TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAM (Paul Trần Vỹ): Chương IX

Chương IX
– TÙ NHÂN
– LÒNG TIN TRONG TÙ
– “WATCHGATE”
– CÁI CHẾT CỦA NGUYỄN NGỌC THÚY

Trong suốt thời gian tôi bị bệnh đau động mạch tim, Thúy thường đến thăm tôi, đều đều mỗi chủ nhật và đôi khi buổi sáng trong giờ khám bệnh của tôi. Thúy có thể đọc báo (của đảng) trong đội của anh, đã cho tôi biết về chiến trận ở biên giới với Trung Cộng; chiến tranh làm chúng tôi lo nhiều vì có thể trại chúng tôi phải sơ tán khẩn cấp, điều nguy hiểm khủng khiếp cho tôi vì tôi vừa bị bệnh. Chúng tôi hết băn khoăn khi được tin có mở hoà đàm nhưng bực mình vì sự ngu xuẩn của những người đàm phán của họ (đáng lẽ phải nói của chúng ta, vì đây là những người của Hà Nội), họ không hiểu là người Trung Hoa không phải là người Pháp, cũng không phải là người Mỹ. Quen thuộc với chiến thuật doạ dẫm bằng tù nhân và xác chết, chiến thuật đem lại thành công với Pháp và Mỹ, họ bắt đầu đề nghị với Trung Hoa việc trao đổi tù binh! Nhưng những người Trung Hoa cũng như những người cộng sản Việt Nam, không đếm xỉa gì đến tù binh cũng như thi hài, giáng cho họ một cái nhục đầu tiên bằng cách tuyên bố rằng tù binh là việc của Hồng Thập Tự! Một cái tát thứ hai tiếp theo đó, khi Trung Hoa tuyên bố: “Tù binh của các anh à, hãy đến mà đem họ về không phải tốn kém gì?”. Bắc Việt tuyên bố khắp nơi rằng đã giết và bắt làm tù binh cả ngàn, nếu không nói là cả vạn người Tàu, chỉ đưa ra được độ một chục người Tàu, để đổi lại hơn một trăm người. Đó là sự mất mặt thứ ba mà họ tự hấng lấy…

Một ngày kia, Thúy đến trong giờ làm việc, tôi nghĩ là anh ta lại có một bản báo cáo nữa cho ông thứ trưởng bộ Nội Vụ. Thật vậy, Thúy bắt đầu đưa cho tôi năm điều thuốc, một nửa tiền lương của anh, và nói với tôi:

“Anh thử đoán xem người ta bảo tôi viết cái gì đây!

– Về những người Fulros, người Trung Hoa hay … về các tướng lãnh của anh!

– Những cái đó đã xưa rồi. Người ta đòi tôi cái khác hôm nay!

– Vậy thì, địa chỉ ổ điếm ở Sài gòn !

– Cái đó, bây giờ họ biết rõ hơn tôi. Anh không bao giờ đoán ra được đâu! Họ muốn tôi viết ra những gì tôi biết về Nguyễn Hữu Thọ và Huỳnh Tấn Phát.

– Ồ! … Thật sự tôi không lầm lắm đâu. Tôi chỉ dùng giống cái thay vì giống đực!… Nhưng tại sao họ lại bảo anh làm việc này?

– Họ có một cái sợ kỳ cục về đoàn quân thứ năm và họ cũng không tin lắm những tên của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam này.

– Và anh biết một vài điều về những người này chăng?

– Về Nguyễn Hữu Thọ, không, nhưng về Huỳnh Tấn Phát, thì có! Tôi biết vài điều.

– Và anh sẽ nói cho họ nghe?

– Tại sao không? Bây giờ chúng ta đã ở đây rồi, vì sao anh còn muốn tôi che chở cho những tên khốn nạn này. Tôi sẽ nói hết.

Và giơ tay mặt lên cao, bắt chước điệu bộ của người làm chứng trước tòa, anh nói tiếp

: sự thật tất cả sự thật, không gì ngoài sự thật ‘.

Sau đó Thúy kể cho tôi nghe rằng, vì là Trưởng Ban Nghiên Cứu của Cục Tình Báo Trung Ương (Miền Nam Việt Nam), anh không phải lo việc chiêu hồi những người ly khai, nhưng mỗi thứ bảy anh dự buổi họp của tất cả tất cả các trưởng ban, với sự hiện diện của các nhân vật quan trọng trong Cục. Các Trưởng Ban phải trình bày đại thể các hoạt động chính của họ trong tuần qua. Chính trong những buổi họp này mà anh được biết đã có thương lượng để chiêu hồi Huỳnh Tấn Phát; những cuộc thương lượng này đã tiến khá xa. Khi có hiệp định Paris, Huỳnh Tấn Phát liền cắt đứt mọi liên lạc.

Sự tự nguyện hy sinh của Trương Quang Hậu, dù tất cả các đội đều biết rõ, đã không gây nên một phản ứng nào và những kẻ cộng tác tiếp tục hiếp đáp đồng đội. Nổi tiếng nhất là trường hợp của Phạm T., nguyên trưởng đội đan lát, và sau đó được đổi sang trồng rau cải. Ngay những tháng đầu được chuyển về Bắc Việt chúng tôi đã cử anh ta làm đội trưởng vì anh ta ăn nói hoạt bát, anh ta đã là Bộ Trưởng Bộ Thông Tin trong vài tháng dưới thời các tướng lãnh. Nhưng dần dần vì quá muốn được trả tự do mau chóng, anh hết sức sốt sắng tâng công một cách đáng thương. Anh tưởng rằng những “điểm tốt” của ban giám đốc trại sẽ làm cho anh ta được thả ra mau chóng; sự tin tưởng này hoàn toàn sai, vì nếu những điểm xấu có thể kéo dài sự giam cầm, các điểm tốt trái lại chẳng có hiệu nghiệm gì. Việc thả một tù nhân chính trị trước hết là một vấn đề “thời điểm chính trị đúng lúc”. Bởi thế đảng có lợi khi trả tự do cho một cựu bộ trưởng hoặc cựu đại tá mà nhiều người quen biết, hơn là thả một tên trung úy vô danh.

