TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAM (Paul Trần Vỹ): Chương VII

Chương VII
TÀI CHÁNH CỦA NHỮNG TRẠI CẢI TẠO

Tôi đã kể lại với ông Huệ về sự thay đổi hoạt động của đội tôi và thêm rằng tôi không hiểu vì sao người ta không thể kiếm ra tre nữa, khi mà có không biết bao nhiêu tre trong vùng.

“Không phải là không có tre ở xung quanh đây, nhưng vấn đề là giá thành của rổ và giỏ quá cao , năm lần đắt hơn giá ngoài chợ. Lúc đầu người ta dùng tre của trại, nhưng bây giờ hết tre rồi nên phải mua tre của làng bên cạnh, và điều đó khá tốn kém.

– Dĩ nhiên chúng tôi mới học nghề, thúng và giỏ không được khéo lắm, nhưng mà dù sao cũng không đến nỗi không bù lại giá tre?

– Còn lương bổng? Lương bổng của những ngày làm việc của các anh?

– Lương bổng của chúng tôi ư ?

– Đúng lương bổng của trại trả cho những ngày làm việc của các anh”

Trước sự ngạc nhiên của tôi, ông ấy đã chịu khó cắt nghĩa hệ thống kinh tế của các trại tập trung dưới chế độ cộng sản: tù nhân được gởi vào các trại tập trung hay là ngục tù theo lệnh của bộ Nội Vụ hay của các Ủy Ban Hành Chánh địa phương, tỉnh hay huyện. Những cơ quan này là “sở hữu chủ” của những tù nhân này, vậy họ phải trả phí tổn ăn uống của tù nhân, với giá chính thức là mười lăm đồng cho mỗi người một tháng với quyền mua với giá chính thức mười 2 kilo gạo (hay sản phẩm thay thế gạo và 200 grammes thịt hay cá, cũng tính cho mỗi tháng. Đổi lại, trại phải trả cho cơ quan đỡ đầu này, 90% tiền lương của các tù nhân. Số 10% còn lại được coi là dùng vào việc nội dịch, không tính vào sản xuất của mỗi ngày thực sự làm việc. Do vậy mà có sự kiểm soát của một tổng giám thị, đứng gần cổng kiểm điểm số người ra ngoài làm việc, số người vắng mặt không được quá 1% nhân số. Năm 1977, số lượng được ấn định chính thức là 1,35 đồng một ngày cho mỗi người làm việc. Thường thường số tiền trại trả lại cho cơ quan đỡ đầu dư thừa bù đắp phí tổn ăn uống của tù nhân cũng như lương bổng cán bộ và của lính gác trại – càng lợi hơn khi số tù nhân càng nhiều! Tất cả các phẩm vật do tù nhân sản xuất đều được đem bán: những nông phẩm (gạo, rau cải, sản phẩm chăn nuôi được ưu tiên bán cho nhà bếp của cán bộ và nhân viên trại và nhà bếp của tù nhân phần còn lại thì ra thị trường tự do. Những sản phẩm khác (gạch, ngói, ghế, bàn, ghế dài, xoong chảo, đinh….) được bán cho các trường học, hợp tác xã quốc doanh hay cơ sở công cộng vùng lân cận, cũng như thị trường tự do.

Tiền bán sản phẩm trừ chi phí sản xuất là lợi tức. Số tiền lợi tức này được chia thành ba phần bằng nhau:

I. Phần thứ nhất trả vào ngân sách cơ quan đỡ đầu, trường hợp chúng tôi thì là bộ Nội Vụ.

2. Phần thứ hai thì về ngân sách tự trị của trại, tự trị thật tương đối vì mọi sự sử dụng đều phải được chuẩn y của thẩm quyền cấp trên.

3. Phần thứ ba dùng để tưởng thưởng nhân viên của trại. Chính một phần rất nhỏ của phần này được dùng để cải thiện bữa ăn của tù nhân trong bốn hay năm ngày lễ chính thức: ngày 1 tháng 5, ngày 2 tháng 9 và 2 ngày Tết âm lịch.

Cho đến mùa thu năm 1977, số tù nhân chính trị ở trại chứng tôi (khu 52-A) vẫn khá giới hạn, vào khoảng 250 đến 300 người. Sau đó con số này tăng nhanh, đạt đến 1300 tù nhân chính trị vào khoảng đầu năm 1979. Sự tăng trưởng nhân số của khu 52-A được bù lại bằng sự giảm số tù nhân thường phạm đã chuyển qua “một chi nhánh” cách đó khoảng sáu mươi cây số về phía Nam.

Những người đầu tiên tới là một nhóm các tướng lãnh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Họ đến từ những trại tù của bộ Quốc Phòng ở tỉnh Hoàng Liên Sưu giáp giới với Trung Quốc. Vì sự căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc, bộ Quốc Phòng trước mối đe dọa xâm lăng của Trung Quốc đã di chuyển tất cả những trại tù của họ về bộ Nội Vụ. Tôi đã không thể chứng kiến lúc họ tới, nhưng như một ngẫu nhiên, lúc bấy giờ tôi đang ở bệnh xá của trại (lúc đó chỉ có một bệnh xá duy nhất cho tất cả mọi tù nhân, chính trị và thường phạm) , bệnh xá ở ngay cạnh phòng họp, nên tôi nghe rất rõ những gì xảy ra ở đó. Người ta bắt đầu điểm danh, kêu cả họ và chức vụ của đương sự: tỉ dụ chuẩn tướng X, thiếu tướng Y v.v… Rồi có một bài diễn văn dài của ban quản đốc trại, và vài lời đáp từ của những người mới tới. Rồi người ta đem trà nước, bánh trái đãi họ … Sau đó, họ được dẫn về khu F của trại.

Trong khu F này, có ba căn nhà biệt lập, mỗi nhà có ba hay bốn phòng, mỗi phòng chứa từ bốn đến sáu tù nhân. Khẩu phần lương thực, do nhà bếp của trại cung cấp, cũng giống như của chúng tôi, nhưng họ không bị bó buộc lao động khổ sai. Trái lại, họ trải qua nhiều tháng, thậm chí nhiều năm trả lời những cuộc thẩm tra của bộ Quốc Phòng hay bộ Nội Vụ, làm báo cáo những gì họ đã làm, đã thấy hay đã nghe. Trong khu F này, không những chỉ có các tướng lãnh, họ cũng giữ ở đó những tù nhân mà cán bộ của bộ cần thẩm vấn thường xuyên. Về phần những người mà cuộc thẩm vấn thật quan trọng, thẩm vấn do cán bộ rất cao cấp của bộ thực hiện, họ sẽ bị nhốt suốt thời gian cần thiết trong xà lim của nhà ngục trung ương ở Hà Nội, tại đó khu tốt nhất là khách sạn Hilton trước đây dành cho tù binh Mỹ. Đã bị nhốt qua những năm dài trong khu F này, Trần Trung Dung nguyên tổng trưởng bộ Quốc Phòng dưới thời Ngô Đình Diệm, nguyên thượng nghị sĩ thời các tướng lãnh, còn có nhiều đại tá, giáo sư của trường đại học quân sự Đà Lạt. Nguyễn Ngọc Thúy, cựu trưởng phòng nghiên cứu và sưu tầm của cục Trung ương Tình Báo Việt Nam Cộng Hòa đã ở đó nhiều tháng.

