CHIẾN-DỊCH HỒ CHÍ MINH (TS. Nguyễn Đức Phương): Phần II

cdhcm2_header

Lời tác giả : Đây là loạt bài ghi lại những sự kiện trong tháng 4/1975 dẫn đến sự sụp đổ của VNCH. Phần đầu tiên là chương cuối cùng được trích từ quyển sách “Chiến Tranh Việt Nam toàn tập” của tác giả, đã được Làng Văn xuất bản tại Canada năm 2001 (xem trang giới thiệu đính kèm). Những bài kế tiếp được viết gần đây cho ấn bản thứ nhì của quyển sách (sẽ được xuất bản). Qua đó, độc giả sẽ có một cái nhìn tổng quát khắp các mặt trận chung quanh Sài Gòn, chưa được ghi lại trước đây.

Tác giả rất mong nhận được những phản hồi từ độc giả, nhất là những độc giả ở ngay tại Sài Gòn lúc bấy giờ, hầu bổ sung thêm những chi tiết cần giữ lại cho mai hậu. Mọi liên lạc xin gửi cho tác giả theo địa chỉ điện thư sau : phuong@sky.com

Nguyễn Đức Phương, Anh quốc, mạnh xuân 2013

symbol_hoa

Quân đoàn 1 hay binh đoàn Quyết Thắng được thành lập ngày 22/10/1973 và là đơn vị đầu tiên cấp quân đoàn của quân đội CSBV. Lúc mới thành lập, quân đoàn được chỉ huy bởi (1):

  • TL/QĐ : Thiếu tướng Lê Trọng Tấn
  • Chính ủy : Thiếu tướng Lê Quang Hòa
  • Phó Tư lệnh : Đại tá Nguyễn Hòa.

Thành phần của quân đoàn lúc bấy giờ gồm có (1) :

  • Sư đoàn bộ binh 308
  • Sư đoàn bộ binh 312
  • Sư đoàn bộ binh 320B
  • Sư đoàn 367 phòng không
  • Lữ đoàn 45 pháo binh
  • Lữ đoàn 302 xe tăng thiết giáp
  • Lữ đoàn 299 công binh
  • Trung đoàn 140 thông tin
  • Tiểu đoàn trinh sát.

Đảng ủy quân đoàn gồm (1) :

  • Bí thư : Thiếu tướng Lê Quang Hòa
  • Phó Bí thư : Thiếu tướng Lê Trọng Tấn
  • Các ủy viên : Đại tá Hoàng Minh Thi, Đại tá Nguyễn Hòa, Đại tá Nguyễn Hùng Phong, Đại tá Hoàng Đan và Thượng tá Ngô Vi Thiện.

Đầu tháng 4/1975, khi đang đắp đê chống lũ tại Ninh Bình thì quân đoàn được lệnh hành quân vào miền Nam. Khi đến Đông Hà, quân đoàn theo QL-9 đi Lao Bảo, vượt biên giới Việt Lào sang Bản Đông, sử dụng hệ thống tây Trường Sơn, đi qua tỉnh Saravane rồi tiếp tục xuôi nam. Ngày 15/4, quân đoàn đến vùng ba biên giới (quân đội CS gọi là ngã ba Đông Dương), sau đó vào Plei Ku, qua Ban Mê Thuột đến Đức Lập. Điểm tập trung quân là XI (mật hiệu chỉ quận Đồng Xoài thuộc tỉnh Phước Long, vừa mới được quân đội CS chiếm ngày 6/1/1975). Ngày 20/4, các cánh quân đến Đồng Xoài, với khoảng đường hành quân dài hơn 1700 km.

BTL quân đoàn gồm :

  • TL : Thiếu tướng Nguyễn Hòa
  • Chính ủy : Thiếu tướng Hoàng Minh Thi
  • TLP kiêm TMT : Đại tá Nguyễn Thế Bôn[1].

Quân đoàn 1 tiến quân theo hai hướng. Hướng thọc sâu với mục tiêu là Bộ TTM/QLVNCH do sư đoàn 320B phụ trách trong khi hướng chia cắt sẽ đánh chiếm căn cứ Phú Lợi, thị xã Phú Cường (Thủ Dầu Một cũ), chốt chặn không cho sư đoàn 5 BB rút về Sài Gòn, là trách nhiệm của sư đoàn 312. Sư đoàn 308 ở lại miền Bắc làm nhiệm vụ trừ bị (2), xem Sơ đồ 1-2.

  • Sư đoàn 320B (TL/SĐ là Lưu Bá Xảo và Chính ủy là Đỗ Mạnh Đạo) gồm có 3 trung đoàn là trung đoàn 27 (TrĐT là Nguyễn Huy Hiệu), 48 (TrĐT là Đoàn Trưng) và 64 (3-4). Trung đoàn 27 (+) có nhiệm vụ thọc sâu đánh chiếm khu binh chủng thiết giáp, pháo binh, truyền tin, quân cụ, v.v. tại Gò Vấp. Trung đoàn 48 (+) đánh chiếm Bộ TTM. Trung đoàn 64 là lực lượng trừ bị (4).
  • Sư đoàn 312 (TL/SĐ là Nguyễn Chuông và Chính ủy là Nguyễn Văn Xuyên) gồm 3 trung đoàn (3) là trung đoàn 141, 165 (TrĐT là Trần Măng) và 209 (TrĐT là Hoàng Đình Kiếm) tấn công Bình Chuẩn, Phú Lợi, Bình Dương (5).
  • Sư đoàn phòng không 367 gồm 3 trung đoàn 230, 241 và 280 pháo phòng không với 56 đại bác 57 mm và 56 đại bác 37 mm (6).
  • Lữ đoàn xe tăng 202.
  • Lữ đoàn 45 pháo binh (7)
  • Lữ đoàn 299 công binh (8).

Lực lượng tăng phái gồm :

  • Trung đoàn 95 thuộc sư đoàn bộ binh 325, là đơn vị đã tham chiến tại Ban Mê Thuột. Sư đoàn 325 thuộc quân đoàn 2 với hai trung đoàn còn lại là 46 và 101 giữ nhiệm vụ đánh chiếm các chi khu Long Thành, Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ, cắt sông Lòng Tàu.
  • Trung đoàn đặc công 115.
  • Trung đoàn 51 ô tô vận tải.

Lực lượng chủ yếu của QLVNCH trên hướng này là sư đoàn 5 BB và thiết đoàn 1 KB. BTL/SĐ gồm có Tư lệnh là Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh phó là Đại tá Trần Văn Thoàn và TMT là Đại tá Từ Vấn. ThĐT thiết đoàn 1 là Trung tá Nguyễn Minh Tánh.

BTL/SĐ cùng với trung đoàn 8, BCH thiết đoàn 1 và hai chi đoàn 1/1 CX, 2/1 TK đóng tại căn cứ Lai Khê[2] (xem Hình 1). Trung đoàn 7 đóng tại Phước Vĩnh[3] (xem Sơ đồ 3 & Hình 2). Trung đoàn 9 đóng tại căn cứ Phú Lợi[4] (xem Hình 3-4). Ngày 29/4, một BTL nhẹ của sư đoàn 5 BB do Đại tá Thoàn chỉ huy cùng với chi đoàn 3/1 TK được di chuyển về Phú Lợi để đối phó với tình hình đang đến hồi nghiêm trọng.

