TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAM (Paul Trần Vỹ): Chương IV

Chương IV
NHÀ NGỤC THỦ ĐỨC

Đoàn xe chạy nhanh trong đêm tối mịt, hôm nay như hôm qua, như ngày mai… vẫn là những cuộc khởi hành vội vã, vào những giờ thích hợp với bóng đêm của ác qủy, về những mục tiêu không biết là đâu, đó là kiểu di chuyển của những tù nhân chính trị ở nước Việt Nam Cộng Sản.

Anh Minh, nguyên thượng nghị sĩ trong những năm 1967-1972, người đã kết bạn với tôi trong khi ở trại Long Thành, ngồi bên cạnh tôi hỏi tôi có phải người ta đày chúng tôi ra Côn Sơn, nguyên là nhà giam thời thực dân.

“Anh lo thì có ích gì, mình chẳng phải là chim lồng cá chậu rồi ư?”

Điều duy nhất mà chúng tôi biết là xe đi về hướng Saigon, rồi một lúc nào đó chúng tôi rời xa lộ Biên Hoà và quẹo về phía tay mặt. Đoàn xe chạy chậm lại khoảng mười phút rồi ngưng lại dọc một bờ tường, chúng tôi được lệnh xuống xe với những xách đồ tùy thân, vì chúng tôi đã tới rồi. Trong bóng đêm dày đặc của một bầu trời phủ mây và không trăng, chúng tôi chỉ kịp sắp hàng và có lính vũ trang hộ tống, chúng tôi được dẫn ngang qua một cổng đến một sân lót gạch và chúng tôi được lệnh ngồi xuống chờ.

Nhiều phút trôi qua, vì công an còn phải điểm danh những toán khác. Bóng tối dày đặc đến nỗi tôi không thấy mặt những người ngồi cạnh tôi. Mặc dầu vậy tôi vẫn hỏi:

“Các anh có có biết mình ở đâu không ?

– Có lẽ trong vùng Thủ Đức nhưng ở đâu đây. Tôi không thấy gì để đoán ra?”

Một giọng ở sau tôi nói:

“Chúng ta ở trong nhà tù dành cho đàn bà ở Thủ Đức.

– Làm sao anh biết rành thế? Quả thực chẳng thấy gì chung quanh chúng ta.

– Chú Tư. nói đó, chú nguyên là phó giám đốc nhà tù này.”

Rồi đến phiên chúng tôi đứng dậy và người ta dẫn chúng tôi đến một căn nhà lớn có vài ngọn đèn điện treo thật cao rọi sáng. Có hai hàng ghế dài bằng xi măng với con đường chính ở giữa rộng lớn, chạy dài từ đầu này sang đầu kia của căn nhà. Chúng tôi vứt các túi xách xuống băng ghế, và lúc mỗi người đã kiếm được một chỗ để trải chiếu liền nằm xuống ngay. Lúc đó đã quá hai giờ sáng, mọi người đều buồn ngủ. Chúng tôi ngủ cho tới bẩy, tám giờ sáng. Chỉ lúc đó, phần đông mới thức dậy và bắt đầu “thám thính” chỗ ở. Nhóm chúng tôi bị dồn vào một góc cuối trại giam. Căn nhà lớn nơi chúng tôi đã ngủ, được nối bằng một bức tường độ mười lăm thước vào một căn phòng nhỏ hẹp mà dài xây bằng gạch và dựa vào bức tường của khuôn viên bên trong. Có một cửa thông đục xuyên qua bức tường này và được đóng lại bằng một cửa song sắt, đó là con đường ra vào duy nhất của toán thúng tôi. Còn chính căn nhà chúng tôi ở, lợp bằng ngói, thì bị đóng kín tứ phía bằng một bức tường gạch cao ba thước và nối lên cao tới mái nhà bằng hàng rào kẽm gai và chỉ có một cửa duy nhất ờ cuối phòng. Một trong những tường bên hông dựa vào một căn nhà lầu (ở ngoài tường khu vực của chúng tôi) còn tường kia thì cách tường vây một khoảng rộng độ vài thước.

Cửa nhà chúng tôi đi ra một sân nhỏ giới hạn ba mặt: một là cửa có song sắt, hai là phòng nhỏ dài, và ba là hai căn sơ sài lợp tôn dùng để chứa một số tù nhân. Hầu như toàn bộ khoảng sân nhỏ này được lợp bằng tôn để cho chúng tôi dùng làm sân chơi, phòng ăn và phòng học. Có vài chiếc bàn và ghế dài bằng gỗ bào sơ sài và đóng cũng sơ sài.

Mãi tới khoảng mười giờ, cán bộ phụ trách toán chúng tôi mới đến. Anh ta chỉ định ba toán trưởng cho ba toán trong phòng, và nói rằng là mỗi ngày mỗi toán phải phái hai người đến nhà bếp để đem cơm về.

Trong nhiều ngày người ta để chúng tôi một mình. Chúng tôi không có gì làm ngoài chuyện ngồi sốt ruột, chuyện gẫu và đợi hai bữa cơm trưa và chiều. Cán bộ đến mỗi ngày một lần, thường chỉ vài phút thôi, có hôm anh ta cũng không đến nữa. Rồi một buổi sáng thứ hai anh ta đến với một đống báo: tờ Sai gon Giải Phóng và tờ Tin Mới. Anh ta cũng đưa cho chúng tôi thời khoá biểu thường nhật (trừ chúa nhật) :

– 05g30: thức dậy. Tức khắc tập thể dục trên nền xi măng, phương pháp Thụy Điển, tám động tác tay và chân. Mỗi động tác lập lại sáu lần. Sau đó vệ sinh cá nhân và quét dọn phòng.

– 07g00: tập trung ở sân chơi.

– 07g30 – 09 giờ: Một người tình nguyện đọc to những bài báo do chính cán bộ chọn.

– 09g00 – 09g30: nghỉ.

– 09g30 – 11g 00: một lần đọc báo nữa.

-11g00- 12g00: cơm sáng.

– 12g00 – 14g00 : ngủ trưa.

– 14g30 – 16g30: lại đọc báo chọn lọc nữa.

– 16g30: nghỉ.

– 17g00 cơm chiều. Thể thao sau bữa cơm chiều.

– 21g00: giới nghiêm.

Chỉ đơn giản vài tiếng cồng, mọi người biết rằng từ giờ đó phải nằm ở chỗ mình, trên chiếu, nhưng đèn điện vẫn sáng cả đêm.

Theo cán bộ phụ trách nhóm chúng tôi, thì những phiên đọc báo là những bài học tập cải tạo và chúng tôi phải lắng nghe một cách nghiêm chỉnh, nghĩa là ngồi thẳng thắn trên các ghế dài, ăn mặc đàng hoàng, thái độ chăm chỉ. Đó là điều chúng tôi thi hành trong khi anh ta có mặt. Thường thường, cả khi có mặt anh ta, tôi cố gắng lắng tai nhưng không nghe gì; nhiều người khác cũng làm thế. Tuy nhiên bắt buộc nghe cả ngày, tuần này sang tuần khác, dễ gì mà không nghe. Rốt cuộc, chúng tôi cũng nghe được vài điều.

Những bài báo mà cán bộ chọn để làm bài học cải tạo chính trị là những tin tức kể lại những thành quả tột bực của các cơ sở kỹ nghệ nhà nước hay sự anh hùng của anh lính cộng sản chống lại những kẻ cướp hay kẻ phản bội, hoặc của công nhân hầm mỏ Liên Xô phá mọi kỷ lục, hoặc bản trích (nhiều khi có toàn bài) những bài diễn văn của những người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam, Liên Xô hay Cu ba. Thỉnh thoảng có những bài báo ca tụng những thành quả của các nước Cộng Hoà Dân chủ khác: Mông Cổ, Lào hoặc Kampuchia.

Dần dần tôi hiểu thấu loại lý luận mà cộng sản dùng để chứng minh là chủ nghĩa cộng sản là đỉnh cao của mọi tư tưởng chính trị, vì nó đáp ứng lý tưởng cho những khát vọng tự nhiên nhất và cao thượng nhất của con người: sự khao khát một cuộc sống vật chất dồi dào, tình thương gia đình, lòng yêu tổ quốc. Theo họ, khi người ta tận tụy với đảng, tức khắc người ta đã thực hiện vừa hạnh phúc vật chất, tình thương gia đình và tình thương tổ quốc. Tại sao?

Chỉ đơn giản là vì chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa chính trị duy nhất đã vận động kế hoạch hóa một cách khoa học sự sản xuất về canh nông cũng như kỹ nghệ.

“Các anh không nghĩ rằng những xưởng lớn với những máy móc thật tối tân nhất sản xuất đồ vật, hàng ngàn hàng triệu đơn vị, quan trọng hơn là những xưởng nhỏ chỉ sản xuất từng chục hay từng trăm đơn vị thôi ư? Các anh không nghĩ rằng ở một nước mà sự sản xuất được kế hoạch hóa hoàn toàn, hoặc được chỉ huy đúng cách, không món đồ nào được chế tạo quá nhiều hay quá ít, chỉ vừa đúng với nhu cầu của các anh, nước ấy sẽ nhanh chóng giầu hơn và mạnh hơn một nước tư bản, mà sự cạnh tranh vô trật tự của những sở hữu chủ gây nên phung phí và gieo rắc hỗn loạn ở khắp nơi!

