TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAM (Paul Trần Vỹ): Chương III

Chương III
TRẠI TẬP TRUNG LONG THÀNH

Vậy là ngày 15 tháng 06 tôi đến trình diện tại địa điểm tập trung dành cho chính trị gia, đặt ở trường nữ trung học Lê văn Duyệt, Gia Định. Trường này cũng như tất cà những trường tiểu và trung học ở Saigon đã bỏ trống từ cuối tháng tư vì tất cả các lớp đã ngưng hoạt động. Nhiều trường đã trở thành nơi tập họp của những người phải đến trình diện để đi cải tạo Khi tôi đến trung tâm vào khoảng 15 giờ, có rất ít người. Người gác cổng để tôi vào khi tôi nói là tôi đến trình diện để đi cải tạo. Trong phòng đợi chỉ có ba hay bốn người mà tôi không quen biết đang đợi tới phiên mình để được một cán bộ ở một phòng nhỏ bên cạnh tiếp. Tất cả chúng tôi đều ngồi im lặng, ít nhiều lo âu về điều gì sẽ xẩy đến trong những ngày sắp tới. Riêng tôi những lời trấn an của người thủ trưởng làm cho tôi tin rằng sẽ chỉ là một giai đoạn buồn phiền, nhưng nói cho cùng, học tập một tháng sẽ qua nhanh, và sau đó cộng sản nay “muốn chứng minh ưu quyền chính trị” sẽ để cho chúng tôi yên.

Lúc đến phiên tôi ngồi trước anh cán bộ, thì trước hết anh ta bảo tôi đưa cho anh ta thẻ căn cước mà anh ta tức khắc bỏ vào hộc tủ, rồi anh ta bắt đầu hỏi tôi và ghi vào một cuốn sổ những câu trả lời về hộ tịch, lý lịch nghề nghiệp và chính trị của tôi. Anh ta cũng hỏi về những hoạt động đảng chính trị của tôi. Tôi cố gắng trả lời giống như ngày tôi đi đăng ký, hai tuần trước đó. Cuộc hỏi cung kéo dài độ nửa giờ, sau đó tôi phải qua phòng bên cạnh đóng cho cán bộ khác món tiền “một tháng lương thực”. Sau đó tôi ra hành lang. Có độ sáu mươi người khác, trong đó có anh bạn Trần Văn H., người mà tôi đã đến gặp trước khi đi đăng ký với tư cách là thành viên ban chấp hành một đảng chính trị.

Khoảng 18 giờ, lúc không còn ai đến nữa, người công an đã tiếp chúng tôi dẫn chúng tôi lên lầu một tòa nhà và chỉ cho chúng tôi bốn lớp học trống, nơi mà chúng tôi phải sắp xếp để nghỉ qua đêm. Anh ta còn nói thêm là chúng tôi phải nhanh lên vì bữa cơm chiều sẽ được dọn trong sân chơi của trường trong vòng gần một giờ. Sự chọn những trường trung học làm nơi tập họp lúc đầu đã làm chúng tôi tưởng rằng đó cũng là nơi dùng để cho những lớp “học tập cải tạo” nữa. Nhưng ngay sau đó chúng tôi đều hiểu rằng đó chỉ là một nơi để tập họp và ngày hôm sau chúng tôi sẽ được chuyển đi chỗ khác. Lúc này, chúng tôi phải dồn bàn ghế trong phòng học, để mắc mùng và trải chiếu. Buổi cơm chiều dọn sau đó một chút đã được sửa soạn chu đáo. Chính quyền đã trưng dụng những tiệm ăn lớn để làm cơm cho chúng tôi. Trở về phòng học biến thành phòng ngủ chung sau buổi cơm, mỗi người vội vã dọn va-li và túi xách rồi nằm xuống nghỉ qua đêm, tuy nhiên chỉ một vài người có thể ngủ nhanh chóng, còn số đông vẫn thức. Tôi nghe họ vẫn không ngừng trăn trở trên chiếu và thỉnh thoảng một vài tiếng thở dài chứng tỏ nỗi lo âu của họ. Chính tôi, tôi không thể ngủ, hằng ngàn câu hỏi dồn dập trong tâm tư tôi: họ sẽ cho chúng tôi về đâu mai này. Những lớp học tập cải tạo chính trị sẽ là gì? Chúng tôi sẽ ra sao, sau tháng học tập cải tạo này. Và vợ con chúng tôi ở nhà chính quyền phường sẽ đối xử làm sao? Tôi thao thức như thế cho đến tiếng gà gáy đầu tiên của nhà bên cạnh.