Ngày 25/4, trung đoàn 280 pháo phòng không được lệnh đến bảo vệ ngầm Bầu (Bến Bàu) để bảo vệ giao thông vận chuyển trên hướng tiến công quan trọng này (9). Ngay từ khi bắt đầu cuộc hành quân, người ta có thể lưu ý quân đoàn 1 của CS đã không theo quốc lộ 13 đi qua Chơn Thành mà phải dùng đường mòn trong chiến khu Đ. Lý do đã được phó chính ủy của quân đoàn giải thích (10) :

“Hội nghị cũng bàn về hướng tiến công chủ yếu sắp tới. Có ý kiến nêu rằng, lấy đường 14[5] sẽ triển khai binh khí kỹ thuật thuận lợi vì đường này rộng, tốt. Nhưng ở phía này địch phòng thủ dày đặc, ngoài Sư đoàn 5, Thiết đoàn số 1 kỵ binh có khoảng 100 xe tăng, gần 30 khẩu pháo các loại yểm trợ, còn có trên dưới 1 vạn tên bảo an [sic] khét tiếng gian ác. Sau khi cân nhắc kỹ, chúng tôi quyết định lấy đường 16[6] làm hướng triển khai tiến công chủ yếu. Vì từ Đồng Xoài của chiến khu Đ, ta có thể tiếp cận địch nhanh hơn. Tuy nhiên ở hướng này địch bố trí lực lượng sơ sài, nhưng do đường xấu lại hẹp, công binh sẽ phải san sửa đường nhất là phải làm ngầm Bến Bầu để vượt sông Bé”.

Tối ngày 27/4, sư đoàn 312 tấn công xã Bình Cơ, nơi đóng quân của tiểu đoàn 306 ĐPQ (7). Trận chiến tại đây đã được Phó Chính ủy quân đoàn 1 kể lại (10), xem Sơ đồ 4 :

“Tối 27 tháng 4, trận đánh mở cửa do Sư đoàn 312 tiến công vào hai cứ điểm Bình Cơ và Bình Mỹ được mở đầu bằng những loạt đạn khai hỏa dữ dội của trận địa pháo 130 ly Lữ đoàn 45 đặt ở Suối Cạn, nơi Tiểu đoàn bảo an 306 bị bắn phá mạnh nhất. Khói phủ dày đặc. Chớp đạn loa lóa. Địch dựa vào hệ thống lô cốt hầm hào chống trả quyết liệt. Nhưng chỉ ít phút sau, trên làn sóng vô tuyến, chúng la ó xin chi viện gấp, rồi xin lệnh rút. 18 giờ, trận đánh mở cửa kết thúc thắng lợi. Trên tuyến đường 16, cứ điểm Bình Cơ và Bình Mỹ do tiểu đoàn bảo an ác ôn trấn giữ, được Nguyễn Văn Thiệu phong là tiểu đoàn ‘anh hùng’ bị đámh tan tác. Một đại đội ngụy và ban chỉ huy tiểu đoàn bị bắt sống”.

Phó Tư lệnh kiêm TMT quân đoàn viết với nhiều chi tiết nhưng khiến người ta khó hiểu hơn về sự ‘chống trả quyết liệt’ của tiểu đoàn 306 ĐPQ vừa được mô tả ở trên (8) :

“Trận mở cửa tiêu diệt đồn bảo an Bố Lá và Bình Cơ đã diễn ra thành công nhanh chóng ngoài dự kiến vào rạng sáng ngày 27 tháng 4. Sở dĩ thắng lợi nhanh gọn như vậy là bởi ta bố trí ‘dành cho’ mỗi đồn một tiểu đoàn kèm theo một khẩu 85 ly chi viện, bắn trực tiếp. Ta mạnh, lại đánh trận đầu, khí thế hừng hực, hai đồn như bị dội gáo nước lạnh đột ngột nên chỉ sau 8 – 10 viên từ khẩu pháo 85 ly bắn vào đã tan tành, binh lính thi nhau bỏ chạy. Hai đồn bảo an này bị tiêu diệt đã mở cửa cho việc thông suốt tuyến đường 16 đoạn từ Cống Xanh đến Tân Uyên, tạo điều kiện cho Sư đoàn 312 triển khai lực lượng đánh chiếm căn cứ Phú Lợi”.

Trung đoàn 209 thuộc sư đoàn 312 được giao nhiệm vụ chốt chặn quốc lộ 13. Tuy nhiên Đại tá Thoàn cùng với BCH nhẹ của sư đoàn 5 BB đã di chuyển từ Lai Khê về căn cứ Phú Lợi an toàn trưa ngày 29/4 (11). CS cho rằng hai tiểu đoàn 7 và 8 của trung đoàn 209 đã ngủ quên vì mệt mõi nên không thi hành được nhiệm vụ phục kích (10).

Ngày 28/4, sư đoàn 312 theo LTL-16 tiếp cận căn cứ Phú Lợi (7). Ngày 29/4, trung đoàn 165 tấn công Phú Lợi (12). Phó Chính ủy quân đoàn 1 mô tả lại trận đánh căn cứ này như sau (10):

“Đêm 29 tháng 4, Trung đoàn 165 cùng với một tiểu đoàn địa phương Bình Dương nổ súng tiến công Phú Lợi. Địch gào lên trong máy bộ đàm xin pháo bắn chi viện. Một trận mưa đạn từ các trận địa pháo địch câu tới. Ở hướng Tiểu đoàn 6 phụ trách, trận đánh diễn ra rất ác liệt, 4 xe tăng địch tiến ra cửa mở ngăn chận quân ta. Ta bắn cháy 2 xe, mở xong 10 hàng rào mìn, kẽm gai thì hết thủ pháo. Đồng chí Tích, Phó Chủ nhiệm Hậu cần phải dẫn ô tô chở đầy thủ pháo lên tận cửa mở tiếp tế cho các chiến sĩ xung kích. Khi hàng rào mở được hết cũng là lúc xe tăng bị sa lầy ở cách hàng rào hơn 1 km. Nhận rõ tính chất quan trọng của trận đánh này, các chiến sĩ bộ binh đề nghị được xung phong đánh vào căn cứ dù không có xe tăng. Nhưng đúng lúc sáng rỏ mặt người thì xe tăng ta đã khắc phục được bãi lầy, rú ga xông lên yểm trợ cho bộ binh tiến vào căn cứ Phú Lợi”.

Tuy nhiên Đại tá Thoàn hoàn toàn phủ nhận việc có chiến đấu tại căn cứ Phú Lợi. Địch quân chỉ bao vây và pháo kích cho đến khi có lệnh đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh (11).

Trên hướng thọc sâu, sư đoàn 320B đụng độ với tiểu đoàn 316 ĐPQ tại Tân Uyên (7) :

“Sư đoàn 320B tiêu diệt Tiểu đoàn bảo an 316 ở Tân Uyên, kẻ địch chống trả quyết liệt, ta bị thương vong một số và cháy hai xe tăng. Nhưng sau hai tiếng chiến đấu quân ta đã tiêu diệt gọn tiểu đoàn này, nhanh chóng thẳng tiến Sài Gòn”.

Quân đoàn 1 của CS từ Đôn Luân qua chiến khu Đ đổ ra phía nam chi khu Phú Giáo. Từ giao điểm giữa LTL-1A và LTL-16, người ta có thể đi ra quốc lộ 13 hay đi xuống Phú Cường, tỉnh lỵ của tỉnh Bình Dương. Theo kế hoạch thì sư đoàn 320B sẽ tránh đụng độ để lòn sâu xuống Phú Cường. Tuy nhiên do du kích dẫn lộn đường, sư đoàn phải đối đầu với chi khu Tân Uyên. TLP kiêm TMT của quân đoàn 1 viết (8) :

“Trên đường hành quân tiến vào Lái Thiêu, đội hình thọc sâu gặp địch cản đường nên buộc phải đánh chi khu Tân Uyên (việc đánh chi khu Tân Uyên hoàn toàn nằm ngoài kế hoạch của quân đoàn là bỏ qua Tân Uyên, không theo trục lộ chính mà băng qua rừng núi, tiến về Lái Thiêu), do phải đánh Lái Thiêu nên đội hình hành quân bị chững lại mất hai giờ đồng hồ, lại lúng túng về địa hình mới lạ, trên đường 16 địch rải nhiều mìn, phải sử dụng tù binh dẫn đường và rà phá mìn”.