“Tình thương gia đình? Các anh yêu quý gia đình các anh, nghĩa là các anh muốn bảo đảm hạnh phúc cho các con mình, sửa soạn cho chúng một tương lai tốt đẹp. Hãy nghe kỹ điều này: Liên Xô và tất cả các nước xã hội chủ nghĩa khác, các nhà giữ trẻ, việc săn sóc sức khỏe cho trẻ con và người lớn, giáo dục học hành từ tiểu học đến đại học, tất cả đều miễn phí, đảng và nhà nước đài thọ chu cấp tất cả. Dù các anh có tiền đi nữa, các anh cũng không thể làm mọi thứ ấy cho các con của mình. Vậy đúng là đảng là người cha tốt nhứt !”

“Lòng yêu nước? Nhưng Đảng và Tổ Quốc chỉ là MỘT. Yêu Đảng là yêu nước. Vì sao? Tại vì đảng Cộng Sản là Đảng của những người lao động, mà người lao động chiếm 99% dân số; phần còn lại là những kẻ ăn bám: những kẻ phản bội đất nước. Đảng và Nhà Nước đã là một và chỉ một mà thôi, cái gì tốt cho Đảng là tốt cho Nước. Những người lãnh đạo Đảng biết cái gì tốt cho Đảng, cũng biết cái gì tốt cho Tổ Quốc. Vậy bổn phận của chúng ta là tin tưởng vào Đảng, nghe lời Đảng trong mọi hoàn cảnh: đó chính là lòng ái quốc!”

Bác bỏ biện chứng mà người ta muốn chúng tôi chấp nhận là một việc dễ dàng cho những người dù chỉ dấn thân một chút ít vào hoạt động chính trị, có cần chăng nhắc lại hình ảnh những cái đuôi sắp hàng dài trước những cửa hiệu ờ Moscow, sau gần sáu mươi năm dưới cờ lý tưởng và hình ảnh của những “thiếu nhi anh hùng” đem cha mẹ tố cáo với thầy giáo vì lòng “ái quốc”.

Nhưng điều làm tôi phân vân từ lâu là sự đồng hoá đảng Cộng Sản với đất nước: thật là quá giản dị khi nói rằng cái gì tốt cho đảng thì cũng tốt cho đất nước và ngược lại. Cái gì sẽ xẩy ra nếu có sự khác biệt giữa quyền lợi của nhà nước và của đảng? Những người cộng sản thản nhiên chối bỏ tình huống đó có thể xẩy ra, nhưng đối với tôi nó có thể xẩy ra thực sự, và tôi tự hỏi không biết có cán bộ cao cấp nào của đảng đã nghĩ tới và tìm ra giải đáp chưa? Dĩ nhiên tôi không đặt câu hỏi này với cán bộ phụ trách cải tạo chúng tôi, tôi sẽ bị đem ra bắn chết! Cũng như hỏi những người đồng khổ như tôi … vì ai biết được, một sự tố giác trong hoàn cảnh của chúng tôi, là một việc, lúc nào cũng có thể xẩy ra được. Vả lại tôi cũng hiểu rằng một vấn đề như thế và giải đáp của nó chỉ có thể đến từ người có trách nhiệm cao nhất trong đảng, tổng bí thư cửa đảng. Cho nên trong những tờ báo bỏ lại sau những phiên đọc bắt buộc, tôi kiếm đọc những đoạn trích các bài diễn văn hay phát biểu của Lê Duẩn, tổng bí thư của đảng sau khi Hồ Chí Minh qua đời. Tôi phải kiếm thật lâu trong vòng mấy tháng và một ngày nọ tôi kiếm ra câu trả lời của ông ta, tôi không nhớ là vào dịp nào. Tổng bí thư đặt câu hỏi và trả lời rõ ràng:

“Trong trường hợp có sự đối đầu giữa các cường quốc, nước Việt Nam có nhập cuộc ngay từ đầu bên cạnh Liên Xô hay không ?”

Câu trả lời là khẳng định không ngần ngại :

“Dĩ nhiên, Việt Nam sẽ chịu đựng những tàn phá lớn lao, mất mát nhiều về người và có thể bị tạm chiếm đóng ở một vài vùng, nhưng những điều đó không ngăn cấm được Việt Nam chiến đấu bên cạnh Liên Xô vì Liên Xô sẽ là kẻ chiến thắng và Việt Nam xã hội chủ nghĩa sẽ được xây dựng lại hàng trăm lần đẹp hơn và hùng cường hơn với sự giúp đỡ đầy tình anh em của Liên Xô”.

Đó là nội dung câu trả lời của tổng bí thư đảng Cộng Sản cho câu hỏi mà tôi đã tự đặt ra từ nhiều tháng qua. Vậy thì nó đã rõ ràng và rành mạch dù có vài nét điểm tô không thể tránh được.

“Nếu có sự khác biệt quyền lợi giữa đảng và nhà nước, thì quyền lợi của đảng phải thắng thế “

Ngoài những phiên “đọc báo – học tập cải tạo” này, chúng tôi đã có hai bài thuyết-giảng cải tạo được tổ chức đàng hoàng. Một cán bộ chính trị “thành viên của viện nghiên cứu lịch sử” đặc biệt từ Hà Nội vào thuyết trình về Học tập Chính Trị cho công chức Saigon, đã đặc ân cho chúng tôi, theo lời của viên giám đốc trung tâm cải tạo, đến lập lại những bài thuyết giảng của ông ta cho chúng tôi. Bài thứ nhất nói về thời kỳ đi từ nguồn gốc dân Việt cho đến cuối thời đại ít nhiều huyền thoại của Hùng Vương (thế kỷ thứ ba trước Công nguyên), bài thứ nhì đi từ lần đầu nước Tàu đô hộ Việt Nam cho đến ngày nay.

Bài thứ nhất khá lý thú, giảng viên nói thật lâu về những khai quật khảo cổ mới đây ở Bắc Việt Nam đã khám phá ra những nơi mà tổ tiên đầu tiên (?) của chúng ta đã sống ở thời đại đồ đá, thời đá mài và thời đồ đồng; những dấu tích thời điểm bằng carbon 14 cho thấy những vị trí của thời kỳ cuối cùng là vào thế kỷ thứ 13 trước công nguyên. Giảng viên nhấn mạnh đến sự giống nhau của vị trí địa hình này với những vị trí khác tìm thấy ở Nam Việt Nam và ở Đông Nam Á. Anh ta cũng đưa ra những “giải thích khoa học” về một vài huyền thoại trong những trang đầu của lịch sử Việt Nam. Anh ta tỏ ra khách quan, chỉ ve vuốt niềm tự hào của chúng ta là có một lịch sử khá cổ xưa !

Giảng viên thứ hai ít hấp dẫn hơn nhiều; theo anh ta lịch sử Việt Nam chỉ là hậu quả hữu lý của thực tại lịch sử, giải thích những sự kiện, chiến thắng hay chiến bại, thành công hay thất bại, là do những nhân vật trong các biến cố (vua, tướng, anh hùng, kẻ nổi loạn, những cuộc nổi dậy cũng như những cuộc chinh phục) có là đại diện hay không của nguyện vọng đất nước, nghĩa là của giới lao động. Lịch sử Việt Nam cũng như của những nước khác chỉ là đồ hình minh họa từ lâu, trước khi có chữ nghĩa, quan niệm Mát-xít Lê-nin-Nít, về sự phát triển xã hội con người.

Chính trong những ngày “thuyết trình học tập” này mà một trục trặc nhỏ cho biết Việt Cộng đã tôn trọng sự thật lịch sử như thế nào! Vào thời kỳ ấy, nước Ê-ti-ô-pi có cuộc đảo chính lật đổ hoàng đế Hailé Sélassié và thiết lập chính thể cộng sản của Mengistu Hailé Mriam. Để chào mừng sự thành công của chính thể cộng sản này người phụ trách học tập cải tạo trung tâm của chúng tôi đã chép lại trên tấm bảng đen đặt trước phòng thuyết trình một tóm lược về lịch sử Ê-ti-ô-pi, hẳn là chép lại từ nhật báo của đảng, tờ Nhân Dân của Hà Nội hay tờ Saigon Giải Phóng của Saigon. Bài tóm lược đó đã không nói đến thời kỳ Ý Đại Lợi chiếm đóng trước đệ nhị thế chiến và một phần trong đệ nhị thế chiến. Sau khi đọc và ghi nhận sự thiếu sót này, tôi nói cho người phụ trách cải tạo biết. Lúc đầu anh ta tỏ ra rất ngạc nhiên là đã có một sự nhầm lẫn trong một tờ báo của đảng (vì đó là kinh thánh của cán bộ chính trị), nhưng trước sự xác định trang trọng của tôi một lần nữa, anh ta nói với tôi:

“Đó không phải là một điều quan trọng, điều quan trọng là nước Ê Ti-ô-pi bây giờ là một nước cộng sản anh em của chúng ta!”