Việc rắc rối kỳ cục nhất liên can đến Phạm T. bắt đầu ở chính bệnh xá, dù rằng tôi không dự gì đến. Một trong những người bạn của tôi, Lê Quang T., cựu Bộ Trường bộ Tài Chánh vào năm 1975, vì có những dấu hiệu suy mòn trầm trọng: mặt phì, phù cả tứ chi, nói năng khó khăn, đi đứng chập chững, được nhận vào bệnh xá. Anh ấy sinh trưởng trong một gia đình gốc Công giáo lâu đời ở miền Nam, nhưng đã không giữ đạo từ lâu . Ở bệnh xá thường thấy Hố Nai hay đến, anh là người trực của một trong hai đội các cựu đại tá và là người công giáo giữ đạo rất tốt, anh tự coi như có bổn phận phải khích lệ và giúp đỡ tất cả người bệnh. Anh ở lại lâu nói chuyện với Lê Quang T. và từ từ trỗi dậy nơi T. nếu không phải là lòng tin của thời thơ ấu, thì ít ra cũng là hy vọng nơi Thiên Chúa. Hố Nai biếu T. một thánh giá nhỏ bằng gỗ (làm hằng loạt do một người bạn ở xưởng mộc) máng vào sợi dây nhỏ và T. đeo vào cổ mình. ít lâu sau, sức khỏe khả quan, Lê Quang T. trở về đơn vị mình. Một buổi xế trưa, chúng tôi tắm bên cạnh bể nước, Phạm T. nhìn thấy cây thánh giá trên ngực của Lê Quang T. và ngày hôm sau anh vội vàng báo cáo cho quản giáo là Lê Quang T. đeo trước ngực một cây thánh giá mà anh không có trước khi đi nằm bệnh xá. Cán bộ này đến tra vấn Lê Quang T., anh này, thiếu can đảm, đã không khó khăn gì thú thật là chính Hố Nai cho anh, và anh còn thêm rằng Hố Nai đã dọa nạt anh nếu anh không chịu đeo thánh giá này! Quản giáo báo lên phó giám đốc người đã quyết định đàn áp mọi hình thức truyền giáo hoạt động bị cấm ngặt theo điều lệ của trại, ông này bèn gọi Hố Nai lên văn phòng. Hố Nai nhận đã cho Lê Quang T. thánh giá vì T. hỏi xin anh thánh giá mà anh đeo trên ngực, anh không hề dọa nạt Lê Quang T., bởi vì nếu anh dọa nạt, thì tại sao Lê Quang T. lại tiếp tục đeo thánh giá khi đã trở về đội mình? Nhưng điều mà vị phó giám đốc muốn biết là nguồn gốc của thánh giá và ai đã làm ra trong trại. Hố Nai đã trả lời rằng thánh giá ấy do vợ anh cho anh ngay trước khi lên đường đi học tập và thánh giá hầu như còn mới vì anh chỉ đeo những ngày chủ nhật mà thôi. Trong một tuần lễ, mỗi buổi sáng Hố Nai bị kêu lên bàn giấy phó giám đốc và bị hỏi về chuyện này, nhưng anh giữ bình tĩnh, duy trì lời khai là chính vợ anh đã cho anh thánh giá; cuối cùng phó giám đốc ngưng các cuộc thẩm vấn nhưng không quên dọa anh nhốt vào “ca-sô”, nếu anh còn tiếp tục phân phát thánh giá!

Nhưng những nguyên đại tá rất tức giận Phạm T., cho nên hai lần trong ngày, là trên đường cái lớn lúc đi làm, khi đi ngang Phạm T., mỗi người kêu tên anh méo mó đi một chút thành Phạm Thúi, có nghĩa là “tù nhân thúi”. Bị mắng cả trăm lần mỗi ngày, Phạm T. đi than với cán bộ của anh ta, người này đem sự việc ra trước buổi họp hằng tuần của các cán bộ quản giáo và của trưởng toán. Phạm T. được gọi lên trình bày khiếu nại, mọi người bật cười, nhưng cũng có quyết định rằng từ đây, tù nhân nào bị bắt gặp kêu phạm thúi sẽ bị phạt nhốt ca-sô một tuần; Phạm T. thật đã hài lòng … Nhưng không lâu, ngay hôm sau, khi đi ngang qua anh ta, người ta không kêu lên phạm thúi nữa, nhưng người ta chỉ bịt mũi lại.

Tuy nhiên, Phạm T. vẫn tiếp tục sốt sắng quá mức, mỗi lần anh bán sản phẩm rau cải của đội anh ta cho nhà bếp tù nhân, anh ta cho cân rau muống, cải với rễ còn đầy đất, đầu bếp sau đó phải cắt bỏ đi trước khi nấu nướng. Anh làm như thế cho nặng cân hơn để cải thiện thành tích của đội anh nhưng có hại cho lương thực của tù nhân. Một đêm mùa đông năm 1979, trong khi điện bị cúp, bốn bóng đen đến vây quanh Phạm T. lúc ấy đang ngủ, giữ anh dưới mền và đánh anh ta bằng những cú đấm. Phạm T. kêu thét như heo bị thọc tiết và kêu cứu: “Cán bộ ơi! Cứu tôi với! Người ta giết tôi! Cứu tôi với!” Bốn bóng người vẫn tiếp tục đánh đập anh ta cho tới khi có một giọng từ đâu đó cất lên nói rằng anh ta chết tới nơi rồi và như thế đủ rồi. Những bóng đen biến mất, nhưng Phạm T. vẫn tiếp tục kêu cứu, những tù nhân khác, để đùa nghịch cũng kêu gào với anh ta! Lính gác đang đi tuần đến gần cửa sổ để hỏi lý do ồn ào giữa đêm khuya. Phạm T. rên rỉ nói rằng người ta đã đánh anh, người ta sắp giết anh. Linh gác bèn đi báo động tổng giám thị, ông này liền đến với lính vũ trang và cây đèn bão … ông ta mở cửa vào phòng và hỏi Phạm T. vì sao anh ta kêu cứu. Sau đó, ông ra lệnh cho mọi người đứng dậy, mỗi người đứng dưới chân chiếu mình, hai bàn tay xoè ra ngang ngực. Rồi ông ta duyệt qua các bàn tay ấy, hy vọng tìm ra vài bàn tay bầm dập vì đã đánh đập. Không bàn tay nào tự tố cáo đã là thủ phạm dưới ánh sáng nhợt nhạt của cây đèn bão. Ông rầy la cả phòng, dọa sẽ bỏ tất cả vào cũi, rồi bỏ đi. Sáng hôm sau, khi trở lại mở cửa, ông ta duyệt lại một lần nữa các bàn tay và vì không kiếm ra thủ phạm, tuyên bố hủy bỏ bữa ăn điểm tâm của mọi người (kể cả Phạm T.)