Quân đội CSBV đã bỏ qua Lai Khê nơi đặt BTL sư đoàn 5 BB/QLVNCH. Những gì xảy ra tại đây sau khi Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh sư đoàn 5 BB tự sát đã được Thiết đoàn trưởng ThĐ 5 kể lại như sau (13) :

“Khi xe bắt đầu lăn xích ra khỏi cổng trại của tôi thì thấy Ðại tá Từ Vấn (Khóa 12 VBQG Ðà Lạt, gốc BÐQ, Tham Mưu Trưởng sư đoàn), Trung Tá Nguyễn Văn Khách (khóa 10 VBQG Ðà Lạt, gốc Lực Lượng Ðặc Biệt) Trưởng phòng 3 sư đoàn, Thiếu Tá Nguyễn Văn Nghĩa, Trưởng phòng 1 sư đoàn, Thiếu Tá Nguyễn Văn Hòe, Trưởng phòng 2 sư đoàn cũng vừa đến tháp tùng lên các thiết vận xa của chúng tôi. Tôi quên nói là đơn vị VC tại Bến Cát có vào hệ thống liên lạc sư đoàn đòi gặp tôi ở đầu máy nhưng tôi đã báo hiệu thính viên trả lời là tôi không có ở đây. Theo thứ tự di chuyển thì Chi đoàn 1/1 Chiến xa dẩn đầu kế đến là Bộ Chỉ Huy Thiết đoàn của tôi. Khi ra khỏi căn cứ Lai Khê tôi thấy Chi đoàn 2/1 Thiết kỵ do Ðại Úy Nguyễn Văn Thống chỉ huy (anh nầy chết trong tù mấy năm sau 1975 tôi không rõ). Ðại úy Thống vào hệ thống liên lạc hỏi tôi xem đi đâu. Tôi hỏi anh ta có muốn đi theo tôi không thì anh ta đồng ý. Tôi bảo gắn vải trắng ở đuôi ăng-ten và cho lệnh xem tôi làm gì thì anh ấy cứ làm theo.

Ðơn vị tôi ra khỏi căn cứ Lai Khê quay về hướng đông căn cứ băng đồng, chạy song song theo hướng đông quốc lộ 14. Tại vùng nầy, mới tuần trước thiết đoàn tôi hành quân tại đây tìm đỏ con mắt không thấy một tên VC nào nhưng chiều nay sao đông thế! Từ hướng đông trong khu rừng, từ hướng tây bên quốc lộ chúng tủa ra nhắm vào đoàn xe thiết giáp di chuyển tác xạ tới tấp. Cũng may là đơn vị chúng tôi cách xa tầm bắn B40 và B41 nên không có xe nào trong đoàn xe của tôi bị trúng đạn. Một điều tôi hãnh diện về đơn vị của tôi và cũng nhờ ơn trên là không có một binh sĩ nào của thiết đoàn 1 Kỵ binh tác xạ lại. Họ rất giữ đúng kỹ luật là không tác xạ bừa bãi và không có “một sự cướp cò” nào. Nếu không, có lẽ tôi khỏi đi tù và không còn để viết những dòng chữ nầy.

Ðoàn xe di chuyển được hơn 10 km thì Ðại úy Thống Chi Ðoàn Trưởng Chi đoàn 2/1 Thiết kỵ hỏi lệnh tôi thế nào khi VC chận đầu xe. Tôi nói trong máy cho anh ta biết : thôi trình diện họ đi còn tôi lên trên nầy gặp “Thằng Ba” tức Chi đoàn 3/1 Thiết kỵ (đang tăng phái cho Trung đoàn 8 BB tại Bình Dương) cũng trình diện luôn (?). Khi Chi đoàn 1/1 Chiến xa dẫn đầu đi qua cầu xã Tân Phước Khánh vừa sang được chiếc thứ 5 thì cầu sập. Lý do là cầu bằng gỗ quá yếu và chiến xa lại di chuyển nhanh qua cầu và quá gần nhau, nên sức trọng tải của cầu không chịu nổi sức nặng của chiến xa (thường lệ, gặp trường hợp này trưởng xa phải xuống xe hướng dẫn cho xe chạy chậm qua cầu từng chiếc một). Toán đã qua cầu tiếp tục di chuyển ra quốc lộ 13. Toán còn lại quay trở lại nhập chung với thiết đoàn.

Ðến cuối tháng 6 năm 1975 khi gặp tôi trong Trại 1 Cải tạo Cát Lái (Trung Tâm Huấn Luyện Quân Khuyển của QLVNCH cũ) thì anh Thượng kể lại là lúc bấy giờ anh đi ra quốc lộ 13 thì gặp đoàn chiến xa T54 đang tìm hướng về dinh Ðộc Lập và chúng đã nhờ anh chỉ đường (thành phần tiền phương của chúng là Lữ đoàn 103 Thiết giáp đã đi với Ðại tá Bùi Tín tiếp thu dinh Ðộc Lập và nhận lệnh đầu hàng). (Khi gặp lại tôi tại Virginia sau năm 1975, Thiếu tá Thượng cho biết là nhờ sự khéo léo nên anh đã gạt được chúng và thoát khỏi bị bắt trong ngày 30 tháng 4 1975. Anh đã nhờ tôi đính chính lại).

Ðoàn xe của tôi quay vòng lại vào giữa xã Tân Phước Khánh. Việt Cộng đã tiếp thu xong xã này. Cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam treo đầy trước các căn nhà và dọc theo đường. Dân chúng ùa ra đường cản đoàn xe tôi lại. Lúc đó vào khoảng 17 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tôi xuống xe thì tên chủ tịch xã tiến đến ôm chầm lấy tôi nói câu đầu tiên: “Chúng ta không ai thắng, ai bại, chỉ có đế quốc Mỹ là thua thôi! Các anh về với Cách Mạng (sic!) là có công rồi sẽ được biểu dương (lần đầu tiên tôi nghe được danh từ “biểu dương”). Cũng lần đầu tiên, tôi biết thế nào là sự xảo trá của VC. Dù chúng biết rằng chúng tôi chạy trốn, không lọt nên mới tạt vào đây, nhưng chúng đã mở cho chúng tôi một lối thoát danh dự (?) bằng cách nói câu trên để tôi an tâm và đở mất mặt! Cùng lúc đó một binh sỉ đến báo cáo là Thiếu úy Nguyễn Văn Tiền Chi Ðội Trưởng Chi đội Súng Phun Lửa, ở sau tôi hai xe, đã tử trận. Vừa nghe câu này tên chủ tịch xã liền nói: ”Anh cho tên anh ấy để ghi công vì anh ấy về với Cách Mạng mà bị hy sinh là thành liệt sĩ (thêm một từ mới) rồi! Trời! Chúng giết mà lại thành liệt sĩ của chúng?! Nhưng tôi cũng phục phương tiện liên lạc của chúng–không hiểu chúng liên lạc thế nào–mà thân phụ của Thiếu úy Tiền từ Bến Tre ngày hôm sau đã lên đến xã Tân Phước Khánh, Bình Dương để đem xác con về. Sau khi gom góp hết các súng cá nhân và các đồ dùng của chúng tôi như radio cassette, thùng đựng nước đá, v.v của tôi mà chúng bảo là của “ngụy”, chúng cho chúng tôi tự do đến nhà dân chúng gần đấy để tắm rửa với sự kiểm soát của chúng. Vì tôi là chỉ huy nên chúng chỉ để ý đến tôi thôi. Anh Tống Mạnh Hùng, Pháo Binh vì theo sát tôi nên không thoát được; Ðại Tá Tường, Thiếu Tá Hòe, Thiếu Tá Nghĩa trốn thoát; Ðại Tá Từ Vấn và Trung Tá Khách cũng trốn nhưng bị bắt lại bởi du kích tại địa phương, (những tên này lúc sáng còn là nhân dân tự vệ của Việt Nam Cộng Hòa nhưng đến chiều là du kích của Việt Cộng!). Trừ chúng tôi, các sĩ quan cấp tá ra, chúng tập trung tất cả quân nhân thuộc quyền tôi ngồi bẹp trước sân cờ của văn phòng hội đồng xã Tân Phước Khánh. Khi tôi đi ngang qua nhóm quân nhân này, có một hạ sĩ quan nói một câu tôi vẫn nhớ đến bây giờ, trong lúc đó trong tôi nổi lên niềm xúc động lẫn chua cay. Anh đó nói : ”Trung Tá, sao họ lấy súng của mình hết vậy?”. Tôi đã trả lời anh ta mà nước mắt cứ muốn trào ra : ”Mình đâu còn cần các thứ đó nữa đâu anh, hết chiến tranh rồi !”.