Trái với sự chờ đợi của chúng tôi, ngày hôm sau trôi đi mà cán bộ chính trị không bảo chúng tôi làm gì cả! Chúng tôi dùng thời giờ này để làm quen, chuyện gẫu, sốt ruột và chờ đợi những bữa cơm!

Chỉ sau bữa cơm chiều ngày thứ hai, một cán bộ mới đến báo rằng chúng tôi sẽ lên đường không lâu nữa, rằng chúng tôi phải đi sửa soạn hành lý cho mau và trở xuống sân trường. Vậy là mọi người đổ xô về cái phòng học dùng làm phòng ngủ và không bao lâu mọi người đều đã có mặt ở sân với va-li, túi xách cột kỹ. Tôi có một cảm giác vừa lo lắng, vừa nhẹ nhõm vì không còn phải lo âu đợi chờ để khởi hành. Công an gọi tên theo thứ tự a,b,c rồi bảo chúng tôi sắp thành năm hàng. Sau đó họ ra lệnh cho chúng tôi ngồi xuống ngay trên mặt đất để đợi giờ khởi hành. Chúng tôi đợi lâu lắm, trời khá lạnh, khi đêm xuống dần và chúng tôi đều buồn ngủ. Những chiếc xe phải chở chúng tôi đến trại học tập cải tạo mãi không thấy đến. Thời giờ trôi qua, và phần đông chúng tôi gục xuống trên hành lý của mình, vì ráng thức không được. Rồi thì vào quãng nửa đêm một cán bộ báo cho chúng tôi biết rằng xe sẽ chỉ tới buổi sáng mai và chúng tôi có thể về lại phòng ngủ.

Kéo lê hành lý của mình, chúng tôi vội vã trở về phòng ngủ nằm xuống không màng giăng mùng. Vào bốn giờ sáng, một cán bộ đến đánh thức chứng tôi dậy và ra lệnh phải xuống sân tức khắc để khởi hành. Lại cũng vội vã chúng tôi gom góp màn chiếu, cột buộc xách, túi và ba-lô rồi chạy về phía sân để đứng lại chỗ hôm trước. Nhiều công an đi qua các dẫy hàng để kiểm soát xem mọi người đều có mặt, tuy nhiên chúng tôi còn phải đợi hơn hai giờ nữa trước khi có lệnh khởi hành. Để chở chúng tôi đi có bốn xe ca với ba xe jeep vũ trang hùng hậu hộ tống. Một chiếc xe jeep mở đường và buộc mọi xe hơi và xe gắn máy đi ngược chiều phải ngừng lại bên lề đường. Chiếc xe jeep cuối ngăn cản mọi xe hơi và xe gắn máy qua mặt chúng tôi, và chiếc thứ ba chạy theo bên sườn đoàn công voa. Sự chuyển dịch dưới sự phòng vệ có vũ trang và theo thủ tục tối an ninh này làm cho tôi khó chịu. Lúc bấy giờ tôi tự hỏi không biết người ta có coi chúng tôi như những tù nhân nguy hiểm cần phải cách biệt xa dân chúng hay không. Đoàn xe trước tiên hướng về phía Bắc, rồi sau khi qua cầu Đồng Nai quẹo sang mặt về Vũng Tàu. Trong xe ca chúng tôi, một vài người đoán rằng họ dẫn chúng tôi đến Vũng Tàu nơi có một trại huấn luyện sĩ quan Cảnh Sát Quốc Gia thời cũ những kẻ khác nghĩ rằng đúng hơn họ đưa chúng tôi đến một trại đào tạo sĩ quan trừ bị của quân đội Cộng Hòa Việt Nam thời trước ở Long Thành. Sau khoảng 45 phút đoàn xe quẹo trái và đi vào con đường nhỏ dài dẫn đến Cô Nhi viện Long Thành, cách huyện Long Thành vài cây số. Viện mồ côi này gồm nhiều dẫy nhà lớn, kiểu kho hàng, đã chứa trước tháng 4 năm 1975, từ 2000 đến 3000 trẻ mồ côi và hàng trăm người trẻ tuổi gọi là “chú tiểu” mà thực ra chỉ là những người thanh niên trốn quân dịch. Sở an ninh quốc gia đã nghi viên giám đốc viện mồ côi này là một kẻ thân Cộng, nhưng không thành công trong việc đóng cửa viện mồ côi tư này vì bộ Xã Hội phản đối. Các xe ca đổ chúng tôi xuống trước một căn nhà lớn ở sau cùng viện mồ côi; những căn khác đã có người ở, họ tới từ những trung tâm tập trung cải tạo khác.