Phạm T. không phải là người duy nhất đã ăn ở không xứng đáng như thế. Cũng có vài người khác, nhưng ít thôi, và bớt trơ trẽn hơn; nhưng một điều đáng buồn phải công nhận là không phải những cấp nhỏ đại úy hay thiếu tá, mà là những người có chức vụ cao trong hàng ngũ quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Lâm T., “khách” của khu F, tới khám bệnh vì bị nặng bụng và phân nhão, tôi cắt nghĩa cho anh ta đó là dấu hiệu của bệnh viêm ruột tràng kinh niên, di tích của bệnh kiết lỴ cũ và tôi không có thuốc men thích hợp để chữa trị; tôi chỉ cho anh ăn cháo vài ngày và khuyên anh, trong thùng quà gia đình kỳ tới, nên xin những thuốc như direxiode, vioforme cho ruột, và cả émétine nữa để phòng ngừa tái phát. Anh ta vẫn tiếp tục nài nỉ, nói đến ung thư, chết chóc … Tôi hiểu là anh ta muốn dùng những rối loạn của mình như cái cớ để xin được thả. Lúc bấy giờ tôi nói với anh ta là có stovarsol với số lượng rất giới hạn, nhưng tôi để dành cho những trường hợp lỴ cấp tỉnh và trầm trọng vì đó là một chất độc, rất nguy hiểm vì chúng ta là những người thiếu dinh dưỡng. Anh ta vẫn tiếp tục nài nỉ và cuối cùng tôi cho anh ta thuốc để uống trong hai ngày. Những rối loạn của anh bớt đi và tôi cho ngừng thuốc. Một tuần sau, ông Huệ đưa cho tôi coi đơn thỉnh cầu mà Lâm T. đã gởi cho giám đốc trại, ông này chuyển cho cán bộ y tế, rồi đơn này lại chuyển qua tay ông Huệ. Trong đơn gửi cho giám đốc này, Lâm T. tự xưng như “con trai của ông ta”, mô tả căn bệnh, công nhận là tình trạng sức khỏe của anh đã khá hơn, nhưng không thể khỏi hẳn bệnh được; sau khi đã tán tụng lòng khoan dung vô bờ bến của Hồ Chí Minh, anh xin giám đốc coi anh như “con trai của ông ta” và vui lòng đề nghị với bộ Nội Vụ thả anh, để anh ta có thể chữa bệnh ở nhà hay ít nữa là sống những ngày cuối cùng ở đó!

Khi tôi trả lại đơn cho ông Huệ, ông ấy cầm lấy, đưa ngang tầm mắt tôi và nói:

” Cái này, mà từ một ông tướng!’

– Đúng. Chúng tôi có nhiều tướng như vậy, và vì họ mà tôi phải ở đây!”

Im lặng một hồi lâu, rồi ông Huệ nói nếp:

“Dầu sao đi nữa, thì chính chúng ta bị rầy rà đó! Hãy tiếp tục cho anh ta stovarsol. Nếu anh ta muốn chết, hãy để anh ta chết!

– Không, bệnh của anh ta chỉ là cái cớ để xin được thả!

– Thả một người tù chính trị vì đau ốm ư? Và hơn nữa đó là một ông tướng! Dưới bầu trời này và trên khắp mặt đất, không có một người ngu nào tin như thế! Nhưng cuối cùng, đối với chúng ta, … vẫn luôn luôn còn vấn đề giải quyết cái đơn thỉnh nguyện này…

– Để đấy cho tôi,

tôi trả lời,

tôi sẽ làm anh ấy lành. Nếu không lành bệnh, thì cũng lành các thỉnh cầu của anh. Tôi sẽ chích cho anh ta nước cất trong da.

– Làm thế nào?

Tôi cắt nghĩa: trong những năm 1940-1945, khi mà thuốc men không còn từ Pháp đến nữa, ông giáo sư môn giải phẫu của tôi, giáo sư Huard ở nhà thương Yersin Hà-nội, nơi tôi đã là sinh viên ngoại trú, đã cho điều trị những trường hợp loét bao tử bằng cách chích nước cất vào nội bì (intra-dermique) miền thượng vị; ông đã giải thích rằng những mũi chích này sẽ gây phản ứng tạo ra chất histamine, tương tự như histidine, chất này có trong thuốc laristine dùng để trị bệnh loét bao tử. Nhiều bệnh nhân được điều trị bằng cách này nói là đã lành bệnh; nhưng chúng tôi, những sinh viên ngoại trú, chúng tôi cười và nói rằng các mũi thuốc ấy làm đau quá cho nên bệnh nhân có lẽ đã khai lành bệnh còn hơn là bị chích một lần nữa!

Hôm sau, tôi đến bên cạnh Lâm T. với một ống chích đựng hai phân khối nước cất, bông gòn, cồn… và có ông Huệ đi theo. Tôi nói với Lâm T. rằng giám đốc đã nhận được thỉnh cầu của anh và đã ra lệnh cho cán bộ y tế phải chăm sóc cho anh thật tốt; anh cán bộ đã đến bệnh xá nhân viên và đã xin được hai ống émétine; nhưng hai ống, thì ít quá và chúng tôi đã quyết định, để tăng cường hiệu lực của thuốc, nên chích gần chỗ anh đau nhất. Tôi bảo anh đi rửa hạ bộ vì thuốc sẽ được chích bốn chỗ vùng xung quanh hậu môn. Lúc anh trở lại, tôi bảo anh hạ quần xuống và giữ vị thế chồm hổm, mông càng cao càng tốt. Tôi chích mũi thuốc đầu, ấn mạnh hết sức để được một nốt to bằng hột bắp; anh ta rên càng lúc càng nhiều, khi tôi chích xong mũi thứ nhất, anh nói rằng đủ lắm rồi và yêu cầu tôi ngưng.

“Xem nào, can đảm lên một chút đi!

Lời ông Huệ; một ông tướng phải can đảm! Tướng Quan Công (11)

vẫn chơi cờ trong lúc người ta nạo xương tay ông ta.”

Tôi chích cho anh ta mũi thứ hai để có một nốt to hơn nốt thứ nhất một chút, anh tiếp tục rên rỉ và lúc tôi chích xong, anh ta khẩn khoản xin tôi đừng tiếp tục nữa, vì anh không chịu được nữa.

“Thật hơi một tý anh đã kêu đau! Đành vậy, tùy ý anh, hôm nay tôi nghĩ chúng ta sẽ bắt đầu lại trong hai ngày nữa.”

Ngày hôm sau, khi tôi đến thăm một người bệnh khác, trong khu của anh, anh đến gặp tôi và nói:

“Bác sĩ ơi, tôi đã lành, hoàn toàn lành bệnh rồi! Mai bác sĩ đừng đến nữa!