Vài tuần sau, một đội ngũ độ 180 đại tá của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa đến. Cũng vậy họ từ những trại do bộ Quốc Phòng quản lý ở tỉnh Hoàng Liên Sơn chuyển đến vì bị đe dọa do cuộc xâm lăng của Trung Quốc.

Rồi còn những đoàn khác nữa, những cựu trung tá, cựu thiếu tá.

Vào khoảng đầu năm 1978, trước con số tăng dần của tù nhân khu A (tù nhân chính trị, tên chính thức được bộ Nội Vụ chấp thuận), ban quản đốc trại quyết định thành lập một bệnh xá riêng cho khu A. Họ cho biến đổi một dãy bốn phòng nhỏ dùng làm nhà kho cho khu F thành bệnh xá. Đó là những phòng nhỏ cỡ hai thước trên hai thước và cao độ 2m50, trần nhà bằng bê-ton tích trữ hơi nóng suốt ngày và về mùa hạ sẽ bị ngộp thở cho đến 21 hay 22 giờ. Về phía giáp giới với khu F, người ta đã mở cho mỗi phòng một cửa sổ nhỏ có song sắt, nhưng ngay tuần đầu sử dụng bệnh xá, tổng giám thị cho bít lại những cửa sổ nhỏ này bằng những tấm ván gỗ ở phía ngoài. Phía nhìn ra cái sân rộng lát gạch, mỗi phòng có một cửa sổ cũng ngăn bằng song sắt. Còn có hai cửa ra vào mở ra phía sân này. Cả bốn phòng thông với nhau bằng một khung trống không có cửa, cho phép đi từ phòng này sang phòng kia, cả sau khi cửa ngoài đã đóng lại.

Buổi sáng ngày 24 tháng 3 năm 1978, tôi được gọi lên bệnh xá, ông Huệ nói là tôi phải lập tức dọn “nhà ” tới bệnh xá mới của tù nhân chính trị. Ông ấy cũng giới thiệu Nguyễn Ngọc Thúy làm phụ tá cho tôi, và chúng tôi làm quen nhau. Thúy nói là anh ấy đã thấy tôi ở Thủ Đức rồi, sau đó anh bị chuyển qua trại ở Hà Nam Ninh, rồi qua nhà ngục Trung ương của Hà Nội, cuối cùng về khu F của trại này và từ hai tuần nay bổ sung vào đoàn thợ mộc. Chúng tôi liền trở về đội của mình để lấy đồ dùng cá nhân rồi ông Huệ dẫn chúng tôi đến bệnh xá mới. Những căn phòng đã được đặt giường rồi: một trong phòng thứ nhất, một trong phòng thứ hai, hai trong căn thứ ba, và ba trong phòng cuối cùng, cũng có thêm một chiếc ghế dựa, hai ghế đẩu và hai cái bàn. Việc xếp đặt phòng ốc đã được quyết định rồi, căn phòng thứ nhất với chiếc giường khám bệnh, bàn và ghế sẽ là văn phòng của cán bộ y tế dù anh ta chỉ đến thất thường và chỉ tạt qua một chút mà thôi; phòng thứ nhì dành cho tôi: có một giường để ngủ, một bàn và hai ghế để khám bệnh và chữa bệnh cho những người đến khám, những chiếc giường kia là của người bệnh. Thúy sẽ ngủ trên một trong những chiếc giường này, nếu tất cả mọi giường này đều có người nằm, thì Thúy phải trải qua đêm trên chiếc giường trong bàn giấy của cán bộ y tế.

Dù sao chúng tôi cũng rất hài lòng, đây là lần đầu tiên, từ gần ba năm nay, được ngủ trên một chiếc giường lát gỗ, vì ngay từ ngày đầu đi học tập cải tạo,chứng tôi luôn luôn nằm ngay trên đất hoặc trên “nệm” xi-măng. Chiếc sân lát gạch trước bệnh xá có một giàn cây bằng tre và chúng tôi định gieo vài hột bí hoặc dưa leo để các cây này phủ lá trên giàn cây và đem bóng mát lại cho sân trước. Ngay ngày hôm sau, bệnh xá bắt đầu hoạt động: mỗi buổi sáng, trừ chủ nhật, khoảng tám giờ người trực của mỗi đội đem đến cho tôi phiếu khai bệnh của đồng đội, rồi trở lại buổi xế trưa để nhận thuốc giao cho mỗi người bệnh. Những người muốn khám bệnh phải đến bệnh xá trước sáu giờ sáng, tôi khám họ, rồi họ về chỗ ở để kịp đi làm. Những người mà tôi cho nghỉ, sẽ nhận được một mảnh giấy có ghi “miễn làm việc trong ngày” và phải đem giấy trình cho quản giáo, sau đó được phép ở lại trại. Theo nguyên tắc, các chứng chỉ “nhỏ bé” cho phép nghỉ dưỡng sức này phải được cán bộ y tế cấp, nhưng vì anh ta chỉ đến làm việc trễ và nhiều khi không đến nữa, nên chứng chỉ mà tôi cấp phát này đã mặc nhiên có sự đồng ý của anh ta, số người được cho nghỉ dưỡng sức không được quá ba phần tư của một phần trăm (0.75%) nhân số.

Trong thời gian đó, tôi chỉ dẫn cho Thúy băng bó và chích thuốc dưới da vì anh không biết gì về công việc điều dưỡng của một y tá. Sự chọn Thúy làm phụ tá chăm sóc là một bất ngờ đối với tôi: quả thật, mặc dù công việc của một phụ tá đã nặng nề, anh ấy còn phải lo việc quét dọn các phòng và đi lấy nước cho bệnh xá và các người bệnh, tắm rửa cho họ, và đôi khi phải cho họ ăn nữa, tóm lại không ngừng nghỉ từ sáu giờ sáng đến 18 hoặc 19 giờ chiều. Tuy nhiên cương vị này rất được ham chuộng, vì chúng tôi không bị cán bộ hoặc lính gác thường xuyên kiểm soát, ngoài ra chúng tôi có thể đi lại khá tự do trong trại, chúng tôi không bị bó buộc đi dự những buổi đọc báo trước giờ giới nghiêm, và cả những buổi kiểm thảo và tự kiểm thảo nữa. Ở trong bọn chúng tôi có nhiều người y tá hoặc cứu thương, nhưng ban giám đốc lại chỉ định Thúy vào công việc này.

