TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAM (Paul Trần Vỹ): Chương V

Chương V
TRẠI TẬP TRUNG 52-A

Mòn mỏi vì thiếu ngủ, tôi đã thiếp đi và lúc tỉnh dậy, nhìn vào đồng hồ đeo tay, tôi nhận ra là chúng tôi đã rời Tân Sơn Nhút hơn một giờ rồi. Lạ quá! Côn-Đảo hay Phú Quốc đều ở dưới một giờ bay mà! Hơn nữa nhìn theo những tia sáng mặt trời chiếu trên vách khoang tàu xuyên qua các màn cửa sổ, tôi nhận thấy chúng tôi đi về hướng Bắc. Họ chở chúng tôi về Lao Bảo chăng? Tôi tự hỏi như vậy. Lao Bảo, trại tù ở miền Trung Việt Nam, nổi tiếng từ thuở thực dân! Nhưng máy bay tiếp tục bay, biết đâu phi công đã chọn tự do? Hy vọng hão huyền, không có một phần tỷ may mắn trên một máy bay quân sự chở tù lại có công an võ trang hộ tống! Tuy nhiên thật là tuyệt diệu ru mình trong một giấc mơ như thế! Tôi sẽ nói gì một khi đặt chân xuống phi trường Manila hoặc Bangkok?

Nhưng đây rồi, máy bay xuống dần, bay chậm lại, nghiêng cánh … bánh xe đụng đất, thắng mạnh, rồi lăn bánh khá lâu trước khi dừng lại. Người cán bộ công an ngồi giữa chúng tôi đứng dậy, mở khoá và tháo xích cổ tay chúng tôi. Cảm giác nhẹ thở làm sao! Cánh cửa bụng máy bay hạ xuống. Người công an bảo chúng tôi xuống và tụ họp gần máy bay. Xuống đất tôi nhìn chung quanh: khắp nơi đều bằng phẳng, ít nhiều khoảng màu xanh, xa xa có căn nhà lá với một cụm tre, và xa, thật xa, ở chân trời một dãy núi xanh dương nhạt. Thiệt tôi không biết đang ở đâu! Một người trong nhóm chúng tôi quả quyết! Đúng rồi, Lao Bảo đây mà, tôi đã ở đây một thời gian! nhưng đối với phần đông chúng tôi, không thể là Lao Bảo vì chung quanh phải có nhiều núi hơn nữa. Và câu hỏi để biết hiện ở đâu không có giải đáp … Rồi năm chiếc xe ca trống đến và dừng cạnh chúng tôi. Vài phút sau, một người bận thường phục, quần xám và áo sơ mi tay ngắn không trắng lắm, đi xe đạp đến. Các công an chào ông ta theo kiểu nhà binh và họ nói chuyện một lúc; rồi một công an đến ra lệnh chúng tôi tập trung lại để nghe cán bộ của bộ Nội Vụ đến nói chuyện. ông này, người đã đến bằng xe đạp, bắt đầu hỏi chúng tôi:

“Các anh có biết hiện các anh ở đâu không

– Không, chúng tôi không biết! Vài người trả lời.

-À các anh đang ở Hà Nội, tại phi trường Gia Lâm. Và tôi đến với tư cách là đại diện của bộ Nội Vụ để đón các anh ở đây, ở Gia Lâm, để xác định rằng chúng tôi chỉ đưa các anh về đây, về miền Bắc, vì lợi ích của các anh, để các anh ở trong những điều kiện vật chất, tinh thần và tâm lý tốt nhất hầu kiện toàn việc học tập cải tạo Khi đó các anh có thể trở về với gia đình và đóng góp bằng việc làm hữu ích và hiệu quả, trong suốt cuộc đời còn lại của các anh, vào việc xây dựng tổ quốc xã hội, cho hạnh phúc của những thế hệ tương lai, của các con em và cháu chắt các anh. Đó là ước mong và đường lối chính trị mà Đảng và Chính Phủ với lòng khoan dung vô tận đã quyết định cho các anh! Bộ Nội Vụ sẽ làm mọi điều có thể làm được để sự ước mong và đường lối chính trị này của Đảng và của Chánh Phủ được thực hiện. Riêng tôi, tôi bảo đảm với các anh rằng các anh sẽ được ở đàng hoàng trong những căn nhà ngói và tôi sẽ đích thân đến khá thường xuyên để gặp các anh trong trại. Nếu có điều gì không tốt đừng ngại nói cho tôi hay. Bây giờ các anh sẽ lên xe ca, một số trong các anh sẽ đến một trại cách Hà Nội độ hai mươi cây số, những người còn lại sẽ tiếp tục đi trên cùng một đường, vài chục cây số xa hơn.

Đó là những chiếc xe ca bình thường, không quá cũ, nhưng tất cả kính bên hông và đằng sau xe đều có những tấm vải lớn che bên trong (khăn trải giường cũ hay biểu ngữ cũ); một vài bạn đã hỏi người công an đi cùng với chúng tôi vì sao đã có những tấm màn khác thường này:

“Để tránh cho các anh khỏi bị dân chúng nhìn thấy! Nhiều người ở miền Bắc cho rằng các anh có trách nhiệm về những thiệt hại và những khổ đau mà chúng tôi đã phải gánh chịu, do việc Mỹ thả bom, nếu họ thấy các anh, họ có thể hành hung, giết các anh”.

Có một chiếc xe, chiếc Molotova của Nga, tương đương với xe jeep, dẫn đầu đoàn xe ca năm chiếc. Thoạt tiên chúng tôi chạy trên đường lót giăm trong khuôn viên sân bay, ngang qua những chiếc máy bay khu trục Míg đậu gần đường bay, rồi ra khỏi phi trường, sau đó chúng tôi đi ngang trước những căn nhà gạch đã nám khói bởi thời gian và bởi khói của cơ xưởng sửa chữa hỏa xa; chúng tôi chạy dọc theo những cửa hàng nhỏ hay những nhà cũ kỹ, ít nhiều loang lở, với lớp vôi quét trắng đã được vài chục năm, trước khi đến dốc dài dẫn lên cầu Paul Doumer cũ, nối liên Gia Lâm và Hà Nội từ đầu thế kỷ.

Cũng chiếc cầu mà tôi từng biết trước 1945, nhưng cũ hơn và bảo trì kém hơn; nước sơn thì có lẽ từ trước chiến tranh! Cầu gồm có hai hành lang đường xe, chia cách bởi những lan can cầu của một đường ray xe lửa một chiều, những hành lang đường xe chạy cũng chỉ một chiều và rất hẹp, muốn qua mặt phải đến vài chỗ nhất định mà mặt đường được nới rộng ra. Sự lưu thông xe cộ dày đặc, ít xe ô-tô, nhưng nhiều xe bò hay xe kéo chở đầy những bó rau hay những giỏ bí và nhất là những xe đạp làm chật mặt đường. Chiếc xe ca của chúng tôi chạy chậm vì trước mặt lúc nào cũng có xe bò hay xe đạp làm chậm sự di chuyển. Chúng tôi có dịp thấy một chiếc xe lửa chạy qua, làm chúng tôi nhớ đến những thời kỳ khó khăn nhất của hỏa xa trong những năm 1945-1946: một đầu máy thở phì phào khó nhọc kéo độ một chục toa tàu chật ních hành khách hạng tư. Có hành khách ngồi phía trong và ở sàn xe hai đầu toa tàu và ở đây, ngổn ngang những bị thúng, xe đạp, lồng gà và giỏ lợn xen lẫn với người ở giữa; nhưng hơn thế nữa có những hành khách ngồi toòng ten nơi cửa sổ của toa tàu, chân đung đưa ra ngoài!

Sau cầu Paul Doumer, xe ca chạy dọc theo đê sông Hồng Hà, hướng về phía nam. Chúng tôi đi ngang qua vài đường phố và nhà ở đã có từ trước đệ nhị thế chiến, bảo trì dở, ít nhiều đổ nát, và nước vôi trắng quét từ trước đã trở thành xanh với năm tháng trôi qua; viện bảo tàng Louis-Finot cũng còn đó, còn như xưa, ít nhiều ẩn khuất giữa hàng cây cối. Chúng tôi quẹo phải, hướng về phía tây, trên một con đường xuyên qua đồng ruộng, ngang qua vài thị trấn không lớn lắm, một trong các thị trấn ấy có một căn nhà kiểu kho hàng, vách tường bằng gạch, mái ngói mang bảng hiệu hoa mỹ chữ nổi: “CHỢ…. 1975” dù không lớn hơn một sân bóng rổ! Rồi xe chúng tôi đổ ra quốc lộ số 1 nối liền Hà Nội và Sai gon. Đi ngang qua thị trấn Thường Tín, cách Hà Nội độ 15 cây số về phía Nam, đi thêm vài cây số nữa rồi rời lộ tráng nhựa, vào một tỉnh lộ trải đá. Vài chốc sau đến nơi: chúng tôi đi vào một khuôn viên giới hạn bởi một hàng rào tre và một hào sâu chạy dọc theo hàng rào này, rồi một khi đã qua khỏi cổng vào ngăn chặn đơn giản bằng một cản tre, mà người lính gác đã nhấc lên để chúng tôi đi qua, xe ca lăn bánh trên một con đường khá rộng với những căn nhà bằng lá hay bằng gạch hai bên đường dùng làm văn phòng hành chánh và nhà ở cho nhân viên của nhà tù cải tạo. Sau khoảng 200 thước chúng tôi quẹo tay mặt, rồi ngừng trước một cổng xây kiên cố, hai bên có hai căn phòng lớn mà tầng trên nối liền với nhau trên đầu cánh cổng. Cách đó vài thước là một chiếc rào cản bằng gỗ, có thể dở lên phía trên và bên cạnh là một chòi canh với lính gác võ trang. Bên này và bên kia của “khu cổng và điếm gác”, một bức tường xây cao năm sáu thước với một mạng lưới giây kẽm gai chạy dài bên trên. Đó là mặt đông của một bức tường bao vòng hoàn toàn “khu vực tù nhân”, một hàng rào khác bằng giây kẽm gai, chúng tôi chỉ thấy sau đó, song song với bức tường này và ở phía trong độ năm thước, do đó làm thành một con đường để đi tuần, với những tháp canh đây đó trên tường, luôn luôn có lính canh võ trang trấn giữ.