Dĩ nhiên với hệ thống phòng thủ diện địa của QLVNCH thì dù có lòn tránh VC cũng không thể nào đi trót lọt được. Trận đánh chi khu Tân Uyên được báo chí của CS ghi lại như sau (14), xem Sơ đồ 5 :

“Đúng 17 giờ ngày 28-4, các khẩu đội của Tiểu đoàn 12[7] bắt đầu bắn vào mục tiêu. Do có kinh nghiệm trong nhiều trận chiến đấu, nên chỉ sau hai phát đạn, các khẩu đội đã xác định được phần tử hiệu lực. Khi pháo ta phát hỏa, trận địa pháo địch ở bên kia sông Đồng Nai cũng bắt đầu phản pháo. Đại đội 85 của tiểu đoàn nhanh chóng chuyển hướng bắn kiềm chế trận địa pháo địch. Trận địa cối 120 của tiểu đoàn có điều kiện tập trung hỏa lực chi viện cho các phân đội bộ binh. Ở hướng chủ yếu, do có hỏa lực chi viện kịp thời, nên phát triển chiến đấu thuận lợi. Hướng thứ yếu, Đại đội bộ binh 2 sau khi đánh chiếm được một số mục tiêu thì bị trận địa cối của địch ngăn chận quyết liệt, không thể phát triển. Đại đội cối 120 lúc này lại chuyển hướng chi viện cho đại đội 2 bằng cách kiềm chế trận địa cối của địch. Chỉ sau ít phút tập trung hỏa lực, trận địa cối của địch đã phải im lặng. Hướng thứ yếu tận dụng cơ hội, tràn lên chia cắt địch. Đến 19 giờ 30 phút, ta hoàn toàn làm chủ quận lỵ Tân Uyên, mở thông đường 16”.

Sau khi đánh chiếm được chi khu Tân Uyên, sư đoàn 320B chia làm hai cánh. BTL quân đoàn và phần lớn sư đoàn đi theo hướng Khánh Vân – Bình Chuẩn – Búng – Lái Thiêu. Cánh thứ nhì lo gở mìn, tiếp tục di chuyển trên LTL-16 và hương lộ 314 Tân Uyên – Tân Ba – Lái Thiêu. Cả hai hướng đều bị kháng cự bởi các tiểu đoàn 312, 317 và 346 ĐPQ. Sau cùng khi đến được Lái Thiêu, trung đoàn 27 được giao nhiệm vụ tấn công.

Chi khu Dĩ An nằm giữa hai hướng tiến quân này nên CKT chi khu đã ghi lại sự kiện như sau (15) :

“Tất cả các chiến sĩ Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và Viên chức quận, xã, ấp và CBXDNT cũng như CSQG trong quận đều tuân lệnh Thượng cấp quyết ở lại cố thủ. Nhưng đến đêm 29 rạng 30 tháng 4, chúng tôi bị bỏ rơi chới với vì mất liên lạc với Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu tỉnh Biên Hòa và không biết phải nhận lệnh nơi đâu. Đông Tây Nam Bắc chẳng còn ai yểm trợ, trong khi đó chúng tôi được tin tình báo là một Trung đoàn Cộng sản BV cùng chiến xa T54 đã di chuyển từ hướng Tân Uyên tới rừng Cò Mi phía Bắc quận Dĩ An rồi dừng lại đấy. Chiều hôm đó tôi phải nhờ Pháo binh của Căn cứ TQLC bắn chận mấy trăm quả 105 và 155 ly. Vị chỉ huy căn cứ Sóng Thần giúp tôi lúc đó là Trung tá Ân và cũng là Chỉ Huy trưởng TTHL/TQLC. Vị sĩ quan trực tiếp chỉ huy các pháo đội TQLC bắn yểm trợ là Đại úy Minh TQLC, hiện ông Minh đang sống cùng gia đình tại San Jose.

Chúng tôi tiến thoái lưỡng nan, thôi đành phải liều quyết tử thủ tới đâu hay đến đó, đành phó mặc số phận cho Trời định.

Thật là một đêm hãi hùng, hồi hợp, tất cả từ quan tới lính súng chống chiến xa, súng đại liên và súng cá nhân cầm tay, thức sáng đêm chờ địch nới phòng tuyến. Tiếng súng pháo binh và đại bác của chiến xa ta và địch nổ vang dội từ hướng Hậu Nghĩa và căn cứ Sư đoàn 25 BB tại Củ Chi. Nhìn những ánh sáng hỏa châu chiếu chập chờn nơi cuối trời ở phương Tây, phương Đông và phương Bắc, và nhìn về hướng Saigon thấy ánh đèn phi cơ trực thăng lên xuống, chúng tôi đoán là Mỹ đang tiếp tục bốc người của họ di tản, anh em chúng tôi rất não lòng không biết vận mạng quận Dĩ An nói riêng và vận mạng miền Nam sẽ ra sao ? Mong chờ đến sáng rồi sẽ tính. Nhưng vào gần sáng toán quân thám thính ở tiền đồn gọi máy báo về Bộ Chỉ Huy Chi Khu là chiến xa địch đã đổi hướng bọc xa lộ vòng đai từ hướng Lái Thiêu trực chỉ Saigon”.

Lái Thiêu có trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương của sư đoàn 5 BB với 10 đại đội khóa sinh, tổng cộng khoảng 1500 người cùng với tiểu đoàn 317 ĐPQ. Ngày 28/4, tiểu đoàn 31 BĐQ được tăng phái cho chi khu Lái Thiêu.

Sáng sớm ngày 30/4, VC với một đại đội chiến xa tấn công chi khu Lái Thiêu. Một đơn vị khác cũng với chiến xa bao vây trung tâm huấn luyện. Sau khoảng vài giờ chiến đấu, VC chiếm được cả hai nơi (16). Sự thật không đúng như vậy. Một sĩ quan cơ hữu của TTHL viết (17) :

“Khoảng 10 giờ đêm ngày 29.4.1975, tôi đã nhìn thấy bộ binh và chiến xa của việt cộng đang di chuyển trên xa lộ Đại Hàn (Sài Gòn-Bình Dương). Bộ binh đi hai hàng dọc, kẹp sát lề đường, xen kẽ ở giữa là chiến xa T-54. Chúng chẳng thèm ngụy trang lá cây gì cả và đang di chuyển về hướng Sài Gòn.

Thình lình tiếng súng cối 81 ly của Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn từ phía sau lưng bắn ra để cản bước tiến của chúng. Đạn nổ bốc khói mịt mù xa lộ. Chỉ trong chốc lát, chiến xa và bộ binh việt cộng đã giàn hàng ngang tiến thẳng về phía Trung Tâm Huấn Luyện. Những khẩu phòng không trên pháo tháp chiến xa địch đang nhả đạn, bỗng dưng khựng lại. Chúng quay ngược ra xa lộ rồi tiếp tục di chuyển về hướng Sài Gòn. Chúng đi rất vội vã, hối hả. Rõ ràng chúng được lệnh tránh giao chiến dọc đường, bảo toàn lực lượng tối đa, tiến nhanh về Sài Gòn càng sớm càng tốt, Sài Gòn vào giờ này đang hỗn loạn, miếng mồi thơm ngon, béo bở đang đợi chờ, chúng không thể chậm trễ được.