Tôi không còn gì để nói nữa, nhưng tôi đã hiểu cái gì là tượng trưng cho sự thật lịch sử của những nước cộng sản. Tấm bảng còn ở đó vài ngày nữa, với bài tóm lược như lúc trước, cho đến khi bị tháo gỡ đi vào ngày hôm sau của bài “thuyết trình học tập” thứ hai.

Sau những ngày sinh hoạt với các bài ‘thuyết trình học tập’, cuộc sống tù nhân của chúng tôi lại trở về nhịp nhàm chán của những ngày trước đó. Chúng tôi trải qua những ngày hầu như không làm gì cả, những buổi đọc báo chọn lọc được nghe một cách thụ động, trí mơ nghĩ về những chuyện khác! Sự mất tinh thần lan dần đến mọi người, càng dễ dàng hơn nữa khi mà cơm nước lại giảm dần về lượng cũng như về phẩm: Mỗi người chỉ được một phần tư đấu (khoảng 400 gram) cơm chín mỗi bữa, lượng chỉ gọi là đủ cho một người ăn ít, và cơm này thuộc loại thật dở, không còn gì tệ hơn. Các bạn đầu bếp của chúng tôi nói rằng gạo này lấy từ kho dự trữ mà Việt Cộng dấu nơi đầm lầy, vùng Đồng Tháp Mười (đầm lầy miền Tây) để cung cấp cho du kích thuở ấy; những bao gạo rỡ xuống từ xe cam-nhông tiếp tế lương thực thường ẩm ướt, đầy mốc phủ và hạt gạo mốc xanh hay nâu thẫm, nát nhừ và dính thành từng cục.

Một ngày kia có một cuộc tranh luận hài hước giữa chúng tôi trên vấn đề làm thế nào để phân biệt những “sinh viên bị giam để theo lớp học tập cải tạo” hay những tù nhân chính cống. Đối với một số người, chúng tôi là “những sinh viên” vì chúng tôi nghe những bài giảng chớ không làm lao động cưỡng bách, đối với những người khác thì chúng tôi là những tù nhân vì chúng tôi bị tước quyền tự do và không được tiếp thân nhân đến thăm… Viên cán bộ hay được tin về cuộc bàn cãi này đã giải quyết vấn đề bằng cách tuyên bố rõ ràng:

“Các anh không phải là tù nhân, bằng chứng là căn nhà các anh ngủ không có khóa buổi tối”.

Không khí chán nản và buồn bã này dịu bớt đi khi Noel gần tới và năm sắp tàn: chúng tôi được phép viết thơ cho gia đình và nhận một kiện quà tiếp tế năm kí lô.

Riêng phần tôi, tôi có nhiều may mắn hơn những người khác, từ đầu tháng 11 tôi đã được chọn, vì tôi là bác sĩ chuyên ngành, để lo cho phòng khám y khoa của nhóm chúng tôi, những người “học tập cải tạo chính trị”, trong khi ba người khác chỉ là bác sĩ khoa tổng quát.

Từ trước đến giờ một cán bộ y tế của lực lượng công an thỉnh thoảng đi qua các phòng và phát vài thứ thuốc cho những người than van về một vài chứng bệnh. Nhiệm vụ này cho phép tôi làm việc thực sự hai hay ba giờ mỗi ngày, vào buổi sáng và thoát khỏi vòng vây của ‘khu chính trị’.

Lúc bấy giờ tôi nhận ra rằng trại lớn hơn tôi đã tưởng tượng nhiều lắm. Trại gồm hai phần: một cho tù nhân thường sự, phần kia cho tù nhân chính trị. Phần này chia làm bốn khu vực: khu những cựu chính trị gia (khu của tôi), khu những cựu cảnh sát, khu cựu tình báo viên, và cựu hành chính viên. Cựu cảnh sát ở tầng trệt của căn nhà lầu, tiếp cận với khu chính trị và ở một căn khác không có lầu, thẳng góc với căn thứ nhất. Hai căn này cùng với căn dành cho những cựu tình báo viên và một căn có lầu dành cho ban hành chánh của trại, bọc quanh một cái sân trong lót gạch, nơi mà chúng tôi đã tụ tập đêm mới tới đây. Những cựu nhân viên hành chánh ờ xa hơn một chút sau khu chính trị. Ở tầng trên của căn “cựu cảnh sát ‘, người ta nhốt khoảng năm mươi tù nhân “thật quan trọng” từ các khu khác đến. Một phần tầng dưới căn nhà của ban hành chánh dùng làm nơi qua lại giữa sân trong và sân ngoài. Bệnh xá ở tầng dưới của căn nhà này, giữa bệnh xá và căn nhà trệt của cưu cảnh sát, là một phòng nhỏ trong đó nữ tù nhân duy nhất, cựu đại úy Thúy của đội Thiên Nga thuộc nha Cảnh Sát, đội được thành lập để chống đoàn cộng sản nằm vùng, nhưng bị tổng thống Thiệu dùng để do thám những đảng quốc gia của phe đối lập!.

Mỗi sáng tôi đến bệnh xá để khám độ trung bình bốn mươi bệnh nhân (trên một nhân số độ 600 người). Tủ thuốc của tôi thật đơn sơ: một lọ thuốc viên aspirine, một lọ chloroquine, một lọ thuốc viên khác mà cơ bản là ma túy (opium), một lọ thuốc sulfamides và thuốc bổ PP (?). Anh cán bộ y khoa tiếp tế tủ thuốc của tôi mỗi tuần một lần. Về phần dụng cụ, tôi chỉ có ống nghe mà tôi đã đem theo khi trình diện học tập. Thỉnh thoảng khi tôi hỏi, thì anh ta cho tôi mượn một máy đo huyết áp trong một buổi sáng. Gần một nửa số người đến khám đều than nhức đầu, hẳn là do thiếu máu và thiếu dinh dưỡng, nhưng tôi không thể cho họ gì khác hơn là những viên aspirine (luôn luôn là hai viên, do vậy tôi có biệt danh là bác sĩ aspirine-hai viên!). Có độ chục người bị áp huyết cao, mà đối với họ trong nhiều tháng, tôi chỉ có thể khuyên là … nhịn ăn rồi sau đó ăn một ít và ăn lạt! Sau nhiều tuần năn nỉ, tôi nhận được một ống 50 viên réserpine. “Tôi chỉ kiếm ra có bấy nhiêu thôi, anh cán bộ y tế nói với tôi, hãy dùng thật dè dặt, vì sẽ không còn nữa đâu”. Với kho dự trữ giới hạn này tôi không thể cho hơn hai ngày, mỗi ngày hai viên, cho người nào mà áp huyết lên quá 180 m/m thủy ngân. Điều này đã khiến cho tôi mất rất nhiều bạn! Một mỉa mai của định mệnh khiến cho một người, một dược sĩ vốn giàu có nhất Saigon, với tư cách cựu nghị sĩ cùng học tập cải tạo trong trại chúng tôi, đã bị xuất huyết dưới kết mạc. Ông ấy đến khám, tôi khám phá ra một áp huyết cao quan trọng mà ông ấy cũng chỉ phải bằng lòng với một trị liệu cốt yếu là chạy lạt!

Có hai lần tôi gặp những ca bệnh trầm trọng, một cơn loét dạ dày, và một bệnh lỵ cấp tính. Trong mỗi trường hợp, cán bộ y tế đã đem cho tôi thuốc ống và một ống chích đã khử trùng trong một xoong nước sôi. Tôi đã phải chích thuốc “trên giường người bệnh” trước mặt anh ta, rồi anh ta mang về ống chích và cái xoong. Nhưng bệnh lỵ không giảm và tôi phải đề nghị chuyển về một bệnh viện ở Saigon. Người cán bộ đồng ý nhưng sự chuyển bệnh trì trệ. Ngày hôm sau bệnh tình trầm trọng hơn, tôi đi kiếm người quản đốc của trại và cho biết là người bệnh có thể thiệt mạng trong ngày. Chỉ lúc ấy anh ta mới bỏ người bệnh nằm co trên ghế sau chiếc xeJ eep của nhà giam để chuyển bệnh nhân về nhà thương Chợ Quán ở Saigon; người bệnh một cựu đại tá làm việc ở phủ Thủ Tướng, đã bỏ mình vài ngày sau đó! Trường hợp loét dạ dày, ông này là một tướng lãnh lực lượng Hòa Hảo, cũng được đưa xe về cùng bệnh viện ấy và người ta giữ ông trong mươi ngày rồi trả ông về gia đình và ông đã qua đời ít lâu sau!