Đây là một căn nhà lớn khoảng ba mươi thước trên tám thước, với mái tôn gợn sóng và nền nhà bằng đất nện; ở hai đầu là bức tường bàng gạch có để chỗ rộng để ra vào và được xây lưng chừng. Cả căn nhà được chia làm hai phòng lớn với một phòng nhỏ ở giữa rộng khoảng ba thước.

Người cán bộ cùng đi với chúng tôi chia chúng tôi ra trong hai phòng lớn và bảo rằng “đây là chỗ chúng tôi sẽ ở trong suốt thời gian học tập cải tạo”.

Tình cờ, tôi ở bên cạnh hai người “cùng hội cùng thuyền”, một người quãng 50 tuổi, người kia trẻ hơn 10 tuổi . Chúng tôi làm quen nhau, và tôi được biết cả hai đều thuộc một khuynh hướng của Việt Nam Quốc Dân Đảng (tương tự như Quốc Dân Đảng, Kuo Ming Tang, Tàu). Sau khi trải chiếu xuống đất và đặt sát vào tường các túi xách đựng đồ dùng cá nhân, tôi ngả lưng nghỉ ngơi, nhưng các bạn đồng hành thì đi thăm dò căn trại. Nửa giờ sau họ trở về với một tấm ván ép lớn rơi bỏ trong đám cỏ hoang. Họ chùi sơ sài tấm ván và bảo tôi cuốn chiếu lại như họ đã làm, rồi họ thay vào đó tấm ván ép nay dùng làm giường chung cho chúng tôi vì “nằm sát đất sẽ làm chúng ta bị bệnh tê thấp”. Tôi cảm ơn rồi chúng tôi trải ba chiếc chiếu lên tấm ván, chúng tôi đã ở chung như vậy cho đến hết cuộc cư trú ở Long Thành.

Lúc bây giờ đã quá ngọ và chúng tôi đã không ăn gì từ sáng. Những cán bộ cùng đi với chúng tôi từ Saigon đã đi từ lâu đến khu hành chánh của trại và chưa thấy trở về. Chúng tôi không biết phải làm gì. Một lúc sau, 14 giờ, một cán bộ trở lại nói với chúng tôi rằng: “Họ không tổ chức tiếp tế lương thực hôm nay được, nhưng ngày mai nhà bếp của trại sẽ hoạt động ‘; còn hôm nay anh ta nhận đi Long Thành để mua bánh mì cho những ai gửi tiền để mua, vì chính anh không có tiền; vả lại anh ta nghĩ chỉ có thể mua cho mỗi người một ổ mà thôi; vì Long Thành là một thị trấn nhỏ và những người ở căn khác của trại cũng cần lương thực… Anh ta trở lại khoảng 16 giờ và mỗi người chúng tôi có một ổ bánh mì, bánh mì mà chúng tôi phải nuốt khô, chỉ vài người có thể kèm thêm chút đường mà họ đã lo xa đem theo trong hành trang của họ.

Đời sống của trại được tổ chức dần dần; ngay ngày thứ nhì, các bữa ăn được dọn hai lần một ngày do một nhà thầu cung cấp, người này không ai khác hơn là vị cựu giám đốc sở hữu chủ của Cô Nhi Viện. Cơm thì đủ ăn về lượng, thức ăn gồm có một đĩa cá nhỏ hay tép, một điã rau luộc (rau muống hay cải tàu) và một món canh (rau muống hay mướp). Mỗi nhóm mười người cử hai người thay phiên nhau mỗi ngày hai lần xuống bếp đem lương thực lên cho nhóm mình. Nói chung thì lương thực không quá dở so với số tiền chúng tôi đã đóng.