Lúc này chúng tôi chỉ còn có hai xe, ba chiếc kia tiếp tục đi trên quốc lộ số 1. Người ta ra lệnh cho chúng tôi xuống xe, trong khi một công an leo lên mui xe để bỏ hành lý của chúng tôi xuống. Một lúc sau đó, cán bộ công an điểm danh. Anh ta ghi tên những người đến, những người không trả lời là những người đã đi qua trại khác, anh ta lại điểm danh một lần thứ hai để chắc chắn là không thiếu ai. Rồi thì công an cho giở càng chắn lên, mở cánh cổng sắt và dẫn chúng tôi vào trại. Sau cổng vào, bắt đầu một con đường rộng với tường khá cao ở hai bên, con đường cũng đầy cỏ rậm và bùn lầy.

Sau khi đi bộ ba mươi thước, người công an dẫn đường mở một cánh cửa gỗ ở bức tường bên trái và đưa chúng tôi vào một căn phòng nhỏ mà thoạt nhìn tôi tưởng là hoàn toàn đóng kín bằng những vách tre đan, nhưng anh ta đi đến cuối phòng và mở ra một cánh cửa nhỏ, rồi chúng tôi đi vào một chiếc sân rộng ở trước một căn nhà lớn, khá cao, khoảng bốn mươi thước bề dài. Căn nhà lớn này được chia làm hai, vì có một bức tường nhỏ ở giữa, và kéo dài rất xa cho tới con đường đi tuần, tuy nhiên vẫn để một con đường rộng giữa hai sân.

Người công an ra lệnh cho chúng tôi chia thành hai nhóm để ở hai phần của căn nhà. Anh ta bảo chúng tôi phải nhanh lên vì ông giám đốc trại sẽ đến gặp chúng tôi trong nửa giờ nữa. Phần căn nhà mà tôi bước vào, cũng như phần kia, gồm có một phòng lớn ăn thông với một phòng nhỏ hơn dùng làm nhà vệ sinh. Trong phòng lớn, có hai hàng kệ dài hai tầng và ở giữa một đường rộng độ hai thước. Tầng dưới là gạch tô, tầng trên là gỗ; hiện bây giờ chỉ có chiếu ở tầng dưới; chiếu mới với hình vẽ đỏ mà nhìn chung có vẻ sạch sẽ, nếu không nói là kiểu cách.

Người ta đã đặt gần cuối đường chánh phiá cửa ra vào một bàn nhỏ có phủ một khăn đỏ; ở đầu kia, cũng có một chiếc bàn nhỏ khác, trên đó người ta đã đặt hai bình trà lớn bằng sành, đầy trà nóng. Mỗi người chúng tôi lập tức lấy ra cái ca nhỏ bằng nhựa của mình để uống trà, rồi đến dành một chiếc chiếu và dọn dẹp đồ đạc của mình.

Một chốc sau, một cán bộ đến tin cho chúng tôi hay giám đốc trại sắp đến. Anh ta bảo chúng tôi ngồi xuống, chân xếp bằng lại trên chiếu. Giám đốc trong đồng phục trung tá của lực lượng an ninh, có ba cán bộ khác cũng trong đồng phục tháp tùng, cùng đến. Trước hết, ông ta “duyệt qua” chúng tôi bằng cách đi trên đường chính cho tới cuối phòng rồi trở lại ngồi sau chiếc bàn phủ khăn đỏ; trong khi đi qua ông gật đầu đáp lại một vài người nghiêng đầu chào ông.

Tiếp theo, ông ta đọc một bài diễn từ độ hai mươi phút, sau khi chào mừng chúng tôi đến trại của ông, ông giải thích là Đảng và Nhà Nước trong đường lối chánh trị thật đại lượng và khoan hồng đối với chúng tôi những người lạc lối vì chính kiến sai lầm và những thèm muốn vật chất đã chọn theo mục tiêu của “đế quốc Mỹ và đầy tớ của chúng” và do đó đã gây nên những thiệt hại không đo lường được cho đất nước Việt Nam mà đại diện là Đảng Cộng Sản, tuy vậy vẫn quyết định tha thứ cho chúng tôi và hội nhập chúng tôi vào xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sau khi chúng tôi chấp nhận học tập cải tạo, mà Đảng và Nhà Nước sẵn sàng hết sức giúp đỡ trong việc này. Người ta chỉ đợi chờ chính chúng tôi đóng góp vào công tác cải tạo này bằng cách cộng tác trung thành với cán bộ quản giáo của trại, thổ lộ thành khẩn hoàn toàn về quá khứ của mình, không dấu diếm điều gì, và không hối tiếc gì ông ta tuyên bố rằng trại này được bộ Nội Vụ đặc biệt chú ý và cán bộ của bộ sẽ thường xuyên đến giúp chúng tôi trong việc học tập cải tạo này.

Sau đó ông ra lệnh phát cho mỗi người một điếu thuốc lá, rồi cho chúng tôi hay là bữa cơm trưa, một bữa cơm để đón mừng, đã sẵn sàng trong sân chơi và chúng tôi có thể đến đó.

Đúng là một bữa cơm ngày hội, có rất nhiều thịt heo dọn làm nhiều món: heo quay, chả lụa, dồi trường, miến xào lòng. Người cán bộ đã dẫn chúng tôi đến “sân chơi-phòng ăn” nói với chúng tôi rằng đó là một bữa cơm để chào mừng, bởi vì bữa cơm thường ngày sẽ thanh đạm hơn và chúng tôi có thể giữ đồ ăn còn lại để ăn vào bữa cơm chiều.

Ngay ngày hôm sau, sinh hoạt được tổ chức nhanh chóng, giống như ở Thủ Đức: thức dậy lúc 5g30, vệ sinh, tập thể dục trước mỗi phòng (tám động tác tay hoặc thân hoặc cả hai, sáu lần liên tiếp), điểm danh, giờ đọc những bài báo đã được chọn (Nhân Dân, hoặc Quân Đội Nhân Dân), cơm trưa, nghỉ trưa, vệ sinh, lại phiên đọc những bài báo đã được chọn, giải trí, cơm chiều, giải lao, điểm danh buổi tối rồi lập tức vào phòng, cửa khoá cho tới sáng; ba lần trong mỗi tuần có phiên đọc một cuốn sách đã được chọn, hoặc một lần trong tuần có phiên báo cáo hoạt động hay là phiên họp kiểm thảo hay tự kiểm thảo (mỗi tuần một phiên), giới nghiêm lúc 21g30- tuy nhiên đèn điện vẫn sáng cả đêm, trừ khi bị mất điện. vì cúp điện chung để dành điện cho những đòi hỏi cấp bách hơn (khi thì tưới ruộng, khi thì tát nước ruộng bị ngập) hay vì hỏng điện trong hệ thống điện của trại.

Ngay từ những ngày đầu, vấn đề trầm trọng nhất cho mọi người, là nạn đói; chúng tôi đói suốt ngày, kể cả lúc ăn xong. Thực vậy sau bữa cơm thịnh soạn chào đón, ngay ngày hôm sau là chế độ ẩm thực bình thường của trại. Chúng tôi chỉ còn được lãnh một ca cơm (ca bằng nhựa chứa độ 400 g) vào mỗi bữa cơm sáng và chiều, những món ăn khác gồm một dĩa rau xào qua loa với chút mỡ heo, và một tô canh rau, thường là rau muống, cần hoặc dưa leo.

Nhiều người than phiền với cán bộ của bộ Nội Vụ thường đến thăm chúng tôi. Họ trả lời rằng họ thông cảm với chúng tôi, nhưng toàn thể đất nước ở trong hoàn cảnh ăn uống rất khó khăn, chính phủ còn phải trả nợ cho Trung Hoa, nước đã cung cấp gạo cho chúng ta trong những năm chiến tranh, và rằng khẩu phần gạo chính thức của chúng tôi mười hai kí lô một tháng, đã là một biệt đãi so với khẩu phần của quần chúng dân sự, nhất là ở vùng quê!