Rất mau chóng tôi hiểu được lý do vì sao: Thúy, cử nhân luật, trưởng phòng nghiên cứu và sưu tầm của cục Trung ương Tình Báo miền Nam Việt Nam là một người dễ gây được tín nhiệm và tình bạn, anh ấy thông minh, người đẹp trai, nói năng từ tốn, lễ phép cho ấn tượng là người thành thật. Khi ở khu F, anh ấy đến ông Huệ để chữa bệnh viêm ruột. Ông Huệ mau chóng mềm lòng vì sự lôi cuốn của anh và một món quà nhỏ đặc biệt trong kiện quà gia đình do vợ anh gởi từ Sài-gòn, đối với người Bắc là món xa xỉ phẩm rất ưa chuộng, một bật lửa bằng gaz, khiến anh trở thành người được ông Huệ che chở. Ông Huệ đề nghị anh làm phụ tá chữa bệnh cho bệnh xá mới, và cán bộ y tế, người không hề phản đối những đề nghị của ông Huệ, nói với giám đốc trại việc này và được ông ta chấp thuận bổ nhậm Thúy.

Về bệnh xá này, theo nguyên tắc tôi là người chịu trách nhiệm dưới sự chỉ huy của cán bộ y tế. Tuy nhiên, anh này cũng như tất cả cán bộ khác, đã được nuôi dưỡng bằng hận thù và sợ sệt “đế quốc Mỹ” và “tay sai” của họ, rất ngại liên hệ với một tù nhân chính trị, cho nên anh nhờ ông Huệ thay anh ta để kiểm soát công việc của tôi. Điều này, cũng tiện cho tôi vì ông Huệ biết nhiều về những vấn đề y khoa hơn cán bộ y tế và ngoài ra, sau một thời gian khá dài làm việc chung, chúng tôi hiểu nhau hơn và có sự tôn trọng lẫn nhau một phần nào nữa.

Nhân cách của ông Huệ, dần dần, do vài hớ hênh hay do cả vài lần tâm sự trong những giờ phút nghỉ ngơi đã thể hiện rõ ràng hơn đối với tôi, và một tù nhân cựu đại tá vừa mới tới trại, biết rõ ông ấy, đã cho tôi biết quá khứ đầy sóng gió và thú vị của ông. Ông Huệ, trước năm 1945 đã là y tá trưởng trong một huyện thuộc tỉnh Nam-định và đã là đảng viên cộng sản. Sau khi cộng sản nắm chánh quyền, ông trở thành trưởng ban an-ninh của địa phương, rồi của khu Nam Định – Ninh Bình. Với danh nghĩa này, trong những năm 1946-47, ông ấy đã tổ chức những vụ ám sát chống phá lực lượng tự vệ của Đức Giám Mục Lê Hữu Từ. Sau đó ông trở thành trưởng phòng an-ninh của Liên Khu Ba, bao gồm cả Hà Nội do quân Pháp chiếm giữ. Những năm đó, với chức vụ này, ông đã nắm quyền sinh tử đồng bào trong tay ông. Không có phán xử nào ngoài sự phán xử của ông, và ông đã không nhẹ tay tí nào. Một ngày kia, khi nói đến các bác sĩ mà tôi quen biết ở Hà Nội trước năm 1945, tôi kể đến tên bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, một bác sĩ chuyên về bệnh ngoài da và hoa liễu, ông ấy có một phòng mạch ở gần nhà trọ của tôi.. Ông Huệ nói với tôi:

“Tên đó, chút xíu nữa tôi đã làm thịt nó rồi”!

– Sao vậy, trong hoàn cảnh nào thế?

– Hồi đó ở Đồng Quan (vùng này quy tụ nhiều người đã ra khỏi Hà Nội khi chiến sự bùng nổ nhiều năm đã trở thành một trung tâm thương mại quan trọng, nhất là buôn băn những sản phẩm đưa lậu từ kinh đô ra). Trong những năm chiến tranh này, mọi người đều ăn mặc đơn giản, ít nhiều lôi thôi. Vậy mà mỗi ngày tôi thấy một người mặc áo choàng sang trọng đi qua đi lại! Cái đó làm tôi ngứa mắt và tôi tính bảo mấy đứa nhỏ của tôi (nhân viên của ông ấy) làm thịt anh này! May thay, có người nói với tôi đó là một bác sĩ, lúc bấy giờ tôi mới để anh ta yên!”

Giữa công vụ tình báo, nhất là trong thời kỳ chiến tranh, và việc buôn lậu, ở Việt Nam cũng như mọi nơi khác lúc nào cũng có những liên quan phức tạp. Ông Huệ cũng không tránh khỏi thông lệ này.

Một ngày kia, khi tôi biếu ông vài viên saccharine (đường hóa học), ông nói với tôi:

“Món saccharine quý hóa này, lúc xưa tôi đã cho giấy phép mua nó hằng ký và hằng ký! Và tôi dã không bao giờ biết là vì sao; nhiều năm sau đó, một trong những giấy phép này (dĩ nhiên là lạm dụng) đã nằm trong hồ sơ của tôi trước toà án?”

Mặc dầu với dĩ vãng kinh hoàng mà ông đã kể cho tôi, và nhiều câu chuyện khác mà ông giữ kín cho riêng mình; dầu sao ông ta cũng đã phục vụ đắc lực cho chế độ vì ông đã được “Huân Chương Hồ Chí Minh”, một trong những huân chương cao quý nhất của cộng sản Việt Nam.

Sau 1954, có lẽ vì bắt đầu thay đổi đường lối chính trị của đảng, hay chắc là vì ông Huệ đã mất đi “cái dù che chở”, nên ông mất chức Trưởng Phòng Tình Báo này, và vì nhớ rằng ông từng là y tá, người ta bổ nhiệm ông làm giám đốc trường đào tạo bác sĩ Vùng Ba Quân Sự. Nhưng mà dễ thay nghề hơn là thay thói quen! Cả đến trong chức vụ mới này, ông ấy vẫn tiếp tục lẫn lộn tiền bạc nhà nước với tiền bạc của ông. Là giám đốc thông minh, ông để cho người phụ tá, một bác sĩ y khoa, giữ mọi trách nhiệm về phần kỹ thuật, và cả hành chánh của trường và ông chỉ giữ quyền cho lệnh phòng tài chánh của trường không được chi tiêu một khoản nào mà không có chữ ký của chính ông! Ông dành thì giờ để “liên lạc ngoại giao” với những cơ quan khác ở địa phương, nơi mà ông có nhiều người quen biết cũ. Ông cũng thường tới bộ để xin tiền cho trường của ông… và dĩ nhiên là những cuộc du hành của ông là do ngân quỹ của trường đài thọ. Một hôm, thấy ống nghe của tôi mà phòng giữ đồ của trại vừa trả lại cho tôi, ông nói với tôi rằng, khi là giám đốc trường đào tạo bác sĩ ông đã nhận từ bộ y tế ba trăm ống nghe để bán lại cho sinh viên, nhưng vì học trò không có tiền để đến mua cùng một lúc với nhau, họ đến gặp ông lẻ tẻ, mỗi lần mua một hay hai ống nghe mà thôi, ông bán và cất tiền vào túi. Sau đó ông không nhớ là tiền này đã đi về đâu!

Vào đầu những năm 70, ra tòa vì phí phạm của công, biển thủ công quỹ, và lạm quyền, ông bị kết án mười ba năm tù thường phạm. Riêng tôi, tôi nghĩ trước hết đó là kết quả của sự tranh chấp giữa những phe phái trong đảng cộng Sản và trong cuộc chống đối này, những người che chở ông Huệ một lần nữa đã thua cuộc!

