hành quyết. Quả tôi đã trải qua cái cảm giác đó. Biến chuyển quá đột ngột từ hy vọng vào Tự Do cận kề sang một tin chắc chắn là bị bắt và bị cầm tù, làm tê hệt mọi phản ứng trong tâm hồn tôi, tôi dửng dưng nghe tiếng động cơ của đầu máy ngừng lại, tiếng cọ xát vỏ tàu trên cát, tiếng ồn ào và tiếng la hét bên ngoài, cho đến lúc có người nghiêng mình vào cửa boong tàu bảo chúng tôi lên cầu tàu, từng người một.

Tôi là người cuối cùng rời khỏi khoang tàu. Đứng ở dưới tàu là một người đàn ông bận đồng phục màu xanh lá cây và mũ ca-lô có phù hiệu công an nhân dân tay đặt vào cò súng khẩu tiểu liên hướng về phía tôi. Biết trước sự khắt khe của họ, tôi cảm thấy hoàn toàn tuyệt vọng, khi mà thay vì để tôi như những người khác đi về phía cầu tàu xuống bến, anh ta ra lệnh cho tôi đến gần anh ta, và khi tôi đến khoảng hai thước cách anh ta, anh ta bảo tôi dừng lại, nhìn chăm chăm vào tôi vài khoảnh khắc rồi ra lệnh cho tôi quay lưng lại. Chầm chậm tuân lệnh anh ta, tôi chờ nhận một tràng đạn vào lưng .. Điều này cho tôi cảm tưởng là đã kéo dài một thế kỷ:.. cho đến lúc tôi nghe anh ta nói: “Hãy xuống đất liền.”

Trên bờ có ba công an khác đợi tôi, họ bảo tôi bò hết đồ trong túi ra và vất hết xuống một gốc cây, ngay gần đó, rồi trở lại với những bạn đồng hành của tôi, cách đó độ 100 thước dưới một nhà kho mà khoảng mười du kích quân vũ trang súng trường đang bao vây Tôi lôi ra khỏi túi ví tiền, quyền sổ tay, chìa khoá và vài giấy tờ khác mà tôi vất xuống đất, rồi đến nơi vợ tôi, con trai tôi và bạn đồng hành đã ở đó rồi.

Từ từ chúng tôi hoàn hồn, bắt đầu nhận xét tình cảnh bình tĩnh hơn và tự nhủ: ‘Mình đã là tù nhân rồi, một lát nữa họ sẽ đưa mình về một trại giam. Họ sẽ giữ mình làm tù nhân trong bao nhiêu lâu đây? không ai biết gì cả! Cho tới nay họ chưa thả một ai mà họ đã bắt, nhưng há chẳng đã có tin rằng một “đôi khi họ để cho đàn bà về, nhất là những bà có con nhỏ …”

Một vài người đồng hành, đặc biệt đàn bà và trẻ con mà công an không buộc trút bỏ đồ trong túi xuống gốc cây, đã bắt đầu tiêu hủy những giấy tờ có thể gây liên lụy.

Một ông đại tá đã kể cho tôi nghe sau đó là trong lúc sợ hãi không suy xét, ông ta đã nhai và nuốt đi một ngân phiếu hai ngàn mỹ tim. Chính tôi tôi đã bảo vợ tôi đi vất bỏ những nữ trang giấu trong người. Bà đến một bụi cây như để phóng uế, và trở về nói với tôi là xong rồi. Một lát sau vợ tôi lại trở ra chỗ cũ, lần này tôi nghĩ là thật sự để tiểu tiện, và tôi đã không nói gì. Trong lúc đợi chờ dai dẳng này, mỗi gia đình tụ họp lại để ở chung với nhau hơn là để chuyện trò. Quả thật chúng tôi chẳng còn gì để nói nữa, nhưng chúng tôi thống nhất tư tưởng một cách mãnh liệt, như để an ủi nhau, để khích lệ nhau chịu đựng tương lai buồn khổ, chúng tôi nhìn nhau không nói gì như để ghi khắc hình ảnh của mỗi người trước khi bị vào tù trong những khu vực khác biệt.