Họ cũng nói với chúng tôi điều mà giám đốc trại khẳng định vài tuần trước, trong một buổi học tập cải tạo hàng tuần mà ông đảm nhiệm, rằng Đảng và Chính Phủ đã quyết định cấp cho mỗi tù nhân số trên 15 đồng một tháng để nuôi chúng tôi, với giấy phép để mua theo giá chính thức 12 ký gạo hay lương thực tương đương và 200 g thịt hay cá; giá mua chính thức của 12 kí gạo này và 200 g thịt heo (thịt mà chúng tôi không bao giờ thấy, vì theo người cán bộ đầu bếp, người ta lấy mỡ thay thịt để xào những món rau) , tốn khoảng năm đồng. Vậy là còn lại mười đồng để mua rau cải, gia vị và củi để sưởi. Về rau cải, nhà bếp có thể mua với giá chính thức rau muống, cần tàu hay dưa chuột với giá năm tới mười lăm xu mỗi kí, khi chúng tôi – hay đúng hơn là trại chúng tôi cũng có một khu tù thường phạm- sản xuất; nếu không sẽ phải mua ở chợ vùng quanh đây với giá năm hay mười lần đắt hơn. Còn gia vị và củi để sưởi thì lúc nào cũng mua ở thị trường tự do với giá … tự do? Vậy thì ai cũng hiểu là trong những điều kiện này, giá trị dinh dưỡng của khẩu phần chúng tôi chỉ dựa đơn độc vào cơm gạo, ít nhất là cho tới những tháng đầu năm 1977. Sau đó gạo này bị thay thế bằng bắp nghiền, ít dinh dưỡng hơn nhiều hoặc tệ hơn nữa, bằng những hột bo bo còn nguyên phần vỏ “cuốn” của nó, đồ ăn này không tiêu hóa được đã phế thải ra y nguyên như thế nhiều giờ sau bữa ăn! Nhưng ngay cả với cơm, người ta cũng không cho chúng tôi lượng cơm chín tương đương với khẩu phần gạo sống. Ban giám đốc trại quyết định một cách độc đoán rằng hệ số hoán chuyển gạo sống thành cơm phải là hai, trong khi thực tế (như đã học khi còn là nội trú trong các nhà thương, chúng tôi đã ở trong ủy ban tiếp nhận khẩu phàn cho bệnh nhân do nhà thầu cung cấp), hệ số này từ 2,2 đến 2,5 theo độ nhão của cơm chín. Mỗi tù nhân như vậy chỉ nhận được 800 g cơm chín mỗi ngày – lượng cơm mỗi bữa đều được cân thực sự – mà giá trị dinh dưỡng so với giá trị dinh dưỡng của 400 g gạo sống, bị giảm bớt mất từ 10% đến 25 %, có nghĩa là khoảng 1000 ca-lô-ri mỗi một ngày, chút xíu mỡ của đĩa rau xào, của bát canh và kể cả rau nữa, mang lại thêm nhiều lắm là vài chục ca-lô-ri phụ trội. Rau cải lúc nào cũng ít quá, không làm sao giữ được vai trò độn, giúp tránh được cảm giác đói, ngay khi vừa ăn xong bữa cơm (7). Những người trước khi bị giam là những kẻ vạm vỡ, lại càng khổ hơn vì hoàn cảnh này.

Các khẩu phần thiếu ca-lô-ri trầm trọng này cũng hoàn toàn không có chất đạm cũng như chất béo gốc từ động vật và các vi-ta-min cũng không có; không cần phải chờ lâu mới thấy kết quả: hai tháng sau, nhiều người bị phù vì thiếu dinh dưỡng, người thì mặt phì ra, cổ chân và bàn chân sưng lên, nhiều người khác phù chân về chiều, nhưng tất cả đều cảm thấy mệt mỏi, và kiệt sức lúc cố gắng làm gì một chút. Với những đợt lạnh đầu mùa, nhiều người xỉu và té xuống ngất đi; việc này xẩy ra thường xuyên tới nỗi những người ở bên cạnh chỉ còn biết đỡ người ấy lên, dìu về chiếu và để người ấy tỉnh lại! Hầu như không có dịch vụ y khoa trong trại; một sĩ quan y tế, thiếu úy của lực lượng công an, tới trại một hai lần mỗi tuần trong vòng 15 phút, ghi vào sổ những lời khai bệnh của các tù nhân và không bao giờ nói gì trước khi ra đi; anh ta trở lại buổi chiều hay ngày hôm sau đưa cho cán bộ quản giáo những gói gồm có vài viên thuốc as-pi-rin hay những viên thuốc tròn có chứa chất ma túy cho một vài người trong số người đã đến khám anh ta. Tuy vậy, cho đến giữa tháng 10 không có trường hợp tử vong nào và cái chết đầu tiên trong nhóm bạn chúng tôi là cái chết của Trần Văn Tuyên, một trạng sư nổi tiếng và cựu phó Thủ Tướng của Việt Nam. Anh ấy đã qua đời vì xuất huyết não và tôi sẽ nói trở lại vụ này.

Nếu những cán bộ không trực tiếp có trách nhiệm về cái đói của chúng tôi, thì đối với cái lạnh khủng khiếp mà chúng tôi phải chịu đựng thì không phải như vậy, họ không chối được trách nhiệm. Lúc ra đi học tập ở Sai gon, chúng tôi nghĩ là sẽ đi một tháng và khi ấy trời mùa hè, không ai đã đem theo đồ ấm. Cả khi đã bị giam giữ kéo dài và khoảng đầu năm 1976 được phép viết thơ về gia đình, chúng tôi không ai xin áo quần để đề phòng lạnh rét. Riêng tôi, tôi có nói gia đình cho tôi một chiếc áo gilet mỏng để phòng trời mát tháng giêng. Khi vào tháng 11 năm 1976, lúc đã được chở ra Bắc ba tháng, chúng tôi xin phép viết thư về gia đình đề xin gởi ra cho áo ấm thì người ta từ chối hẳn, cán bộ nói là chính phủ sẽ cung cấp nhu cầu cho chúng tôi về áo lạnh và chăn mền. Thiệt ra thì chỉ sau hơn một tháng, ban giám đốc trại mới phát cho một vài người trong chúng tôi, sau khi bắt thăm vì không có đủ cho tất cả, một cái áo chui cổ (áo pull-over) bằng sợi bông và một cái mền vải cho những ai không có mền.

Mệt lả vì đói, run cả tay chân, với tấm áo mỏng manh, chúng tôi đã chịu khổ một cách ghê gớm vì mùa đông đất Bắc này vừa lạnh vừa ẩm. Ban ngày trong những giờ thật dài nghe đọc báo, mỗi người ngồi trên chiếu, trùm mền từ đầu đến chân, chỉ để có mặt hở ra chúng tôi run lẩy bẩy nghe mà không hiểu những “bài cải tạo”; thời gian còn lại, luôn luôn trùm mền, chúng tôi tụm lại thành nhóm năm hoặc sáu người để giảm bớt sự tiết nhiệt của cơ thể! Không dám vận động để “sưởi ấm cơ thể”, vì chúng tôi không có sức để cử động! Buổi tối, một số lồng ba hay bốn cái quần, bốn hay năm sơ mi để được ấm thêm một chút, một số khác dùng biện pháp ngược hẳn, họ cởi hết áo quần và nằm hai, ba người áp sát vào nhau, đắp lên trên hai hoặc ba mền bông. Còn tôi, tôi nhớ lại câu chuyện những người lính trong chiến tranh địa hào thời Đệ Nhứt Thế Chiến, tôi tháo vải lót áo gilet ra, nhét giấy nhật trình vào giữa và may lại. Tôi cũng bện hai băng dài bằng giấy nhựt trình và quấn quanh hai chân và bắp vế trước khi mang đôi tất thể thao mà tôi đã đem theo ngay từ đầu, dự trù có thể thao. Tôi cũng may mền lại bằng cách biến nó thành một túi dài kín mít, chỉ chừa một đầu mà mỗi tối tôi lướt mình chui vào chỉ để hở một tí để thở!

Chúng tôi cũng xin cán bộ quản giáo của nhóm cho đồ gì để sưởi phòng buổi tối. Anh ta cho đem đến một xe bò mạt cưa và một thùng xăng rỗng đã cắt làm đôi để làm lò sưởi. Sau nhiều giờ thử mọi cách khó nhọc không có kết quả, chúng tôi sau cùng đã thành công trong việc thắp lò, nhưng hơi nóng không lan ra quá hai ba thước và nhất là nó xông khói ra nhiều quá, làm ngộp thở hầu như cả phòng. Chúng tôi chỉ thử có một đêm, rồi sau đó dành chịu thua không dùng.

Chúng tôi đã khổ sở khủng khiếp về cái lạnh, lạnh vì nhiệt độ xuống thấp và khí ẩm của đồng bằng Bắc Phần trong những tháng mùa đông, nhưng nỗi khốn khổ này lại tăng lên vì bệnh thiếu máu và những thiếu thốn khác của cơ thể, do sự thiếu thốn trầm trọng và kéo dài của chế độ lương thực. Sự khổ cực vô nhân đạo này đáng lẽ có thể được xoa dịu nếu ban giám đốc- mà thật ra chỉ hành sự theo lệnh của bộ Nội Vụ mà thôi – đã cho phép chúng tôi viết thơ về nhà để xin gia đình gởi quần áo ấm. Nhưng điều đó bộ Nội Vụ không muốn, vì chính sách của họ là “biệt lập chúng tôi với phần còn lại của nhân loại”.

Quả thật, khu chính trị của chúng tôi bị nghiêm cấm đối với mọi người lạ, kể cả những người gác của khu vực tù nhân thường phạm trong trại. Căn phòng nhỏ bao bọc bằng vách tre đan có một cánh cửa gỗ mở ra đường chánh của trại và bằng một cửa khác bằng tre mở ra sân sau, dùng làm buồng thông để đưa đồ ăn vào. Mỗi ngày vào khoảng 6 g30 sáng, 11g00 và 17g00, những tù nhân thường phạm lo việc nấu nướng của trại, vào phòng này bằng cửa tường ngoài, đặt đó các khẩu phần của chúng tôi, rồi rút lui, khép cánh cửa gỗ lại và gõ vào cửa, phải đợi dấu hiệu này các bạn lo việc tiếp nhận lương thực trong ngày mới được mở cửa thông ra phía sân để vào phòng nhỏ và mang lương thực về phòng của chúng tôi. Nói về bữa cơm trưa và chiều, nhà bếp đặt hai thùng cơm và nhiều chậu sắt trắng đựng rau, canh và trà; trên mỗi thùng có viết bằng phấn chữ A hay chữ B chỉ phòng, số khẩu phần và trọng lượng cơm trong thùng, trên các chậu khác chỉ có chữ A hoặc B.