Những kiện quà Giáng Sinh đem lại vui tươi trong vài ngày. Rồi cuộc sống tẻ nhạt, cuộc sống tinh thần suy sút lại trở về trong trại. Chúng tôi trải qua những ngày chán nản và đợi chờ, nhưng đợi chờ gì? Không ai có thể tiên đoán được cái gì có thể sẽ đến ngày hôm sau! Một vài người được thả lẻ loi, một vài người khác bị chuyển đi nhà tù khác, trong khi một số người mới chuyển đến nhà tù chúng tôi. Trong số này, có một bạn đồng trại của chúng tôi được thả ở Long Thành trước đây, đó là người em của một chủ nhà băng giàu có đã rời khỏi nước trước ngày 30 tháng 04; vợ ông ấy là bà con một cán bộ ở cấp cao mới đến từ Hà Nội và nhờ anh ta, bà ấy đã xin cho chồng được thả ra. Nhưng ủy ban hành chánh quận lại muốn trục xuất ông ra khỏi nhà, lấy cớ là nhà của ông anh đã chạy trốn, ông ta đã phản đối và công an khu vực đã đến bắt ông và đem vào trại chúng tôi.

Trong những ngày tháng lo âu và đợi chờ này tôi thường đi nói chuyện với một người bạn đồng nghiệp, bác sĩ Quýnh mà người em là Trương Như T. đã từng là một trong những lãnh đạo của MTGPMNVN, lúc bấy giờ là bộ trưởng bộ Tư Pháp của miền Nam Việt Nam. Quýnh đã phải trình diện học tập với tư cách là thành viên của ủy ban trung ương Việt Nam Quốc Dân Đảng, chi phái Nam bộ. Anh nói với tôi rằng, anh ấy chỉ nhận tước vị này để làm vui lòng người lãnh đạo của phong trào này vì anh là bác sĩ của ông! Vài ngày sau Tết tây, trong một cuộc đi dạo, anh ấy đưa tôi xem một bức thư của người em viết trên giấy có in tựa đề của Bộ Tư Pháp, trong đó ông em nói đã tưởng là anh em sẽ sum họp vào Tết Tây này, nhưng có trục trặc “dù vậy chắc chắn đến Tết ta, vào khoảng cuối tháng giêng, toàn thể đại gia đình chúng ta sẽ sum họp”.

Quýnh tỏ ra thật lạc quan và tôi cũng vậy, vì tôi mong không phải chỉ mình anh được thả.

Tết gần kề, ngày 20 tháng chạp âm lịch không khí rõ ràng bớt căng thẳng, chúng tôi vừa mới lại được viết thơ cho gia đình và những kiện quà gia đình phải đến ngày 28, đã có dự trù sẽ giết sáu con heo cho những bữa ăn ngày Tết. Nhiều người đã xung phong từ ngày 26 để gói bánh chưng (bánh gạo nếp với nhân đậu xanh và thịt heo gói thật chặt trong lá chuối và nấu thật lâu trong nước sôi, đó là chiếc bánh truyền thống, không có nó thì không phải là Tết.) Theo chương trình, chúng tôi tổ chức ngày mồng một Tết một cuộc đấu bóng chuyền giữa đội của “khu cảnh sát ‘ và đội của “khu tình báo”, và cũng có cuộc đấu cờ người (cũng như cờ tướng, nhưng thay vì chơi bằng quân cờ trên bàn cờ bằng gổ, người ta vẽ thẳng xuống mặt sân một bàn cờ thật lớn, và để làm quân cờ, người ta dùng 32 người, mỗi người cầm một cờ hiệu, tượng trưng một quân cờ của một trong hai bên. Hai người đánh cờ sẽ trực tiếp nhìn những con cờ người này để chơi, làm những người này di động trên bàn cờ lớn, giống như họ chơi cờ trên bàn bằng gỗ và những người kiểm soát trong một phòng sát bên, theo dõi cuộc chơi trên một bàn cờ thật).

Tết đến, ngay từ hôm trước thức ăn đã ngon hơn, những cuộc dượt để đấu bóng chuyền thu hút thật nhiều khán giả, không khí đã dễ chịu: panem et circenses! Ngày Tết chúng tôi dạo bước ở sân trong, chúc nhau mau được thả, chuyện trò, nhìn trận đấu bóng chuyền và cuộc đánh cờ người.

Ngày mồng hai ngay từ sớm, Quýnh được mời tới nhà giám đốc trại. Anh ấy đi với đầy hy vọng, va-li đã xếp lại đàng hoàng. Nửa giờ sau anh ấy trở lại, đầu cúi xuống, vất bên cạnh va-li nhiều gói mứt, bánh, và nằm xuống nền đất, không nói gì với ai. Sau này, anh tâm sự với một vài người bạn, là vợ của Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp đợi anh ở phòng khách nhà giám đốc trại, đưa cho anh những gói đồ tiếp tế và nói với anh rằng người em rất tiếc đã không thành công trong việc vận động cho anh được thả vào dịp Tết, nhưng ông ta tiếp tục lo cho anh được thả… Vài tuần sau, trong một buổi chuyện gẫu, anh ấy nói với tôi, những kẻ phải than van không phải là chúng ta mà là họ, những kẻ trong mặt trận Giải Phóng Miền Nam.

Bác sĩ Quýnh ở lại trại cải tạo đến cuối năm 1987, dù anh ấy đã hầu như hoàn toàn đui mù vì bệnh đục nhãn kép; việc người em cựu bộ trưởng bộ Tư Pháp của chánh phủ (ngắn ngủi) miền Nam Việt Nam, chạy trốn như một thuyền nhân, có thể cũng đã góp phần vào việc kéo dài giam cầm anh ấy.

Sự nhàn rỗi, cố ý hay không cố ý, mà người ta đã lờ bỏ cho chúng tôi trong hơn một năm, đã trở thành khó mà chịu đựng được về mặt tâm lý, cho nên có rất nhiều người tình nguyện khi người tổng giám thị muốn tổ chức một đội làm vườn. Nhưng anh ta chỉ lấy có hai mươi người trong đó chỉ có ba người của khu chính trị chúng tôi. Anh ta cũng tuyển năm người thợ mộc, thợ cất nhà mà một ở khu chúng tôi, cũng như năm người thợ điện và thợ sắt, người duy nhất biết nghề này là một người trong chúng tôi và anh ta chọn hai người để phụ giúp. Những người xung phong được chọn đã rất hài lòng về số phận của mình vì hoạt động chân tay này giải trí họ và làm dịu đi nỗi lo âu hay sự sút giảm tinh thần mà hết thảy chúng tôi đều vấp phải. Đó cũng là dịp cho họ ra khỏi vòng kiềm tỏa của khu vực mình ở, mà thời gian dài làm cho người ta ngộp thở. Những người thợ làm vườn mỗi ngày ra khỏi trại dưới sự hướng dẫn của một cảnh vệ để làm rẫy trên một mảnh đất khoảng nửa hecta, tiếp cận với trại và có một hàng giậu gai dày bao bọc. Người cảnh vệ để họ một mình và trở lại ít lâu sau đem họ trở về trại. Họ kể cho chúng tôi nghe rằng, thường thường những người đi trên đường mòn dọc theo bờ giậu gai làm dấu hiệu thân thiện bằng cách vẫy tay hay giơ nón lá lên thật cao; hai lần họ còn ném cho cả một bao thuốc lá nữa. Những người thợ điện và thợ mộc đi sửa mỗi nơi một ít, ở mọi khu trong trại, cả nơi tù thường sự. Họ đã thấy ở đây những cựu chính trị gia bị công an quận bắt và gởi vào đây vì tội không tự động trình diện đi cải tạo, dù theo nguyên tắc ban hành, họ không bắt buộc phải đến. Một số người khác bị bắt trong lúc đang tìm cách chạy trốn khỏi nước; những người tù nhân mới đến đã kể cho họ nghe là Saigon bây giờ rất buồn, hầu như vắng vẻ ngay khi đêm xuống và rằng nhiều người đã bị gởi đi về những vùng gọi là ‘kinh tế mới’ để vỡ đất.

Một ngày tháng năm, tổng giám thị đến khu vực của chúng tôi giữa buổi đọc báo. Anh ta cho ngưng phiên đọc và bảo rằng theo một quyết định mới của Đảng và Nhà Nước, “ngay hôm nay chúng tôi bị coi là tù nhân do vậy mỗi buổi chiều khoảng 18 giờ, sẽ có điểm danh và ngay sau đó cửa trại sẽ bị khóa lại cho tới sáu giờ sáng”. Bù lại ngoài lương thực chúng tôi sẽ có một năm hai bộ đồ và ba đồng một tháng để tiêu về thuốc lá và xà phòng.

Không còn ảo tưởng nữa! Gọng kìm đã siết lại. Sau này chúng tôi biết được rằng là chính vào thời kỳ đó mà Cộng Sản Bắc Việt, cố ý dối trá, nuốt lời hứa là chỉ thống nhất miền Nam Việt Nam trong vòng ba hay bốn năm, vào lúc ấy đã bắt đầu khai tử nước Cộng Hoà Nam Việt Nam ngắn số, do những thành viên của cựu Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thành lập.

Cả ba đồng hàng tháng, lương “ảo tưởng tù nhân – học viên” cũng không bao giờ được trả; hai hay ba lần chúng tôi nhận được những miếng xà phòng nhỏ để giặt đồ và số còn lại dùng mua máy truyền hình để chúng tôi có thể mỗi tuần một tối đến phòng họp của trại xem “phim truyền hình cải tạo chính trị”. Tệ nữa.! Những người thợ mộc, thợ làm sườn nhà kể cho nghe là người ta đã mua không phải một máy truyền hình mà là ba máy, một để ở phòng họp, còn hai máy kia thì đưa về cho gia đình các cán bộ còn ở lại miền bắc! Chính những người thợ mộc đã đóng thùng để gởi những máy truyền hình này!