Trong khi đó, cách khoảng 100 thước công an lục soát tàu Phải mất nhiều thời giờ: trong hơn hai tiếng đồng hồ bị lục soát, chúng tôi lo âu đợi chờ họ ra khỏi tàu và quyết định về số phận của chúng tôi. Cuối cùng chúng tôi thấy họ ra khỏi tàu và cả bốn người đi về phía bụi cây cách khoảng khá xa kho hàng, nơi mà chúng tôi bị giam giữ dưới sự canh chừng của du kích vũ trang. Họ tranh luận rất lâu, một tiếng đồng hồ hay hơn nữa. Sau cùng chúng tôi thấy một trong bọn họ đứng dậy và đến nói gì với một du kích đi theo họ. Tức thì anh ta đi về phía chúng tôi:

“Các chủ gia đình đi theo tôi để nhận lệnh của công an, Những người khác ở lại đây”.

Chúng tôi chào giã biệt gia đình và đi theo du kích tới bụi cây có những công an. Người du kích bảo chúng tôi dừng lại lúc còn cách họ vài thước. Những người công an này đang lượm giấy tờ rải rác dưới đất, liền đứng dậy tất cả và người lớn tuổi nhất trong bọn họ, người đã cầm giữ tôi trước mũi súng tiểu liên lúc ở trên tàu, nói với chúng tôi:

“Chúng tôi đã xem xét giấy thông hành do ủy ban hành chánh làng Phước Hải cấp phát và cho phép mấy người về quê ở thành phố Đà-Nẵng. Giấy tờ hợp lệ, tuy nhiên giấy tờ của tàu lại không cùng số với bảng số sơn trên ca-bin tàu, vậy là số giả. Cho nên chúng tôi tịch thu chiếc tàu này. Bây giờ chúng tôi cho phép mấy người lấy hành lý và rời khỏi nơi đây. Chúng tôi khuyến cáo các anh chị kiếm cách về Đà Nẵng bằng đường bộ, vì hải quân của chúng ta hiện đang kiểm soát cả mặt biển và các anh có nguy cơ bị đánh chìm xuống đáy bể! Bây giờ các anh có thể đi”.

Tôi không tin vào tai mình khi nghe thế. Cả những người đồng hành cũng vậy. Lập tức chúng tôi chạy về với gia đình mình, quên cả cảm ơn mấy người công an Đến khoảng 20 thước cách kho hàng, nơi mà gia đình đang đợi trong lo âu, chúng tôi reo lên :

“Leo lên tàu lấy hành lý. Họ để cho mình tự do đi. Họ chỉ tịch thu chiếc tàu thôi!”

Tất cả chạy về phía tàu đi ngang trước bụi cây, mà nhiều người đã vứt ví tiền và giấy tờ, tôi lượm lại đồ của tôi. Chúng còn y nguyên và đã không ai động đến.

Chúng tôi chỉ cần có độ 15 phút để lấy va-livà túi xách còn ở trong khoang tàu. Một vài cái vẫn còn mở sau cuộc lục soát của công an. Chúng tôi vội vã đậy lại và cũng không để thì giờ soát xem có thiếu gì không vì nỗi háo hức, hối hả của chúng tôi để rời khỏi nơi này.

Trong lúc đó công an nhân dân đã leo lên xe jeep của họ và bỏ đi. Du kích cũng theo họ từ từ đi khuất.

Như một phần đông những gia đình khác, tôi đã lên bờ với gia đình và tất cả hành lý, bỗng một bà vợ của một người đồng hành bắt đầu la lên:

“Chúng nó đã lấy của tôi 20 lượng vàng và 2000 đô la Mỹ”.

Sợ du kích nghe được, tôi nói:

“Im miệng lại, nếu chúng nó nghe bà nói, chúng ta đều toi mạng .

– Thây kệ, chúng phải trả lại vàng và đô-la cửa tôi.”

Cuối cùng ông chồng cũng đã dỗ êm bà ấy.

Một vài khoảng khắc sau đó, chúng tôi thấy ló dạng trên sông một chiếc ghe đánh cá. Chứng tôi ơi ới gọi người chèo thuyền và cùng với ba gia đình khác xin chở chúng tôi đến một xóm ở bên kia bờ sông, lên phía thượng lưu một chút.

Chúng tôi đến đó vừa kịp lúc để chen chúc leo lên một chiếc xe đò nhỏ chuyên chở hành khách giữa xóm này và tỉnh Bà Rịa; ở đó chúng tôi cũng may mắn đến kịp để lên chuyến xe cuối cùng về Saigon.