Khoảng 8 giờ sáng, tôi không còn nhìn thấy lực lượng nào của việt cộng di chuyển nữa. Tôi vẫn đứng ở ngoài phòng tuyến suy nghĩ miên man … Chúng đã lợi dụng đêm tối, len lỏi, vượt nhanh ngang qua hông những điểm phòng thủ chính yếu của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, của Tiểu Khu Bình Dương. Chúng đã bỏ toàn bộ lực lượng của sư đoàn 5 Bộ Binh về phía sau lưng rồi.

Khoảng 10 giờ sáng ngày 30-4-75, TTHL hoàn toàn mất liên lạc với BTL/SĐ. Chỉ huy trưởng TTHL vô cùng bối rối. Ông ra lệnh vắn tắt: ‘Di chuyển về hướng Sài Gòn’. Dẫn đầu hàng quân là các khóa sinh lớp huấn luyện Thái Cực Đạo. Đoàn quân ra khỏi doanh trại chưa được 1/3, tôi đã nghe súng nổ ròn rã ngoài chợ Lái Thiêu (Chi khu Lái Thiêu đã rút lui từ nửa đêm và VC đã chế ngự khu này). Trung úy Bích, Trưởng Ban 2 đã bị trọng thương và lực lượng đi đầu bị thiệt hại nặng. Đoàn quân phải rút lui vào doanh trại để tìm hướng đi khác. Một vài anh em mở radio để nghe tin tức. Bất ngờ, mọi người nghe được bản tin đầu hàng của ông Dương Văn Minh trên đài phát thanh. Lúc ấy giọng ông Dương Văn Minh nghe rất thiểu não, tiếng mạnh, tiếng yếu tựa như người sắp hết hơi. Tôi không nhớ hết nguyên bản văn, nhưng có vài đoạn chính yếu, tôi còn nhớ rõ từng tiếng. Đại ý bản văn nói rằng để tránh cuộc đổ máu vô ích, ông kêu gọi binh lính VC ngừng tấn công và quân đội VNCH ở nguyên vị trí của mình vì ông đã: ‘Tôi tin tưởng sâu xa vào chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam VN’ và ông tiếp: ‘Chúng tôi ở đây (tức Dinh Độc Lập) đang chờ những người anh em ở phía bên kia đến để làm lễ bàn giao …’. Bản tin được lập lại nhiều lần liên tục.

Sau khi nghe xong bản tin này, mọi người đều xôn xao nhốn nháo. Anh em khóa sinh lo sợ, trong khi làm lễ bàn giao VC nổi hứng đòi bàn giao luôn ‘cái chỗ đội nón’ thì sao? Thế là hơn 1.500 khóa sinh đủ các lớp huấn luyện, đã hè nhau đẩy sập cả cổng chính lẫn cổng phụ, vứt súng đạn, lột bỏ quần áo, chạy ra đường như một đàn ong vỡ tổ, trước sự ngơ ngác bàng hoàng của cán bộ quân trường”.

Theo tư lệnh quân đoàn 1 của CS thì sau khi chiếm được Lái Thiêu, trung đoàn 27 thuộc sư đoàn 320B đã đụng độ mạnh với QLVNCH tại cầu Vĩnh Bình. Ông viết (1) :

“Sau khi đánh chiếm Lái Thiêu, trung đoàn 27 tiến về phía cầu Vĩnh Bình. Khoảng 7 giờ 30 phút, khi quân ta tới phía bắc cầu thì ở phía nam cầu địch đã lập phòng tuyến ngăn chận. Địch có ý định bắn cản không cho ta đến gần cầu, đồng thời chúng muốn phá sập cầu để cắt đứt đường vào Sài Gòn của đại quân ta. Chúng mang cả pháo 175 ly ‘vua chiến trường’ ra huy hiếp và huy động Lữ đoàn 3 kỵ binh với gần 200 xe tăng, xe bọc thép tới phản kích, ngăn chận ta ở phía nam cầu. Đây là một điều bất ngờ đối với kế hoạch tác chiến của quân đoàn. Không ai có thể ngờ lữ đoàn này lại từ Biên Hòa chạy về đây để tập kích vào đội hình tiến công của ta. Pháo binh tầm xa đi theo đội hình của Sư đoàn 320B lập tức đặt một đại đội 4 khẩu 130 ly ở đồi Búng, cách Bộ Tổng tham mưu ngụy 16,5 km, và nã vào Bộ Tổng Tham mưu ngụy một cơ số. Đồng thời Tiểu đoàn 66 xe tăng cùng với Trung đoàn 48 kiên quyết phản đột kích vào đội hình xe tăng địch với súng phun lửa, tên lửa vác vai B.72. Đại đội 10 bộ binh đã dùng B.40, B.41 bò lên cầu tập kích vào đội hình xe tăng địch, khiến đội hình chúng rối loạn, ‘vua chiến trường’ 175 ly của chúng cũng bị bắn tạt sườn, câm tịt. Đồng chí Hoàng Thọ Mạc, Đại đội trưởng Đại đội 3 xe tăng của ta đã hy sinh giữa lúc đội hình tiến công của Trung đoàn 27 vượt cầu Vĩnh Bình. Ta bắt sống 8 xe tăng M41, sau này cả 8 xe tự nguyện quay đầu đột phá vào Bộ Tổng tham mưu ngụy. Khi vào kiểm tra kết quả tác chiến, tôi để ý thấy xe tăng địch bị ta bắn cháy một số chiếc, còn lại hầu hết đều quay về phía Sài Gòn. Chứng tỏ địch đã không chịu nổi tinh thần chiến đấu dũng cảm của quân ta, mặc dù được trang bị vũ khí súng đạn tối tân nhưng chỉ sau một thời gian tham chiến ngắn ngủi chúng đã phải bỏ chạy”.

Đoạn văn trên có những sai lầm nghiêm trọng :

  • Đầu tiên là sai lầm về thời khắc. Tư lệnh Lực lượng Xung kích Quân đoàn III cho biết toàn đơn vị bắt đầu rời Biên Hòa khoảng 9 giờ sáng ngày 30/4. Đến khi ông nghe lệnh đầu hàng của Tổng thống Minh tại trại Phù Đổng ở Gò Vấp là đúng 10 giờ 25. Lúc bấy giờ LLXK/QĐ III vừa đến Bình Triệu (18). Do đó không thể nào sư đoàn 320B đụng độ với LLXK/QĐ III lúc 7 giờ 30 sáng được vì lúc bấy giờ LLXK/QĐ III vẫn chưa nhận được lệnh rời khỏi Biên Hòa.
  • Điểm thứ nhì là không cần phải pháo kích Bộ TTM/QLVNCH sáng 30/4 vì từ 12 giờ trưa ngày 29/4, không còn ai có trách nhiệm phòng thủ cơ quan đầu não của quân đội (19).

Như vậy trận đánh tại cầu Bình Triệu chỉ là một sự tưởng tượng. Các chiến đoàn của LLXK/QĐ III đã tự động tan hàng khi vào đến Sài Gòn.

Đoạn phim “giả tưởng” tiến vào Sài Gòn vẫn tiếp tục. Trung đoàn 27 thuộc sư đoàn 320B đã “chiến đấu” trong hành tiến như sau (20) :

“8 giờ sáng ngày 30 tháng 4, cả hai mũi thọc sâu của sư đoàn 320B đều đã vượt qua đoạn đường cuối cùng, tiến công vào các mục tiêu chủ yếu được giao.

Trung đoàn 27 tiến công khu Bộ tư lệnh [sic] các binh chủng bằng trận đánh chiếm Bộ tư lệnh [sic] thiết giáp – lực lượng mạnh nhất của địch trong khu Bộ tư lệnh [sic] các binh chủng quân ngụy.