Nhưng dù ở trong tù đi nữa, ông Huệ vẫn còn được che chở. Ông đã chẳng là một viên chức cao cấp của Đàng, lại có một người con trai là trung tá của lực lượng công an thỉnh thoảng đến thăm ông … là gì ?

Từ đặc ân này đến đặc xá kia, người ta đã giảm sáu năm hạn tù và ông chỉ còn tất cả là bẩy năm tù, nghĩa là đến cuối năm 1979. Thiệt ra đời sống của ông cũng khá thoải mái: ông ở bệnh xá với một người tù già hầu hạ, chính thức đó là một phụ tá y khoa và làm cơm cho riêng ông; gạo và thức ăn tươi được nhà bếp tù thường phạm cung cấp và ông ăn mặc như ông muốn, thường là bộ đồ nâu, đồng phục mà trại giam phát cho mỗi tù nhân khi được thả để trên đường về nhà, dân chúng không chú ý đến họ.

Sự từng trải rộng rãi đã dạy cho ông cách đối xử với những lớp người khác nhau. Đối với giám đốc, ông luôn luôn kính trọng, dù khi vắng mặt, ông nói ông ấy là một người tử tế rộng lượng; đối với những người phó giám đốc thì ông có thái độ tôn kính, lo lắng về sức khoẻ của họ, sẵn sàng giúp đỡ họ; đối với người cán bộ y tế, ông tỏ ra là một đồng chí nhiều kinh nghiệm hơn, nhưng luôn luôn nhường bước cho thượng cấp. Ông coi những người cán bộ khác như là đồng vai vế, thường cho họ thuốc men (lấy trong kho dành cho tù nhân, 20% trị giá ngân quỹ dành cho chúng tôi dùng vào việc mua những thuốc ngoại giao này: đa sinh tố, Filatov, thuốc bổ …) nhưng không ngần ngại lấy lại khi họ thiếu lễ độ với ông. Một lần nọ, một cán bộ mới được bổ nhiệm về trại, đi xe đạp trên con đường bùn lầy sau một trận mưa; bùn này làm kẹt bánh xe, anh gọi một người tù đang đi ngang qua đó bảo anh ta gỡ bùn ra, rủi thay người tù ấy lại là ông Huệ, thì người cán bộ được nghe câu trả lời cộc lốc lớn tiếng này:”

“Đúng tôi là một tù nhân, nhưng là tù nhân của Đảng và Nhà Nước, tôi không phải là đầy tớ của anh! Hãy gở bùn với hai bàn tay của anh! Hãy học lại những điều lệ của bộ Nội Vụ!”

Người cán bộ chính trị chưa hết ngạc nhiên, thì người tù tiếp tục:

“Cả đời anh, anh đã gặp người nào được huân chương Hồ Chí Minh chưa? Hãy biết rằng, tôi có huân chương đó (ông ấy không thêm rằng người ta đã thu hồi huân chương ấy lại)”.

Rồi ông bỏ đi, cán bộ ngây ra, vì bị một tù nhân mắng chửi như vậy, không còn dám bảo người tù nào khác gỡ bùn ra khỏi bánh xe nữa!

Ông Huệ không thuận với cán bộ quản lý nhà bếp thường phạm mà theo lệnh của giám đốc, phải cung ứng gạo và thức ăn tươi cho ông mỗi ngày; một lần nọ, ông đã thuyết phục được nữ cán bộ y tế của ban y tế trại bận đồng phục đến thanh tra nhà bếp và lập biên bản vì “cơ sở không sạch sẽ và thiếu vệ sinh trong việc nấu nướng cơm nước”.

Đối với tù nhân chính trị, ông đối xử như một đồng bạn, nhưng với một sự hạ cố nào đó; đối với tù thường phạm, ông ấy như một quan lớn đối với dân quê nghèo khổ, thái độ xa cách, khinh bỉ và la mắng dễ dàng!

Đối với tôi ông ấy biểu lộ một sự tôn trọng nào đó và với thời gian một tình bằng hữu nào đó, và ngược lại tôi đối với ông cũng vậy. Tôi bị lôi cuốn vì ông ấy biết rất nhiều về tù nhân và sự hoạt động của các nhà tù cộng sản, mà ông sẵn sàng cho tôi biết ít nhiều, ông không lạm dụng lòng tin của cán bộ y tế đặt vào ông để gây khó khăn cho tôi, nhưng lại dùng nó để giúp đỡ tôi và đôi lúc che chở tôi với quyền uy của ông ấy. Một ít lâu sau khi tôi đến ở bệnh xá mới, một đêm có một nữ cán bộ gọi tôi qua cửa sổ và bảo tôi đưa vài viên tétracycline cho con chị bệnh, vì bệnh xá của nhân viên đã đóng cửa. Tôi trả lời là tôi không thi hành được khi không có giấy phép của cán bộ y tế, nhưng chị ấy nói là chỉ mượn đỡ thôi và sáng mai chị ấy sẽ nói với cán bộ y tế của tôi. Chị ấy nài nỉ đến nỗi cuối cùng tôi phải đưa vài viên thuốc cho con của chị. Ngày hôm sau, tôi báo cáo lại cho cán bộ y tế, anh ta cười nói là đáng lẽ tôi không nên cho chị ấy thuốc như thế! Nhưng không dễ gì mà từ chối như vậy; tôi bèn kể vụ này cho ông Huệ nghe. Ông ta khuyên tôi lần tới có xảy ra như thế nữa, hãy trả lời rằng: “chìa khóa tủ thuốc do ông Huệ giữ!” Cái mẹo này tỏ ra thiệt hiệu nghiệm!

Trên mặt nghề nghiệp, lòng tín nhiệm của ông Huệ với tôi tăng lên thấy rõ từ ngày mà trước sự hiện diện của ông, tôi đã chẩn đoán một chứng bệnh tràn màng phổi, có thể là nung mủ, và liền đó chứng minh bằng cách chích và hút để thăm dò mà đã rút ra cả một ống mủ. Ông ấy thích thú đến nỗi đem sự việc kể lại không những cho cán bộ y tế, và cả cho giám đốc nữa khi ông gặp vài ngày sau đó. Ngược lại, tôi nhận thấy rằng đối với một người chỉ được huấn luyện làm y tá ông ta thường chẩn đoán đúng dù chỉ hỏi bệnh nhân chứ không khám họ. Vài lần hiếm hoi mà ông khám bệnh, thì làm một cách lạ lùng; để khám bụng, năm ngón tay ông chụm lại thọc xuống bụng bệnh nhân ba hay bốn lần, lẽ dĩ nhiên người bệnh không tránh được nhăn nhó hay kêu thét lên vì đau đớn! Nhưng để trị bệnh, ông ấy biết dùng những thứ thuốc chúng tôi có và còn có những công thức thuốc đặc biệt. Một hôm tôi đến bệnh xá của ông, bệnh xá của tù thường phạm, để chuyện trò. Tôi nghe tiếng rên siết dữ dội từ phòng bên cạnh phòng khám bệnh, nơi ông Huệ ở. Lúc ấy ông nhờ tôi khám và chữa trị cho bệnh nhân này mà người ta vừa đưa đến bệnh xá của ông. Tôi khám cho bệnh nhân: đó là một người đàn ông đau mãnh hệt ở vùng thượng vị; bụng còn mềm khi tôi khám, tôi lập tức nghĩ đến một cơn đau bao tử, đúng như tiền căn do bệnh nhân thuật lại. Tôi liền chích cho người bệnh một mũi thuốc atropine, và vì 15 phút sau bệnh nhân tiếp tục rên rỉ, tôi chích thêm một mũi atropine nữa, rồi ra ngồi đợi với ông Huệ hiệu quả của thuốc. Người bệnh vẫn tiếp tục rên la mười phút nữa và không thuyên giảm.