– Tôi thật hài lòng anh đã khỏi bệnh mau như thế! Tùy ý anh, mai tôi sẽ không trở lại nữa’ À này, ông Huệ có đưa cho tôi đọc đơn thinh cầu anh gởi cho ông giám đốc, anh viết rất hay, quá hay nữa!”

Lâm cười gượng!

Đã vào xuân những cây hoa phòng phong mà Thúy đã trồng trước sân và hai bên đường dài khoảng 50 thước đi thẳng vào của chánh của chúng tôi, đã bắt đầu nở hoa; mỗi buổi xế trưa, lúc từ bệnh xá nhân viên lấy thuốc trở về, tôi thường dừng lại vài phút ngắn ngủi để ngắm cảnh sắc đẹp mắt của hoa muôn màu! Một hôm, vừa đi vào con đường này, tôi thoáng thấy một người đang cúi xuống mấy cây phòng phong và hái hoa. Nổi giận, tôi nhảy ào tới bên cạnh kẻ đột nhập, cộc lốc dữ dằn hỏi:

“Ai cho phép anh hái hoa của tôi?”

Người ấy dịu dàng trả lời:

“Xin lỗi, tôi chỉ xin anh vài đóa hoa cho bàn thờ Đức Trinh Nữ thôi!”

Tôi vô cùng ngạc nhiên:

“Bàn thờ Đức Trinh Nữ à? Ở đâu thế?

– Dạ, trong đội của tôi, ngay cạnh đây, chúng tôi gần đây vừa dựng lên một bàn thờ kính dâng Đức Trinh Nữ Maria. Anh hãy đến xem!’

– Vậy thì anh muốn hái bao nhiêu hoa cũng được và xin anh vui lòng thêm vào đó lễ vật nhỏ của tôi”

tôi trả lời anh và hái ba hoa thật đẹp rồi đưa cho anh.

Khoảng nửa giờ sau, khi đã làm xong công việc phân phát thuốc cho những người trực, tôi lấy ống nghe như thể để đi thăm một người bệnh, đến đội bên cạnh bệnh xá mà chắc là bàn thờ Đức Trinh Nữ đã được dựng lên. Lúc tôi đến trước của phòng, tôi thấy trên của sổ đối diện, treo lên ở lưng chừng các song sắt một thanh gỗ nằm ngang to bằng một tờ giấy trên đó có đặt một ly nhựa với một bó hoa. Sau khi kín đáo nghiêng đầu, tôi đi tự nhiên về phía một người bệnh kinh niên nằm ở cuối phòng. Anh ấy hết sức ngạc nhiên thấy tôi đến thăm, chúng tôi nói chuyện chốc lát về bệnh tình của anh; rồi tôi đi ra, chào kín đáo bàn thờ trước khi đi về phía cửa. Tôi rất mong muốn biết cán bộ quản giáo của các anh nghĩ gì về chuyện này!

Ngày hôm sau, giữa trưa lúc Hố Nai đến chuyện gẫu với tôi như thường lệ, anh ta xin lỗi tôi đã không xin phép trước khi hái hoa; tôi trả lời không hề gì, và hỏi anh:

“Tại sao cán bộ lại để cho các anh lập bàn thờ vậy.?”

– Anh ta có hỏi để hoa này làm gì vậy, và chúng tôi đã trả lời rằng theo lệnh của giám đốc trại, muốn cho đẹp phòng nên chúng tôi đã để ở đó bình hoa này. Anh ta không nói gì nữa. Đối với chúng tôi, mặc dầu không thể đặt ở đó hình Đức Mẹ Đồng Trinh, bó hoa ấy, mà chúng tôi định thay mỗi ngày, tượng trưng cho Mẹ và mỗi tối, tới giờ giới nghiêm, tất cả các bạn công giáo, mỗi người ngồi dưới mùng, quay về bàn thờ để đọc lời cầu nguyện. Hơn một phần ba tổng số người trong đội chúng tôi là người công giáo; những người khác nhìn chúng tôi hành đạo với thiện cảm.

-Trong giới sĩ quan, tỷ lệ người công giáo cao hơn là ở trong dân chúng nói chung. Chúng tôi chỉ chiếm có non hai mươi phần trăm dân chúng.

– Anh biết là năm 1954, tối thiểu 90% dân di cư từ Bắc là những người công giáo.”

Trong câu chuyện tiếp theo đó, tôi nói với Hố Nai, chuyện mà anh biết từ lâu, rằng tôi cũng là một người công giáo .

“Tôi đã được rửa tội vào ngày Phục Sinh, từ đó đến nay đã hơn 25 năm rồi, và tôi luôn luôn đều có rước lễ ngày Phục Sinh, nhưng vậy là đã ba năm rồi tôi không thể làm được; tôi tự hỏi khi nào tôi mới có thể rước lễ lại được!”

Hố Nai im lặng một chốc, rồi sau khi liếc nhìn xung quanh, bèn nói với tôi:

“Nếu muốn, anh có thể rước lễ vào Phục Sinh này!”

Sửng sốt, thật là bất ngờ, tôi hỏi:

“Làm sao được?

– Chúng tôi có bánh thánh dâng hiến rồi. Tôi sẽ đem lại cho anh một mảnh và anh sẽ rước lễ sau khi đọc kinh cầu nguyện. Ngày mai, anh đưa cho tôi một cái hộp nhỏ để đựng Bánh Thánh.”

Nỗi vui của tôi thật tột cùng, đã hơn ba năm tôi không thể đến Bàn Thánh, và đôi khi tôi tưởng rằng không bao giờ còn có dịp rước lễ lại được nữa! Nhưng…

Đây rồi, đông đã qua,
Mưa đã tạnh, mưa đã biến mất rồi,
Trên đất ta, hoa chớm nở.”
(Thánh ca 2-ll-12)

Tôi không nhắm mắt được đêm hôm ấy, quá khích động bởi nỗi vui mừng to lớn này. Và tôi đã nghĩ đến một đêm Phục Sinh tương tự, hơn 25 năm về trước, khi tôi dọn mình để rửa tội. Phải chăng đây là một dấu hiệu báo rằng Phục Sinh này là những ngày cuối cùng mà tôi phải trải qua trong ngục tù? Mọi điều này quay cuồng trong đầu tôi khiến tôi thức cả đêm đến sáng.