Trận đánh nổ ra ngay trước cổng Bộ tư lệnh [sic] thiết giáp ngụy. Địch đã chuẩn bị một trận địa phòng ngự, bằng tất cả các loại xe tăng, thiết giáp hiện đại nhất thuộc binh chủng thiết giáp của chúng. Chúng bố trí nhiều tầng, bắn như vãi đạn về phía trước ngăn chận mũi tiến công của ta. Nhưng xe tăng ta vẫn lướt tới đánh thẳng vào đội hình xe tăng địch. Quan sát trận địa, cán bộ chỉ huy trung đoàn thấy địch phòng thủ chủ yếu bằng xe tăng, thiết giáp, rất ít bộ binh. Chúng không dám nống ra phản kích. Biết rõ chỗ yếu của địch, trung đoàn liền thay đổi cách đánh: lệnh cho xe tăng nả pháo chế áp trận địa địch, đồng thời cho bộ binh chia thành nhiều mũi dùng B.40, B.41 áp sát, chia cắt, tiêu diệt xe tăng địch.

Mệnh lệnh vừa truyền đi, đại đội 3 xe tăng tập trung lực lượng nả pháo tới tấp vào trận địa địch. Các xạ thủ B.40, B.41 rời khỏi xe ô tô vượt qua làn đạn như đan chéo trên đầu, xông thẳng vào đội hình xe tăng địch, 10 xe tăng địch bị đánh cháy. Một số chiến sĩ bắn hết đạn B.41, liền dùng lựu đạn, thủ pháo diệt xe tăng địch. Địch không tính được tình huống bất ngờ này. Chúng quay đầu tháo chạy. Nhưng chạy đâu cho thoát! Con đường trước mặt chúng đã là con đường cụt.

Bị đánh thiệt hại nặng, xe tăng địch phải co về cố thủ trong khu vực Bộ tư lệnh [sic] thiết giáp. Chớp thời cơ, các chiến sĩ Trung đoàn 27 thừa thắng xốc tới, đánh tràn vào, đồng thời tổ chức bao vây chặt toàn khu vực. Không chịu nổi sức tiến công như vũ bão của quân ta, cuối cùng tên trung tá Chiêu buộc phải dẫn bọn lính trong Bộ tư lệnh [sic] thiết giáp ra hàng”.

Cũng theo tài liệu của CS thì sáng sớm ngày 30/4, trung đoàn 27 bắt đầu tấn công Lái Thiêu. Sau trận đánh, trên đường tiến vào mục tiêu lại đụng độ với QLVNCH tại cầu Vĩnh Bình rồi cầu Bình Triệu nên không thể nào vào đến khu vực BCH các binh chủng lúc 8 giờ sáng được. Mặc dù BCH/TGB có vài chiến xa M-48 thuộc chi đội giữ an ninh, tuy nhiên theo một sĩ quan thuộc BCH này thì không có tác chiến tại đây cho đến khi được lệnh buông súng. Lúc bấy giờ vẫn chưa thấy bóng dáng của cán binh CS. Ngoài ra không có ai là Trung tá Chiêu tại BCH lúc bấy giờ. BCH/TGB có CHT là Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, CHP là Đại tá Thẩm Nghĩa Bôi, TMT là Đại tá Nguyễn Đức Dung.

Tương tự như vậy, trận tấn công Bộ TTM/QLVNCH của trung đoàn 48 đã được ghi nhận lại như sau (20), xem Hình 5-12 & Sơ đồ 6-8 :

“Ở cổng số 1, đại đội 5 cùng trung đoàn [sic] 2 của đại đội 7 sau 5 phút dùng pháo cối chế áp, hai chiếc K.63 và 4 chiếc M.48 đột kích thẳng vào khu nhà hai tầng. Nhưng bọn địch xảo quyệt, di chuyển về phía sân vận động bắn lướt sườn vào đội hình ta. Một vệt lửa da cam từ tầng hai lao xuống. Chiếc M.48 do ngụy lái bốc cháy, khói đen cuộn lên trùm kín cả cổng số 1. Lợi dụng thời cơ ấy, bọn địch hò hét xông ra định đẩy ta ra xa cổng số 1.

Trận đánh diễn ra gần 30 phút. Ta với địch vẫn giằng co nhau ở ngã tư đường, bên ngoài chiếc cổng sắt đồ sộ. Hai đợt phản kích của địch đều bị bẻ gãy, nhưng mũi tiến công của đại đội 5 vẫn không qua được cổng số 1. Tổ cắm cờ của Lại Đức Lưu phải vòng sang cổng số 2”.

Một sĩ quan chỉ huy đơn vị KBTG tại cổng số 1 (từ trại Phi Long sang) cho biết sau khi bắn cháy 2 chiến xa T-54 thì CS phải ngừng tấn công. Cho đến khoảng 1500 giờ ngày 30/4, vẫn chưa thấy quân đội CS xuất hiện lại tại cổng này (21).

Trong khi đó thì những gì xảy ra tại Lai Khê, nơi đặt BTL sư đoàn 5 BB đã được một sĩ quan QLVNCH kể lại (17) :

“VC vẫn bao vây căn cứ Lai Khê, đặt chốt ngăn chận ở hai cổng phía nam và phía bắc. Chúng bắt loa chĩa vào bên trong căn cứ, phát thanh lời kêu gọi đầu hàng của Dương Văn Minh và kêu gọi Tướng Vỹ ra đầu hàng. Ông chỉ đáp lại: ‘Yêu cầu các anh đối xử nhân đạo với thuộc cấp của tôi’.

Lúc đó Tướng Vỹ triệu tập một phiên họp bất thường, thật ngắn ngủi, để giải thích cho mọi người rõ lệnh bàn giao và lệnh bắt buông súng đầu hàng. Ông nói:

– Lệnh bắt chúng ta buông súng bàn giao, nói thẳng ra là lệnh bắt chúng ta buông súng đầu hàng.

Ông phải nói thẳng vì sợ có người hiểu quanh co, mập mờ. Rồi ông tuyên bố:

– Vì tôi là tướng chỉ huy mặt trận, tôi không thể thi hành được lệnh này. Tôi nghĩ thân làm tướng là phần nào đã hưởng vinh dự và ân huệ của quốc gia hơn các anh em nên tôi phải chọn con đường đi cho riêng tôi. Đoạn ông bình tĩnh bước ra sân nghiêm trang đứng dưới cột cờ của Bộ Tư Lệnh, tự sát bằng chính khẩu súng chỉ huy của mình”.

Sau đó thiết đoàn 1 (-) cùng với lực lượng của căn cứ Lai Khê tìm cách rút lui về Sài Gòn. Tuy nhiên vừa qua khỏi Bến Cát thì bị hai tiểu đoàn của trung đoàn 209 thuộc trung đoàn 312 chận lại và cả đơn vị phải đầu hàng tại đây (22).

Để chuẩn bị cho chiến dịch HCM, tổng cục chính trị quân đội CSBV đã gửi một văn thư cho các chiến trường chính. Một trong những nhiệm vụ chính được nêu rõ là công tác địch vận. Trong đó có việc bổ sung quân số bằng cách sử dụng tù hàng binh (23). Đến khi chiếm được Ban Mê Thuột, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thay mặt cho quân ủy trung ương ra lệnh cho các đơn vị quân đội CS sử dụng tài xế, nhân viên kỹ thuật tù hàng binh ngay tại chỗ. Đặc biệt phải khai thác tù binh sĩ quan để phục vụ cho yêu cầu tác chiến và tiếp quản (24). Đầu tháng 4/1975, cũng chính Đại tướng Giáp nhắc lại trong bức điện gửi cho đảng ủy khu 5 và quân đoàn 2 là phải khai thác tù binh sĩ quan để phục vụ yêu cầu tác chiến (25).