– “Atropine của anh, không có hiệu lực! Để anh xem làm sao tôi sẽ giải quyết đây!”

Ông Huệ kêu người phụ tá già -hay người hầu làm đủ mọi việc – bảo đem đến một bát đầy nước và một muỗng muối lớn. ông bỏ muối vào nước, quậy cho tan, ròi đứng dậy và đem cho bệnh nhân uống một hơi hết tô nước. Chúng tôi trở về phòng ngồi xuống, người bệnh la càng lúc càng to hơn:

“Tôi chết tới nơi rồi! Bác sĩ ơi? Cứu tôi với, bác sĩ!”.

Tôi muốn đứng lên đi coi người bệnh. ông Huệ ngăn lại và nói:

“Hãy kiên nhẫn, đợi thêm một lúc nữa đã!”

Tiếng rên rỉ và kêu la của bệnh nhân tiếp tục mỗi úc một to hơn trong khoảng mười phút, rồi dịu dần dần. Tôi sợ bệnh nhân đã chết! Cuối cùng ông Huệ bảo tôi:

“Bây giờ nếu muốn, anh sang thăm người bệnh đi.”

Tôi vội vã đứng dậy đi qua phòng người bệnh; anh nằm bất động, nhưng khi tôi hỏi, anh ấy mấp máy nhẹ đôi môi và nói:

“Tôi đã khá hơn rồi.”

Tôi trở về bên cạnh ông Huệ và nói:

“Anh đã thành công! Nhưng đó là liều thuốc mạnh, tôi không khi nào dám dùng!

– Anh đừng quên là chúng ta đang ở trong nhà ngục! Liều thuốc của tôi hiệu nghiệm, rẻ tiền và lúc nào cũng sẵn!”

Ở bệnh xá, cùng với Thúy, tôi bắt đầu tổ chức cuộc sống hằng ngày cho khá hơn! Rất nhanh chóng, thật sự có nẩy một tình bạn; chúng tôi ăn chung, không những là đồ nhà bếp cung cấp, mà cả những miếng thịt bò khô, cá mặn phơi khô hay lạp xưởng nhận được trong những thùng quà gia đình gởi cho; mặc dầu ít ỏi về số lượng, những thứ ấy cũng đóng góp chất đạm rất hữu ích cho cơ thể. Chúng tôi cũng có phương tiện để có lửa, như vậy có thể nấu nước để pha trà, nhất là có thể nướng những hạt bo bo còn nguyên vỏ mà người ta phát cho để thay thế gạo. Một khi nướng cháy vỏ, hột bo bo thành đòn và dễ tiêu. Để nấu nước và pha trà, nhất là buổi chiều, sau khi tổng giám thị đã khóa cửa bệnh xá, tôi dùng đến một dụng cụ mà tôi đã chế biến theo kiểu mẫu tôi thấy ở nhà ông Huệ: đó là hai lưỡi dao bằng sắt không rỉ cách nhau bằng một thanh tre mỏng bề ngang năm ly dầy một ly. Mỗi lưỡi dao sắt được nối vào một giây điện, rồi để tất cả vào trong một cái cốc bằng nhựa đầy nước và cho dòng điện chạy qua. Nước càng lúc càng nóng và sau vài phút chúng tôi có nước sôi (thực ra đó là hiện tượng thủy điện-phân!). Tôi dùng hai lưỡi dao cạo Gillette thay thế hai lưỡi dao sắt không rỉ, giây điện thì do người tù thường phạm có trách nhiệm duy trì hệ thống điện và phát điện của trại cho tôi. Anh này là một kỹ sư điện, quê ở Thanh-hóa (Bắc Việt Nam được đào tạo ở Tiệp Khắc; anh kể cho tôi nghe rằng năm 1975 anh tiếp thu nhà máy điện Sai gon, nhưng theo lời ông Huệ, anh đã vét sạch đồ trong kho nhà máy. Bởi vậy anh đã lãnh sáu năm tù!

Trước bệnh xá, giàn tre đã bắt đầu được những lá dưa leo và lá bí bao phủ và vào lúc xế trưa, lúc trời nóng không chịu được ở trong phòng, chúng tôi ra ngoài sân có ít nhiều bóng mát để làm việc, thật là dễ chịu! Thúy mỗi ngày phải nhiều lần tới nhà bếp để nấu sôi xoong nước đựng ống chích cần được khử trùng, anh cũng thích đi một vòng vào các căn nhà khác, viện cớ đi thăm hay là đem thuốc cho người bệnh. Một ngày kia anh đã đem về những cây phòng phòng (họ cúc) còn non và trồng hai bên lề con đường dài độ năm mươi thước dẫn thẳng vào sân chúng tôi. Thúy cũng là một tay chơi phong lan, ở nhà anh có bốn mươi giống lan khác nhau , nhiều cây mua tận Bangkok. Anh kiếm đâu được hai bụi lan rửng anh làm hai cái giỏ bằng tre, bỏ lan vào đấy và treo lên giàn cây tre, gần vại nước. Mỗi ngày anh âu yếm chăm sóc lan vài tuần sau, một mầm nhỏ nhú ra: mầm lá hay là nụ hoa? Chúng tôi mỗi ngày tự hỏi thế! Một buổi sáng chúa nhật anh ấy bảo: kìa nụ hoa!Ngừng một lúc lâu, anh nói với tôi: “ngày mà những hoa này nở, tôi sẽ được thả… không, chúng ta sẽ được thả!”.

Mỗi ngày, ngay khi khóa cửa mở, Thúy chạy ra ngay với cụm lan quý của anh và ngắm nghía những cánh hoa khép kín đang lớn lên dần dần. Một buổi sáng nọ, trời mưa nhỏ trong đêm, Thúy vừa ra tới ngoài, thì tôi đã nghe anh chửi bới, thét lên những tiếng chửi thề … tôi vội vã chạy ra và thấy anh mặt tái đi nhợt nhạt và dưới đất những cánh hoa nhỏ bẹp nát, tơi tả từng mảnh nhỏ! Thúy tiếp tục chửi rủa trong nhiều phút, phỉ nhổ kẻ phá hoại đã ngắt những cánh hoa của anh! Có thể, hơn cả sự yêu hoa, anh thấy sự tàn phá này báo hiệu một điều dữ cho số phận của anh chăng? Đêm hôm trước lính gác đi tuần đã đến trú mưa dưới giàn cây của chúng tôi và một người trong bọn họ đã thấy cành lan và ngắt nó để nhìn rõ hơn! Tôi cố hết sức an ủi Thúy, nói với anh rằng bọn gác này đều là những tên phá hoại! Há anh chẳng nhớ rằng vài tuần trước đây, giám đốc trại, trong bài học cải tạo hàng tuần đã kể rằng trại trồng hơn bốn trăm cây chuối, mà trong nhiều năm, không hề bẻ được một buồng chuối nào sao? Quả thật, khi buồng chuối vừa ló ra ngoài một vài trái xanh, người ta đã ăn cắp nó ngay trong đêm. Ai có thể trộm nó trong đêm, nếu không phải là lính gác?

