TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAM (Paul Trần Vỹ): Chương VI

Chương VI
CẢI TẠO LAO ĐỘNG CƯỠNG BÁCH

Vào lúc đó, đời sống ở trại của chúng tôi đã bắt đầu thay đổi hẳn không còn những phiên đọc báo sáng và trưa. Chỉ còn phiên đêm trước giờ tắt đèn. Bây giờ mọi người phải lao động bằng chân tay để hoàn thiện cải tạo với mồ hôi trên trán. Đầu tiên người ta tách riêng những người lớn tuổi, trên năm mươi lăm ra khỏi những người trẻ hơn. Những người già này, trong đó có tôi được xếp vào thành phần “đội đan lát”, còn những người trẻ hơn được phân chia ra thành nhiều đội, mỗi đội có một hoạt động đặc biệt: nghề mộc, nghề rèn (mà hoạt động chính là chế tạo đinh), làm gạch ngói, và công việc đồng áng.

Ngoại trừ ngành đan lát, làm việc ngay trong sân nhà, mọi đội khác đều đi làm ở bên ngoài “khuôn viên tù nhân”. Đội công nhân nông nghiệp còn ra khỏi trại nữa.

Mỗi buổi sáng, lúc bấy giờ chúng tôi tập họp ở trong sân nhà; mỗi người đứng trước nhà mình. Rồi quản giáo điểm danh và dẫn những người tù khổ sai (vì đúng là thế) vào con đường lớn ở giữa; họ ở đó đợi cho mọi người khác đến, kể cả các ‘thường phạm’. Tổng giám thị đứng gần phòng gác gọi tên từng đội một, mỗi đội đi ngang trước mặt anh ta và báo cáo số người có mặt trong đội rồi ra ngoài bằng cổng lớn, có người cán bộ quản giáo đi kèm.

Một khi ra ngoài, một trung đội lính gác vũ trang nhập vào mỗi đội và đi theo đội này cho đến khi trở về trại khoảng 11 giờ sáng. Buổi chiều, vào 14 giờ, cũng những thủ tục ấy diễn lại cho lần xuất trại thứ hai của tù nhân và trở về vào 17 giờ. Chúng tôi làm việc như vậy sáu ngày trong tuần; ngày chúa nhật dành để giặt giũ, khâu vá quần áo cũng như dọn dẹp đồ đạc và quét dọn thu vén nhà cửa.

Ngoại trừ nghề đan lát ít mệt nhọc, công việc trong những đội khác thật kiệt sức vì dụng cụ quá cổ xưa.

Thợ mộc chỉ có những dụng cụ thủ công chế tạo bằng tiểu công nghệ, ngay đến cả việc xẻ những thân cây lớn thành ván, người ta còn dùng những lưỡi cưa lớn mà hai hoặc ba người luân phiên nhau kéo, hai người đứng dưới đất, người thứ ba đứng trên thân cây được giữ nghiêng với mặt đất bằng những cây chống, công việc này thật nặng nhọc, người cưa cây phải thường xuyên thay phiên nhau. Những đồ chế tạo có phẩm chất xấu: ghế đẩu, ghế dựa, bàn, ghế dài, kệ tủ được dùng ngay trong trại hoặc bán cho trường học, xưởng hay hợp tác xã quốc doanh ở trong vùng.

Thợ rèn sử dụng phần lớn thì giờ của họ để dùng búa đập bẹp những tấm tôn gợn sóng, làm thành những xô, những thùng lớn nhỏ để chứa hoặc chuyền nước đi; họ cũng chế tạo đinh sắt, từ những giây kẽm gai họ bắt đầu tháo gỡ những gai nhọn đi, sau đó tách rời những sợi dây ra, đập cho thẳng bằng búa, rồi họ bỏ những giây này vào máy cán bằng bàn đạp để làm thành những cái đinh.