Vào khoảng cuối tuần thứ nhất nhóm chính trị của chúng tôi phải dọn về một căn nhà ở phía cửa vào trại; căn này cũng giống như căn chúng tôi vừa ở, nhưng tường thì làm bằng đất nhồi rơm, mái bằng tranh, như vậy chỉ vài giọt nước mưa rơi xuống chiếu lúc mưa giông, cũng đem lại cho chứng tôi nhiều mát mẻ hơn là ở nhà có mái tôn gợn sóng.

Thời gian trôi qua, cán bộ không hề nói tới “học tập cải tạo” và không cho chúng tôi cảm tưởng là họ gấp gáp tổ chức những lớp học này, mà chúng tôi ai nấy đều nóng lòng muốn bắt đầu, để có thể rời trại sau thời hạn một tháng. Một ngày kia, chúng tôi đã hỏi cán bộ phụ trách nhóm là bao giờ các lớp học bắt đầu thì anh ta trả lời một cách mơ hồ rằng “sắp sửa” và khi chúng tôi lưu ý anh chỉ còn lại hai tuần thôi, anh ta nói rằng “theo ý anh ta những lớp học này sẽ kéo dài ba tháng”. Sau đó có một người nói với anh là chúng tôi chỉ trả có một tháng tiền ăn ở, anh ta trả lời rằng, đó không phải là một vấn đề quan trọng, vì chánh phủ sẽ đài thọ tiền ăn ở của chúng tôi! Vậy là lần đầu tiên, chúng tôi được cho biết một cách bán chính thức là thời gian học tập sẽ không phải là “một tháng” như chúng tôi đã tưởng trước khi đi trình diện mà lâu hơn nhiều, ít nhất cũng ba tháng! Riêng tôi cũng đã ngờ từ nhiều ngày nay về sự kéo dài như vậy. Thật vậy anh Hùng, người trẻ tuổi nhất trong nhóm “bộ ba ván ép”, nguyên đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, đã tiên đoán với tôi nhiều lần, khi cậu kể cho tôi nghe cậu phải đi “học tập cải tạo” như thế nào năm 1948 ở Quảng Ngài. Cậu ấy đã ngưng hoạt động chính trị “phản cách mạng” sau khi cộng sản cướp chính quyền năm 1945, mặc dầu vậy một ngày nọ năm 1948, nhân viên an ninh huyện đến tận cậu ở làng và tuyên bố rằng họ được lệnh đưa cậu đi “học tập cải tạo” trong một thời gian và cậu phải đem theo gạo đủ ăn một tháng. Bị đưa đến một làng cách xa làng khoảng ba mươi cây số, cậu được giao cho gia đình một nông dân thành viên đảng Cộng Sản. Cậu bị chỉ định sống với gia đình này. Cậu phải dùng nửa thời giờ của mình để viết về những hoạt động của Việt Nam Quốc Dân Đảng và nửa thời giờ còn lại thì giúp gia đình trong việc đồng áng … nhưng cấm không được đi xa quá nhà 100 thước. Cậu ăn chung với gia chủ và góp phần gạo. Mỗi tháng hai hoặc ba lần, công an đến thăm cậu và góp các bài viết của cậu, và có khi đưa những đề tài khác để cậu bàn thêm, có khi bảo viết lại một bản báo cáo đã nộp trước (để kiểm tra cậu không nói dối). Cuối tháng cậu có thể viết thơ về nhà qua trung gian của công an để xin gia đình gởi tiếp tế thêm một bao gạo nữa … Như vậy trong hai năm! Còn chuyến này thì cậu ta đoán học tập cải tạo ít nhất cũng phải chín tháng.

Vào đầu tháng 7, cùng với những người tình nguyện người ta bắt đầu xếp dọn một căn nhà lớn còn bỏ trống thành lớp học: ở đầu phòng một bục được dựng lên bằng những tấm ván gổ. Trong phòng còn có một số ghế dài đóng bằng hai thân cây tre dài khoảng ba thước đặt cạnh nhau, được những thân tre khác ngắn hơn dùng làm chân nâng đỡ, và đóng sâu xuống nền nhà làm bằng đất nện. Khoảng ba trăm chiếc ghế dài này xếp thành bốn dãy suốt theo bề dọc của căn nhà, trừ chỗ dành cho bục giảng. Cả thảy có thể ngồi khít vào nhau từ 2500 đến 3000 tù nhân trong những buổi học tập cải tạo. Trên tường phía sau ‘bục” là một lá cờ Bắc Việt Nam to và một bức chân dung của Hồ Chí Minh và những biểu ngữ ca ngợi bằng hàng chữ lớn:”Đảng Cộng Sản Việt Nam chiến thắng”, “Quân Đội nhân dân Việt Nam vô địch” và câu nói dai dẳng của Hồ Chí Minh: “Không có gì quý hơn Độc Lập Tự Do”. Trái lại không có cờ của mặt trận Giải Phóng miền Nam.