Tôi cũng nói với anh rằng, với một chút may mắn, anh có thể kiếm lại được vài bụi lan khác, có cả hoa nữa! Nhưng cũng phải hơn hai ngày, công việc thật là bận rộn đã giúp anh quên đi nỗi buồn!

Về công việc, quả thật chúng tôi có nhiều việc làm lắm! Thức dậy từ 5g30 sáng vào bất cứ mùa nào, chúng tôi làm việc hầu như không ngừng cho đến 4g30 hay 5g00 chiều!

Về phần tôi, ngay khi tổng giám thị mở cửa vào khoảng sáu giờ sáng, tôi liền bắt đầu khám những bệnh nhân đã đợi sẵn trong sân, vì tổng giám thị bắt đầu vòng đi mở cửa các phòng từ lúc 5g30 sáng và đến chỗ chúng tôi là chỗ cuối cùng. Tôi làm rất nhanh chóng công việc khám bệnh này, người đến khám phải trở về đội của họ trước bẩy giờ để đi làm. Tôi dành cho mình năm đến mười phút để nuốt chiếc “bánh hấp” nhỏ của bữa ăn sáng, rồi đi qua thăm những người “nằm bệnh viện” để nếu cần, chích thuốc hoặc chăm sóc khác. Khoảng tám giờ, người trực của các đội đem sổ khai bệnh đến, thường họ muốn nói với tôi vài điều, vì vậy tôi bận cho đến chín giờ, rồi tôi bắt đầu đọc các sổ bệnh và ghi theo tên từng người bệnh cách điều trị tôi phải chép lại trên một cuốn sổ của bệnh xá tất cả tên bệnh nhân, tên thuốc chữa trị, sau đó cộng lại và viết thành hai bản danh sách thuốc cần dùng trong ngày. Đó là một công việc mất nhiều thì giờ và phức tạp, có thể nhầm lẫn trong những bài toán cộng dài nhiều trang giấy. Tôi ráng làm xong trước l1g30 để ăn trưa, nhưng thường thì không kịp và phải làm tiếp sau bữa ăn; công việc của tôi thường bị cắt ngang, nhưng may thay không phải ngày nào cũng vậy, vì cán bộ y tế đến thăm và tôi phải báo cáo những người “nằm bệnh viện”, trình hồ sơ của họ cho anh ta xem, vì ít khi anh ta đòi gặp họ lắm. Đến 13g45, danh sách thuốc trong ngày làm xong, tôi ra cổng trại, chờ cán bộ y tế để xin chữ ký và anh ta dẫn tôi ra khỏi cổng để có thể đến bệnh xá của nhân viên, nơi có tủ thuốc. Trước đó, nghĩa là vào khoảng một giờ trưa, hầu như mỗi ngày, ông Huệ đến bệnh xá tôi và chúng tôi trò chuyện, về công việc, hoặc về những chuyện khác.

Tại bệnh xá nhân viên, tôi đợi nữ cán bộ y tế, dĩ nhiên giờ giấc của bà ta thất thường. Bà ta đọc kỹ danh sách tôi trình, thỉnh thoảng gạch bỏ những tên thuốc mà bà ta bảo là kho trữ đã cạn rồi, xong mở tủ thuốc ra và đếm các thứ thuốc từng viên một. Sau đó bà bảo tôi ký trên bản danh sách thuốc mà tôi đã đưa cho bà, xong bà đưa thuốc cho tôi. Để trở về trại tù nhân, tôi phải trình diện trong tư thế “nghiêm” trước người lính gác cổng, rồi xin phép anh ta được qua cổng vào; tôi về bệnh xá khoảng bốn giờ chiều. Những người trực của các đội đã có mặt ở đó rồi, tôi trả cho mỗi người cuốn sổ khai bệnh của đội họ, rồi giao cho họ những thứ thuốc mà tôi đã ghi theo tên bệnh nhân. Công việc chạp phô buồn chán này nhiều khi kéo dài cả một giờ đồng hồ. Nhưng thời gian còn lại sau đó cho tới giờ khóa cửa, đối với Thúy và tôi là thời gian dễ chịu nhất trong ngày. Công việc làm đã xong, chúng tôi đợi bữa cơm chiều tới mà chúng tôi có thể ăn ngay hay để lại trễ hơn khi đã bị “nhốt” trong bệnh xá. Lúc này chúng tôi ngồi trên chiếc chiếu trải dưới đất dưới giàn cây hoa để nói về những chuyện vừa xẩy ra trong ngày hay gợi lại kỷ niệm xa xưa. Ông Huệ cũng thường đến gặp, chúng tôi nấu một xoong nước để pha vài chén trà, với những nụ trà nhận được của gia đình hay là chính ông Huệ đem tới. Chúng tôi chuyện trò đủ thứ, về công việc làm cũng như những ưu tư ….

Không có những giây phút xả hơi xế chiều như thế trong những ngày đầu tháng. Vì thời gian đó tôi đã phải, trong vòng nhiều ngày, thức đến 21 hay 22 giờ để làm kế toán vật liệu và tài chánh thuốc men tiêu thụ trong bệnh xá. Đó là một công việc rất lâu và chán ngắt, trước hết phải làm tổng số mỗi thứ thuốc đã dùng trong tháng vừa qua; dịp này, tôi đã nhận thấy rằng khi người ta không có máy tính, bài toán cộng là một bài toán khó nhất khi phải cộng ba bốn chục con số, sau đó tôi phải tính phí tổn của những thứ thuốc này theo giá chính thức. Giá này tương đối thấp cho những thứ “thuốc thật”; ví dụ những giá như sau:

Aspirine, viên 0,30 g

0,015 đồng

Tétracycline, viên 0,250 g

0,04 đồng

Pénicilline (chích) 500.000 đơn vị.

0,20 đồng

Streptomycine (thuốc chích) 1g

0,20 đồng

Nhưng những đồ “ngoại dược phẩm” thì tương đối đắt:

Băng vải thô, 0,05m x 2m

0,10 đồng

Rượu cồn 90 độ, một lít

10,00 đồng

Ngân sách trợ cấp cho bệnh xá trong năm 1979 là 0,50 đồng cho mỗi người tù một tháng. Nhưng theo lời yêu cầu của ông Huệ, để cho sự hoạt động của bệnh xá được tốt đẹp, cần phải 20% ngân quỹ này mua những thuốc “quý ” như đa sinh tố, thuốc bổ nước, filatov (thuốc uống và thuốc chích dành cho những cán bộ mà đáng lẽ phải được chính thức điều trị tại bệnh xá của nhân viên.