Những ngày đầu, nhiều người còn cười đùa về cái phòng ngăn cách nhỏ (sas) này và nói rằng chúng tôi là những người “tu kín”; nhưng vài tuần sau, khi đã chắc chắn là chúng tôi không được phép thư từ với gia đình thì tính cách vô nhân đạo của chánh sách biệt lập này đã quá rõ ràng. Vào tháng 11 hay tháng 12 năm 1976, chúng tôi đọc được trong tờ báo của đảng (tờ Nhân Dân hay tờ Quân Đội Nhân Dâm là ở Chí Lợi nhà độc tài Pinochet đã bắt những người cộng sản, nhốt họ trong vòng hai tháng mà gia đình họ không thể biết là họ bị nhốt ở đâu, rằng dân chúng đã phản đối và báo chí ngoại quốc đã chỉ trích nhà độc tài này đến nỗi ông phải cho phép gia đình đến thăm tù nhân. Ôi cha! những người tù cộng sản ở Chi Lợi thật là sung sướng! Chúng tôi thật sự thèm muốn số phận của họ; chỉ sau hai tháng người ta đã cho phép họ được thăm nuôi trong khi đã hơn năm tháng không ai trên đời này, trừ vài cán bộ của bộ Nội Vụ ở Hà Nội, biết chúng tôi ở đâu còn sống hay chết! Những người tù của Pinochet thiệt là sung sướng!

Chúng tôi ước mơ luôn đến cả số phận của những tù nhân ở Cộng Hòa Dân Chủ Kampuchia (tức Khmer đỏ). Một phái đoàn sở thông tin thành phố Hồ Chí Minh viếng thăm Kampuchia, được bà Iang Sari tiếp đón (có hình ảnh chứng minh), đi thăm một trung tâm cải tạo; trong bài tường trình đăng trong một của hai tờ báo này, hai tờ duy nhất mà chúng tôi được phép đọc, người ta nói rằng tù nhân được lãnh mỗi tháng 28 kí gạo (!).

“Hai mươi tám kí gạo một tháng! Khi ra khỏi đây tôi sẽ tình nguyện làm tù nhân ở xứ họ”.

Một người thì thầm như vậy. Trong khi chờ đợi, chúng tôi thèm chảy nước miếng khi nghe tin này. Từ khi chúng tôi đến trại vào ban đầu tháng 8 đến khoảng 20 tháng 10 năm 1976, những phiên đọc các bài báo do cán bộ quản giáo tuyển chọn được kể là “những bài học cải tạo” duy nhất.

Nhưng vào một buổi sáng thứ năm một cán bộ từ bộ Nội Vụ đến báo cho chúng tôi hay rằng tuần sau sẽ có những phiên học dưới dạng thảo luận mà họ đưa cho chúng tôi đề tài trước

“Trách nhiệm của những nhà trí thức miền Nam Việt Nam trong cuộc đấu tranh dành độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ”.

Ông ta thêm rằng chúng tôi phải đề cử một người làm một bản tường trình về vấn đề này và sau đó mọi người sẽ dựa vào bản phúc trình mà bàn cãi. Cuộc thảo luận được ấn định vào thứ hai sau đó lúc tám giờ sáng.

Chúng tôi thỏa thuận nhanh chóng đề cử phúc trình viên là Trần Văn Tuyên, một luật sư nổi tiếng tốt và tất cả chúng tôi đều biết.

Tuyên cảm ơn lòng tin cậy của chúng tôi và tuyên bố rằng anh rất sung sướng có dịp này để chứng minh với Việt Cộng là những nhà trí thức miền nam Việt Nam đã không phản bội đất nước Việt Nam, đã chiến đấu và đã giành lại độc lập cho Việt Nam theo quan niệm dân chủ của tự do của họ, quan niệm cũng có giá trị như mọi quan niệm khác.

Trong ba ngày sau đó, Tuyên suy nghĩ thật nhiều về bài tường trình của mình, anh không ra dạo vào giờ nghỉ nữa, ban đêm anh ngồi trong mùng tiếp tục viết . Sáng thứ hai, dù trời đã khá lạnh, Tuyên vẫn giữ thói quen của anh là tắm ở bên bể nước lớn, nơi mà chúng tôi vẫn thường tắm rửa, cách căn nhà chúng tôi ở độ năm mươi thước.

Trước tám giờ một chút, cán bộ quản giáo cho tất cả mọi người vào, các bạn phòng bên cạnh nhập sang phòng chúng tôi, hai người ngồi một chiếu. Tôi ngồi xuống chiếu gần tường để có thể dựa lưng vào đó, trong khi “khách” phòng bên cạnh ngồi ở phía gần đường giữa. Tuyên ở phía bên kia lộ chính, không xa tôi ở cuối lộ gần cửa vào người ta đặt một chiếc bàn nhỏ phủ vải đỏ và ba chiếc ghế. Vài phút sau tám giờ, một nhóm cán bộ đi vào: phái viên của bộ Nội Vụ đứng sau bàn; ông ta mời phó giám đốc phụ trách cải tạo trong trại ngồi xuống ghế đặt bên cạnh bàn phía trái ông ta, trong khi những người khác đến đứng ở giữa những hàng đầu của bọn chúng tôi. Người cán bộ đại diện bộ Nội Vụ tuyên bố phiên họp bắt đầu, cảm ơn giám đốc trại đã giúp đỡ trong việc tổ chức những lớp học này; rồi ngồi xuống và bắt đầu nói về sự chú ý đặc biệt mà Bộ Nội Vụ dành cho những lớp học tập cải tạo này, về những cố gắng của Bộ đã có và sẽ tiếp tục thực hiện để giúp đỡ chúng tôi kiện toàn cải tạo.

Lúc bấy giờ, tôi nhận thấy có một sự náo động ở bên kia đường chính: có ai té xỉu và nhiều người đang lo cấp cứu. Vào thời kỳ này, với những cái lạnh đầu mùa, chúng tôi bị yếu trầm trọng vì những suy sút về dinh dưỡng thường xỉu đi mỗi khi phải gắng sức chút xíu. Điều này đã thành thường lệ đối với chúng tôi, vả lại cho tới nay chưa có lần nào ngất xỉu kết thúc một cách không lành! Thuyết trình viên vẫn tiếp tục nói và chúng tôi ít nhiều tiếp tục nghe; khoảng năm sáu phút sau, tôi nhận thấy là bên kia đường chính giữa người ta vẫn tiếp tục vây chung quanh một người bệnh. Một chuyện gì bất thường đã xẩy ra, tôi nghĩ như vậy và lập tức rời chỗ để ra xem. Đó là Tuyên, anh đã được đặt nằm xuống, thở gần như bình thường; vậy không phải là sự ngất xỉu. Anh ấy đã hôn mê rồi! Vì tôi đã biết anh có bệnh tăng áp huyết; ở Thủ Đức tôi đã nhiều lần đo huyết áp cho anh, lập tức tôi chẩn đoán anh bị xuất huyết não. Tôi bảo các bạn ngưng xoa bóp Tuyên và chuyển anh về cuối phòng. Họ tức thì làm ngay và tôi ngồi cạnh để trông chừng: hơi thở của anh điều hòa, nửa thân người đã liệt và các ngón chân có phản ứng Babinski (chứng tỏ anh đã bị liệt não).

Cán bộ quản giáo của nhóm chúng tôi đến hỏi chuyện gì đã xẩy ra, tôi đáp rằng Tuyên đã đứt mạch máu não và phải đưa anh ta vào nhà thương. Anh ta bỏ đi không nói gì và một lúc sau trở lại với người cán bộ y tế. Người này hỏi tôi có chắc chắn về chẩn đoán không, tôi quả quyết là tôi chắc chắn như vậy, và hơn nữa tôi có biết bệnh tăng áp huyết của anh ấy từ Thủ Đức, rồi tôi nói với anh là phải cho chở Tuyên đi và trong khi chờ đợi, cho tôi mượn một máy đo áp huyết. Anh ta cũng bỏ đi không nói gì và trở lại hơn một giờ sau, với một ống chích đựng dung dịch không màu và bảo tôi chích cho Tuyên:

“Cái gì vậy?

– Vi ta-min B1, để chích cho anh ấy đó!

– Nhưng không ích lợi gì đâu!

– Chích cho anh ấy đi!”

Tôi chích mũi thuốc rồi nói với anh ta :

“Cán bộ à, hãy đưa anh ấy vào nhà thương. Ở đây không làm được gì cho anh ấy cả?

– Chúng tôi không có phép đưa anh ấy ra khỏi trại!

– Vậy hãy chở anh ấy lên bệnh xá?

– Không thể được! không có chỗ. (Sự thật trại lúc đó chưa có bệnh xá)

– Để bệnh xá hay bất cứ phòng nào khác! Anh coi còn tất cả bạn của tôi ở đâyl Anh không thể để họ nhìn thấy anh ấy chết như thế!”

Cán bộ y tế không trả lời, anh suy nghĩ một chút rồi bỏ đi.

Buổi học cũng vừa xong, vả lại không tiếp tục chiều hôm đó, và ngày hôm sau cũng không. Nhiều người bạn đến gần chúng tôi, nhìn một cách buồn bã người bạn nằm thiếp trong cơn hôn mê, nói vài lời thương tiếc rồi đi về. Đã đến lúc sửa soạn để ăn trưa! Chung quanh Tuyên chỉ còn lại mình tôi với sáu bẩy người khác tất cả đều là cựu thành viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng, đảng mà Tuyên là một thành viên.

Hơn một giờ sau, người cán bộ y tế trở lại với hai tù nhân thường phạm mang theo một cánh cửa làm cáng khiêng.

“Chúng tôi chở anh ấy đi nhà thương”, lời cán bộ y tế .