Phần tế nhị nhất của việc chế tạo gạch ngói là khi chất gạch hoặc ngói vào lò để nung và việc canh độ nung. Trước khi chúng tôi đến, trại đã bắt đầu việc chế tạo này, người ta phải thuê một người làm gạch hạng ‘thầy’ trong vòng hơn một năm để dạy nghề cho ‘tù thường phạm’. Khi các bạn tù nhân chính trị chúng tôi đến làm việc ở lò gạch, hai tù thường phạm ở lại phụ trách kỹ thuật và điều khiển việc làm của họ. Các bạn chúng tôi có nhiệm vụ đào sâu đất để lấy đất sét lên, nhào nắn nó, rồi cho vào khuôn làm thành những viên gạch ướt, rồi phơi ra nắng trước khi bê chúng vào lò và xếp chúng theo lời chỉ dẫn của chuyên viên thường phạm. Đào đất thật là nặng nhọc vì chỉ thuần làm bằng cuốc và bằng mai. Những di chuyển gạch trước và sau khi nung cũng làm kiệt sức vì hoặc họ bê bằng hai tay từng đống gạch cấn vào trước ngực, hoặc trên cáng bằng tre đan.

Nhưng nặng nhọc nhất là công việc của những người làm ruộng. Dụng cụ làm việc duy nhất của họ là cái cuốc, vì hai con trâu của trại đã chết lạnh trong mùa đông trước. Đó là hai con trâu mà chúng tôi đã ăn da. Mùa hè, đất nứt vì nắng, cứng như đá; mùa đông sau những trận mưa lụt, người ta lội bì bõm, có khi tới háng trong bùn lầy mà đỉa bơi lội xung quanh. Các bạn chúng tôi bị ám ảnh bởi sợ đỉa chui vào hậu môn hay đường tiểu. Tuy nhiên trong suốt thời gian làm việc ở bệnh xá, tôi chưa thấy trường hợp nào như vậy cả nhưng nhiều tù nhân đã bị đỉa cắn chung quanh hậu môn hay ở chỗ đường tiểu . Họ đã bắt đỉa vất đi, nhưng máu vẫn còn chảy khá lâu, và điều này làm họ rất sợ hãi.

Còn về nghề đan lát của chúng tôi, thật là ít mệt. Trong nhóm tôi có một nghị viên hội đồng tỉnh biết nghề đan lát và anh ấy được chỉ định làm huấn luyện viên. Cái khó nhất trong nghề thủ công này, không phải là việc đan mà là việc chế tạo những que thật nhỏ hay là những nan (lát) thật mỏng dùng để đan; tre còn tươi, trước hết được cắt thành những khúc dài theo nhu cầu rồi chẻ ra từng thanh dài. Phải làm được những que nhỏ và mỏng nhưng không gẫy khi đan lát. Công việc thật tỉ mỉ, dùng con dao thật sắc, phải khéo léo và thận trọng nếu không sẽ bị đứt tay dễ dàng.

Sự thay đổi hoạt động này, cho chúng tôi có dịp tiếp giáp với thế giới bên ngoài thường xuyên hơn, đem lại nhiều hậu quả trên đời sống tù khổ sai của chúng tôi.

Vừa mới bắt đầu làm việc ở đồng ruộng, ở xưởng hay công trường, nghĩa là ra khỏi khuôn viên nhà tù chừng gần một tuần, thì một buổi sáng ngay sau khi điểm danh xong, quản giáo ra lệnh cho chúng tôi trở về phòng và trở ra với tất cả túi, xách đựng đồ dùng cá nhân. Với một người cai tù phụ lực nữa, anh ta khám xét tỉ mỉ căn phòng, nhìn kỹ dưới chỗ nằm cũng như kệ trên đầu, sau đó anh ta bảo chúng tôi mở túi bị ra để kiểm soát đồ dùng ở trong; tất cả đồ vật kim loại hơi sắc hay nhọn một chút xíu đều bị tịch thu. Thật là khó lòng thuyết phục họ để lại cho chúng tôi dao cạo râu an toàn (loại lưỡi gillette), còn về phần những hộp bằng sắt trắng, như những hộp bánh bít-quy rỗng dùng để cất xếp các đồ lặt vặt thì có người gác dung thứ, có người tịch thu; cũng thế đối với những khúc dây thép hay dây điện mà chúng tôi đã nhặt được, vì đó là thói quen của tù nhân ở khắp nơi, thu lượm để phòng cho những nhu cầu bất chợt. Sự kiểm soát này sau đó tái diễn mỗi hai hay ba tháng.