Khoảng 17 giờ chúng tôi về đến cửa nhà. Không có người nào ở trong nhà, người đàn bà mà tôi nhờ giữ nhà đã vội vàng rời đi sau khi một trong những phụ tá của tôi ở đại học đến hỏi tin tôi vì ngạc nhiên thấy tôi vắng mặt lâu dài. Cô giữ nhà tưởng đó là một công an Tôi đã phải leo qua cổng để vào bên trong sân, và nhờ ơn trên, chùm chìa khóa phòng hờ của tôi vẫn tình cờ nằm trong va-li tôi, do đó chúng tôi đã vào được nhà.

Sau những giờ phút lo âu từ sáng sớm, chúng tôi sung sướng được về lại nhà mình, nghĩ rằng mặc dù mưu toan chạy trốn thất bại, chúng tôi vẫn gặp thật nhiều may mắn, vì hậu quả có thể tệ hại hơn nhiều.

Vợ tôi cũng thố lộ rằng sáng nay sau khi giấu nữ trang vào bụi cây, chốc sau đã trở ra lấy lại. Đó là lý do khác để chúng tôi vui mừng. Lúc bấy giờ, nhớ lại mọi sự việc tôi đã hiểu tại sao nhưng người công an nổi tiếng khắt khe này, đã không bắt giữ chúng tôi; họ đã kiếm thấy vàng và đô la và muốn cướp lấy cho riêng họ. Họ không dễ bị lừa về tấm thông hành giả do Ủy ban hành chánh xã cấp, nếu họ gửi chúng tôi đến trại giam, ở đó trong những báo cáo sẽ phải làm, chúng tôi sẽ không quên nói tới việc ăn cắp vàng và đô la Mỹ, và họ sẽ phải bắt buộc hoàn lại mọi thứ cho Nhà Nước Do vậy mà họ khoan hồng!

Ngày hôm sau, tôi trở lại đại học; không có ai ở văn phòng của thủ trưởng (đó là tước vị của bác sĩ Ngô Như H., người đã tiếp thu đại học) đã biết tôi vắng mặt lâu dài, còn với những phụ tá của tôi, tôi bảo rằng tôi đã đi nghỉ vài ngày ở Vũng Tàu – cũng không hoàn toàn sai lắm? Vả lại chúng tôi không có gì nhiều để làm, ngoài việc kiểm kê đồ đạc trong nhà, vật liệu và hóa chất, nhưng không có gì liên quan đến sách vở và tài liệu! Hơn nữa tôi không phải đích thân lo những vụ kiểm kê này! Ông thủ trưởng rất muốn mở cửa đại học lại, nhưng đại diện của bộ Y Tế Hà Nội không đồng ý vì lý do chính trị. Cho nên chúng tôi đều đều đến trường mỗi ngày từ 8 giờ sáng đến 16 giờ chiều với một bữa nghỉ ăn trưa vào 12 giờ, để mà buồn chán nhớ nhung hay chuyện gẫu mưa nắng.

Tôi về Saigon kịp thời vì thứ bảy sau đó, tôi tiếp hai cán bộ bận quân phục đến bảo tôi đưa cho xem giấy tờ sở hữu căn nhà. Họ thêm rằng nhà này phải được giao lại cho chính quyền chiếm đóng vì theo một nghị quyết của ủy ban Quân Quản Saigon thì tất cả những nhà cho ngoại quốc thuê vào ngày 30 tháng 04 đều được coi là sở hữu ngoại quốc và bị tịch thu. Tôi đưa cho họ xem tờ hợp đồng chứng nhận rằng việc thuê nhà chấm dứt vào ngày 31 tháng 03 và nói với họ rằng tôi đã dọn về đây gần 1 tháng trước ngày 30 tháng 04.

Họ bỏ đi, nhưng hôm sau một trong bọn họ trở lại và doạ trục xuất tôi bằng vũ lực nếu tôi không giao nhà lại cho họ. Tôi phản kháng bằng quyền ở lại nhà của tôi và bảo anh ta đưa cho tôi coi bản quyết nghị của Ủy Ban Quân Quản. Anh ta không có và để giữ thể diện anh ta đòi tôi phải giao cho anh một bản sao tờ giao kèo cho thuê nhà và một tờ chứng nhận rằng tờ giao kèo không phải là giả, điều mà tôi chấp nhận làm để anh ta bỏ đi.