Bài học đầu tiên được tổ chức vào tuần thứ tư từ khi bị giam. Vì bây giờ không ai còn nghi ngờ đây thực sự là một sự giam giữ và hy vọng duy nhất của chúng tôi là những lớp học này có thể kết thúc trong vòng ba tháng. Một cán bộ chính trị ở cấp cao đến từ Saigon là giảng viên cho lớp học đầu tiên. Đề tài là “chủ nghĩa thực dân mới”. Sau khi nói về lịch sử chủ nghĩa thực dân, ông ta miêu tả sự độc ác của nó, sự tàn phá của nó trong những nước chậm tiến và làm thế nào dựa theo chủ nghĩa Cộng Sản Lê Nín, những dân tộc bị đô hộ đã nổi dậy chống chính quyền thực dân, cùng một lúc mà dân Nga chiến đấu chống phát-xít Hitler và cầm cự với những khuynh hướng đế quốc của các nước tư bản. Như vậy là nhờ Liên bang Xô-viết mà những nước bị đô hộ đã giành lại được độc lập từ những nước đế quốc tư bản do Hiệp Chủng Quốc Mỹ cầm đầu. Trước sự chống đối ngày càng lớn dần của các nước thuộc “thế giới thứ ba ” được Liên bang Xô-viết ủng hộ, Mỹ quốc đã che đậy mục đích ác độc của họ dưới bề ngoài của chủ nghĩa thực dân mới.

Những ngày kế tiếp, người ta phát cho mỗi người một số tập in bài học và chúng tôi được chia ra thành nhiều nhóm nhỏ độ mười hai người, để cùng thảo luận về bài học. Những cuộc thảo luận này, hai hoặc ba buổi cho mỗi bài, có mục đích làm thành bản tường trình chi tiết mà chúng tôi phải nộp cho cán bộ để chuyển lên ban giám đốc trại. Trong những buổi họp này, mọi người phải tích cực tham gia bằng cách nêu lên những sự việc, những thí dụ để xác nhận những khẳng định của giảng viên. Sau này chúng tôi được biết là những bài học này do cục Tuyên Huấn của ủy ban Trung ương đảng Cộng Sản phát hành và những giảng viên chỉ ở trên bục để tán rộng ra bản văn có sẵn thôi!

Anh Giản, người thứ ba của “bộ ba ván ép” chúng tôi xung phong điều khiển nhóm học tập. Cựu giáo viên ở Thanh Hóa và cựu chủ tịch của một chi phái Việt Nam Quốc Dân Đảng, anh ấy có một vốn kiến thức khá về lịch sử Trung Hoa và thành công trong việc điều khiển khéo léo những cuộc thảo luận, trong đó chúng tôi vừa phải giữ phong cách của mình, vừa làm vừa lòng các cán bộ. Nếu có một vài người trẻ vì muốn nịnh bợ cán bộ, đã đả kích hành động của Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân, phần đông nói về sự cai trị hà khắc của Nhật ở Đại Hàn, về công ty Ấn Độ, về chiến tranh á phiện ở Trung Hoạt. Sau hai hoặc ba phiên bàn cãi trong nhóm, chúng tôi phải họp phiên khoáng đại tại phòng học và người quản giáo leo lên bục đúc kết các cuộc bàn luận và rút ra những kết luận:

Những cuộc bàn thảo của các anh thành thật. Các cải tạo viên đã hiểu ai là bạn, ai là thù của nhân dân Việt Nam, tuy nhiên sự lên án những kẻ thù cũng như lời ca ngợi nhưng người bạn của chúng ta, chưa được rõ ràng và minh bạch, có nhiều khi nhập nhằng nước đôi tuy nhiên điều này không quan trọng lắm. Vì từ nhiều năm rồi, các anh ở dưới sự đô hộ của đế quốc và chắc chắn là các anh cần thời gian để xóa nhòa ảnh hưởng của chúng ở trong tâm tư các anh! Chúng tôi hy vọng rằng các anh sẽ tiến mạnh trên con đường này, để chúng tôi có thể coi rằng các anh đã hoàn thành học tập !