Vài phút sau khi tuyên bố biến đổi chúng tôi thành tù nhân, anh bạn Minh của tôi, cựu thượng nghị sĩ, người chỉ trình diện học tập do lời khuyến khích của một người anh họ (đại tá quân đội Cộng Sản đã đến vào đợt đầu đoàn quân xâm lăng) vì theo nguyên tắc ông ấy không phải đi học tập, nhiệm kỳ thượng nghị sĩ của ông đã kết thúc từ năm 1972 đã lo sợ hỏi tôi rằng:

“Họ có xiềng chân mình vào ban đêm không ?

– Chưa đâu, hiện giờ họ chỉ xích cửa thôi!”

Than ôi, Minh đã nếm mùi xiềng xích ít lâu sau, không những xiềng cổ tay như mọi người chúng tôi, mà bị cơn đói hành hạ thúc đẩy, ông nuốt bất cứ loại lá quả, hay củ gì ông kiếm được, nhất là củ khoai mì mà ông ta lén lút đào lên và ăn sống; ông đã chết vì ngộ độc, chỉ một năm sau đó.

Tù nhân hay học viên cải tạo chỉ là một, khác chăng là có khoá cửa vào lúc ban đêm! Một vài người đã không còn giữ được phẩm cách của mình nữa vì hy vọng hão huyền là phục vụ quá mức hay thái độ ngoại lệ của họ sẽ được trả tự do sớm. Là tù nhân chúng tôi đã không còn được phép giữ dao hay đồ vật gì nhọn nữa, chúng tôi phải đưa tất cả cho người quản tù của khu vực để anh ta đem cất ở kho tại ban giám đốc của trại. Sự thật chúng tôi không bao giờ thấy lại các thứ ấyl Nhưng trong khi mà ở ba khu vực kia, người ta chỉ thu dao, kéo và những vật nhọn khác, anh trưởng trại của chúng tôi lại thêm cái cắt móng tay vô tội!

Một câu chuyện khác làm cười ra nước mắt về những lời tỏ tình của một ông tướng nghị sĩ nào đó. Nữ tù nhân duy nhất của khu vực chúng tôi, đại úy Thúy, người ở một mình trong căn phòng nhỏ, thường đứng ở cửa phòng, nhìn những người bị giam khác chơi bóng chuyền hay đi dạo trong chiếc sân lớn bên trong. Ông tướng nghị sĩ, ở trên lầu cao, nơi những ông “lớn V.I.P” bị giam giữ, nhìn cô ấy có lẽ hơi quá nhiều và đem lòng yêu cô ấy. Ông viết cho cô một bức thư đầy thắm thiết và một bữa xế trưa, đem nhét dưới cửa của cô nàng. Cô không thấy bức thư, thơ vẫn ở dưới cửa cả đêm và sáng hôm sau, tổng giám thị đi qua đề mở khóa cửa, đã lượm được thư. Anh ta đem đọc thơ trong buổi “kiểm thảo và tự kiểm thảo” hàng tuần của cả khu vực … Lòng kính trọng của tôi đối với những ông tướng lại hạ xuống một mức nữa!

Trong tháng 7 những anh bạn đầu bếp lại tung tin đồn là chúng tôi sắp bị chuyển đi một trại khác để “bổ túc học tập cải tạo bằng lao động tay chân”. Tin đó sau này được các bạn làm vườn xác nhận: người tổng giám thị hài lòng về công việc làm của họ, đã nói với họ: “Các anh làm ở đây thật tốt, vậy sao người ta còn muốn đưa các anh đến trại khác để cải tạo bằng lao động tay chân? Tôi sẽ cố gắng xin ít nhất là cho đội các anh ở lại đâyl”. Chúng tôi đã bắt đầu bỏ thời giờ suốt ngày bàn cãi để đoán xem sẽ được chuyển về trại nào. Vài tháng trước đó chúng tôi được đọc trong báo là một nhóm người đã trốn thoát vào tháng 4/1975 và một khi đến đảo Guam, đã đòi hỏi phải được đưa trở về Việt Nam; người ta cấp cho họ một chiếc tàu, chiếc Việt Nam Thương Tín, nhưng ngay khi vào hải phận Việt Nam tàu này liền bị hải quân Việt Cộng bắt dẫn đến đảo Phú Quốc. “Đồ ngu dại! Chúng đang bị cải tạo chính trị ở đó! Phải chăng chúng tôi cũng có nhiều khả năng sẽ bị gửi đến đó?”

Một bài báo khác khen các cựu sĩ quan đang học tập cải tạo ở phía Tây Ninh, đã đốn cây, khai quang nhiều mẫu rừng và xây một trại khá tiện nghi cho họ trong vòng vài tuần. Họ cũng đang khai quang một mảnh rừng khác để cất thêm những trại cho các tù nhân học tập cải tạo khác sắp đến trong vùng này. Đó phải chăng dành cho chúng tôi

Rồi một đêm lúc đã khuya buổi tối thứ ba đầu tiên của tháng 8 năm 1976, vào khoảng 23 giờ, khi mọi người đã ngủ, có tiếng náo động ồn ào xuất phát từ phòng cảnh sát bên cạnh làm chúng tôi thức giấc. Một người trong chúng tôi leo lên vai một người bạn nhìn sang phòng bên cạnh ngang phần có đóng lưới; anh thấy các cảnh sát đang náo nhiệt thu dọn để rời phòng, cửa phòng họ đã mở, một vài người đã bắt đầu ra đi… Chúng tôi chờ tổng giám thị tới đánh thức chúng tôi dậy để bảo ra đi và chúng tôi nhìn ra cửa từng lúc, từng lúc… Dần dần tiếng ồn ào giảm bớt và độ nửa giờ sau thì yên lặng trong khi cửa phòng của chúng tôi vẫn im lìm khoá kín. Chúng tôi lại nằm xuống, lo lắng, và hy vọng là việc di chuyển mà từ hơn một tuần nay chúng tôi cảm thấy sắp đến nơi, chỉ liên can đến các cựu cảnh sát. Nửa giờ sau đó chúng tôi nghe một giọng từ khá xa, gọi bằng ống loa tên những người bị giam của khu cảnh sát. Cuộc điểm danh này được thực hiện chầm chậm theo vần chữ. Rồi lại im lặng. Một ít lâu sau, có tiếng xe cam-nhông và sau cùng tiếng máy xe hơi nhỏ hơn, chắc chắn của những chiếc xe jeep hộ tống. Chúng tôi đếm được cả thảy bốn chiếc xe cam nhông, phù hợp với số tù nhân ở khu cảnh sát vào khoảng 150 người. Một lần nữa tất cả trở lại im lặng, một sự in lặng nặng nề.., ngộp thở.

“Họ đã ra đi rồi! bao giờ đến phiên chúng ta ?” một người cạnh chỗ tôi nằm hỏi. Sáng hôm sau khi tới làm việc ở bệnh xá, tôi nhận ra rằng những căn của cảnh sát hầu như hoàn toàn trống rỗng, chỉ còn lại một vài người. Một người đến hỏi tôi, vẻ rất lo lắng:

– Các bạn tôi đã đi rồi, chỉ còn mình tôi và hai người nữa. Vì sao, họ bỏ tôi lại đây ? Chắc hẳn là tôi bị “trù” rồi!

– Nhưng tại sao anh? – tôi trả lời, biết rằng anh ta không phải là một nhân vật tai to mặt lớn của sở cảnh sát Nam Việt Nam .

-Cách đây hai ngày, chúng nó vời tôi lên bàn giấy và một điều tra viên từ Saigon đến, đã hỏi tôi về hai người thân cộng mà tôi đã bắt khi tôi làm việc ở Vũng Tàu. Tôi không còn nhớ người ấy là ai, nhưng tôi nói với anh ta – mà cái này là sự thật – là những cuộc bắt bớ đều được thực hành theo lệnh của tỉnh trưởng hay của chính sở Cảnh Sát Saigon. Vả lại sau những cuộc bắt bớ này mà anh ta nhắc lại ngày tháng cho tôi, tôi đã bị đổi đi một tỉnh khác. Anh ta có vẻ tin tôi và cho tôi đi về Nhưng bây giờ họ lại không để cho tôi đi với mọi người thì chắc chắn là tôi đã bị “trù” rồi!”

– Ôi chúng ta không bao giờ hiểu được mấy cán bộ này toan tính gì! Có thể là anh và hai người kia sắp được thả ra. Biết đâu được!