Trong thành phố, khắp nơi, những ‘Ủy ban Phường’ được thành lập. Trong quận của tôi ủy ban này được thành lập với hai người: một người là cựu chủ nhân một tiệm nhiếp ảnh và người khác ít ai biết và tự giới thiệu mình ớ trong phường từ nhiều năm rồi. Mỗi tuần có một buổi họp mà mọi gia đình được mời gởi một đại diện đến dự. Lúc đầu có độ năm chục người, một vài gia đình đã tránh không đến, sau đó phường có không quá mười lăm người. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện, về sự sạch sẽ của phường, về vấn đè an ninh, về những thông tư mới liên quan đến kiểm kê dân số, thống kê sở hữu nhà đất … Hai vấn đề quan trọng nhất mà chúng tôi phải thảo luận là cuộc bầu cử “ủy ban nhân dân phường ‘ và việc tham gia vào buổi họp chào mừng ủy ban Quân Quản thành phố.

Ngày bầu cử ủy ban nhân dân phường, chủ tịch ủy ban (tạm thời) bắt đầu kêu gọi người tự nguyện. Vì không ai ra ứng cử cả, anh ta đứng ra ứng cử, thư ký của ủy ban theo gương anh ta và chính họ giới thiệu người thứ ba ra làm ứng cử viên. Đó là một người chủ hiệu sắt vụn. Mọi người vỗ tay và bằng cách giơ tay lên bầu cho cả ba người. Người cựu chủ tịch và viên thư ký khiêm nhượng cám ơn trong khi người chủ hiệu sắt vụn hứa sẽ đem lại trật tự và bảo đảm an ninh trong phường, kiểm tra sự trung thành của nhân dân với chánh quyền cách mạng và nếu cần sẽ tìm ra tưng tích những kẻ phản Cách Mạng. Cán bộ đại diện cho công an quận, người lúc nào cũng có mặt ở những phiên họp của chúng tôi, khen ngợi mọi người, những người đắc cử cũng như những người bầu cử, và hứa sẽ xin cấp trên hợp thức hoá cuộc bầu cử này. Vào những phiên họp sau, anh bán sắt vụn được cử phụ trách an ninh đã trở nên càng ngày càng ngạo nghễ, nói đến mạng lưới những kẻ xung phong để giữ trật tự phường và dọa dẫm úp mở những người thiếu sốt sắng với Cách Mạng. Việc này kéo dài ba tháng, cho tới ngày -lúc bấy giờ tôi đã “đi rồi”- có một cuộc đột nhập của công an vào nhà anh ta và từ đó anh ta … biệt tăm.

Về buổi họp liên hoan chào mừng ủy ban Quân Quản thành phố, chúng tôi phải chuẩn bị phần tham dự của phường vào buổi liên hoan và cuộc diễn hành kế tiếp sau đó. Trong những buổi thào luận, một vài người đề nghị làm sao cho có số người tối đa đến dự cuộc họp liên hoan, để chào mừng ủy ban, những người khác gợi ý viết những khẩu hiệu trên biểu ngữ để cảm ơn ủy ban… Cuộc bàn cãi diễn ra sôi nổi. Sau đó tới phiên đại biểu của công an quận, anh tạ khen ngợi sự hăng hái của chúng tôi muốn (dự vào buổi họp liên hoan, nhưng nghĩ rằng về phương diện thực tiễn, tốt hơn là nên thành lập một phái đoàn ít người hơn vì theo anh ta ngoài gần 200 phái đoàn phường, còn phải kể đến những phái đoàn của những tổ chức và đoàn thể khác nữa. Rồi anh ta đề nghị chỉ những người trẻ tuổi từ 15 đến 35 tuổi đi dự. Còn những người lớn tuổi hơn, họ để họ hoàn toàn tự do đến hay không đến, dĩ nhiên lúc nào họ cũng được hoan nghênh … nhưng mọi người phải tụ họp ở trụ sở phường từ ba giờ sáng, sau đó phải đếm số người, kiểm soát danh tánh chia họ ra từng nhóm 20 người, trong mỗi nhóm một người phụ trách sẽ làm hai bản danh sách những người có mặt; người phụ trách giữ một bản, bản kia đưa lại cho phòng an ninh, rồi khoảng năm giờ sẽ đến chỗ do tổng ủy ban tổ chức chỉ định. Còn về biểu ngữ thì vì “mỹ thuật” của cuộc diễn hành, chì những mẫu của Ủy Ban này đề nghị mới được chấp nhận! Ý kiến của đại biểu công an quận được hoan nghênh và “nhất trí” tán thành!

