TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ TẠI VIỆT NAM (Paul Trần Vỹ)

TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ
TẠI
VIỆT NAM
(1975 – 1979)

Nguyên bản sách này viết bằng Pháp ngữ của Cố Bác Sĩ Trần Vỹ
do nhà xuất bản L’Harmattan, Paris phát hành năm 1990

Bản Việt ngữ này được thực hiện với sự cộng tác
của bà Như Nguyện năm 1998

Lê Thy đánh máy lại để phổ biến trên BVCV

tnct_front
tnct_back

Để tưởng niệm
Anh linh Trung Úy TRƯƠNG QUANG HẬU,
người đã bỏ mình vì tuyệt thực,
để phản đối việc gia hạn cuộc tù đầy của chúng tôi;

của bạn tôi là NGUYỄN NGỌC THÚY
người đã bỏ mình vì những cực hình
do cơ quan công an của Bộ Nội Vụ Hà Nội áp đặt

o O o

“Nếu không có công lý thì chính quyền nào cũng là
sự kết hợp của những phường gian ác”
(Thánh Augustin)

MỤC LỤC

Lời Tựa
(Lâm Lễ Trinh)
Lời Mở Đầu
(Tác giả: Paul Trần Vỹ)

Chương I: Trách Nhiệm Của Một Cuộc Bại Trận
Chương II: Cuộc Chiếm Đóng Của Cộng Sản
Chương III: Trại Tập Trung Long Thành
Chương IV: Nhà Tù Thủ Đức
Chương V: Trại Tập Trung 52-A
Chương VI: Cải Tạo Lao Động Cưỡng Bách
Chương VII: Tài Chánh Của Trại Cải Tạo
Chương VIII: Tù Nhân – Lính Gác Tù
Chương IX: Tù Nhân – Lòng Tin Trong Tù
Chương X: Tôi Được Thả

o O o

LỜI TỰA
ĐAU BUỒN NHỚ BẠN

Trong tủ sách tiếng Việt nói về các trại tẩy não của Cộng Sản Việt Nam sau tháng tư 1975, có khá nhiều hồi ký của các tù chính trị, phần đông thuộc giới văn nghệ sĩ và Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà. Tác phẩm tiếng Pháp rất hiếm. Quyển sách Prisonnier politique au Vietnam của P.V. Trần (bút hiệu của Bác Sĩ Trần Vỹ) do nhà xuất bản Éditions L’Harmattan ở Paris phát hành năm 1990, có đặc điểm là không phải một hồi ký hay một quyển tiểu thuyết giả tưởng. Như tác giả đã xác nhận trong lời mở đầu, tác phẩm này là “thiên phóng sự sống” của một nhân chứng và nạn nhân cộng sản, từng trải qua bốn năm trong các trại giam của chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt hơn, người viết thiên phóng sự là một nhà khoa học đã tham gia kháng chiến từ 1947 đến 1950, trong hàng ngũ Việt Minh với tư thế y sĩ trưởng của Trung Đoàn 101 tại liên khu 4 Việt Nam, sau đó qua Pháp lấy bằng Tiến Sĩ Vạn Vật học và Thạc Sĩ Y Khoa, nghiên cứu tại CNRS (Centre National De La Recherche Scientifique), rồi về Việt Nam dạy môn Sinh Lý học tại Viện Đại Học Y Khoa Saigon, trước khi tham chính thời Đệ Nhứt Cộng Hoà tại miền Nam Việt Nam trong chức vụ Bộ Trưởng Y Tế (1956-1961) và được bổ nhiệm Giám Đốc Viện Nghiên Cứu Khoa Học Việt Nam (1961-1965).

Bị gởi đi tẩy não tại Bắc Việt từ 1975 đến 1979, bác sĩ Trần Vỹ phải trải qua mười năm thủ tục hành chánh mới được xuất ngoại và định cư ở Pháp với gia đình. Không ngơi nghỉ, mặc dầu sức khoẻ yếu kém, ông đi nói chuyện nhiều nơi, ở Âu Châu và Hoa Kỳ, về thực trạng ở Việt Nam và đồng thời sáng tác. Ngoài quyển “Prisonnier politique au Vietnam”, hai tập tài liệu “Saigon duới ách Cộng Sản, thời kỳ 1979-1989” được Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ ấn hành năm 1993 và “Thánh Vịnh” sắp xuất bản. Bác sĩ Trần Vỹ đã qua đời ngày 25 tháng 2 năm 1994 tại Les Yvelines, Pháp, lưu lại nhiều mến tiếc trong cộng đồng. Nay để tưởng niệm nhà bác học bất khuất, Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam cho ấn hành bản tiếng Việt “Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam”. Đây là một quyết định rất hợp thời.

Tác phẩm “Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam” dài 240 trang, và gồm có 9 chương, phân tách sâu sắc một mặt trách nhiệm của sự thất bại tại Miền Nam (chương I) và mặt khác, chính sách khắc nghiệt kiểm thảo, tự kiểm thảo và giáo dục bằng lao động của Cộng Sản từ trại giam Long Thành và Thủ Đức (Nam Việt) cho đến trại 52A Hà Sơn Bình (Bắc Việt) được Bộ Nội Vụ cộng sản chọn làm trại kiểu mẫu số 1 để trưng bày mỗi khi có tổ chức ngoại quốc và báo giới quốc tế đến Việt Nam quan sát (chương II đến chưong VI). Được chỉ định phụ tá một cán bộ cộng sản coi sóc trạm y tế của khu chính trị, tác giả có dịp tiếp xúc với nhiều tù nhân và đồng thời, nhận xét về các cơ cấu, hệ thống cán bộ, tổ chức kỷ luật, tài chính trong trại v.v… Các trại viên phải đối đầu với ba mối lo hắc ám: đói, lạnh và cô đơn (chương VII và VIII). Ngoài những tình tiết cảm động về cảnh ngộ của một số tù nhân có khí phách như luật sư Trần Trung Dung, nhân viên Trung Ương Tình Báo Nguyễn Ngọc Thúy v.v.. tác giả còn kể lại tắc trách của một số tù nhân “ăng-ten và phản bội đồng đội”. Trong những giờ gần như tuyệt vọng, tác giả giữ vững đức tin nhờ cầu nguyện và lén lút rước lễ cùng một số tín hữu công giáo khác do sự móc nối kín đáo và hướng dẫn của một linh mục trại viên.