Một hậu quả khác: sự cô lập nghiêm ngặt mà chúng tôi phải chịu trong sáu tháng đầu được từ từ nới rộng. Tù thường phạm sửa sang hay bảo trì cho khu chúng tôi đã không còn những công an đi theo họ nữa và đã có thể trò chuyện ít nhiều với chúng tôi. Chính những cai ngục, những người không có trách nhiệm gì trực tiếp, thỉnh thoảng đến chuyện gẫu với một vài người trong nhóm chúng tôi.

Cứ như vậy cho đến một buổi xế trưa chúa nhật, trong khi nhiều người đang ngồi nói chuyện, tôi thấy một ông già nhỏ thó, mặc một chiếc áo cánh và một cái quần nâu, vào phòng với những bước chân thắc nịch, đi về phía nhóm chúng tôi và ngồi xuống không chút kiểu cách. Một vài người trong bọn chúng tôi đã biết ông ấy ở bệnh xá, chào ông ấy : “Chào bác sĩ!”. Nhưng ông ta trả lời: “Tôi không phải là bác sĩ, tôi cũng như các anh!”

“Như chúng tôi ư”. Tôi tự hỏi ông ta muốn nói gì đây Như chúng tôi, những tù nhân? Nhưng quần áo ông ấy mặc không có số và là màu nâu, trong khi áo quần của tù nhân là màu xanh thợ thuyền; và thêm nữa một tù nhân không đi lại như vậy trong trại và nhất là đột nhập vào khu của chúng tôi.

Lúc bấy giờ, chúng tôi đang nói về vấn đề nước. Nước trong bồn bơm từ một cái hồ ở bìa trại và một làng lân cận, và dân làng dùng nước ấy cho mọi chuyện.

“Chúng tôi đã bảo họ -ông ấy nói– đừng để trâu bò đến uống thẳng trong hồ, nhưng không chắc là họ nghe lời, các anh không nên uống nước này, chỉ nên uống nước trà mà người ta đem cho các anh mỗi ngày”.

Cái câu “chúng tôi đã bảo họ” này có vẻ chỉ dấu rằng ông già nhỏ thó này phải là một cán bộ của trại. ông ấy ở lại nói chuyện khá lâu và chỉ rời đi khi chúng tôi sửa soạn ăn bữa cơm chiều mà thôi. Sau khi ông ấy đi rồi, những người đã chào ông ấy bằng câu “Chào bác sĩ!”, kể rằng: chính ông ấy làm mọi việc ở bệnh xá, hỏi han bệnh nhân, thỉnh thoảng nhưng rất hiếm khi khám bệnh và phát mọi thứ thuốc. Quả thật không còn thấy cán bộ y tế như chúng tôi đã biết, nhưng thường thường có một cán bộ công an có mặt ở bệnh xá người này không khi nào can thiệp vào việc làm của ông Huệ, tên của ông già này.

Một đêm, một người bạn vốn bị bệnh suyễn, lên cơn suyễn nặng. Chúng tôi kêu cứu và gọi người lính gác đang đi tuần. Họ đến, rồi đi tìm ông Huệ. Một lúc sau ông ấy đến, ra lệnh cho người bệnh đến gần cửa sổ và qua chấn song, tiêm cho anh ấy một mũi adrénaline. Trong vài ngày, tôi tự hỏi ông Huệ là ai đây ?

“Một bác sĩ-tù nhân mà người ta đã giao phó cho phụ trách bệnh xá của trại ? Một cán bộ y tá ? Một y tá dân sự làm việc cho trại ?”

Ít lâu sau tôi có dịp biết nhiều về ông ấy. Một hôm, tôi đang ngồi đan giỏ, một cán bộ đến hỏi tôi có muốn lo việc mỗi ngày đi thu thập những lời khai bệnh của tù nhân thuộc những đội khác nhau rồi đến bệnh xá nhận thuốc cấp phát, xong trao lại cho những tù binh bệnh. Tôi vui thích nhận làm việc này, vì nó cho phép tôi, ngoài nhiều điều khác, có thể thăm viếng những phòng khác nhau và như vậy có dịp gặp người này người kia.