Những điều anh ta kể với tôi phù hợp với những gì chúng tôi đã đoán: họ đã bị đánh thức vào khoảng 23 giờ lúc đang ngủ yên giấc, tổng giám thị đã cho họ nửa giờ để thu dọn rồi sau đó cùng với hành lý đến sân trong. Họ phải chờ khá lâu, ngồi bẹp xuống đất. Rồi giám đốc trại đến đọc một nghị quyết mà anh không còn nhớ rõ đúng bản văn, nhưng trong đó nói rằng “tất cả bị kết án ba năm học tập lại bằng lao động trong một trại tập trung”. Rồi tổng giám thị đọc một bản danh sách gồm những người tù nhân của khu cảnh sát, trừ anh ấy và hai người kia. Những người được gọi tên đứng dậy và sắp hàng hai mươi người sau lưng một công an, người này dẫn họ ra một hành lang đưa vào sân của khuôn viên bên ngoài. Ở sân trong cũng có những tù nhân của khu tình báo, nhưng người ta chỉ gọi độ ba mươi người lên đường. Sau đó cán bộ ra lệnh cho tất cả mọi người còn lại trong sân trở về phòng.

Cuộc ra đi của khu “cảnh sát” và một số tù nhân khu “tình báo” là đề tài của mọi câu chuyện trong suốt cả ngày. Về vấn đề này, những tù nhân làm vườn kể lại là hôm trước, lúc trở về sau khi làm việc, họ đã thấy hai chiếc xe jeep chất đầy bánh mì như thế có nghĩa là thời gian di chuyển sẽ dài và có thể kéo dài ra cả ngày, nếu không là lâu hơn nữa! Việc tù nhân của khu “tình báo”, được lấy theo thứ tự vần chữ cái, đã đi một phần rồi, có nghĩa là bắt buộc còn ít nhất một chuyến đi nữa, chắc chắn là vào đêm sắp tới! Hy vọng của chúng tôi là chỉ có các “cảnh sát” mới phải đi, đã tiêu tan một cách nhanh chóng!

Buổi chiều, khi đã điểm danh xong, sau khi tổng giám thị đã khoá cửa, chúng tôi mỗi người vội vàng sắp dọn túi, xách và ba-lô, chỉ giữ lại cái mùng và chiếc chiếu, rồi nằm xuống liền để ráng nghỉ ngơi một chút. “Các anh được yêu cầu ngủ tức khắc để thức dây vào nửa đêm!”, một người đã nói dỡn như vậy, nhưng không ai còn lòng dạ để trả lời anh ấy nữa! Giấc ngủ chập chờn, không yên, tôi chợt tỉnh nhiều lần, nhưng cũng ngủ được đến sáng hôm sau.

Sau khi cửa phòng mở, chúng tôi gặp lại nhau tất cả ngạc nhiên, nhưng thích thú vì còn ở lại trong ngục Thủ Đức. Đó là tạm thời hay là vì trại mới chỉ có thể tiếp đón được khoảng 200 người thôi. Không làm sao biết được. Người ta cũng có thể gởi chúng tôi đến đó để chúng tôi tự dựng nên trại, như những người bị giam ở Tây Ninh mà báo của đảng đã nói tới ở Côn Đảo hay ở Phú Quốc?

Lại thêm một ngày bồn chồn, lo lắng, rồi lại một đêm như hôm trước chúng tôi ngủ sớm để sửa soạn di chuyển vào nửa đêm … nhưng chúng tôi ngủ đến sáng. Hy vọng lại tái sinh, và có thể biết đâu chúng tôi sẽ không ra đi!

Nhưng xế trưa đem lại một tin xấu: các bạn làm vườn đi làm về, đã nhìn thấy trong sân của khuôn viên ngoài, hai chiếc xe jeep chất đầy bánh mì! Vậy thì chắc chắn đến phiên chúng tôi tối nay!

Trở về phòng sau bữa cơm chiều, ngay sau khi cánh cửa được tổng giám thị khóa chặt hơn bao giờ cả, chúng tôi lại sắp dọn túi xách và va-li, rồi nằm xuống chiếu, mỗi người hy vọng có thể chợp mắt vài chốc. Riêng tôi, tôi không sao ngủ được, tâm tư tôi phập phồng từ tiếng động nhỏ bên ngoài, tiếng cành cây mục gẫy rắc rơi xuống tiếng bước chân đến gần, phải chăng là của lính gác đi tuần hay là của tổng giám thị có công an đi cùng? Nhưng những bước chân xa _dần, không, không phải bước chân của tổng giám thị, và cứ thế ròng rã hằng giờ qua đi. Cuối cùng mệt mỏi, tôi thiếp đi để rồi gian như liền sau đó bị đánh thức bởi một giọng nói như sấm vọng của tổng giám thị, trước khi anh ta mở khoá cửa:

“Thức dậy, hãy thức dậy, các anh có nửa giờ để chuẩn bị và ra sân để lên đường, thức dậy!”

Vậy là náo động cùng khắp: việc chắc chắn ra đi đã xoá mất nỗi lo âu của đợi chờ; mọi người hối hả thu dọn thật mau hành trang của mình, rời khỏi phòng và ra khu sân trong. Khi chúng tôi đến nơi thì các bạn đồng hành ở khu “tình báo”, và khu “ông lớn V.I.P.” đã ở đó rồi Mỗi người kiếm một chỗ để đặt xách túi và ngồi bệt xuống đất bên cạnh. Lúc bấy giờ qua ống loa, tổng giám thị bảo rằng: cấm ngặt mang theo mình hay để trong hành lý những đồ bằng thủy tinh: chai, lọ gương, hay ly cốc và sẽ khám kỹ trước khi lên đường. Vậy là mọi người phải mở túi xách và va-li ra để vất tất cả những đồ cấm, còn những thứ đựng trong chai lọ, chúng tôi ráng giữ lại được chừng nào hay chừng ấy trong túi ny lông hay gói trong một tờ giấy nào đó.

Rồi viên giám đốc trại đến, đứng ở hành lang dẫy nhà hành chánh, đọc trước máy vi âm, một nghị định do Huỳnh Tấn Phát, đại diện của chánh phủ Trung ương ở Nam Việt Nam ký :

“Chiếu theo pháp lệnh của Chủ tịch Nhà Nước,
– Chiếu theo ….
– Chiếu theo ….
Bị kết án tù trong trại tập trung cải tạo bằng lao động cưỡng bách trong ba năm, những tội phạm có tên trong danh sách đính kèm với nghị định này …”

Kế tiếp tổng giám thị đến máy vi âm và đọc danh sách những người bị kết án theo thứ tự vần chữ cái. Trước hết anh ta kết thúc danh sách những người “cựu tình báo” mà một phần đã ra đi hôm thứ ba, rồi đến phiên chúng tôi, rồi những tù nhân “ông lớn” có tên theo thứ tự ở trong danh sách. Mỗi một tù nhân được gọi tên phải rời chỗ với hành lý và ra sắp hàng sau lưng một người công an đứng tách rời ra một chỗ; anh này dẫn chúng tôi từng nhóm hai mươi người ra sân khu sân ngoài. Việc đọc danh sách của khu chúng tôi dừng lại ở chữ S. Những người chưa được gọi tên nhận lệnh trở về phòng, có hai tù nhân “quan trọng VIP” đi theo chúng tôi vì khu của họ đã giải tán. Lúc đó khoảng hai giờ sáng. Chúng tôi về phòng và ngủ tới tám giờ hay chín giờ sáng, không có ai đến khoá cửa, cũng không ai đến mở cửa.

Những ngày sau đó, người ta bỏ chúng tôi hoàn toàn một mình, cán bộ cũng không thấy đến, cánh cửa nối liền khu chúng tôi với phần còn lại của trại để mở suốt ngày, những người làm vườn cũng không ra vườn nữa, và chỉ một mình tôi tiếp tục đến bệnh xá. Nhưng có rất ít bệnh nhân đến xin thuốc và tôi dùng phần lớn thời giờ để chuyện gẫu, nhất là với các “cựu cảnh sát” và “tình báo viên” còn ở lại trại sau khi các bạn đồng cảnh đã ra đi. Tuy nhiên họ không phải là những người liên lụy nhiều nhất vào cuộc chống cộng sản trước năm 1975, tôi có cảm tưởng là một số người trong bọn họ được che chở bởi bà con tai to mặt lớn trong cấp chỉ đạo của cơ quan an ninh cộng sản. Một vài người khác còn liên lụy với cuộc điều tra đang tiếp diễn ở Sai gon và bởi vậy sự có mặt của họ ở Thủ Đức là cần thiết.

Sau này, chúng tôi đã kiểm chứng được là hai dự đoán của tôi là đúng: một vài người được thả ra hai hay ba tháng sau đó, một vài người khác đến nhập bọn với chúng tôi trong những điều kiện di chuyển khó nhọc hơn là của chúng tôi.

Việc chắc chắn được chuyển qua một trại khác bây giờ đã làm nhẹ một phần lớn nỗi lo âu những ngày qua. Câu hỏi quan trọng nhất còn làm bận lòng chúng tôi là đoán cho ra nơi sẽ di chuyển tới. Thời gian dài giữa hai chuyến di chuyển, theo chúng tôi, có nghĩa là sẽ bị đầy đến một trại tập trung nằm xa Saigon, rất có thể là Côn Đảo, ở đó có một nhà giam cải tạo đáng sợ với “chuồng cọp” lập ra từ thời thuộc địa, hay Phú Quốc nhà tù cải tạo mới hơn, mà ở đó những kẻ “ngu dại” của chiếc tàu Việt Nam Thương Tín đang chờ đợi chúng tôi.