Góp sức với các bạn, chúng tôi khiêng Tuyên lên cái cáng chế biến, đắp mền lại cho anh và để thêm một ít quần áo của anh bên cạnh; những người thường phạm nâng cáng lên và chúng tôi theo tiễn anh đến cửa buồng thông ra vào, sau đó cáng khiêng Tuyên có cán bộ y tế theo sau biến dạng.

Cán bộ quản giáo của nhóm chúng tôi trở lại cho chúng tôi hay là chính anh ta và cán bộ y tế ngay từ lúc 9 giờ đi gặp giám đốc trại để báo tin là Tuyên bệnh, viên giám đốc đã lập tức điện thoại về bộ Nội Vụ để xin chỉ thị, và bộ Nội Vụ đã cho lệnh chuyển Tuyên về bệnh viện Hà Đông, cách đây nửa giờ. Ông ta cũng nhờ chúng tôi họp lại ba người để liệt kê những đồ dùng cá nhân còn lại trong xách và va-li của anh. Một người bạn của Tuyên cho tôi biết là Tuyên có một người con gái, con của người vợ trước, đã ở lại miền Bắc từ năm 1954 với chế độ cộng sản và hiện là kỹ sư trong một cơ xưởng nhà nước ngay tại Hà Nội.

Ngày hôm sau, khi cán bộ y tế đến phòng chúng tôi, và cho biết là Tuyên vẫn còn trong cơn hôn mê, tôi nói với anh ta về con gái của Tuyên, mà anh ta có thể dễ dàng kiếm ra tên và địa chỉ trong tờ khai của Tuyên liên quan đến lý lịch của anh và của những người trong gia đình, tôi cũng đề nghị đưa cô ta đến bên giường bệnh của Tuyên ở nhà thương. Cũng như thường lệ anh ta không trả lời.

Ngày hôm sau, thứ tư, cán bộ quản giáo của nhóm chúng tôi báo là Tuyên đã qua đời khoảng bốn giờ sáng hôm đó và xác anh sẽ được đưa về trại xế trưa. Anh ta cũng nói là giám đốc cho phép chúng tôi cử tám đại biểu đến dự lễ nhập quan và lễ an táng. Chúng tôi dành đặc ân cho những anh em đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, đảng của Tuyên. Vào buổi xế trưa, trước bốn giờ chiều một chút, một người gác đến kiếm tám đại biểu của chúng tôi và đưa ra ngoài khu tù nhân; họ trở về rất muộn, sau giờ giới nghiêm. Ngày hôm sau, họ kể lại cho chúng tôi nghe những gì họ đã thấy và làm. Họ tả lại bằng những lời khen ngợi! Xác Tuyên được đưa về trại khoảng 14 giờ và đặt ở “nhà khách của tù nhân ‘. Lúc họ đến thì xác đã nằm trong một chiếc hòm gỗ đóng không khéo lắm nhưng dầy dặn, đóng sáng hôm đó ở tại chính xưởng mộc của trại. Ở chân áo quan, có một chiếc bàn thấp với chén cát để cắm nhang (nhiều cây nhang đang cháy) có một chén cơm chín và một đĩa đựng một trứng luộc một đôi đũa tre còn mới cắm trên chén cơm. Bên cạnh áo quan, có một chiếc bàn, nhiều ghế và trên bàn có bình trà và tách chén. Một cán bộ, đóng vai đại diện gia đình người đã khuất, đón tiếp họ và dẫn họ về phía áo quan; họ đã nhận ra dễ dàng khuôn mặt rất thanh thản của người đã khuất, như là đang ngủ thôi; họ cũng đã thấy Tuyên mặc chiếc áo cánh bằng lụa của anh; xác anh được đặt trên một tấm khăn liệm bằng vải ‘tuyn’, mà hai đầu được xếp lại và để trên đầu và dưới chân anh. Họ đứng nhìn Tuyên một thời gian khá lâu, rồi người ta bảo họ dang ra xa, và những thường phạm có nhiệm vụ chôn cất anh tiến đến gần, phủ lên mặt và chân anh phần vải liệm còn lại. Họ cũng đặt lên xác anh áo quần mà chúng tôi đã để bên cạnh anh lúc anh đi nhà thương. Rồi nắp áo quan đóng kín lại. Trên quan tài có chén cát cắm nhang cùng chén cơm với đôi đũa mới tinh và đĩa trứng luộc; đại biểu của chúng tôi thắp nhang mới và cúi lạy hai lạy trước quan tài. Cán bộ đại diện gia đình người quá cố mời họ ngồi lại bàn bên cạnh áo quan và dùng trà. Họ ngồi đó khoảng mười phút, rồi một chiếc xe cam nhông có sàn đến trước nhà khách, mọi người đứng dậy và sáu người “thường phạm” sau khi cúi đầu lạy hai lạy trước quan tài, nâng quan tài lên và đặt trên sàn xe cam nhông. Những đại biểu của chúng tôi cũng lên xe với sáu “thường phạm” rồi ngồi quanh quan tài. Một lính gác vũ trang cũng leo lên với họ, trong khi một người gác khác ngồi trong khoang với tài xế. Trời đã bắt đầu tối, bởi thế họ đem theo một cây đèn bão.

Chiếc xe cam nhông ra khỏi trại và cẩn thận đi vào một con đường thật xấu, không đổ đá, xen giữa các thửa ruộng. Xe chạy rất chậm và sau khoảng nửa giờ ngùng lại bên bờ đường. Họ xuống xe, rồi sáu người “thường phạm” khiêng quan tài lên vai và đi theo người gác có cầm đèn bão; những đại biểu đi theo sau quan tài với người gác vũ trang kia. Sau một quãng đường khá dài xuyên qua đồng ruộng, họ đến một gò đất cao hơn một ít, và giữa nhiều nấm mồ đã thấy có sẵn huyệt mộ mà những “thường phạm” đã đào trước sáng hôm nay. Họ hạ quan tài xuống huyệt và lấp đất lên thành một nấm mồ nhỏ. Đại biểu của chúng tôi xá nhiều lần trước mộ; những “thường phạm” cũng xá. Sau khi đặt cơm và trứng lên mộ một chốc, những người này chia nhau chén cơm và cái trứng luộc. Đó là “tưởng thưởng ‘ công việc họ làm.

Sau lời tường thuật của các bạn đại biểu, chúng tôi tất cả đều có chút cảm tình với ban giám đốc trại, họ đã bày tỏ lòng tôn trọng đối với người quá cố: một cái quan tài, vài món đồ cúng theo nghi lễ, những cây nhang, một người tù ở nước cộng sản không thể hy vọng hưởng nhiều đến thế khi qua đời!

“Khi những người cộng sản vô thần tôn trọng truyền thống thiêng liêng thì quả là không thể tưởng tượng được và đáng khâm phục”

Nhưng ai đó lại thêm rằng :

“Có lẽ để cho phép chúng ta được hưởng những đặc ân sau khỉ qua đời, nên họ đã cho chúng ta hưởng đói và lạnh!”

Cái tương phản lạ lùng giữa những nghi lễ truyền thống và những điều kiện sống khốn cùng của những người tù tạo ra một pha hài hước cực kỳ cảm động mà tôi được chứng kiến vài tháng sau đó: một buổi xế trưa, khi đến bệnh xá để lấy thuốc cho các bạn tôi, tôi đã thấy cách vài thước trước cửa vào, một người “thường phạm” suy mòn, ngồi ngay dưới đất bụi bặm, năn nỉ không ngừng, với giọng rên rỉ:

“Ôi cán bộ? ôi cán bộ ôi! Xin thương xót tôi! Hãy cho tôi ngay bây giờ chén cơm và cái trứng mà ông sẽ để lên quan tài khi tôi chết. Tôi đói quá! Hãy đưa cho tôi ăn ngay lúc nàyl Tôi không cần chúng sau khi tôi chết”

Sau khi Tuyên mất, chúng tôi được biết rằng người ta không hề kiếm gặp con gái anh; còn vợ con anh ở lại Saigon, bà ấy chỉ được báo tin chồng bà mất sáu tháng sau đó mà thôi.

Cái chết của Tuyên, cái chết đầu tiên từ khi chúng tôi tới miền Bắc, đã gây cho chúng tôi một cảm tưởng buồn bã và lo lắng. Nhưng điều đó chỉ kéo dài vài ngày thôi, rồi cái đói, cái lạnh và sự thiếu tin tức gia đình lại trở thành những lo âu ưu tiên của chúng tôi.

Cũng vào thời kỳ này, một số tù nhân mới đến trại chúng tôi. Trước hết là ba người bệnh mà nhà thương Hải Phòng gởi đến chỗ chúng tôi sau vài ngày nhập viện. Họ là thành viên của một đoàn tù nhân đến từ Saigon bằng tàu thủy. Những chiếc tàu hàng chở than tiếp tế than Hòn Gai cho Saigon, lúc trở về đã chở trong khoang hầm trống những tù nhân từ các trại cải tạo Người ta cho họ xuống những hầm còn ngập bụi than và cũng để trong đó hai phuy xăng trống nữa, một để chứa nước uống (và cũng để rửa ráy nữa) và thùng kia để “tiểu tiện và đại tiện”! Mỗi ngày một lần, người ta thòng giây xuống cho họ một thúng bánh mì, mỗi người một ổ. Trước khi tới được Hải Phòng, họ phải sống như vậy, hai ngày và hai đêm, ngồi hay đứng giữa túi, bị và hành lý của họ trong một bầu không khí nghẹt thở và hôi hám, chỉ thông với không khí bên ngoài qua một cửa boong tàu có lưới sắt ở trên đầu họ. Ba tù nhân kể trên đến đó đã kiệt sức: một người bị ung thư hạch cổ và đang được điều trị ờ viện ung thư Saigon từ nhiều tháng trước tháng 5 -1975, hai người kia thì liên miên lên cơn suyễn ngay khi họ xuống hầm tàu chở than. Ở nhà thương Hải Phòng, sau vài ngày “hồi sinh ‘ họ cảm thấy khá hơn và vì các bạn đồng hành của họ đã được gởi đi những trại ở các tỉnh xa, người ta gửi họ về trại chúng tôi, tương đối gần.