Ngày hôm sau, khi Hố Nai đến, tôi đưa anh một chiếc hộp sắt nhỏ mà tôi đã kiếm ra trong tủ thuốc trực của bệnh xá và tôi đã rửa sạch kỹ càng, rồi chúng tôi nói chuyện về Phục Sinh tới. Hố Nai cho tôi biết là vào dịp này, sẽ có rửa tội cho một bạn đồng đội của chúng tôi. Đó là lễ rửa tội thứ ba từ khi có các cựu đại tá đến trại này. Người sẽ được rửa tội là cựu đại tá Wong S., cựu giám-đốc sở xã-hội của quân-đội miền Nam. ông ta đã về hưu từ nhiều năm rồi, như vậy đáng lẽ không phải đi cải tạo, nhưng ủy Ban Nhân Dân của Quận buộc ông đến trình diện. Tôi biết mặt Wong S.; ông luôn luôn đi đứng với một cây gậy, cành tre hay cành cây lượm được đâu đó, và điều này làm bực mình cán bộ, người này đã lưu ý ông, nhưng ông vẫn tiếp tục dùng vì ông cần đi đứng cho vững. Mặc dù đã quá bảy mươi tuổi, ông cũng bị bắt buộc ra đồng mỗi ngày nhưng các bạn dành cho ông những công việc ít khó nhọc: nhổ cỏ, bảo trì những bờ ruộng nhỏ…

Vào dịp này, tôi làm một hộp nhỏ bằng giấy dày cứng không lớn hơn một gói thuốc lá và tôi bỏ đầy nho khô mà gia-đình đã gởi cho tôi, để biếu ông ta. Sáng ngày trước ngày lễ Phục Sinh, lúc Hố Nai đến đưa cho tôi cái hộp nhỏ đựng Bánh Thánh, tôi nhờ anh đem món quà của tôi để trao cho Wong S., sau lễ rửa tội của ông ấy, mà không nói là của ai đưa đến.

Chiều đó, liền sau khi các cửa đã khóa, tôi vào giường nằm để dụ người phụ tá -mật thám ở phòng bên cạnh, chỉ cách tôi khoảng hai thước- cũng lên giường như tôi. Nhưng tôi vẫn thức, vừa nghĩ đến gia-đình, đến cuộc hành hương ở Jérusalem năm 1972 và về những giai đoạn khác nhau của thánh sử mà tôi đã đọc đi đọc lại trong sách của Daniel Rops. Ít lâu sau tiếng cồng giới nghiêm, tôi đứng dậy, mặc áo quần sạch sẽ nhứt, vẫn ở trong mùng và rất lặng lẽ, để tránh tai mắt không những của người y tá phụ, mà còn của những người lính đi tuần, thường đảo mắt vào song cửa sổ lúc nào cũng bắt buộc để mở (trừ khi hơi mưa) để kiểm soát phòng tù nhân. Ngồi xếp bằng lại, với chiếc hộp đựng Mình Thánh Chúa để trên một thùng nhỏ (thùng đựng thuốc) trước mặt, tôi đọc thánh kinh và hát thật nhỏ vài khúc thánh vịnh bằng tiếng Pháp và tiếng La-Tinh mà tôi nhớ lại từ thuở trẻ trung xa xôi, lúc tôi còn là học trò ở nhà các cha-

 

“Không cho chúng tôi, không cho chúng tôi,
Mà cho Danh Người,
Hãy đem vinh quang đến cho Công Bằng và Tình Yêu của Người” –

(Thánh Vịnh 115.l)

Ít lâu sau, khoảng nửa đêm khi các loa phóng thanh của trại ngưng hét vang, tôi tự ôn lại những giai đoạn khác nhau của thánh lễ và sau cùng rước Mình Thánh Chúa.

Một cảm giác yên bình khó tả xâm chiếm tôi, và tôi vững niềm tin là lần sau rước lễ, sẽ ở giữa gia đình tôi, bạn bè tôi, giữa giáo dân của họ đạo tôi ở Sàigòn!

Khi Hố Nai đến thăm tôi hôm sau, tôi bảo anh kể cho tôi nghe buổi lễ của các anh đêm qua. Anh nói rằng các anh đã họp lại không phải trước bàn thờ Đức Trinh Nữ, bên ngoài dễ thấy, nhưng trong một góc của phòng. Các anh đã xếp lại hai chiếc mùng và như vậy có đủ chỗ cho khoảng ba mươi người tất cả ngồi trên chiếu rơm và nhờ mùng của những người lân cận che mắt lính gác. Các anh bắt đầu bằng kinh nguyện, rồi làm nghi thức rửa tội cho Wong S. với nước và muối; chỉ thiếu dầu thánh mà thôi! Rồi họ cũng cử hành lễ như tôi đã làm và tất cả đều rước Chúa. Sau buổi lễ, nhiều người trao quà nhỏ cho Wong S , anh ấy vừa khóc vừa nói chưa khi nào cảm thấy được yêu thương, phong phú và sung sướng như vầy. Hố Nai cũng tâm sự rằng anh ta đã chảy nước mắt khi nghe ông lão này, người đã trải giàu sang danh vọng, nói rằng ông đã cảm thấy sung sướng và giàu có với món quà nhỏ mọn như là một hai điếu thuốc, hai ba miếng đường hay là vài viên kẹo! Chính tôi khi nghe Hố Nai kể lại cảnh tượng này, tôi rất cảm động và suy nghĩ về chuyện này trong nhiều ngày.

Ngay từ đầu tháng năm, cán bộ cho chúng tôi biết rằng Đảng và Nhà Nước đang nghiên cứu một chương trình mới cho những tù nhân từ Miền Nam tới, chúng tôi sẽ được chia làm ba hạng: những người có tội trung bình, những người có tội nặng, và những người có nợ máu với tổ quốc và nhân dân. Hạng người đầu tiên, nhiều nhất sẽ từ từ được trả về gia đình; những người cuối cùng sẽ được đưa ra tòa án nhân dân và bị trừng phạt đúng với tội ác của họ; đối với những người ở nhóm thứ hai, họ sẽ bị quản thúc trong những trung tâm nông nghiệp và ở đó phải làm việc để tự sinh sống và lo cuộc sống của gia đình, lúc đó sẽ được phép đến ở cùng họ. Những trung tâm nông-nghiệp này đặt dưới sự kiểm soát của bộ Nội Vụ.