Chúng tôi dự đoán sẽ lên đường vào đêm thứ hai rạng sáng thứ ba, cho nên sau bữa cơm chiều thứ hai, trở về phòng, chúng tôi nằm xuống liền để ráng có vài giờ nghỉ ngơi trước khi lên đường. Đã quen với những đợi chờ này, nỗi lo âu đã bớt đi, tôi cũng ngủ chập chừng, lắng tai nghe những tiếng động lạ thường. Cứ như thế cho đến lúc tôi nhận ra có tiếng ồn ào từ căn nhà lầu có vách kề với vách chúng tôi; lúc đó khoảng bốn giờ sáng. Những người cùng bị giam với tôi đã thức dậy chạy ra khỏi phòng và đến sát cửa sắt phân cách khu của chúng tôi với phần còn lại của trại, để quan sát. Liền sau đó họ trở lại và kể cho chúng tôi nghe là họ đã nhìn thấy nhiều toán người, độ chục người một nhóm, leo thang để lên lầu trước đây dành cho tù “quan trọng” ở. Những người này đều mang bị trên lưng hay cầm nơi tay, nhưng một chi tiết khác thường: họ đội trên đầu chiếc nón lá. Có phải là những người dân quê không? Hay là những tù nhân đã được gởi ra làm việc đồng áng?

Vào khoảng mười một giờ sáng, khi những người bạn đi lấy cơm trưa trở về nói với chúng tôi rằng đó là những tù nhân đến từ trại Long Thành, nơi chúng tôi đã ở khi trước. Vậy đó là đoàn tù nhân đầu tiên đến để thay vào chỗ trống để lại. Họ là ai ? Tại sao tất cả đều có nón lá ?

Vài người trong số chúng tôi, vì tò mò, đã ra sân trong, đi qua đi lại trước căn nhà những tù nhân mới tới ở nhưng cánh cửa vẫn đóng, họ bị nhốt trong phòng suốt cả ngày. Vào buổi xế trưa, người cán bộ y tế đến kiếm tôi và lấy lại các chìa khoá bệnh xá mà anh ta đã giao cho tôi giữ từ lâu. Khi giao lại chìa khoá cho anh ta, tôi hỏi:

“Chúng tôi sẽ đi đêm nay à?

– Tôi không biết. Mai tôi sẽ mở cửa của bệnh xá cho ông nếu cần.”

Sau khi anh ta đi, những người đã nghe câu trả lời này, nói với tôi rằng :

“Chúng ta sẽ đi đêm nay, bây giờ chuyện đã chắc một trăm phần trăm rồi.”

Quả thật, đêm ấy chúng tôi đi. Trước nửa đêm một chút, cũng giọng nói như sấm vang, nhưng có phần thân thiện, của quản giáo đánh thức chúng tôi:

“Bây giờ đến phiên các anh đi! Thức dậy nhanh lên và trong nửa giờ phải ra sân trong. Đừng quên một món đồ nào của các anh cả”.

Đã sẵn sàng từ nhiều ngày rồi chúng tôi nhanh chóng cuốn chiếu, xếp mùng, đóng bao bị lại; sau khi rửa ráy sơ sài, chúng tôi không tiếc nuối rời căn phòng đã ở trong hơn mười tháng như tù nhân, một cuộc sống chán nản và sa sút tinh thần, nhưng không khó nhọc về vật chất.

Rồi trong sân trong rộng lớn, cùng đến với chúng tôi có những người tù thuộc “khu hành chánh” cũng như những người mới đến hôm qua. Tôi gặp tại đây vài người quen, trong đó có bác sĩ Nguyễn Văn Ái, cựu giám đốc viện Pasteur của Việt Nam và cũng là một người bạn thời trung học. Tôi hỏi anh về cái nón lá ‘tuyệt đẹp, vì nó đã kích thích sự tò mò của chúng tôi. Anh cho biết là người ta trao cho các nón ấy trước khi rời Long Thành và nói rằng thời kỳ cải tạo bằng lý thuyết đã chấm dứt, bây giờ phải tự cải tạo bằng lao động chân tay. Những chiếc nón mà người ta đưa cho là để dùng trong những ngày làm việc dưới nắng mặt trời trên đồng ruộng!

Chúng tôi ngồi chờ dưới đất, giữa những túi xách và bao bị trong gần một giờ rồi giám đốc trại đến và thủ tục lần trước lại tái diễn! Ông giám đốc đọc nghị định kết án mỗi người chúng tôi ba năm tù ở trại tập trung để cải tạo bằng lao động chân tay; tổng giám thị tiếp theo ông ta ở máy vi âm, gọi đích danh mỗi người chúng tôi. Người được gọi tên đứng dậy, đến tụ họp sau lưng một công an, anh này dẫn mỗi nhóm hai mươi người về phía sân bên ngoài. Chừng bốn mươi người thuộc khu “chính trị” còn ở lại sau chuyến đi hôm thứ sáu, trong đó có tôi, là những người đến trước trong sân này. Chúng tôi ngồi xuống đất đợi những người đến sau. Trong bóng tối, tôi thấy mờ mờ bốn chiếc xe cam nhông có bạt che, loại cam nhông chở hàng hoá và ba chiếc xe jeep đậu một bên sân. Những tù nhân khác từ sân của khu nội viên tiếp tục đến, cứ năm hay mười phút từng nhóm hai mươi người. Thủ tục này kéo dài hơn một giờ. Lúc bấy giờ chúng tôi ngồi lẫn lộn không kể ai thuộc khu nào. Rồi người ta ra lệnh cho chúng tôi đứng lên và sắp thành hai hàng kèm theo hành lý. Một công an điểm danh một lần nữa và mỗi người phải lớn tiếng trả lời để chứng minh sự có mặt, trong lúc đó một công an khác phát cho mỗi người một ổ bánh mì . Rồi giám thị tuyên bố rằng chúng tôi sắp bắt đầu một cuộc hành trình về một trại khác hội đủ những điều hẹn tốt đẹp hơn cho việc cải tạo bằng lao động. Để ngăn chặn chúng tôi trước mọi mưu toan, ông ta thêm rằng chúng tôi sẽ bị xích cườm tay từng hai người một, rằng ngay sau đó công an đi kèm với lính gác võ trang sẽ tới xích chúng tôi, rằng mọi sự chống đối hay khước từ không chấp nhận biện pháp an ninh này sẽ bị trừng trị nghiêm khắc và cuối cùng bất cứ ai toan trốn chạy trong cuộc hành trình này sẽ bị bắn chết tại chỗ.

Biết làm gì trong hoàn cảnh của chúng tôi bây giờ? Nếu không là, một lần nữa, chịu đựng sự nhục nhã này. Tất cả chúng tôi tái mặt khi nghe những lời này, chắc chắn nhiều người đã rơi lụy; may thay đêm tối đã giúp chúng tôi giấu đi nỗi lo xấu hổ và nỗi đau khổ của mình.

Rồi công an có lính gác vũ trang đi kèm đến gần chúng tôi. Để xiềng từng hai người một, họ dùng một dây xiềng hơi ngắn mà một đầu dây có một vòng to hơn các vòng khác; họ thắt một loại nút quanh cổ tay của người tù thứ nhất, rồi họ cuốn sợi xiềng còn lại quanh cổ tay của người tù thứ hai và khoá đầu này lại với vòng lớn bằng một ổ khoá. Khi tất cả chúng tôi bị xiềng từng hai người một, công an chia chúng tôi thành bốn nhóm, giải tới bốn xe cam nhông có che bạt, và ra lệnh cho chúng tôi lên phía sau những cam nhông này. Chúng tôi gặp nhiều khó khăn để leo lên xe, vì sàn xe cam nhông khá cao, khoảng một thước cách mặt đất, bóng đêm khá sâu và cổ tay bị xiềng cấn cản vô cùng. Nhiều người tù nhỏ con không lên xe cam nhông được và lính gác phải kéo họ lên. Có tới 40i hay 50 người trên một chiếc xe cam nhông, một số lớn phải đứng, chen chúc người này sát vào người kia, giữa những túi xách và va-li vất ngổn ngang trên sàn xe. Một khi tất cả chúng tôi đã lên xe, và khi người lính gác đã đậy bạt lại rồi, chúng tôi càng lúc càng nghẹt thở, xin họ đừng đóng bạt phía sau xe, nhưng bị từ chối. Đến lượt lính gác, hai người lên một xe, họ lên phía sau xe, nhưng ngồi bên ngoài bạt. Chúng tôi càng lúc càng thêm nghẹt thở, may thay xe cam nhông nổ máy chạy và một chút khí mát len vào khe hở giữa những tấm bạt đã cứu chúng tôi. Bóng tối dầy đặc, chúng tôi chỉ nhìn thấy bóng người bên cạnh ép vào mình chúng tôi, một vài người ở trong góc, có thể nhìn ra ngoài qua khe hở giữa những tấm bạt và nhận ra ít nhiều cảnh vật quen thuộc của vùng phụ cận Saigon. Nhờ họ, chúng tôi theo dõi bằng tưởng tượng đoạn đường xe đi. Đoàn gồm bốn chiếc xe cam nhông chuyên chở hàng hoá, có xe jeep vũ trang dẫn đầu và theo sau hộ tống. Đoàn xe chậm chậm rời khỏi nhà ngục, từ từ chạy trên đường của vùng Thủ Đức. Rồi đi vào xa lộ Biên Hòa, và tăng nhanh tốc độ…