Với những phiên thảo luận từng nhóm và phiên họp toàn thể, mỗi bài học mất từ mười ngày đến hai tuần Như vậy chúng tôi còn sáu bài nữa, trong đó có những bài về “Chủ nghĩa Thực dân Mỹ, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ sen đầm quốc tế, Lao động là vinh quang”.

Những lớp học này và những cuộc thảo luận trong từng nhóm nhỏ cũng không đủ chiếm hết thời giờ của chúng tôi, chúng tôi trải qua những giờ dễ chán ngán và lo lắng về tương lai: tin đồn rằng trong những nhóm khác, có những trường hợp trầm uất nặng, dường như có cả mưu toan tự vận! Các cán bộ đã tìm cách cho chúng tôi dùng hết thời giờ: hai tuần một lần họ triệu tập chúng tôi lại sau bữa cơm chiều trong một căn nhà bỏ trống để tập cho chúng tôi hát những bài cách mạng mới. Cũng mỗi tuần một lần, người ta đưa chúng tôi luân phiên nhau thực hiện một “ngày lao động bằng chân tay”. Để làm việc này chúng tôi được đưa đến một khu đất hoang khá xa dẫy nhà chúng tôi đang ở, tuy nhiên còn ở trong khu vực của trại, giới hạn bằng một hàng rào kẽm gai, có những trạm gác rải rác chỗ này chỗ kia. Mỗi lần, người ta chỉ cho chúng tôi một mảnh đất phải phát cỏ đã, rồi sau đó phải đào đất bằng cuốc. Nhưng vì chỉ có bốn hay năm cái cuốc cho hai mươi người, nên chúng tôi chuyện gẫu hơn là cuốc đất! Lần khác người ta bảo chúng tôi sửa lộ hay đường nối đến những căn nhà trong trại và chúng tôi tự xoay sở lấy, bằng cách người thì dùng cành cây người thì dùng một mảnh cốt sắt cũ đã dùng để đổ xi măng, người thì dùng viên gạch hay cục đá, sót lại giữa những tàn tích còn lại sau cuộc dọn nhà vội vã của viện mồ côi một vài tháng trước đó trước sự tấn công của cộng sản Bắc Việt.

Riêng phần tôi, tinh thần xuống rất thấp, một chuyện dù nhỏ nhặt cũng làm cho tôi mất tinh thần cả mấy ngày. Bên cạnh căn nhà chúng tôi có một cây to với những cành và nhánh lá ở trên cao. Từ nhiều ngày nay mỗi buổi sáng có con chào mào đến đậu giữa chùm lá và cất giọng hát trong trẻo và thanh tao tuyệt vời! Đối với tôi đó là một điệu ru vừa vỗ về, vừa khích lệ tôi chịu đựng hiện tại trong sự mong đợi những ngày tốt đẹp hơn mà tôi tin là gần kề. Cũng thường khi, nó trở lại trước khi đêm xuống và tiếng hát của nó lúc bấy giờ dường như để chúc tôi nhiều mộng đẹp trong lúc an giấc. Với anh bạn Hùng của tôi, chúng tôi ngồi chờ dưới gốc cây, mỗi buổi sáng và xế chiều, con chim bạn chào mào, và yên lặng nghe tiếng hát thanh tao và sắc sảo làm chúng tôi trong vài khoảnh khắc quên đi sự thật buồn bã của hiện tại.

Tiếng hót của con chim này tượng trưng cho chúng tôi một cái gì quý hơn là nhạc hay, nó là triệu chứng báo hiệu cho sự phóng thích gần kề, báo trước tự-do sắp tìm lại được?

Một ngày nọ vào một buổi chiều chúa nhật, lúc mà Hùng và tôi đang say mê với tiếng hát của anh bạn chào mào, tôi thấy một công an đang dùng súng khí áp bắn một con chim đang nhảy nhót trên nóc nhà bên cạnh. Rồi tôi thấy anh ta lượm con chưa bị thương trầm trọng và đi về phía chúng tôi. Tôi không biết phải làm gì, nhưng Hùng đã đứng dậy, lượm một hòn đá nhỏ ném về phía chim chào mào, chim tức thì cất cánh bay đi. “Đồ chó đẻ” Hùng nói khá to, nhưng không để cho anh công an nghe thấy. Tên này đến gần chúng tôi nhìn một lúc lên ngọn cây như để kiếm xem có mồi nào không, rồi bỏ đi.