Một nhóm khác độ bốn mươi tù nhân, xuất phát từ một trại ở gần Mỹ Tho, đến vài ngày sau, họ là thành phần của một đoàn từ 500 đến 600 người từ miền Nam Việt Nam đến trên một tàu chở than: cuộc di chuyển của họ cũng đã được thực hiện trong những điều kiện ghê tởm như những người trước họ, hai ngày và hai đêm ngồi hay đứng trong một khoang chở than với hai thùng phuy … Trong đoàn này, có những sinh viên Phật tử bị bắt sau cuộc biểu tình chống chính phủ tại các tỉnh miền tây, họ còn hăng say và hô to trước khi chia tay: “Chúng ta sẽ trở lại trong vinh quang và chúng ta sẽ gặp lại nhau!”

Tháng 12 năm 1976 và những tuần đầu của tháng giêng 1977 là thời gian khổ nhất trong đời tù nhân chính trị của chúng tôi trong nhà tù Bắc Việt. Với mùa đông đến dần, trời càng ngày càng lạnh, chúng tôi vẫn không có áo ấm mặc ban ngày, cũng không có mền dày cho ban đêm!

Hơn nữa, chế độ ăn uống vốn đã thiếu thốn trầm trọng, lại càng ngày càng thêm ít ỏi: nếu chúng tôi tiếp tục có hai “ca” cơm mỗi ngày, người ta không cho chúng tôi rau cải và canh nữa, và thay vào đó một lát mỏng củ cải muối đã lên men dày khoảng năm ly ! Củ cải này trong hai tháng ròng rã là món ăn duy nhất của chúng tôi, thỉnh thoảng được thay bằng một nhúm lá cải muối và cũng đã lên men. Tuy vậy cũng có hai lần chúng tôi được hưởng những món đặc biệt nhờ sự khắc nghiệt của mùa đông! Lần thứ nhất một đợt gió lạnh làm chết hầu hết cá nuôi trong các hồ của trại. Cá này thường chỉ để dọn trên mâm những cán bộ và các người gác, nhưng lần này thì có thật quá nhiều nên người ta cho chúng tôi vài con trong một bữa cơm; lần khác, một làn sóng lạnh cũng làm chết trâu của trại; thịt và lòng được dọn trên bàn của nhân viên trại giam, nhưng chúng tôi được hưởng da của chúng. Người ta cắt da trâu thành lát chừng vài phân, và sau khi hầm thật lâu cho nhừ, biến thành những miếng keo còn giữ được mùi thịt mà chúng tôi từ nhiều tháng dài không biết đến!

“Đói và Lạnh” mà không phải chịu cùng một lúc, kể như chưa khi nào biết Đói và Lạnh! Tiếng Việt có một chữ kép “Đói Rét” để nói về nỗi khốn khổ không thể tả được này, có lẽ vì từ thời thượng cổ, tổ tiên chúng ta đã khổ vì nó! Có lẽ vì vậy mà người cộng sản Bắc Việt đã cố ý áp chế lên đầu người tù chính trị của họ cùng một phần dân chúng – trừ những thành phần đặc biệt như là một bài học yêu nước!

Rồi bất thình lình, một buổi sáng vào giữa tháng giêng, cán bộ quản giáo của trại báo tin là chúng tôi được phép gởi thơ cho gia đình để xin gởi một “thùng quà Tết”:

“Đảng và nhà nước trong tinh thần khoan hồng vô biên đã quyết định cho phép các anh viết thơ về cho gia đình và xin gởi một kiện quà năm kí trong dịp Tết Nguyên Đán cổ truyền. Chúng tôi sẽ cung cấp cho mỗi người một phong bì và một tờ giấy cỡ giấy học trò; tuy vậy cấm các anh không được nói là các anh đang ở đâu, dẫu là một cách gián tiếp. Nếu các anh xin quần áo ấm, các anh chỉ nói là các anh cần dùng những thứ ấy, nhưng đừng viết là các anh ở một vùng lạnh; tất cả đồ nước và đồ dễ hư đều bị cấm, cũng như rượu, trà, cà phê hay là muối (8). Mọi vi phạm những khuyến cáo này, sẽ có hậu quả là thư các anh sẽ bị hủy bỏ. Những kiện quà mà gia đình các anh muốn gởi, phải đem đến khám Chí Hoà, chúng tôi sẽ ở đó những ngày 25 và 26 tháng chạp âm lịch để nhận. Hãy nộp thư đừng dán lại và trên phong bì các anh để tên các anh và tiếp theo là các chữ : T.D. 52-A, Chí Hòa ‘ nghĩa là Tiểu Đoàn 52-A, khám Chí Hoà.

Nhiều gia đình chúng tôi, đọc địa chỉ người gởi như thế tưởng là chúng tôi bị nhốt ở khám Chí Hoà, ở ngay tại Saigon. Chúng tôi tất cà đều hài lòng, rất hài lòng, mặc dầu sự khoan hồng của Đảng và Nhà Nước hãy còn xa, thật xa với sự khoan hồng của tên độc tài “đáng tởm” Pinochet. Thay vì được thăm nuôi, gia đình chúng tôi phải chấp nhận chỉ được tin là chúng tôi chưa chết và đang bị nhốt tại một nơi nào đó ở Việt Nam.

Những kiện quà Tết đến với chúng tôi vào đúng ngày mồng một Tết. Những xe vận tải của công an đã chở quà từ Sai gon ra chạy cả ngày và đêm. Chạy cả ngày lẫn đêm, quản giáo nhắc lại nhiều lần để cho chúng tôi nhận ra lòng tốt vô bờ bến của Đảng và Nhà Nước, qua sự tận tụy của những cán bộ chính trị và kỹ thuật của công an bộ Nội Vụ.

Từ ngày 25 tháng chạp âm lịch, chúng tôi được biết ít nhiều một cách bán chính thức về những biện pháp mà ban giám đốc đã quyết định để giúp chúng tôi “ăn” một cái Tết vui vẻ: sẽ thịt năm con heo để chè chén trong những ngày Tết: bốn bữa cơm thịnh soạn, một bữa lúc giao thừa, hai bữa ngày mồng một và một bữa khác vào sáng mồng hai. Thêm nữa mỗi người được hai chiếc bánh chưng (chiếc bánh cổ truyền, làm với nếp, nhân thịt và đậu); sẽ có những trận bóng chuyền và những cuộc chơi cờ tướng giao đấu giữa những phòng khác nhau; người ta cũng cho chúng tôi giấy màu và tre để làm lồng đèn và hoa giả nữa!

Nhưng hỡi ôi! người buồn cảnh có vui đâu bao giờ! (9)

Quả thật, sau phút ngắn ngủi vui vẻ, lúc nhận được quà và tin tức gia đình, thì buồn bã và u sầu sâu đậm lại trở về xâm chiếm chúng tôi; thậm chí nhiều người đến nằm bẹp xuống chiếu, tay ôm đầu như để hoài niệm lại quá khứ và những ngày Tết đã sống trong không khí ấm cúng của gia đình.

Cảm giác đói cồn cào cũng được tạm thời xoa dịu bởi bốn bữa ăn thịnh soạn và thêm vào đó vài món đồ ăn của kiện quà gia đình gởi, bây giờ chúng tôi đã có thể chịu đựng cái lạnh đông hàn khi đã có quần áo ấm của gia đình gởi đến. Chúng tôi chỉ còn nghĩ thật nhiều về gia đình, về quá khứ, tiếc nhớ những giây phút hạnh phúc gia đình mà chúng tôi đã để qua đi, cầu mong những ngày tốt đẹp hơn cho gia cảnh và cho Tổ Quốc nữa. Sáng ngày mồng một Tết Nguyên Đán, sau khi mừng tuổi và chúc nhau “một năm mới tốt lành và mau chóng trở về”, tôi tách rời ra một góc phòng với ba người công giáo khác ở cùng phòng để cầu nguyện. Lời khẩn cầu kết thúc của chúng tôi là theo gương của “Người sẽ trở lại trong Vinh Quang”, chúng tôi cũng vậy, chúng tôi sẽ trở lại trong Vinh quang, không phải vinh quang của chúng tôi, mà là Vinh Quang của Giáo Hội hiện nay bị áp bức và của Tổ Quốc hiện nay bị chà đạp!

Trong những tháng sau Tết, lạnh giảm dần, nhưng thực phẩm thì ngày càng dở hơn. Cơm dần dần bị thay thế hoặc bằng bắp nghiền vụn, hoặc bằng bo bo còn nguyên vỏ chưa chà. Món ăn duy nhất giúp chúng tôi sống sót là một cục bột tròn nhỏ độ 120 gr (được một người bạn làm kế toán trong bếp cân) làm bằng bột mì nhồi mà không lên men, và được hấp chín sau đó. Cái hòn bột này là bữa cơm sáng của chúng tôi trong một thời gian dài, nhưng dĩ nhiên là lượng bột dành để làm bánh này được trừ trong khẩu phần hàng tháng về gạo, bắp và bo bo cung cấp cho chúng tôi. Về rau, với xuân về, chúng tôi có lại rau muống, hay cần tàu, nhưng chất bổ dưỡng chúng cung cấp không đáng kể. Những ca suy mòn chết người xẩy đến, dù có những viên đa sinh tố hầu như mọi người đều nhận được do gia đình gởi. Không có gì thay thế được ca-lô-ri thiếu hụt hay những chất đạm động vật cần thiết, mà trọng lượng giới hạn của thùng quà gia trình ngày Tết không cho phép gởi cho chúng tôi. Vào tháng 5, người ta cho phép gởi một lần nữa, rồi một lần nữa vào tháng 9.