Lúc đó báo chí Saigon chỉ còn hai tở thôi: tờ Saigon Giải Phóng, báo của Đảng và tờ Tin Mới do một nhóm thân cộng phát hành, nhấn mạnh về chánh sách khoan hồng mà Đảng và chính quyền Trung ương (Hà Nội) định áp dụng với những người Nam Việt Nam đã phục vụ vì thiếu kiến thức, làm đầy tớ cho đế quốc Mỹ. Họ thuật lại rất nhiều lời tuyên bố của những vị cao cấp trong Đảng và Nhà nước trung ương (Hà Nội) xác định ý muốn khoan hồng và ý định chỉ thực hành việc sát nhập miền Nam Việt Nam một cách từ từ, trong một thời gian từ hai đến ba năm.

Khoảng cuối tháng 5, một quyết định của ủy ban Quân Quản đăng trên báo, ra lệnh cho tất cả cựu quân nhân, công chức và chính trị gia phải đăng ký tại những cơ quan được thành lập để phụ trách việc này, nếu bất tuân sẽ bị trừng trị nặng. Là thành viên một đảng quốc gia, theo nghị định này tôi phải đăng ký. Dù vậy tôi lưỡng lự nhiều mặc dù tôi biết là những cơ quan công an Cộng Sản đều biết thành phần của những đảng phái quốc gia. Thực vậy, theo một đạo luật ban hành dưới thời Thiệu, chúng tôi phải nộp cho bộ Nội Vụ điều lệ và thành phần của ủy ban Trung ương Đảng và tất cả tài liệu lưu trữ của các bộ ở miền Nam Việt Nam đã nguyên vẹn rơi vào tay Cộng Sản. Trước ngày hết hạn đăng ký, tôi đến gặp một người bạn trong ủy ban trung ương đảng của chúng tôi để bàn xem phải làm gì. Anh ta nói với tôi rằng anh đã đi đăng ký chính sáng hôm nay, vì một thành viên khác của ủy Ban Trung ương đã đi đến đó và đã khai tên anh ta và tên tôi.

Vậy là ngày hôm sau, tôi đến bàn giấy đăng ký. Trước hết họ bảo tôi nộp thẻ căn cước, viết tờ khai lý lịch và làm một bản báo cáo về những hoạt động của đảng chính trị mà tôi là thành viên. Như đã thỏa thuận với bạn tôi hôm trước, tôi thêu dệt khá dài điều lệ, mục đích và mục tiêu của đảng chính trị chúng tôi, nhưng lại ít tiết lộ về những hoạt động thật sự và nhân số đảng viên. Khi tôi đi nộp tờ trình cho cán bộ phụ trách đăng ký, anh ta đọc đi đọc lại nhiều lần và đòi tôi giải thích bổ túc trước khi nhận báo cáo và trả thẻ căn cước lại cho tôi.

Vào đầu tháng 6 một quyết nghị khác của ủy ban Quân Quản thành phố đăng trên báo và được đọc trên đài phát thanh, ra lệnh cho tất cả hạ sĩ quan và chuẩn úy của quân đội miền Nam Việt Nam phải ra trình diện để theo học một khóa cải tạo chính trị ba ngày. Những lớp học tập cải tạo này được thực hiện như dự định và kết thúc trong thời hạn như đã thông báo.

Ngày 10 và 11 tháng 06 nhiều quyết nghị mới được ban hành, một ra lệnh cho các thiếu úy, trung úy và đại úy trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa phải đi trình diện để học tập cải tạo, mang theo mười ngày lương thực hay số tiền tương đương. Quyết nghị khác liên can đến các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp, những công chức cao cấp những chính trị gia (thượng nghị sĩ dân biểu và thành viên ủy ban trung ương các đảng chính trị trước 1975), những người này phải đem theo khoảng 14.000 đồng tương đương với một tháng lương thực và phải đến trình diện những trung tâm tập trung đã dự định, từ 13 đến 16 tháng 06 năm 1975.

Tôi báo cho vị phụ trách đại học y khoa biết về hoàn cảnh của tôi; lúc đầu anh ấy khuyên tôi đừng đi trình diện, nếu nhà chức trách địa phương hỏi lý do thì nói với họ do lệnh của thủ trưởng. Nhưng hai ngày sau, anh ấy nói thêm là đã hỏi ý kiến của vị đại diện Bộ Y Tế và người ta đã trả lời là tôi phải đi học tập cải tạo chính trị. Anh ấy nói thêm rằng chỉ dài một tháng thôi và một trong một cuối tuần sắp tới, anh ấy sẽ đến thăm tôi tại trại cải tạo.

—> Chương III
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, Paul Trần Vỹ. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s