Để bắt đầu, người ta chỉ định một toán mười một người dưới sự điều khiển của cựu tướng Nguyễn O., công tác của nhóm này là đi nghiên cứu tại chỗ những vùng có thể thiết lập trung- tâm khuếch trương nông-nghiệp. Mười thành viên kia được chọn vì khả năng của họ trong trong các đại đội, cán bộ nói với họ rằng chính thức thì họ đã được thả rồi, nhưng Bộ chỉ giữ họ lại vì công vụ; bằng chứng về địa vị mới của họ là mỗi người được phát hai bộ đồ (quần và áo cánh) nâu; một bằng chứng khác là cửa nhà nơi họ ở không bị khóa lại ban đêm; họ có thể ra ngoài để ngắm trăng nếu họ muốn (tuy nhiên chung quanh khuôn viên được khóa chặt để không thể liên lạc được với các trại tù nhân). Một bữa nọ tôi đến thăm một người bệnh trong toán này, tôi thấy người trưởng toán ngồi trên chiếu, trước một đống mền xếp lại làm bàn viết, đang thảo diễn văn khai mạc anh sẽ đọc vài đêm sau đó, để đánh dấu ngày toán anh khởi hành đi công tác trong vùng Thanh-Hóa, Nghệ-An. Trong diễn văn này mà tôi được nghe vài đoạn, vì anh đọc trước máy vi âm trong buổi lễ diễn ra không xa bệnh xá lắm; anh bắt đầu ca tụng lòng cao thượng của Bác Hồ, rồi anh bầy tỏ lòng biết ơn vô bờ bến của anh đối với Đảng và Nhà Nước mà vì khoan hồng vô biên đã ban bố chương trình tái thiết đầy nhân đạo cho các cựu quân nhân và công chức của miền Nam, những đứa con đã phản bội tổ quốc và nhân dân Việt Nam … Họ ra đi tham quan địa điểm các trại lao động tương lai vào ngày 11 tháng 6 … Họ trở về giữa tháng 8, soạn báo cáo và chờ đợi. Vài năm sau, tôi tình cờ gặp ở Saìgòn, một người trong toán này, trước kia là giám-đốc điền địa miền Nam Việt Nam, anh ta kể cho tôi biết rằng các anh chờ nhiều tháng…. rồi được trả về đội cũ để làm công việc khổ sai hàng ngày: đảng và nhà nước, trong sự “khoan hồng vô biên” đã quên “chính thức trả tự-do” lúc thành lập toán và họ tiếp tục được “nuôi ăn ở bằng tiền của nhà nước” đến năm 1982 riêng cho anh và đến năm 1987 cho viên cựu tướng lãnh dù anh ta đã bán linh hồn mình rồi.

Vào giữa năm 1979, đời sống nhàm chán nơi trại 52-A bỗng nhiên bị xáo trộn bởi một vụ tai tiếng không liên quan trực tiếp đến tù nhân, luôn luôn bị cưỡng bách đều đặn vào công việc khổ sai hằng ngày, nhưng lại liên quan đến những người lính gác. Chúng tôi kêu đó là vụ “Watchgate” vì nó dính dáng đến đồng hồ và xảy ra bên cạnh cổng vào khuôn viên trại tù nhân. Sau khi đến trại này, chúng tôi không được phép giữ đồng hồ đeo tay, nhẫn và mọi thứ “không cần thiết cho đời sống một người tù”, chúng tôi phải gởi lại để ban hành chánh của trại cất giữ. Nhiều người có những đồng hồ thật đẹp của những hãng quốc tế nổi tiếng, phần nhiều là bằng vàng; riêng phần tôi, tôi phải gởi lại đồng hồ thợ lặn, một cây đèn pin bỏ túi và một ống nghe. Những đồ gởi lại được bỏ vào một túi nylon có tên tù nhân và niêm lại với ngọn lửa của cây đèn cầy. Người phụ trách kho cất này là một nữ cán bộ. Một buổi sáng tháng sáu, khi đến văn phòng đặt trong một căn nhà ở ngoài khu của tù nhân ngay trước chòi lính canh, bà ta nhận thấy cái tủ đựng đồ gửi này đã bị nạy ra và một vài miếng ngói bị rỡ trên mái phòng.

Ban giám đốc trại mở cuộc điều tra, nhận ra đã thiếu bốn mươi túi đựng những món đồ cất giữ và báo cáo cho bộ Nội Vụ hay. Các điều tra viên đến, và hai ngày sau chở đi người nữ trung úy trẻ, xiềng khóa ở tay. Bà ta đã dàn cảnh với sự đồng lõa của một cán bộ và hai người gác an-ninh, còn về những chiếc đồng hồ đeo tay, bà ta đã lấy từ nhiều tháng trước và bán rẻ cho nhiều cán bộ trong trại, một vài chiếc chưa bán được vào ngày có cuộc điều-tra, đồng lõa của bà vứt xuống ao của trại; người ta đã không vớt chúng lên được. Một vài người khác cũng bị bắt và nhiều sĩ quan công an bị thuyên chuyển; trong vụ này tôi đã mất vừa cán bộ quản giáo (người của đội nhà bếp), vừa cái đồng hồ đeo tay, mà tôi chỉ được biết mấy tháng sau đó.

Cái hình ảnh của người nữ trung úy lực lượng công an xiềng khóa nơi tay, tương phản mãnh liệt với thái độ ngạo nghễ, xa cách, kiêu kỳ của những cán bộ mà chúng tôi đã gặp khi đến miền Bắc! Lúc bấy giờ họ đàng hoàng với chúng tôi, những người tù chính-trị; nhưng nhận xét này không đúng đối với những tù nhân thường phạm như tôi đã thấy ở bệnh xá của họ, cũng không đúng ở những trại tù nhân chính-trị khác, như các bạn di tản năm 1978 từ những trại đóng ở biên giới đã kể cho tôi nghe; trong những trại này, việc hành hung, đánh bằng báng súng, đá vào mông, và tát tai là việc thường thấy; lại còn có những trận đòn chí tử, như một người thoát được trong nhóm ba thiếu-tá mưu toan trốn trại đã kể cho tôi nghe.

Tuy nhiên, thời thế đã đổi thay: năm 1976 chúng tôi còn bị biệt giam lúc các bạn ở một đội khác đã nhờ được quản giáo, một thượng sĩ công an, mua giùm ở thị trường tự-do (còn gọi là chợ đen nữa) đường vàng (đúng hơn sô-cô-la đậm) dĩ nhiên có hoa hồng cho anh ta, chúng tôi cũng xin cán bộ của chúng tôi, một viên đại úy, làm như vậy, anh ta đã từ chối, nói rằng với đồng phục của anh, anh thà trả đồng phục cho chính phủ chứ không thể mua ở chợ đen. Nhưng bây giờ năm 1979, cũng chính đại úy này bị bắt quả tang đang đánh cắp vật liệu xây dựng; ông Huệ kể rằng; góa vợ, anh ta đã tái giá. Nhưng ông giám đốc của chúng tôi, người luôn luôn ở với một bà vợ, một thiếu úy công an đã từ chức, đã để vợ ông mỗi ngày mang hai thúng thịt mua ở hợp tác xã bán lại cho tù nhân tận chỗ làm việc và trong xưởng nữa! Còn về những lính gác mà bổn phận là trông chừng các tội phạm tại nơi làm việc của họ, thường hay “mượn” hộp quẹt bật lửa hay kéo cắt móng tay, và “quên” trả lại. Buổi tối, họ hay đến của sổ của chúng tôi hỏi xin, bán hoặc đổi đồ ăn lấy những cái quần không quá cũ mà chúng tôi có thể xin gia-đình ở Saigon! Sau này, tôi có gặp lại những bạn từ Hà Nam Ninh trở về, họ kể lại rằng phải thu xếp trong mỗi đội để vào thời kỳ có những thùng quà của gia-đình, một số quà cho cán bộ quản giáo, và sau đó, mỗi ngày khi anh ta đưa họ ra đồng làm việc khổ sai, thì họ được ngồi nghỉ dưới bóng cây.