Người đầu tiên bỏ mình vì suy mòn là người bạn đồng đội của chúng tôi, đại tá Đỗ Kiến N., cựu quận trưởng một quận Saigon. Người khá vạm vở, anh ấy thuộc thành phần những người chịu đựng rất khó khăn việc ăn uống thiếu thốn; anh phì ra, bị phù khắp cả người và đi đứng khó khăn. Cán bộ y tế ngây thơ tưởng là chỉ cần kiêng muối cho cơ thể là làm biến mất bệnh phù, đã cho anh ăn cháo với đường, điều này làm cho anh yếu thêm! Lúc bấy giờ anh ấy thèm muối đến nỗi anh đã đổi với người cùng bị giam những muỗng đường của gia đình gởi để lấy một tí muối! Một buổi sáng, sau một đêm lạnh hơn thường lệ trong mua, không thấy anh ấy cử động khi tới giờ thức dậy, nhiều bạn bè nằm gần anh đến đánh thức anh, nhưng anh không trả lời, dù anh còn thở một cách yếu ớt. Chúng tôi báo động với cán bộ trực, người này tới, nhìn kẻ hấp hối, rồi gọi hai người thường phạm đem đến một cánh cửa dùng làm cáng khiên. Chúng tôi đặt anh lên chiếc “băng ca” chế biến, đắp mền cho anh, rồi chúng tôi thấy người cán bộ gác và những người khiêng cáng khuất sau chiếc cửa buồng thông ngăn cách chúng tôi với thế giới bên ngoài! Buổi xế trưa, cán bộ quản giáo nhờ chúng tôi làm bản kê khai những đồ dùng cá nhân mà N. đã để lại … sau anh!

“Vì sao N. chết ?’

-Vì đói! Tất cả các bạn tù thì thầm.

“Vì bệnh phù thũng.” Cán bộ công an tuyên bố.

“Vì suy nhược tổng quát”

Ban y tế của trại đã báo cáo như thế trong những trường hợp tương tự, như tôi đã có thể nhận xét sau này, khi tôi được ủy thác phụ trách bệnh xá của khu chính trị của trại.

Vào thời kỳ này, chưa có ban y tế thật sự cho tù nhân chính trị . Nhiều nhất là họ có người cán bộ y tế mà tôi đã nói tới, người mà một hay hai lần một tuần đến gặp chúng tôi và phân phát một vài viên thuốc. Một đội y khoa của bệnh viện Bạch Mai Hà Nội có đến một lần, nhưng thật ra là để khám cho nhân viên của trại dù người ta cũng có đem ra cho họ vài tù nhân bị bệnh. Có một loại “kết nghĩa” nào đó giữa trại tập trung 52 và một ban của nhà thương Bạch Mai. Hàng năm, một hay hai lần, nhà thương gởi một đội y sĩ đến khám cho nhân viên bị bệnh, và bù lại trại cung ứng cho nhà thương sản phẩm nông nghiệp của trại. Vào dịp này, khoảng hai mươi người trong chúng tôi được phép đến đội y khoa này khám. Tôi ở trong số đó vì bệnh tiểu đường của tôi. Cuộc thăm bệnh diễn ra trong một căn phòng ở sát phòng gác gần cửa ngõ ra vào. Người cán bộ y khoa bảo tôi đưa một lọ nước tiểu để thử nghiệm chất glu-cô trước khi dẫn tôi vào phòng khám. Ở đó có một chiếc bàn lớn chung quanh có năm người ngồi, một người làm thư ký. Trong số những người khác có một khuôn mặt mà tôi nghĩ đã biết trước đây, có thể là một bác sĩ, hồi xưa là sinh viên trường đại học y khoa Hà Nội vài năm sau tôi. Trong suốt cả buổi khám ông ta không nói gì cả và không có vẻ gì đã nhận ra tôi. Một người khác khám cho tôi hỏi tôi về bệnh lý, khám tôi một cách sơ sài, rồi hỏi tôi dùng thuốc gì và hẹn sẽ gửi thuốc ấy cho tôi một khi ông trở về bệnh viện. Cũng như đối với những tù nhân khác đến khám bệnh, những món thuốc hứa hẹn gửi đến đã không bao giờ đến!

Trong số các bệnh nhân có một cựu thiếu tá đã làm việc ở phủ Thủ Tướng và vì chức vụ này đã trình diện cải tạo như công chức dân sự; anh ấy đã sốt từ nhiều ngày và bị đau ở ngực. Khi được phép khám bệnh, người ta nói là anh ấy không có gì trầm trọng cả nhưng người ta gửi anh ấy đến bệnh xá của “thường phạm” để chích thuốc… Xế trưa, khi tôi nói chuyện với anh trong sân chơi, anh ấy kể bệnh cho tôi nghe và than đau ở ngực. Tôi đề nghị khám cho anh ấy và tôi đã áp tai vào lưng anh. Lúc bấy giờ tôi nghe rõ ràng những dấu hiệu của chứng viêm phổi. Tôi khuyên anh kiếm cho được vài viên thuốc kháng sinh để chữa bệnh bằng cách hỏi xem bạn nào có thuốc ấy. Quả thật theo lời anh nói, những mũi thuốc người ta chích cho anh là sinh tố B1. Tôi không bao giờ biết là anh có kiếm được kháng sinh hay không, nhưng anh tiếp tục đi tới cái chòi nhỏ “bệnh xá ‘ và vài ngày sau đó, anh qua đời.

Sau cái chết này, và vài cái chết khác nữa, cán bộ y tế đến thường xuyên hơn, hầu như mỗi ngày, và ‘kê’ những mũi chích mà chúng tôi đi chích ở chòi lá nhỏ, đặt tại cuối đường lộ chính, lúc bấy giờ dùng làm phòng khám bệnh cho thường phạm. Còn đối với chúng tôi sự cấm cung cũng bớt nghiêm khắc hơn và nhiều lần những thường phạm đến khu chúng tôi để sửa nhà hoặc hệ thống dẫn nước!

Vào khoảng tháng 5, cùng một lúc với việc cho phép chúng tôi viết thơ cho gia đình để xin một kiện quà nữa, người ta báo cho chúng tôi biết là ít lâu sau sẽ có một khoá học mới “đặc biệt quan trọng” vì nó bắt đầu một giai đoạn mới trong chương trình cải tạo của chúng tôi, giai đoạn cần thiết để hoàn thiện việc cải tạo sau giai đoạn này chúng tôi có thể được phép trở về với gia đình.

Vài ngày sau đó, người ta bắt đầu chuẩn bị cho khoá học đặc biệt này. Trước phòng chúng tôi và chiếm cả diện tích sân, người ta cất một dàn lớn làm bằng những tấm tre đan. Người ta xếp trong đó độ sáu mươi băng ghế học trò mượn được ở đâu không biết. Ở một đầu có bục gỗ, trên đó đặt một chiếc bàn phủ vải đỏ, kèm hai bên là hai bàn khác và đằng trước là một cái bục để đọc và một máy vi âm; còn loa phóng thanh thì được treo ở đâu kia của ‘căn phòng’. Trên hai vách ngăn, cái ở sau bục gỗ, cái ở cuối phòng có treo nhiều biểu ngữ, mà một cái mỉa mai công bố rằng: “Không có gì quý hơn Độc Lập và Tự Do”. Một tấm khác, hợp với hoàn cảnh chúng tôi hơn, khuyên rằng: “Hãy thú tất cả, thú thật”. Trái lại không có cờ Việt-Cộng và người ta cũng không hát quốc ca vào buổi khai giảng khoá học… Là tù chính trị, chúng tôi có lẽ không đáng được những nghi thức này, càng tốt cho chúng tôi! …

Ngày quan trọng đã đến, nhiều cán bộ từ bộ Nội Vụ tới trong đó có một thứ trưởng, người mà chúng tôi đã gặp ở phi trường Gia Lâm. Những đề tài thuyết trình gồm có bốn mục :

– Thế giới xã hội chủ nghĩa hiện thời. Chỗ đứng của Việt Nam trong thế giới sau ba chiến thắng trên đế quốc Pháp, Nhật và Mỹ.
– Vai trò giáo dục của lao động tay chân.
– Sự cần thiết tự cải tạo và giúp các bạn đồng cảnh tự cải tạo
– Sự tuân theo nội quy của trại.

Mỗi bài học, được tiếp nối vào buổi chiều, có khi cả ngày hôm sau bằng những buổi thảo luận từng nhóm để thêm “những sự kiện khách quan” xác định sự chính xác của quan điểm trình bày. Cũng có một phiên thứ năm toàn bộ, để các học viên có thể bày tỏ sự hài lòng của họ và “sự cam kết thực hiện những mục tiêu do thuyết trình viên đề nghị”. Có khoảng 15 người “tình nguyện” lên trước bục cảm ơn sự ân cần của đại biểu bộ Nội Vụ đã áp dụng chính sách khoan hồng vô biên của Đảng và Nhà Nước đối với tù nhân và cam đoan cương quyết tự cải tạo bằng cách theo lời chỉ bảo của những cán bộ của trại và bằng cách tôn trọng nội quy; một vài người đã không ngần ngại tuyên bố cương quyết sẽ tố cáo những kẻ nào vi phạm kỷ luật hay nói những lời phản động! Sự “cương quyết này” làm cho nhiều người trong chúng tôi khó chịu và những cán bộ cũng vậy họ tiếp đón với nhiều ngờ vực.