Như vậy quân đội CSBV đã vi phạm những nguyên tắc căn bản về tù binh chiếu theo qui ước Genève[8] (26).

Phần III – Bắt giữ, Đoạn 1 – Giai đoạn ban đầu, Điều 19 ghi rõ :

“Tù binh phải được di tản càng nhanh càng tốt sau khi bị bắt giữ, về những trại trong những vùng khá xa chiến trận, ra khỏi sự nguy hiểm”.

Phần III – Bắt giữ, Đoạn 2 – Giam giữ tù binh, Chương 1 – Tổng quát, Điều 23 viết :

“Bất cứ lúc nào, không một tù binh nào được gửi đến hay giữ lại trong vùng có chiến sự để có thể bị thương vong, cũng không ai được sử dụng tù binh để khiến một vị trí hay một vùng nào đó làm cản trở hành quân[9] ”.

Một lần nữa cho thấy chữ ký của VC hoàn toàn vô nghĩa trên các văn kiện mà họ đã ký kết, ngay cả những văn kiện có tính cách quốc tế, thí dụ như hiệp định hòa bình Paris năm 1973 hay công ước Genève về tù binh như trong trường hợp này. Theo dõi những chặng đường hành quân của quân đoàn 1 CS, người ta sẽ thấy ngay những thí dụ điển hình về vi phạm qui ước Genève ngay từ lúc chiến tranh hãy còn đang tiếp diễn. Sau trận đánh chi khu Tân Uyên, trung đoàn 27 thuộc sư đoàn 320B đã bắt tù binh rà xét bom mìn cũng như dẫn đường hành quân. Khi tiến gần đến Lái Thiêu, chính tư lệnh sư đoàn ra lệnh tương tự cho TrĐT trung đoàn 48 (27). Vào đến nội thành Sài Gòn, cũng trung đoàn 48 đã bắt các binh sĩ thiết giáp tù binh phải lái các chiến xa M-48 vừa mới chiếm được để tấn công Bộ TTM (28), xem Hình 13.

Quân đoàn 1 là một đại đơn vị từ miền Bắc mới vào để tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh nên không thông thuộc địa bàn của chiến trường. Vùng hành quân lúc ban đầu lại không có dân cư sinh sống và nhu cầu cấp bách hành quân đã khiến quân đoàn tuân thủ từng chữ một những qui luật của quân ủy trung ương ! Có lẽ các cấp chỉ huy quân đội CSBV cũng chưa bao giờ đọc đến qui ước Genève để ngày hôm nay ngang nhiên xác nhận những hành động trái ngược với công ước quốc tế trong quá khứ của họ.

symbol_hoa

NHẬN XÉT

  1. Theo kế hoạch của BCH chiến dịch Hồ Chí Minh thì hướng tiến quân do quân đoàn 1 phụ trách có thể là cánh quân đụng độ mạnh nhất nhưng sự thật ngược lại. Đây là mũi có cường độ tác chiến tương đối nhẹ nhất trong năm hướng tấn công của CS vào Sài Gòn. Mặc dù trên thực tế, cánh quân này đã ít nhất hai lần tránh sử dụng những đường giao thông chủ yếu khi hành quân. Đầu tiên là tránh đi qua Chơn Thành, sau đó dùng ngõ chiến khu Đ thay vì LTL-13. Tuy nhiên khi vượt Bến Bàu vẫn bị không quân VNCH oanh kích một cách liên tục.
  2. Kế hoạch hành quân của quân đoàn 1 CS không có thứ tự trong hành tiến mặc dù chỉ có hai sư đoàn bộ binh. Thí dụ việc tấn công đánh chiếm chi khu Tân Uyên, không có trong kế hoạch hành quân lúc ban đầu. Hậu quả là kéo dài thời gian hành quân không cần thiết.
  3. Các tiểu đoàn ĐPQ trên hướng tiến quân này đã kháng cự khá mạnh, điển hình là tiểu đoàn 306 ĐPQ tại Bình Cơ, tiểu đoàn 316 ĐPQ tại chi khu Tân Uyên.
  4. Quân đội CSBV sử dụng nghệ thuật chiến dịch thọc sâu. Sư đoàn 5 BB QLVNCH xem như bị loại khỏi vòng chiến một cách gián tiếp ngay từ đầu do tác dụng lòn tránh của quân đoàn 1 CS. Đó là lý do tại sao khi kết thúc phần trình bày chi tiết hành quân của quân đoàn 1 CS trong chiến dịch HCM, tư lệnh quân đoàn phải thốt lên (1) : “Có thể bạn đọc sẽ cho rằng chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh có phần dễ dàng”. Chắc chắn độc giả sẽ hoàn toàn đồng ý với ông như vậy.
  5. Qui ước Genève về tù binh không được các đơn vị quân đội CSBV tuân thủ mà điển hình là những hành động sử dụng tù binh trong tác chiến của quân đoàn 1.
  6. Những trận đánh khi quân CS tiến vào khu BCH các binh chủng tại Gò Vấp hoàn toàn không có thật. Đây không phải là những đơn vị tác chiến mà chỉ thuần túy về mặt chỉ huy và yểm trợ. Ngoài ra từ sáng ngày 30/4, QLVNCH không còn ai chỉ huy, điều động cho đến khi Tổng thống Minh tuyên bố đầu hàng.

