TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAM (Paul Trần Vỹ): Chương X

Chương X
TÔI ĐƯỢC THẢ

Đến ga Hà Nội, tôi được biết chỉ có thể có chỗ trên xe lửa đi về Saigon ba ngày sau đó thôi. Tôi bèn đến nhà người bà con bên vợ, người ta nhận tôi ở trọ sau khi thấy là tôi hợp lệ với chánh quyền; và chị ấy đi báo chính thức với cơ quan an ninh phường về sự có mặt của tôi.

Đáng lẽ tôi muốn dành cả ngày đầu được tự do để đi thăm thành phố mà tôi đã sống mười năm của tuổi trẻ; nhưng trước hết tôi phải viếng “lăng Bác”, một “bổn phận” do người bà con đề nghị mà tôi không dám từ chối! Cái lăng này, một khối đá to bằng cẩm thạch đen, hai bên có hai khối đá hình hộp khác thấp hơn, không có gì đặc biệt mỹ thuật cả, nhưng có cả một cái đuôi dài xếp hàng đứng đó từ sáu giờ sáng: đó là những đoàn đại diện các “tổ chức yêu nước” hay là những cơ quan nhà nước từ các tỉnh tới. Trong lăng, bác Hồ trong y phục Mao, mặt rạng rỡ khỏe mạnh nhờ phấn sáp của mấy người ướp xác, nằm bình thản trong cái quách bằng kính, có mấy sĩ quan mặc đại phục canh gác. Điều đáng kể đối với tôi, và theo tôi nghĩ cũng như đối với nhiều người đến viếng khác – nhìn qua sự hấp tấp của họ – là khúc bánh mì có jambon hay pâté mà chúng tôi được phép mua theo giá chính thức sau cuộc viếng thăm.

Vòng dạo phố cũng làm tôi thất vọng nhiều. Đâu rồi phố Hàng Đào, phố Hàng Bông, đầy dẫy cửa hiệu tràn ngập hàng hóa và tấp nập người đi lại. Đâu rồi những “Grands Magasins Godard”, nơi mà sinh viên nghèo như tôi cũng vẫn đi dạo để ngắm những đồ hàng đẹp trưng bày trong tủ kính mỗi sáng chủ nhật và nhìn những người ăn mặc sang trọng? Những dẫy nhà vẫn còn đó, không có bom Mỹ nào phá cả, nhưng mà gần như trống không, chỉ còn là những mặt phố cũ kỹ, ít nhiều đổ nát với lớp vôi đã quét từ trước chiến tranh; đây đó vài cửa hiệu nghèo nàn may áo quần hay là sửa đồ điện lặt vặt. Những cửa hàng lớn Godard bảo trì tồi như thế chỉ bán những món hàng khan hiếm cho người có phiếu tiếp tế. Một khu nhỏ đặc biệt dành cho cán bộ cấp cao của đảng và nhà nước, ở đó tôi có thể thấy vài cái quạt điện, máy hút bụi và tủ lạnh!

Tôi đi về, thất vọng về buổi viếng thăm thành phố! Nếu Hà Nội, thủ đô của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, thành phố số một của đất nước mà nghèo đến thế, thiếu thốn đủ thứ, vậy thì Sài gòn yêu dấu của tôi đã ra sao rồi? Có còn lại một chút gì của thời vàng son xưa chăng, hay nó đã thật sự biến thành thành phố Hồ Chí Minh, nghĩa là còn nghèo khó và túng quẫn hơn cả Hà Nội, thủ đô? Ngày hôm sau, tôi quyết định ở lại nhà để chờ giờ ra ga vào buổi chiều. Trong khi chờ đợi, tôi đọc vài tờ báo để ở trên bàn, vận rủi đã khiến tôi đọc nhầm số báo ngày 12 (hay 13) tháng 9 của tờ Nhân Dân, tờ báo của đảng. Tôi không tin nơi mắt mình khi tôi đọc được cái nghị định mới của bộ Giáo Dục Đại Học Cao Đẳng và Kỹ Thuật liên quan đến việc nhận vào các trường Cao Đẳng và Đại Học ở Miền Nam, trong đó quy định rằng con và cháu của cựu quân nhân và công chức của Việt Nam Cộng Hòa không được phép dự các cuộc thi tuyển nhập học.

Vậy là nghị định này đã chính thức hóa sự kỳ thị trên thực tế áp dụng từ năm 1976, khi ấy một người bạn trong trại đã kể cho tôi nghe rằng, con gái của anh ta, đậu thủ khoa ra trường Nữ Trung Học Sài gòn, đã bị từ chối không được dự cuộc thi tuyển vào đại học! Và lúc ấy tôi nhớ lại điều mà một người vợ đã kể cho chồng, một bạn đồng đội trong đội đan lát, người vợ từ Sai gon ra và được phép ở lại với anh trong vòng 24 tiếng đồng hồ ở nhà khách, chị cho chồng hay rằng ở Sàigòn,, dân chúng bị kiểm soát chặt chẽ bởi các cơ quan an ninh, rằng mỗi nhóm năm mươi gia đình có một công an khu vực, người này có thể bất cứ giờ nào, ban ngày hay ban đêm, vào nhà lục soát mọi nơi, mọi góc nhà, để kiểm soát coi những người ở trong nhà có phải là những người có tên trong hộ khẩu. Nếu có thiếu hay thừa người, chủ gia đình có cơ nguy bị đem đến trụ sở để giải thích và chịu phạt, ít thì là một món tiền phạt, nếu không thì là tù. Chị ấy cũng tâm sự với anh rằng những người được thả từ những trại cải tạo về, phải trong một hoặc hai năm trình diện mỗi tuần tại trạm an ninh của phường và thỉnh thoảng bị triệu tập trong vài ngày đến dự những buổi học tập cải tạo. Thành phố Sài gòn trở nên buồn tẻ, đường xá vắng ngắt khi trời vừa tối; những người bán hàng rong cháo hay bún, bị bắt gặp trên đường sau sáu giờ chiều, đều bị chở lên xe công an! Phần đông các tiệm đã đóng cửa và người ta không có gì để mua; mỗi năm, mỗi người lớn được phép mua bốn thước vải phẩm chất xấu, còn tham nhũng thật là khủng khiếp: chính chị đã phải đưa tiền cho trưởng phòng công an phường, rồi cho thơ ký công an quận, để được phép ra Hà Nội và chị phải biếu xén để đem thức ăn ra cho chồng mà không bị nhân viên kiểm soát kinh tế tịch thu.

Cho nên với một cảm giác lẫn lộn vui mừng – vui vì sắp được gặp lại gia đình – và lo lắng nếu không nói là âu sầu, mà tôi bước lên xe lửa, xe đi ba ngày để đưa tôi về thành phố Sài gòn cũ của tôi, để bắt đầu một giai đoạn mới của cuộc đời.

– HẾT –

LÊ THY đánh máy xong ngày 11-07-2009

<— Mục Lục

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Paul Trần Vỹ. Bookmark the permalink.