Một hôm trong tháng 7 năm 1979 khoảng 11 giờ trưa, tôi đang sửa soạn ăn trưa, thì có người cựu trưởng toán (cũng là tù nhân) mới được thăng lên chức giám thị, đi qua nói với tôi rằng 12 giờ trưa, tôi phải có mặt ở phòng họp để gặp phó giám đốc. Tôi rất lo âu, ông phó giám đốc này muốn gì đây? Tôi nuốt vội chén bột bắp, rồi đến phòng họp ở cuối con đường chính giữa. Từ đó, tôi nhìn về phía cổng ở đầu kia của đường chính, đợi ông phó giám đốc xuất hiện. Chờ khá lâu, rồi tôi thấy ở cổng một người vẫy tay như để gọi tôi. Tôi liền rời phòng họp và đi ra cổng, đến đó tôi thấy một người khá trọng tuổi, bận quần và áo cánh bằng vải trúc bâu (cách ăn mặc đơn giản của cán bộ cao cấp) người ấy hỏi tên tôi và bảo tôi đi theo ông ta vào bàn giấy của giám đốc. Khi đi ngang qua phòng gác, người sĩ quan trực kính cẩn chào ông và người lính gác đứng nghiêm. Ông đưa tôi vào phòng khách ở bên cạnh văn phòng của giám đốc trại, ngồi vào một chiếc ghế bành và chỉ cho tôi ghế trước mặt ông ta. Ông mời tôi trà đã có sẵn trên bàn, rồi hỏi thăm sức khỏe của tôi. Rồi ông nói rằng ông ta từ bộ Nội Vụ tới, và rằng chính ông và những cán bộ khác của bộ nghĩ rằng sẽ có “lợi hơn” nếu để tôi trở về với gia-đình hơn là giữ tôi lâu nữa ở trại. Ông ấy hỏi tôi có thấy thời gian ở trại lâu quá hay không. Tôi trả lời là có. Ông hỏi tiếp có hay không những hành vi tàn bạo đối với tù nhân chính trị. Tôi trả lời thành thực và không mặc cảm là ở trong trại này tôi không khi nào thấy những cử chỉ thô bạo đối với tù nhân chính trị và chuyện làm chúng tôi khổ nhất là thực phẩm thiếu thốn. Ông nói với tôi sau đó về vài bác sĩ ở Saigon, về một người mà chánh phủ đã để đi Pháp vì ông ấy muốn đi với bất cứ giá nào, mặc dầu chánh phủ muốn giữ ông ở lại … Rồi ông biểu tôi viết ra những gì tôi đã nói và đưa lại cho ông trong một tiếng đồng hồ nữa. Ông thêm rằng, khi trở về bộ, ông sẽ đề nghị với ông bộ trưởng trả tự do cho tôi vào dịp quốc khánh mồng 2 tháng 9 tới đây .

Sau đó ông dẫn tôi tới cổng và bảo sĩ quan trực hãy vui lòng nhận chuyển tờ trình mà tôi sẽ đem nộp trong vòng một giờ.

Trở về bệnh xá, tôi liền bắt đầu thảo bản tường trình sẽ phải nộp, tôi lập lại những gì đã nói với cán bộ của bộ; tôi rất thỏa mãn là những câu trả lời đã làm ông ấy hài lòng và đó là đúng với sự thật ; lương tâm tôi và phẩm cách trí thức của tôi không hề bị xáo trộn. Tôi cũng rất sung sướng về viễn tượng một ngày gần đây sẽ được trả tự do. Sau khi nộp bản tường trình cho sĩ quan trực ở cổng, tôi lập tức trầm mình vào công việc thường nhật và cho báo với cán bộ y tế là tôi sẽ đến chậm vì phải gặp cán bộ từ bộ Nội Vụ xuống. Thay vì ký “phiếu xin thuốc” tại cổng khoảng 14 giờ như thường lệ, anh ta đến bệnh xá lúc 16 giờ, ký phiếu “đặt hàng ‘ và đưa tôi đến bệnh xá của nhân viên, mà không hỏi tôi điều gì về cuộc hội kiến với cán bộ của Bộ.

Tối đến, trong giường tôi hồi tưởng lại cuộc nói chuyện với cán bộ của Bộ, ông ấy đã dùng từ ngữ “có lợi…” có lợi để tôi về với gia đình hơn là giờ tôi lại trại lâu hơn nữa”.

– Nhưng có lợi cho ai ?

– Cho tôi, chắc chắn rồi! Nhưng mà tôi đáng kể gì đối với đảng và nhà nước!

– Lợi cho ông ấy, ông cán bộ ? Phải có đoàn kỵ binh của St-George ở đằng sau! Điều đó, tôi không rõ. Cũng có thể lắm!

– Có lợi cho đảng và chánh phủ? Có thể lắm!

Thanh danh về sự rộng lượng của đảng quả được lợi hơn nhiều khi đảng trả tự do cho một đại tá, một tướng lãnh hay một nhân vật chính trị mà nhiều người biết đến hơn là cho một trung úy, một thượng sĩ, ít tội hơn, nhưng mà vô danh!

Ngày hôm sau, khi tôi kể lại cho ông Huệ nghe những điều cán bộ của bộ Nội Vụ nói với tôi và lời hứa là ông ta sẽ đề nghị trả tự do cho tôi trong dịp quốc khánh tháng chín, ông có vẻ nghi ngờ và nói :

“Tôi cũng vậy, đến tháng mười sẽ mãn hạn tù (thường phạm) . Không ai biết trong hai chúng ta, người nào sẽ ra trước!”