Những ngày đầu tôi đến bệnh xá để đưa phiếu khai bệnh của các bạn tù cho ông Huệ. Vì cán bộ y tế không phải lúc nào cũng có mặt, tôi ở lại nhìn ông ấy làm việc mà không nói gì. ông ấy đọc nhanh phiếu khai bệnh, ghi ở bên cạnh tên mỗi người những thứ thuốc chỉ định, rồi ở cuối phiếu làm tổng cộng mỗi thứ thuốc. Khi đã làm xong các phiếu, ông tổng cộng mỗi thứ rồi mở tủ ra lấy thuốc và giao cho tôi những thứ thuốc đã chỉ định. Trong một cuốn vở nhỏ, ông ấy chỉ ghi lại tổng số của những thứ đã cấp phát cho mỗi đội. Thuốc không có gì khác lạ: thuốc viên aspirine, éphédrine, chất rút từ opium (chống ho và tiêu chảy) ít khi có sulfamides hay tétracycline, những gói bicarbonate de soude. Sau đó tôi đến các đơn vị khác nhau để đưa thuốc hoặc đưa cho chính người bệnh nếu người ấy nghỉ lại ở phòng mình hoặc cho người ‘trực’ của mỗi đội.

Dần dần chúng tôi chuyện trò chút ít, ông Huệ kể cho tôi nghe là ông thiếu úy của ban y tế, người phải lo cho chúng tôi, đã thuyên chuyển qua một trại khác đông người hơn trại chúng tôi và có một cán bộ y tế thay thế anh ta; người này có học làm y tá nhãn khoa trong thời gian sáu tháng. Không biết nhiều về y học nhưng là một người mạnh thế vì cha anh là một ủy viên của ủy ban nhân dân huyện mà trại chúng ta trực thuộc còn chính anh ta là đảng viên của đảng cộng sản từ lâu rồi và là bí thư của đảng cộng sản trong tổ y khoa của trại, và với danh nghĩa này, anh ta là thượng cấp của cả người nữ bác sĩ điều khiển bệnh xá nữa. Tuy nhiên, đó là một người trung hậu đã để cho ông (ông Huệ) hoàn toàn được tự do điều hành bệnh xá của tù nhân và mỗi tháng đã ký mà không bao giờ phê bình gì cả những báo cáo của ông về sự chi dùng thuốc men hay về những đơn xin cấp thuốc cho tháng tới.

Thỉnh thoảng ông Huệ cho tôi biết nhiều điều thích thú mà từ lâu tôi đã mong muốn được biết, nhưng dù sao tôi cũng còn nghi kỵ ông ấy – vì bệnh “làm mật thám” là một căn bệnh mà chế độ cộng sản đã thành công trong việc tiêm nhiễm dân chúng , tôi không bao giờ cho phép mình hỏi ông một câu trực tiếp, mà đợi có dịp thuận tiện để gợi ra một câu trả lời. Như chuyện di chuyển của người cựu cán bộ y tế, một ngày kia tôi nói với ông là bộ Nội Vụ chắc là có nhiều trại cải tạo khác cho tù nhân chính trị, ông ấy trả lời thẳng thắn là theo cán bộ y tế, bộ Nội Vụ có tới hai mươi lăm trại tù chính trị và những trại kia có một nhân số cao hơn trại chúng tôi nhiều, khoảng một ngàn tù nhân trong mỗi trại, hầu hết đến từ miền Nam. Trại chúng tôi là trại số 1 của bộ Nội Vụ, nơi cán bộ của Bộ đến hầu như mỗi ngày để khai thác những tin tức cung cấp do việc hỏi cung các tù nhân. Đó cũng là trại mà tù nhân được đối xử đàng hoàng nhất và sau cùng đó cũng là trại người ta đem ra “trình” cho những khách được phép đến thăm viếng, nhất là những nhà báo hay công chức cao cấp của các nước xã hội chủ nghĩa anh em hay của đảng cộng sản các nước bạn. Vả lại, trại có một khu đặc biệt gọi là “khu F” trực thuộc bộ, và đối với khu này, trại chỉ có trách nhiệm cung ứng khẩu phần ăn uống và canh gác phía ngoài, tất cả còn lại thuộc quyền cán bộ của Bộ.