Chiều hôm sau, anh ta lại trở lại, lần này thì đi thẳng về phía nhà chúng tôi. Hùng nhìn thấy anh ta khi anh ta chỉ còn cách chúng tôi khoảng ba mươi thước Lập tức Hùng lượm một hòn đá cuội và ném về phía con chào mào. Chim cất cánh bay đi. Nhưng đã muộn rồi. Chú công an đã thấy cử chỉ này và xẵng giọng chất vấn Hùng:

“Tại sao anh ném đá lên cây này?

– Tôi thèm ăn thịt con chim này quá! Tôi không có súng như anh , vậy tôi thử hạ nó bằng viên sỏi. Ở làng tôi có nhiều giống chim này và tôi bắt bằng bẫy. Khi nào tôi được thả anh hãy đến đấy, anh sẽ giết bao nhiêu cũng được với súng của anh!”

Người công an lắng nghe không nói gì, nhún vai rồi bỏ đi.

Hai ngày sau tới phiên Hùng và tôi đi xuống bếp lấy cơm cho nhóm mình. Lúc trở về với khẩu phần của bữa cơm chiều, nhiều bạn của chúng tôi kêu lên:

“Thằng chó chết đã tới, nó bắn con chim của các anh, nhưng hụt”.

Tôi giận điên người nhưng cũng mừng cho con chim chào mào của tôi. Hùng thì nổi trận lôi đình.

“Thằng cán bộ bẩn thỉu này và ông cha nó ăn thịt chó. Chưa đủ hay sao mà bây giờ còn kiếm cách giết những con chim nhỏ nữa! Đồ chó chết! Đồ chó chết!”

Từ đó con chim chào mào của chúng tôi không khi nào trở lại nữa. Ngày qua ngày chúng tôi hoài công đợi nó. Trong hơn một tuần Hùng và tôi rất ủ rũ. Đối với chúng tôi, nó là biểu tượng cho sự hứa hẹn được tự do một ngày gần đây; bây giờ biểu tượng hứa hẹn đã tan biến mất rồi! Phải chăng điều này báo hiệu cho chúng tôi là sự trả tự do sẽ dời lại vào một ngày còn xa xăm?

Tuy nhiên, một tuần sau đó, hy vọng lại trở lại chúng tôi vừa mới xong hai bài học tập cải tạo thì một một sáng thứ bảy có nhiều xe jeep với công an bận đồng phục chạy vào cửa trại và ngừng trước căn nhà hành chánh, vài khoảnh khắc sau, họ trở lại phòng học và đi vào. Một lúc sau mười người, trong đó có Quang là thành phần khu chính trị, được gọi đến phòng học. Phần đông chúng tôi kiếm cách đến gần căn nhà này để xem chuyện gì xẩy ra ở đó, nhưng bị công an đẩy lui. Chúng tôi tự hỏi căn do vì sao họ bị gọi đến đó.

“Phải là chuyện gì trầm trọng lắm để họ đến đây vào một sáng thứ bảy như vậy!

-Nhưng Quang là một người khá, làm việc ở một sở của Bộ Xã Hội, cả ngày lo phân phát quà của các hội từ thiện Hoa Kỳ.

-Ồ nhưng những hội từ thiện Mỹ đường như phần đông đều có dính líu đến C.I.A?

– Vậy thì thật nguy hiểm cho anh ta! “

Hai giờ sau đó, chúng tôi thấy Quang trở về vừa chạy.

“Cái gì vậy ? Cái gì vậy ? Tại sao người ta gọi cậu lên thế ?

– Được tha, được tha, tôi được tha!

– Chúa ơi! Hạnh phúc làm sao! Chúng nó bắt đầu thả! Rồi sắp đến lượt chúng mình!”

Quang chạy ào đến chiếu mình và cuống cuồng gom góp đồ tùy thân; anh ta trả lời ngắn gọn những câu hỏi tới từ tứ phía :

“- Họ nói gì với anh vậy ?

– Họ nói gì với anh mà giữ anh lâu vậy ?”