Mỗi tháng, mọi chi tiêu, kể cả số 20% này, chỉ được đạt tới khoảng từ 80% đến 95% ngân sách trợ cấp. Điều làm tôi lo âu nhiều nhất, là làm sao phân phối những “món thuốc ngoại giao” này, trong khi không thể ghi tên những người thụ hưởng trong sổ của tôi! Lúc đầu, tôi sửa, tôi xóa, tôi gạch bỏ và cuốn sổ biến thành những cuốn vở nháp. Tôi nói với ông Huệ việc này.

“Đừng sửa gì cả, đừng bỏ gì cả,

– ông Huệ nói với tôi như vậy- “

hãy giữ sổ sách của anh y nguyên, nhưng đơn giản thôi, khi làm tổng cộng, hãy để con số nào anh thấy hợp lý. Không ai chịu khó nhức đầu đề kiểm soát toán cộng của anh đâu!”

May thay, không phải ngày nào cũng là ngày đầu tháng! Thường thường chính vào những giây phút thanh thản sau khi rất bận rộn, mà tôi đã nói với ông Huệ về những vấn đề làm tôi ưu tư. Một ngày nọ, lúc ấy vào khoảng cuối tháng 5 năm 1978, tôi nhớ rằng chúng tôi đã bị giam giữ gần ba năm rồi, và trong quyết định mà người ta đã đọc cho nghe trước khi di chuyển chúng tôi về miền Bắc Việt Nam, rằng chúng tôi bị kết án ba năm học tập cải tạo trong một trại tập trung. Lúc bấy giờ tôi nói với ông Huệ:

“Tôi hy vọng rằng chúng tôi sắp sửa được thả rồi! Có lẽ trong một tháng nữa! Chúng tôi đã bị kết án ba năm tù và 17 tháng 6 tới, sẽ đúng ba năm bị nhốt!

– Ba năm hả! Đó chỉ là một cách nói mà thôi! Đối với những người P.C.M (chữ tắt của Phản Cách Mạng, tội danh chính thức của tù nhân chính trị, thì không có kỳ hạn. Sau ba năm này, sẽ tới ba năm khác… rồi lại ba năm khác nữa… Không có thời hạn. Đây nhé, trong trại này có một thiếu úy bị bắt trên đường đi Hoà Bình vào năm 1954; anh mới được thả cách đây không đầy hai năm, mà không phải để về nhà, mà là để nhập vào một công trường lục lộ. Anh ấy, anh chỉ là một thiếu úy, trong khi các anh… những đại tá, những tướng, những bộ trưởng… Việc trả tự do cho các anh … hãy còn lâu lắm!”

Ông ấy ngừng lại một chốc, rồi nói tiếp:

“Có những kẻ đã kiếm ra một phương tiện tài tình để loại bỏ nhãn hiệu Phản Cách Mạng này trong tù, họ gây gổ với tù nhân khác, đánh cho đến gây thương tích nặng những người này. Lúc ấy họ bị đưa ra tòa xử và tòa kết án họ bốn hay năm năm tù thường phạm, người ta chuyển họ qua đó, và sau thời gian ở tù họ được thả ra”.

Lúc đứng dậy, ông nói thêm như để an ủi chúng tôi:

 

“Tôi nói với các anh các điều này, vì thường thường xảy ra như vậy, nhưng cũng có những ngoại lệ… và hơn nữa anh thiếu úy này đã theo Pháp, trong khi các anh các anh lại theo Mỹ, có thể là chuyện sẽ xảy ra cách khác! Dù sao đi nữa, các anh cũng biết rằng trong tù, điều cần thiết là sống còn và sớm muộn gì, họ cũng phải thả các anh ra. Đừng tuyệt vọngl”

Chúng tôi choáng váng, cả Thúy lẫn tôi đều không thốt ra được lời nào. Tôi cố gắng giữ cho mình một thái độ bình tĩnh bằng cách uống vài ngụm trà. Nhưng trà sao mà đắng thế! Đắng hơn mật gấu! Tôi tự hỏi: “họ có còn là người nữa chăng, những người cai trị miền Bắc Việt Nam đã công bố những bản án, lừa dối tù nhân như thế?

Đối với tôi chưa bao giờ cơm lại nhạt như thế như vào buổi xế trưa đó, và một khi cửa đã khoá kín, mỗi người đều đi nằm, nhưng không phải để ngủ. Tôi bắt đầu cầu nguyện, cầu nguyện thật nhiều, và suy nghĩ về những gì ông Huệ đã nói với tôi sau cùng. Thật sự đã có khác biệt giữa trường hợp của người thiếu úy này và của chúng tôi, anh ấy hành động lẻ loi hay là thành phần của một nhóm nhỏ, trong lúc ấy chúng tôi gồm cả nhiều trăm ngàn người, thế giới biết rằng Việt Cộng vi phạm hiệp định Paris, họ đã giữ chúng tôi làm tù gần ba năm và người Mỹ vì lợi ích của chính sách ngoại giao của họ ở Đông Nam Á cần kiếm cách làm áp lực với Việt Cộng?… Nhưng bây giờ họ còn những phương tiện gì nữa, trong lúc họ đã rút quyền phủ quyết của họ ở Liên Hiệp Quốc .

Vài ngày sau đó, trước sự im lặng của Việt Cộng lúc gần đến kỳ hạn bản án của chúng tôi, Thúy và tôi, chúng tôi nhận thức rằng họ không dám tin vào họ, như chúng tôi tưởng. Trong các đội, quản giáo nhận được lệnh tổ chức các buổi học để giải thích, nghĩa là để biện minh việc lưu giữ chúng tôi thêm. Biện minh, có nghĩa là họ không được yên ổn lương tâm! Nhưng họ có chăng một lương tâm với ý nghĩa đạo đức của nó? Chắc chắn là không! Đúng là lối biện chứng của họ cho thấy một cái gì đó không đúng lắm.

Về những buổi họp giải thích này, tôi phải tham dự trong phiên của đội nhà bếp, vì nhân viên của bệnh xá thuộc vào đội này theo hệ thống tổ chức quản giáo; cán bộ cắt nghĩa rằng chúng tôi không phải là những tù nhân “thường”, mà là những tù nhân cải tạo và vì việc học tập cải tạo này chưa kết thúc, lẽ ra chúng tôi phải mong muốn ở lại nữa để hoàn chỉnh việc học. Rồi anh ta bắt đầu kêu gọi chúng tôi phải tôn trọng hơn những điều lệ của trại, phải làm việc hăng say hơn … và để hoàn toàn là người cộng sản, anh ta nói thêm:

“Các anh đừng mất thời giờ cầu nguyện, để xin Chúa trả lại tự do cho các anh, vì có phải Chúa ký lệnh trả tự do hay không? Không! Chính là những cán bộ cao cấp của bộ Nội Vụ ra lệnh theo lời đề nghị của giám đốc chúng ta!”