Niềm lạc quan của tôi cũng không được một người bệnh (cựu đại tá) nằm ở bệnh xá chia sẻ. Đáng lẽ từ trước tôi phải kể đã nhiều tháng nay có tin đồn nhân dịp thân nhân đến thăm (đã được phép từ một năm nay) hay qua thư từ với lời lẽ bóng gió, theo đó thì có những cuộc thương lượng để trả tù chính trị với giá là 3000 đô la Mỹ mỗi đầu người tù. Chúng tôi sẽ được bốc đưa thẳng từ trại đến Hawai hay Phi Luật Tân, và gia đình sẽ đi sau. Một cựu trung úy phi công đã kể cho tôi rằng cha anh từ Saigon đến thăm, đã thừa dịp vắng mặt chốc lát của cán bộ đề nói nhanh bằng tiếng Pháp: “Con sắp đi Mỹ. Đã tính xong rồi, 3000 đô la cho mỗi đầu người!” Trong viễn tượng này, người bệnh của tôi đã nói :

“Họ có thể chơi anh một cú đau đấyl Vì chúng tôi sắp đi từ đây qua Mỹ, họ trả anh về Saigon để anh không xuất ngoại được!”.

Mười ngày sau, ông Huệ nói rằng giám đốc trại vừa đề nghị chính thức với Bộ trả tự do cho tôi trong dịp quốc khánh tháng 9. Lần này ông có vẻ tin tưởng. Tin mừng vì sắp được trả tự do tôi chưa có dịp thông báo cho Thúy hay, thì người trực của đội anh kể cho tôi mới nghe sáng nay Thúy đã bị chuyển về nhà ngục trung ương ở Hà-nội. Thúy đã bị nhốt ở đó một lần rồi trước khi bị giam trong khu F của chúng tôi. Anh đã tả cho tôi nghe đời sống ghê rợn anh đã trải qua: nhốt kín trong những xà lim hai thước trên một thước,đèn chiếu sáng 24 trên 24 giờ, phải ở truồng về mùa hè vì sức nóng ngộp thở, có một xô nhỏ để uống, một xô khác lớn hơn một chút cho nước tiểu và phân … Người tù được quyền đi dạo đơn độc mười lăm phút trong một sân nhỏ hai lần mỗi ngày. Những cuộc thẩm vấn không bao giờ chấm dứt, nhiều khi bị đánh thức giữa đêm để những điều tra viên thay phiên nhau tra tấn để làm cho anh kiệt quệ về mặt tâm lý! Hy vọng là Thúy có thể ra khỏi đó lần này nữa! Anh ấy mạnh khoẻ, tràn đầy sức sống trong tuổi bốn mươi. Lạy Chúa! Xin đoái thương Thúy? Xin hãy thương xót bạn con!’

Hai năm sau, một đồng bạn được thả năm 1981, đã tả cho tôi nghe những hoàn cảnh bi đát về cái chết của Thúy. Vài tháng sau khi anh bị đưa về nhà ngục trung ương ở Hà-nội, người ta trả anh về trại 52-A trong một tình trạng suy mòn và tiều tụy kinh khủng, ra đi tương đối khỏe mạnh, anh trở về, già trước tuổi, mặt xanh xao gầy còm, tay chân da bọc xương, chỉ đi được nếu có những bàn tay bạn đỡ đần! Vài tuần lưu trú ở trại 52-A đem lại cho anh một ít sức lực và một buổi sáng người ta báo tin là vợ anh từ Saigon ra, đang đợi anh ở nhà khách. Tin mừng này đã mang lại một chút nghị lực, anh đã đi, một mình và tràn ngập xúc động, tới nhà khách, có người tù giám thị đi cùng. Nhưng những giòng lệ vui mừng và xúc cảm chưa ngừng chảy trên má Thúy và vợ Thúy thì công an của cơ quan an-ninh bộ Nội Vụ đã tới và trao cho anh lệnh thuyên chuyển qua một nhà tù khác! Họ phải rứt Thúy ra khỏi vợ Thúy, Thúy mà bây giờ chỉ là cái bóng của Thúy ngày xưa. Tiếp theo sự vui mừng ngắn ngủi, là một sự thất vọng ghê gớm: họ la, họ khóc, những giòng lệ khổ đau đã chảy dù họ có can đàm đi nữa, cả những trái tim bằng đá của những phái viên của Bộ cũng đã mủi lòng và cho phép vợ anh theo chồng về nhà tù mới..

Vài ngày sau đó, cán bộ quản giáo của đội của Thúy đã báo cho những bạn Thúy hay rằng Thúy đã qua đời!… Như những cánh hoa lan đã chết, đã bị ngắt đi, và dày xéo bởi sự hung bạo của lính gác, những cánh hoa lan mà Thúy đã coi như một biểu tượng cách đây hai mươi tháng.

Tôi đã đợi trong lo âu và nóng lòng tin báo trả tự do cho tôi. Sáng ngày 6 tháng 9, tôi được triệu lên văn phòng giám đốc, tôi gặp lại cán bộ của Bộ đã gặp hôm tháng 7, lần này có mặt ông giám đốc. Ông ấy nói với tôi là nghị định trả tự do cho tôi đã được ký ngày 20 tháng 8, nhưng vì bận nhiều việc khác, ông chỉ có thể đem đến ngày hôm nay và ông ấy bảo ông giám đốc chuẩn bị thủ tục cần thiết về việc trả tự do và việc trở về Saigon của tôi. Ông ấy cũng bảo tôi viết ngay tại chỗ một thư cám ơn ông Bộ Trưởng bộ Nội Vụ và ghi vào đó là tôi sẽ không quên báo cáo cho cơ quan an ninh địa phương mọi “âm mưu phản động mà người ta rủ tôi tham gia”. Tôi thêm vào đó “như mọi công dân tốt phải làm ‘.

Ngày 11 tháng 9, sau 51 tháng bị giam giữ trong những trại tập trung cải tạo bằng công việc khổ sai, tôi rời trại cải tạo Hà Sơn Bình để ra ga Hà-nội, chỉ một mình ông Huệ đưa tôi ra tận cửa trại. Ông ấy dặn dò tôi:

“Ở Saigon hãy cẩn thận! Dưới chế độ này, đối với cơ quan công an, nhãn hiệu P.C.M. (phản cách mạng) phải mang suốt đời.”

Chú Thích:

(11) Quan Công nhân vật truyện Tam Quốc thuộc thế kỷ thứ III, sau công nguyên, nổi tiếng nhờ sự can đảm và tính nóng của ông. Bị thương ở tay vì một mũi tên độc, ông để Hoa Đà nạo xương tay trong khi ông vẫn chơi cờ tướng.

—> Chương X
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, Paul Trần Vỹ. Bookmark the permalink.