Các cán bộ bắt đầu một bài thuyết trình ngắn về chế độ khoan hồng của đảng và nhà nước, khuyến cáo họ là phải hợp tác thành thật với những cơ quan phường và quận, đừng ngần ngại tố cáo với nhà chức trách này những hành động hay lời nói của những kẻ vẫn tiếp tục chống lại chính quyền mới, và đó là vì lợi ích riêng của họ. Rồi các cán bộ bảo họ viết một báo cáo về hộ tịch của họ, ông bà, cha mẹ, những người quen biết, lý lịch cá nhân, nghề nghiệp và hoạt động chánh trị. Sau đó còn phải làm một phiếu đo người với ảnh và lăn dấu tay. Để chụp bóng căn cước người ta cài vào áo sơ mi đương sự một tấm bảng có mang một con số.

Nhưng những chuyện này chỉ là chi tiết, điều quan trọng là đã có người được thả về khi mà các lớp học tập cải tạo chỉ vừa mới bắt đầu thôi. Mọi người đều vui mừng không phải chỉ cho Quang lắm mà cho chính mình.

“Nếu Quang được thả, những người khác cũng sẽ được như vậy nhưng tại sao không phải là tôi “.

Niềm hy vọng về một sự phóng thích gần kề còn được củng cố thêm vào thứ bảy sau, khi mà một loạt nữa được thả. Một tin đồn khác còn làm hy vọng chắc chắn hơn, mấy người nấu bếp nói rằng sự tiếp tế lương thực sẽ chấm dứt vào cuối tháng và chính họ cũng được báo là người ta không thuê họ nữa từ tháng tới. Trong nhiều ngày chúng tôi không ngừng xây đắp những giả thuyết trên những dấu báo hiệu này. Rồi thì cuối tháng đã đến, và quả thực nhà thầu cơm ngưng cung cấp bữa ăn cho chúng tôi. Những người tình nguyện được chọn trong số người bị giam để thay người nấu bếp và những thứ bảy sau đó chúng tôi hoài công chờ công an đến đưa lệnh thả người bị giam.

Thỉnh thoảng cũng có những xe jeep đến đấy, nhưng lại để ra đi, dẫn theo một hay hai người bị giam mà cơ quan an ninh địa phương đòi họ đến để hỏi cung.

Lớp học tập cải tạo dường như đã xong vì từ ba tuần nay không có bài học nào nữa. Hy vọng tiêu tan, chúng tôi đều lo lắng, càng lo lắng vì chúng tôi cũng không có tin tức gì của gia đình, mặc dầu chúng tôi có được phép viết thư về nhà hai lần.

Một ngày nọ, đó là ngày 30 tháng 9 trong buổi xế trưa, chúng tôi thấy nhiều xe ca trống đến, nhưng không vào cổng trại mà lại đậu ở bên ngoài rào kẽm gai. Chắc là điều gì đó sẽ xẩy ra liên quan đến chúng tôi, nhưng trong khi chúng tôi bàn tán thật lâu, gợi ra rất nhiều điều có thể sắp tới, tốt cũng như xấu, thì không có gì xẩy ra cho tới khi đêm xuống. Chỉ khoảng nửa tiếng đồng hồ sau bữa cơm chiều, chúng tôi mới được lệnh ra sân trước nhà với tất cả hành lý, để sẵn sàng lên đường tức khắc. Cũng xẩy ra như vậy ở mọi khu vực khác. Riêng đối với chúng tôi, cán bộ phụ trách nhóm bảo chúng tôi sắp thành hai hàng, rồi đọc một danh sách khoảng 50 tên; những ai có tên phải rời hàng và tụ họp thành một nhóm riêng biệt. Tôi ở trong số đó. Sau khi đọc lại một lần nữa danh sách và kiểm soát sự có mặt của mọi người, anh ta ra lệnh cho những người không có tên trong danh sách trở về căn nhà và xếp đặt lại như trước .

Chúng tôi lại phải đợi hơn một giờ nữa trước khi chiếc xe dành riêng cho chuyến đi của khu vực chúng tôi đến. Người ta ra lệnh cho chúng tôi lên xe tức khắc rồi xe ca lăn bánh đến con đường chính của trại, tập họp ở với những xe ca chở người bị giam ở những khu khác (cảnh sát, thông tin, và hành chính). Đoàn xe được kết hợp như thế, với nhiều xe jeep vũ trang hộ tống, rời khỏi trại theo thủ tục an ninh tối đa, lao vào sâu thẳm của đêm tối.

—> Chương IV
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, Paul Trần Vỹ. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s