Không có ai lên tiếng phản đối anh ta, vì chúng tôi tất cả đều hèn nhát. Tôi cũng vậy, tôi đã nín thinh, tôi chỉ mong có một điều: là buổi họp chấm dứt nhanh chóng! Nhưng cũng có vài bạn đứng dậy để biểu lộ … tán thành sự biện luận hữu lý của cán bộ và sự gia hạn thời gian cải tạo. Can đảm hay hèn nhát quá đỗi?

Giống hệt như thế trong tất cả các đội, theo lời những người trực nói với tôi ngày hôm sau khi họ đến nhận thuốc ở bệnh xá: cùng những lời giải thích ấy, cũng sự im lặng ấy, cũng sự tán thành ấy của những kẻ cộng tác. Còn những người phản đối, đã không có đến 50, cũng không có đến 45, cũng không có bốn mươi, cũng không có ba mươi, cũng không có hai mươi, cũng không có mười, chẳng có đến một người nữa! Việc kéo dài giam giữ chúng tôi, “họ” không dùng nghị quyết cũng không bằng một tuyên bố ít nhiều chính thức, nhưng một cách âm thầm: họ chỉ quên thả chúng tôi mà thôi.

Cuộc sống vẫn tiếp diễn: Thúy và tôi cố gắng tổ chức thật tốt đẹp kiếp sống thường nhật của tù nhân được ít nhiều biệt đãi! Vào những ngày cuối tháng năm, trại chúng tôi tiếp một số sinh viên sĩ quan của công an đến thực tập. Hai người được bổ vào đội chúng tôi và một người thường ở lại bệnh xá trò chuyện thường xuyên với Thúy. Hai người có vẻ tâm đầu ý hiệp lắm. Một buổi xế chiều, khi chúng tôi trò chuyện với ông Huệ, Thúy nói với chúng tôi rằng người sinh viên sĩ quan trẻ ấy rất thân thiện với anh và đã nói rằng anh ta coi anh không phải như một người tù, mà là “một người bạn tốt như người ta thường gặp trong một cuộc du hành”

“Anh tin như thế à?”

Ông Huệ bèn hỏi

. “Anh nên biết rằng trong những trường đào tạo sĩ quan công an này, mỗi ngày người ta dạy cho họ là những kẻ thù phải ghét nhất, trước hết là những tên đế quốc, sau là những tù nhân và đặc biệt nhất là những tù nhân P.C.M. (Phản Cách Mạng)”

Khi ông Huệ đi rồi, chúng tôi bàn lại về “bài học” này, bằng cách lưu ý đến khoảng cách mà người cán bộ y tế luôn luôn giữ đối với chúng tôi. Tôi nói với Thúy:

“Các cán bộ coi tù nhân thường phạm như là cục phân; còn chúng ta, những tù nhân chính trị như là vi khuẩn nguy hiểm; nếu cần người ta dẫm lên phân, còn vi khuẩn thì không khi nào đến gần!”

Một buổi sáng nọ, khoảng đầu tháng bẩy, phó giám đốc hành chánh đến bệnh xá sớm và lập tức cùng với Thúy đóng cửa ở trong bàn giấy của cán bộ y tế. Vì thấy họ ở lâu trong đó, tôi lo sợ một điều gì không hay xảy ra cho chúng tôi! Chỉ sau hơn hai giờ, lúc bữa cơm sáng đã dọn đến, phó giám đốc mới ra đi, và Thúy buồn bã đến nói với tôi:

“Tôi sắp phải xa anh, rất gần đây!

– Khi nào? Vì sao ?

– Có lẽ ngay xế trưa này!”

Và anh kể cho tôi nghe rằng phó giám đốc đã để cả buổi sáng để cố gắng thuyết phục anh nên rời bệnh xá, vì quyền lợi của anh, để đi học một nghề khác có ích lợi cho tương lai của anh! Ông ta nói ở đây không đủ kỹ thuật để anh học nghề y tá, và nghề này hiện nay không đủ nuôi sống một người mới vào nghề vì đã có nhiều người làm rồi, và anh cần chọn một nghề khác; trong trại này, thì có thể là nghề mộc hay nghề thợ rèn.

Hình như phó giám đốc có ý gì khác trong đầu, bởi vậy ông nói đi nói lại chỉ một chuyện đó mà thôi. Cuối cùng, Thúy hiểu dù sao đi nữa anh cũng không thể ở lại bệnh xá, và anh đã chọn trở về đội thợ mộc cũ của anh. Phó giám đốc, lúc từ giã anh, hứa là sẽ đưa anh về nhiệm sở mới vào lúc xế trưa.

Chúng tôi nuốt “ca” cơm trong im lặng, rồi Thúy đi sửa soạn túi, bị của anh, trong khi tôi vội vã làm cho xong phiếu xin thuốc trong ngày, vì Thúy vắng mặt trong cả buổi sáng, tôi có thêm nhiều việc, nên trễ công chuyện thường ngày. Trước hai giờ chiều một chút, tôi chào từ biệt Thúy, chúng tôi ôm nhau và cố gắng nói đùa để che giấu cảm xúc, và tôi đi liền gặp cán bộ y tế để anh ta ký các phiếu xỉn thuốc. Tôi báo cho anh ta tin Thúy ra đi. Anh chưa biết gì cả. Sau đó tôi đến bệnh xá nhân viên để lãnh thuốc.

Lúc tôi trở về, Thúy không còn ở đó nữa! Khoảng năm giờ chiều, ông Huệ đến, tôi tin cho ông biết sự ra đi gấp rút của Thúy; ông ấy rất ngạc nhiên, tỏ vẻ lo lắng, rồi bỏ đi ngay và hứa với tôi là ông sẽ tìm hiểu lý do thật của sự chuyển trại này.

Lúc 06 giờ 30 chiều, tổng giám thị khi đến khóa cửa, có dẫn theo một tù nhân (chính trị) mà tôi không quen, và nói với tôi đó là người phụ y tá mới. Tôi chưa khi nào thấy người đàn ông này, nhưng ít lâu sau, người ấy cho tôi biết anh ta là một cựu du kích quận thuộc tỉnh Long An (cách Sai gon độ bốn mươi cây số về phía tây nam) , anh ta đã về hồi chánh Chánh Phủ Quốc Gia năm 1972. Chính vì lý do này mà anh đã bị bắt cuối năm 1975, và gởi đi học tập cải tạo và chuyển ra trại chúng tôi cuối năm 1976.

Ngày hôm sau, ông Huệ kể cho tôi nghe lý do thật sự vì sao Thúy bị thuyên chuyển. Như cán bộ cho ông biết, đó là một lệnh từ bộ Nội Vụ đến. Việc bổ nhiệm Thúy về bệnh xá chỉ được bộ biết khi đọc báo cáo lục cá nguyệt của giám đốc về hoạt động của trại chúng tôi. Các cán bộ của Bộ thấy sự bổ nhiệm này là nguy hiểm, vì Thúy vốn là một cựu công chức cao cấp của Cục Trung Ương Tình Báo miền Nam Việt Nam, khi làm phụ y tá, có thể liên lạc dễ dàng với những tù nhân khác.

—> Chương VIII
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, Paul Trần Vỹ. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s