Sau khoá học, người ta bảo chúng tôi “viết ra”, kể lại đời sống của mình từ thuở thơ ấu, không quên lý lịch của cha mẹ, cha mẹ vợ và thậm chí cả ông bà! Người ta cho chúng tôi một thời hạn là hai tuần để thảo tiểu sử này và nếu ai muốn thì có thể nới thêm thời hạn này.

Trong suốt thời kỳ này, chúng tôi được tự do ngồi viết hay đi dạo trong sân, để “suy nghĩ”. Nhiều khi những cán bộ của bộ Nội Vụ đến chuyện trò thân mật, hoặc nói chuyện riêng với một người, thường khi với những nhóm nhỏ của chúng tôi họp lại. Họ thường gợi đến địa vị quốc tế của Việt Nam. Theo họ và cũng theo những gì có thể đọc được trong báo của Đảng, tờ Nhân Dân và tờ Quân Đội Nhân Dân, chúng tôi được biết là Nhà Nước mong muốn được nhận vào tồ chức Liên Hiệp Quốc, nhưng vài tháng trước đây, họ đã bị ngăn chặn bởi quyền phủ quyết của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ ở Hội đồng Bảo An. Các báo chí chỉ trích mãnh liệt Hoa Kỳ, kết án họ là bất công, bất lương, cư xử như kẻ lưu manh, đã không hổ thẹn vi phạm quyền lợi của Việt Nam đạt được sau những chiến thắng vinh quang trên cả ba đế quốc thực dân, và đặc biệt là đế quốc Mỹ được coi là nham hiểm nhất. Vài tuần sau đó, báo chí loan báo rằng thực dân Mỹ, dưới áp lực và chỉ trích nhất loạt của mọi quốc gia trên thế giới, đã phải chấp nhận mở cuộc đàm phán với Việt Nam ở Ba Lê để sửa soạn sự gia nhập vinh quang của nước ta vào Liên Hiệp Quốc.

Những tin tức này được chúng tôi rất chú ý; chúng tôi nói chuyện với nhau nhiều về tin này. Riêng tôi, tôi bàn cãi về đề tài này trong nhiều tuần vào những giờ nghỉ trước bữa cơm chiều với anh bạn Nguyễn Duy Xuân (10), nguyên viện trưởng đại học Cần Thơ, một tiến sĩ kinh tế. Họ có lợi ích gì để mở cuộc thương thuyết với Việt Cộng, những kẻ đã vi phạm một cách trắng trợn hiệp định Paris bằng cách gửi quân đội chính quy Bắc Việt xâm chiếm miền Nam? (Điều mà tướng Văn Tiến Dũng của họ đã viết rõ ràng trong cuốn sách “Mùa Xuân Đại Thắng ‘ của ông). Theo các báo, Việt Cộng đòi Hoa Kỳ phải trả cho họ nhiều tỷ đô-la mà dường như Tổng Thống Nixon đã hứa hẹn cho hai miền Việt Nam khi có hoà bình! Tất cả chuyện này thật là phi lý. Những đồng đô-la dành để củng cố hòa bình không thể tưởng thưởng xâm lược, theo sự suy nghĩ của chúng tôi. Tuy vậy phải công nhận rằng chúng tôi một phần nào ở trong hoàn cảnh ếch ngồi đáy giếng, chỉ nhìn thấy một phần nhỏ xíu của vòng trời lại muốn miêu tả vũ trụ! Nhưng bàn chuyện về vấn đề này làm chúng tôi thích thú biết bao!

Đối với chúng tôi, Hoa Kỳ không còn quyền lợi thật sự nào ở Việt Nam nữa: tù binh Mỹ đã được trao trả từ năm 1973-74. Những xác chết của anh Mỹ ư? Điều này có quan trọng đến thế chăng? Khi mà Hoa Kỳ, theo sự hiểu biết của chúng tôi, đã không làm gì cho những người lính Mỹ thiệt mạng ở Bắc Hàn! Trái lại Hoa Kỳ còn có một “quân bài then chốt” thật quan trọng: đó là quyền phủ quyết ở Hội đồng Bảo An. Nghe các câu chuyện của các cán bộ bộ Nội Vụ và đọc những bài báo của hai tờ báo đảng, chúng tôi nhận thấy là Việt Cộng mong muốn thiết tha biết bao để được nhận vào Liên Hiệp Quốc, họ cho đó là một sự thừa nhận địa vị quốc gia văn minh độc lập. Với quyền phủ quyết này, theo sự suy nghĩ của chúng tôi, Hoa Kỳ có thể đòi Việt Cộng được nhiều điều, ngoại trừ việc phải ra khỏi Nam Việt Nam? Họ có thể, chẳng hạn, đòi hỏi hoàn trả mọi hài cốt của lính Mỹ bị giết ở Việt Nam, yêu sách cả việc thả hết những quân nhân và công chức Việt Nam bị nhốt trong các trại tập trung cải tạo! Sự chấp nhận Việt Nam đáng lẽ chỉ được thực hiện sau khi hai điều kiện này được thỏa mãn!

Liên quan đến việc trả tự do, chúng tôi không hề có tin tưởng về tính đa cảm của người Mỹ? Phải chăng người ta đã nhận rằng họ là những người thực tế nhất hoàn vũ? Nhưng cũng vì lợi ích riêng của họ nữa! Vì nếu không chính họ đích thân cố gắng đem chúng tôi ra khỏi những trại tập trung thì còn nhà chính trị nào của thế giới thứ ba, đặc biệt là ờ Đông Nam Á, nơi mà hiểm họa Cộng Sản còn nhan nhản khắp nơi, lại có thể chấp nhận làm việc tay trong tay với họ? Trong cố gắng đạt được tự do cho chúng tôi họ có thể nhờ đó chứng tỏ rằng liên minh chống cộng không chỉ giới hạn đơn thuần vào việc bênh vực quyền lợi của Mỹ.

Ít lâu sau, báo chí loan tin Việt Cộng và Hoa Kỳ đã đi đến một thỏa hiệp và nước Việt Nam sẽ được nhận vào Liên Hiệp Quốc. Vậy thì họ đã được cả thế giới nhìn nhận là kẻ chiến thắng các cường quốc thực dân Pháp, Nhật và Mỹ! Như vậy là không còn ai lo đến chúng tôi nữa cả. Còn bao lâu nữa thì vấn đề của chúng tôi mới được giải quyết? Hoài công hy vọng, từng tuần, từng tháng cứ thế trôi qua, và chúng tôi phải nhẫn nhục cam phận nhận thức rằng chính sách “trả đũa từng bậc” lần này được áp dụng vào ngoại giao. Trong chiến tranh cũng như trong các cuộc điều đình, người Hoa Kỳ ngây thơ bao giờ cũng biếu không cho đối thủ những lá bài tốt.

chuong5_bandotrai

Chú Thích:

(7) Để so sánh, đây là vài chi tiết về khẩu phần lương thực của tù nhân ở nhà lao Côn Sơn (đảo Poulo Condorl ở Miền Nam, dựa theo những kết quả một cuộc điều tra mà chính phủ thuở ấy không biết. Những con số này trích ra từ một luận án y khoa bác sĩ, đệ trình tại Trường Đại Học Y Khoa Saigon năm 1979, luận án của Bác Sĩ Nguyên Văn Khuông, nguyên Trưởng Phòng Y khoa đảo Côn Sơn:

Giá trị dinh dưỡng

1791calories/mỗi ngày

Glucides (chất đường)

335 g

Chất đạm

52,54 g

Chất béo

4,26 g

Sinh tố A

1458 đơn vị

Sinh tố B1

52 microg

Sinh tố B2

71,37 microg

Sinh tố C

60 mg

(8)Muối biển bị cấm vì trong phim “ca ngợi hoạt động phản tình báo cộng sản” một tù nhân đã để muối hột ở chấn song sắt cửa sổ xà lim của anh; với thời gian muối ấy đã ăn mòn sất chấn song và người tù đã bẻ song trốn thoát.

(9)Đó là câu thơ thứ 1244 của tập thơ nổi tiếng Kim Vân Kiều của thi nhân Vlệt-nanl Nguyễn Du (1765-1820). Chuyện một cô gái đẹp, thông minh, tài hoa . .. mà để cứu cha bị vu oan và bị hạ ngục, cô ta phải bán mình cho một người nhưng người này chỉ là một tên lừa bịp, đã bán cô lại cho một mụ tú bà. Sau nhiều biến cố: hai lần trong lầu xanh, hai lần tự tử hụt, hai lần trốn trong chùa, sau cùng cô trở về được với người yêu cũ và cha mẹ.

(10)Nguyên Duy Xuân, tiến sĩ kinh tế, nguyên viện trưởng Viện Đại Học Cần Thơ, Bộ Trưởng Giáo Dục cuối cùng dưới thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Bị nhốt cải tạo lao động cưỡng bách từ năm 1975, chuyển sang trại 52A năm 1976, rồi sơ tán năm 1983 với tù nhân chính trị khác về trại Hà Nam Ninh, để dành chỗ tù lại, theo lời đồn đại, cho các bạn bè của Hoàng Văn Hoan, một thành viên của Bộ Chính Trị Đản Cộng Sản Việt Nam, trong một chuyến du hành đi Mạc Tư Khoa, đã xin tị nạn trong toà Đại Sứ Trung Quốc tại Karachi. Nguyên Duy Xuân đã chết ở đấy vì ung thư cuống họng mà không bao giờ được điều trị đàng hoàng.

—> Chương VI
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, Paul Trần Vỹ. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s