“Chúng ta. đến gần cầu sông Saigon, chúng ta vừa vào dốc cầu, chúng ta bắt đầu xuống dốc. Ồ, họ chạy chậm. Họ chạy chậm lại nữa. Họ sẽ quẹo trái về Tân Cảng chăng ? Vậy thôi chắc chắn sẽ là Côn Đảo hay Phú Quốc. Họ chạy chậm lại nữa. Họ dừng lại. Họ chạy lại. Đã quá cửa vào Tân Cảng rồi. Họ tăng tốc độ. Chúng ta đang vào Saigon”

Trong Saigon, trời tối hơn ngoài đồng trống và các bạn chúng tôi, những người nhìn qua khe hở giữa các tấm bạt, không thể nhận ra đường đi của xe. Tuy nhiên căn cứ vào những cảm giác ghi nhận được mỗi khi xe chuyển hướng, chúng tôi có cảm tưởng là xe đi về phía Tây Ninh, nơi mà những trại cải tạo đã có sẵn để “cải tạo chúng tôi bằng lao động cưỡng bách”. Quả nhiên, vài phút sau, xe cam nhông quẹo mặt và tăng tốc độ. Nhưng sau độ mười lăm phút, đoàn xe chạy chậm lại, quẹo tay mặt nhiều lần, rồi tay trái, trước khi dừng lại. Người ta ra lệnh cho chúng tôi chuẩn bị xuống xe, vậy là chúng tôi đã tới nơi rồi và không phải là Tây Ninh như đã tưởng vài phút trước đây. Bước xuống đất, chúng tôi thấy mình ở trên một mảnh đất trống trải, lát đá giăm nện, bên cạnh một bức tường cao. Những người lính gác cùng đi bảo chúng tôi ngồi xuống đất trong khi chờ lệnh của các cán bộ công an. Họ còn ngồi trên những chiếc xe jeep đi hộ tống, đậu khá xa nhóm tù nhân. Tôi nhìn bốn phía nhưng không sao nhận ra chúng tôi đang ở nơi nào. Cuối cùng một người bạn chúng tôi, cựu sĩ quan, nói với tôi là chúng ta đang ở bãi đậu của phi cơ quân sự tại phi trường Tân Sơn Nhứt; vậy thì họ sắp chở chúng tôi bằng máy bay tới nhà tù sắp tới: Côn Đảo hay Phú Quốc! Chúng tôi đợi thật lâu, lúc ngồi lúc đi vài bước giữa những người gác vũ trang, lúc nào cũng cặp đôi, vì bị xiềng ở cổ tay!

Bình minh trắng dần, và tôi đã có thể nhìn khá xa chung quanh, tuy vẫn chưa phân biệt được những căn nhà của phi trường dân sự, có lẽ vì quá xa ? Tôi chỉ thấy nhiều căn nhà lớn sau bức tường nhà kho ở gần ngay chúng tôi, nhiều người đồng cảnh với chúng tôi dựa vào chân tường đã ngủ gục. Đường bay vắng hoe, không có tiếng máy nổ nào quấy rầy sự yên lặng của ban mai. Tôi nghĩ đến gia đình, chỉ cách đây vài cây số thôi, mà tôi không thể gặp được! Có thể đây là lần cuối cùng chúng tôi ở gần nhau như vậy chăng? Ngày mai, thậm chí trong vài giờ nữa thôi, hàng trăm cây số đường bộ hay đường biển sẽ ngăn cách chúng tôi trong thời gian dài và có thể là mãi mãi! Và tôi bắt đầu cầu nguyện, hoàn toàn giao phó mình cho Chúa, cho ý muốn của Người và cho ý muốn của Con Người đã trở lại trong Vinh Quang, và tôi nói với họ trong thâm tâm :

“Hỡi người Cộng Sản vô thần. Những xiềng xích mà các anh khoá vào cổ tay chúng tôi chỉ là những lưới nhện bao lâu mà ý chí của chúng tôi vẫn còn, bao nhiêu lâu mà chúng tôi không thất vọng, mà nào chúng tôi có thể thất vọng được khi chúng tôi còn tin Chúa? Đúng như vậy.. chúng tôi sẽ trở lại trong vinh quang…”

Mặt trời đã lên cao nơi chân trời khi tôi thấy ở đằng xa ba chiếc máy bay nhô ra trên phi đạo và chạy về phía chúng tôi và dừng lại độ năm mươi thước cách chúng tôi, tôi nhận ra là những chiếc máy bay không vận. Từ mỗi chiếc, bốn hay năm người bước xuống, bận đồng phục kaki. Họ họp nhau lại và đi về phía những cán bộ công an cũng vừa bước xuống xe và đi về phía họ. Họ chào nhau kiểu nhà binh và nói với nhau trong vòng mười lăm phút. Sau đó bọn họ đi về phía chúng tôi và giám đốc trung tâm cải tạo Thủ Đức quay sang chúng tôi, giới thiệu những người mới đến. Những người này là công an của bộ Nội Vụ. Họ đến đây để hộ tống chúng tôi đến “trại tập trung mới để cải tạo bằng lao động”.

“Trong trại tập trung các anh sẽ đến, mọi điều kiện đều hội đủ để giúp các anh học tập cải tạo nhanh chóng để được thả và trở về với gia đình các anh và trở thành những công dân tốt; các anh sẽ lao động chăm chỉ và hiệu quả trong cuộc đời còn lại và sẽ đóng góp vào việc xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa. Làm như thế các anh đền bù lại những thiệt hại mà các anh đã gây ra cho đất nước trong bao nhiêu năm cộng tác với đế quốc Mỹ và tay sai”.

Sau đó, ông chúc chúng tôi học tập cải tạo tốt bằng lao động, hầu sớm được thả và trở về gia đình.

Chúng tôi đã nghe mà không nói gì: là tù nhân, chúng tôi đã có đặc ân không phải trả lời để cảm ơn, cũng không phải vỗ tay!

Cán bộ công an của bộ Nội Vụ tiếp theo chỉ nói với chúng tôi đơn giản là đứng lên, chia làm ba nhóm để lên máy bay đang chờ chúng tôi.

Trong cuộc tiếp xúc đầu tiên với công an Bắc Việt, chúng tôi đã để ý đến một sự khác biệt rõ ràng giữa họ với những công an miền Nam. Những người miền Bắc chăm sóc kỹ bề ngoài và cách cư xử của họ, lúc nào cũng mặc đồng phục chỉnh tề, nói năng với uy quyền và nghiêm nghị, họ giữ khoảng cách với tù nhân. Những người miền Nam trái lại bộc lộ hơn, “ba gai” một chút, cách ăn mặc của họ hay thay đổi, từ màu xanh lá cây như nhà binh, nâu hay đen như du kích, hoặc y phục dân sự; ngoài những chuyện hành chánh, họ dễ dàng nói chuyện với tù nhân, đôi khi còn đùa nữa, và xưng “mày tao” với những tù nhân cùng tuổi. Một người trong bọn họ ở Thủ Đức, còn nhận làm cả vài dịch vụ cho tù nhân lúc ra phố (như mua thuốc lá hay bánh kẹo). Có lần khi một tù nhân hỏi anh ta vì sao anh ta chưa có vợ?

“Tại vì tôi chưa đủ tiền. Ngày nào có, tôi sẽ lấy một người hay có thể lấy hai người nữa!

– Nhưng điều đó Đảng cấm mà!

– Đảng có mắc mớ gì trong chuyện này. Nếu tôi có đủ tiền để nuôi họ, tôi sẽ lấy bao nhiêu người tôi muốn à!”

Bây giờ theo lệnh của những người gác mới, chúng tôi đi về phía máy bay Người ta đã hạ phần sau xuống: phần này là một loại đường dốc để xe cộ lên. Dù cổ tay bị xiềng vào những người khác, chúng tôi cũng có thể leo lên tàu bay trong khi tay kia cầm hành lý, túi xách hay va-li. Chúng tôi ngồi bừa bãi chỗ nào được thì ngồi, người ngồi trên ghế dài, người ngồi ngay trên sàn. Phi cơ có vài cửa sổ nhỏ với tấm màn vàng che kín. Có tiếng động cơ nổ, chầm chậm tàu bay lăn bánh trên đường bay, dừng lại một chút, rồi các động cơ gầm lên, máy bay mở thắng, tăng tốc độ rồi cất cánh.

Ngồi ngay trên sàn, lưng dựa vào bắp vế một người bạn ngồi trên ghế dài, tôi thiếp đi rất nhanh, mệt mỏi vì một đêm không ngủ, trong khi máy bay chở tới nhà ngục thứ ba của tôi…

—> Chương V
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, Paul Trần Vỹ. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s