Được phóng thích ngày 11 tháng 09 năm 1979 sau 51 tháng giam cầm, Bác Sĩ Trần Vỹ đáp xe lửa về Nam trong lòng buồn vui lẫn lộn. Lạc lõng giữa một xã hội công an trị, người trí thức sa cơ này đắng cay nghĩ đến một tương lại “cá chậu chim lồng”, mỗi tuần phải trình diện tại phường trong vòng hai năm và học tập chính trị thường xuyên. Trong thế giới cộng sản, thành phần bị đảng dán cho cái nhãn hiệu “Phản Cách Mạng” đều chung một số phận: bị đặt ngoài lề xã hội, hưởng tự do tạm và đời sống đối với họ chỉ là một khám đường lớn hơn khi ra khỏi trại giam.

Hai mươi bốn năm lưu vong, đọc lại đoạn kết quyển sách “Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam” của người bạn quá vãng, lòng buồn vô hạn và đồng thời cũng tự vấn: tất cả chúng ta, bất chấp hữu hay tả khuynh, Quốc Gia hay Cộng Sản, đã rút được bài học đáng giá nào trong cuộc tương sát tương tàn vừa qua. Chừng nào đồng thuận về phương cách canh tân đất nước hiện lún sâu vào cái nhục chậm tiến? Lý do nào khiến giới trí thức Việt chưa thích nghi với trách nhiệm đưa xứ sở vùng lên? Truyền thống sĩ phu vì sao hiện vắng bóng?

Bạn Trần Vỹ quả là một tấm gương cho kẻ sĩ vì lúc sinh tiền, không mệt mỏi đấu tranh. Chưa thành công nhưng đã thành nhân. Bạn đã chiến đấu đến phút cuối cùng vì trong lòng, vẫn nuôi – như André Malraux đã nói – “chất lửa căm hờn và bất mãn”. Bạn không bao giờ thất vọng nơi tương lai của dân tộc.

Lâm Lễ Trinh
Ngày 14 tháng 07 năm 1999

o O o

LỜI MỞ ĐẦU

Tác phẩm này không phải là một tiểu thuyết, cũng không phải là một nhật ký cá nhân kể lại những ngày qua cuộc sống của một tù nhân chính trị trong những trại tập trung để “cải tạo” bằng lao động ở Việt Nam, mà là một loại phóng sự mà tôi đã cố gắng viết lại về cuộc sống của một tù nhân chính trị Việt Nam trong những trại này. Vì vậy nó chỉ phản ảnh lại những kinh nghiệm bản thân của tôi trong những trại nhất định và không phải là đời sống của tất cả những tù nhân chính trị trong mọi trại tập trung.

Một vài hoàn cảnh đã cho “phóng sự” này một tính cách đặc biệt:

– Trại 52A, nơi mà tôi đã trải qua 36 tháng trong 51 tháng tù đày, là trại số một của Bộ Nội Vụ, có nghĩa trại ấy là đối tượng được Bộ chú ý đặc biệt. Đó là trại mà người đem ra phô bày cho khách ngoại quốc thăm viếng. Những nhân viên được chọn lựa kỹ càng và hành sử thích hợp với sự đòi hỏi của Bộ. Đó là cho khách thăm viếng ngoại quốc xem mặt nạ văn minh của chế độ nhà tù Việt Nam. Cuộc sống ở các trại khác tệ hơn nhiều.

– Là một y sĩ, tôi được chỉ định điều khiển bệnh xá của trại (khu vực chính trị), điều này đem lại cho tôi một hoàn cảnh vật chất hơi ưu đãi và cho phép tôi có một hiểu biết khá hơn về guồng máy hành chánh của trại.

Ngay cả sau khi được trả tự do, “người tù chính trị” ở Việt Nam vẫn ở dưới sự kiểm soát của những cơ sở công an địa phưong. Còn đối với những tù nhân chính trị quan trọng thì có kèm theo kiểm soát trực tiếp từ các cơ quan an ninh của Bộ Nội Vụ. Vì lý do này với nguy cơ khám nhà, thường thì vào ban đêm, tôi không thể nào ghi lên giấy những điều tôi đã từng sống, thấy và nghe trong các trại, cho nên sau phải sau một vài tháng được trả tự do, tôi mới bắt đầu ghi chép những kỷ niệm mỗi buổi sáng và đem chúng ra đốt ngay chiều hôm đó. Đó là điều tôi phải làm trong suốt 10 năm, giữa lúc tôi nạp đơn rời khỏi nước và ngày tôi được chiếu khán xuất ngoại.

Trước khi vào “phóng sự”, tôi đã viết một chương vạch lại điều mà nhiều người Việt Nam quốc gia cũng như chúng tôi nghĩ về lý do của cuộc lưu trú trong những “đại học cải tạo bằng lao động” này, đại học mà không phải là “trường học” vì nhiều bạn đồng nghiệp của chúng tôi đã trải qua đến 12 hay 13 năm hay hơn thế nữa, trong cuộc sống của những người đã trưởng thành.

Paul Trần Vỹ

—> Chương I

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Paul Trần Vỹ. Bookmark the permalink.