Vậy là tù nhân chính trị giam giữ ở những trại tập trung cải tạo bằng lao động ở miền Bắc Việt Nam và trực thuộc bộ Nội Vụ đã xấp xỉ với con số 25,000. Phần đông là thành phần dân sự: cựu công chức từ cấp trưởng phòng, chính khách, dân biểu ở nhiều cấp bậc (quốc gia, tỉnh, quận, thị xã thậm chí có những người chỉ là sở hữu chủ mà thôi (của một cơ sở thương mại quan trọng hay là giao thông) đã phản đối việc tịch thu tài sản của họ. Cũng có một số lớn quân nhân đã từng giữ một chức vụ dân sự hay từng là thành viên của một đảng chính trị, hoặc là đã bị bắt trong một lần toan vượt trốn sau tháng 4 -1975; ở đó cũng có những sĩ quan đã hưu trí mà theo quy định đã không phải ra trình diện học tập cải tạo, nhưng công an địa phương vẫn bắt giữ và gởi đi trại cải tạo ở các tỉnh. Trừ 540 tù nhân được di chuyển từ nhà ngục Thủ Đức vào tháng 8 -1976 bằng máy bay, tất cả mọi người khác đều chịu đựng cuộc hành trình ghê gớm trong những hầm chứa than của tàu hàng, trong những điều kiện so sánh được với một chuồng heo!

Còn những quân nhân bị bắt ở chiến trường hay đã trình diện học tập cải tạo, họ tùy thuộc vào bộ Quốc Phòng. Bộ này có những trại tập trung cải tạo lao động riêng trong những miền núi, gần biên giới với Trung Quốc và Lào. Rất lâu sau này, năm 1981, một người bạn tôi, cựu quân nhân từ trại tù trở về, đã cho tôi biết rằng trong những năm 1977-78, bộ Quốc Phòng đã duy trì ở miền Bắc mười lăm trại cải tạo, mỗi trại gồm có đến cả mười đơn vị phụ thuộc mà nhân số có thể lên đến năm trăm tù nhân ở mỗi đơn vị!

Khoảng hai tháng sau khi bắt đầu học tập việc đan lát đội chúng tôi được lệnh thay đổi hoạt động, từ việc sản xuất thúng rổ, bây giờ chuyển qua việc trồng trọt rau, cải. Quản giáo cắt nghĩa rằng: chúng tôi bắt buộc phải thay nghề vì lúc bấy giờ không thể nào kiếm được tre nữa. Đội chúng tôi cũng như những đội khác, mỗi sáng và xế trưa, bắt buộc phải rời khỏi khuôn viên tù nhân, đi ra một khoảng khá xa, nhưng vẫn ở trong vòng khu ngoại viên của trại. Đội phải sửa soạn một mảnh đất trồng trọt, trước hết là rau muống, rồi thì theo mùa, cần tàu, cải xanh hay là su hào. Công việc dù không nặng nhọc như làm ruộng sình lầy, nhưng rất dơ dáy và khổ cực, nhất là chúng tôi tất cả đều đã già cả, phần đông đã ngoài lục tuần. Mỗi ngày khi đi làm buổi sáng, luân phiên nhau, một người tù gánh ở hai đầu đòn gánh hai thùng nước tiểu đêm trước để tưới rau cải. Rau cải cũng được bón bằng phân của tù nhân. Mỗi buổi sáng, từ mỗi dẫy nhà, người ta đem những thùng phân đêm trước ra đặt ở một góc sân, một đội thường phạm sẽ đến lấy phân và đem ra đổ vào một chỗ chứa ở ngoài khuôn viên tù nhân trên một bãi đất hoang; các bạn tôi đến lấy phân bón, nhiều khi chỉ vài ngày sau đó thôi, lúc còn hôi thối lắm!

Nhờ vào công việc “trung gian y khoa” mà người ta giao phó cho, tôi không phải chính mình dự vào hoạt động nghề nghiệp của đội tôi. Tuy nhiên, bao lâu còn công việc đan lát, mỗi chiều tôi vẫn tiếp tục làm việc với các bạn bè vì khá thú, khi có thể chuyện trò trong lúc uốn nắn các nan tre. Nhưng một khi đội đã bắt đầu đi làm đất ở ngoài khuôn viên của tù nhân, tôi ngừng tham gia vào hoạt động nông nghiệp của đồng bạn.

—> Chương VII
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, Paul Trần Vỹ. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s