symbol_hoa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trung tướng Nguyễn Hòa, Thời Khắc Lịch Sử Của Binh Đoàn Quyết Thắng Anh Hùng, trang 10-30; Ban Liên Lạc Cựu Chiến Binh Quân Đoàn 1, Thần Tốc Quyết Thắng, nxb Công An Nhân Dân, 2004.
  2. Đại tá Tô Lạc, Đòn Điểm Huyệt Bộ Tổng Tham Mưu Ngụy; sách đã dẫn trên, trang 190-199.
  3. Trung tướng Nguyễn Hùng Phong, Cánh Bắc Ngày Cuối Cùng, trang 174-211; Nguyễn Đăng Vinh & Nguyễn Phương Túy biên soạn, Trận Quyết Chiến Cuối Cùng, nxb Từ Điển Bách Khoa, Hà Nội, 2005.
  4. Trung tướng Đỗ Mạnh Đạo, Sư Đoàn Thọc Sâu Cánh Bắc Chiến Dịch; sách đã dẫn trên (1), trang 179-188.
  5. Đại tá, thạc sĩ Phạm Vĩnh Phúc & nhiều người khác, Tóm Tắt Các Chiến Dịch Trong Kháng Chiến Chống Mỹ, Cứu Nước (1954-1975), trang 517; nxb Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 2001.
  6. Đại tá Đặng Trình, Sư Đoàn Phòng Không 367 Trên Đường Hành Quân Thần Tốc; sách đã dẫn trên (1), trang 210-222.
  7. Đại tá Nguyễn Duy Tụ, Hướng Tiến Công Phía Bắc Sài Gòn; sách đã dẫn trên (1), trang 244-250.
  8. Trung tướng Nguyễn Thế Bôn, Tiến Công Trong Hành Tiến Những Ngày Nước Rút; sách đã dẫn trên (1), trang 42-53.
  9. Thiếu tướng Phạm Liêm, Những Kỷ Niệm Sâu Sắc Trong Chiến Dịch Hồ Chí Minh; sách đã dẫn trên (1), trang 264-273.
  10. Trung tướng Nguyễn Hùng Phong, Từ Tam Điệp Đến Sài Gòn Giải Phóng; sách đã dẫn trên (1), trang 54-87.
  11. Điện thoại viễn liên với cựu Đại tá Trần Văn Thoàn ngày 26/10/2007.
  12. Đại tá Võ Tài Mạnh, Một Căn Cứ Lõm Ở Sát Nách Địch; sách đã dẫn trên (1), trang 206-209.
  13. Nguyễn Minh Tánh, Ngày Cuối Cùng của Sư Đoàn 5 – Ngày Tàn Binh Nghiệp Của Tôi Hay Là Ngày Cuối Cùng của Sư Đoàn 5; http:// xamnhapnkt.blogspot.co.uk /2011 /02 /ngay-cuoi-cung-cua-su-oan-5.html, 12/3/2013.
  14. Trần Hà Kim, Chi viện gấp, hiệp đồng hiệu quả; http:// http://www.qdnd.vn /qdnd /bao-ngay.ntqsvn.34945.qdnd; 21/5/2008.
  15. Những Ngày Cuối Cùng Đời Binh Nghiệp; http:// minhchausoibien.tripod.com /trang-hoiky /id17.html, 24/6/2008.
  16. Trịnh Ngọc Nghi, Cuộc Tiến Quân Từ Buôn Mê Thuột Đến Sài Gòn Xuân 1975, trang 216-220; nxb QĐND, Hà Nội, 2005.
  17. Thanh Sơn, Viết Về Tướng Lê Nguyên Vỹ, trang 526-535; Nguyễn Mạnh Trí, Nguyễn Khoa Nam, Hội Phát Huy Văn Hóa Việt Nam, Michigan, 2001.
  18. Chuẩn tướng Trần Quang Khôi, Tường-Trình Về Vai-Trò Lữ Đoàn III Kỵ-Binh Và Lực-Lượng Xung-Kích Quân-Đoàn III – Danh-Dự Và Tổ-Quốc, trang 373-374; Hà Mai Việt, Thép Và Máu – Thiết-Giáp Trong Chiến-Tranh Việt-Nam, tác giả xuất bản, Texas, 2005.
  19. Phạm Bá Hoa, Đôi Dòng Ghi Nhớ, trang 9-270; in lần thứ hai, nxb Ngày Nay, Texas, 1995.
  20. Tiến sĩ Phạm Huy Dương & Thạc sĩ Phạm Bá Toàn, Chủ biên, Chiến Dịch Hồ Chí Minh Trang Sử Vàng Qua Các Trận Đánh, trang 667-668 & 671; nxb QĐND, Hà Nội, 2005.
  21. Điện thoại viễn liên với cựu Thiếu tá Nguyễn Bích ngày 29/10/2007.
  22. Đại tá Võ Tài Mạnh, Trận Phục Kích Tiêu Diệt Sư Đoàn 5 Ngụy Trên Đường 13; sách đã dẫn trên (1), trang 200-205.
  23. Đề Án Công Tác Chính Trị Của Tổng Cục Chính Trị Trước Tình Hình Mới, trang 182-189; Đại tá Nguyễn Duy Tưởng, Đại tá Đỗ Tất Thắng & Cử nhân Bùi Thu Hương, Một Số Văn Kiện Chỉ Đạo Tổng Tiến Công Và Nổi Dậy Mùa Xuân Năm 1975 Chiến Dịch Hồ Chí Minh, nxb QĐND, Hà Nội, 2005.
  24. Điện Thường Vụ Quân Ủy Trung Ương Gửi Quân Khu Trị Thiên, trang 221-225, sách đã dẫn trên.
  25. Thường Vụ Quân Ủy Trung Ương Điện Gửi Đảng Ủy Mặt Trận Quảng Đà, Quân Khu Ủy 5, Đồng Điện Đảng Ủy Quân Đoàn 2, trang 243-245, sách đã dẫn trên (23).
  26. Third Geneva Convention (1929): Treatment of prisoner of war.
  27. Sách đã dẫn trên (20), trang 643 & 646.
  28. Sách đã dẫn trên (20), trang 665 & 669.

symbol_hoa

CHÚ THÍCH


[1] Trong chiến dịch Đồng Xoài (10/5 – 22/7/1965), Tư lệnh là Lê Trọng Tấn, Chính ủy là Trần Độ, Phó Tư lệnh là Hoàng Cầm và TMT là Nguyễn Thế Bôn (Đại tá, thạc sĩ Phạm Vĩnh Phúc & nhiều người khác, Tóm Tắt Các Chiến Dịch Trong Kháng Chiến Chống Mỹ, Cứu Nước (1954-1975), trang 25; nxb Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 2001)


[2] Căn cứ cũ của sư đoàn 1 BB Mỹ từ tháng 10/1967 đến tháng 10/1969, nằm trên QL-13 và cách Sài Gòn khoảng 30 dặm Anh về phía bắc. Ngày 27/12/1970, căn cứ được bàn giao lại cho sư đoàn 5 BB/QLVNCH


[3] Trước năm 1965, Phước Vĩnh là tỉnh lỵ của tỉnh Phước Thành. Sau khi giải thể tỉnh Phước Thành, Phước Vĩnh trở thành quận lỵ của quận Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Căn cứ Phước Vĩnh nằm trên LTL-1A, nguyên là căn cứ của các đơn vị quân đội Mỹ như lữ đoàn 3 thuộc sư đoàn 101 Dù, sư đoàn 1 BB, v.v. Vị trí để trấn áp chiến khu Đ của CS nằm bên phía đông của căn cứ


[4] Cũng là một căn cứ cũ của Mỹ, nơi đặt BCH pháo binh và hậu cứ của thiết đoàn 1, trung đoàn 1 KB thuộc sư đoàn 1 BB Mỹ. Căn cứ nằm cách Sài Gòn khoảng 25 dặm Anh về phía bắc


[5] Có thể xem như là phần nối dài của quốc lộ 14. Khoảng đường này thực ra là LTL-13, nằm giữa hai chi khu Đôn Luân (Đồng Xoài) và Chơn Thành


[6] Là LTL-1A từ Đôn Luân đi Phước Vĩnh (Phước Thành cũ). Ngày hôm nay là tỉnh lộ 741 đi từ thị trấn Phước Bình qua hai thị trấn Đồng Xoài và Phước Vĩnh trước khi đến thị xã Thủ Dầu Một (Phú Cường cũ)


[7] Thuộc trung đoàn 27, sư đoàn 320B


[8] Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa (CSBV) đã gửi công hàm ngày 5/6/1957 gia nhập và chấp thuận công ước Genève, ngoại trừ 3 điểm (Thượng tướng Phùng Quang Thanh & nhiều người khác, Từ Điển Bách Khoa Quân Sự Việt Nam, trang 278; nxb QĐND, Hà Nội, 2004) :
Việt Nam xem là hợp pháp việc nước cầm giữ tù binh giao cho nước trung lập hoặc tổ chức nào nhận đảm nhiệm những công vụ của nước bảo hộ nếu được nước mà những tù binh này trực thuộc chấp nhận

Việc nước cầm giữ tù binh giao tù binh cho một nước tham gia Công ước này không làm cho nước cầm giữ tù binh mất trách nhiệm trong việc áp dụng những điều khoản của Công ước về tù binh

Những tù binh bị truy tố và kết án về những trọng tội chiến tranh hay những trọng tội phi nhân loại theo những nguyên tắc do Tòa án Quân sự Nuyrembe (Nuremberg) đề ra không được hưởng những điều khoản của Công ước


[9] Dịch thoát ý cụm từ trong nguyên bản : immune from military operation

Microsoft Word - cd_hcm_2.1.docMicrosoft Word - cd_hcm_2.1.docMicrosoft Word - cd_hcm_2.1.docMicrosoft Word - cd_hcm_2.1.docMicrosoft Word - cd_hcm_2.2.docMicrosoft Word - cd_hcm_2.2.docMicrosoft Word - cd_hcm_2.2.docMicrosoft Word - cd_hcm_2.2.doccdhcm2_hinh1Microsoft Word - cd_hcm_2.2.doccdhcm2_hinh3Microsoft Word - cd_hcm_2.2.doccdhcm2_hinh5Microsoft Word - cd_hcm_2.2.docMicrosoft Word - cd_hcm_2.2.docMicrosoft Word - cd_hcm_2.2.docMicrosoft Word - cd_hcm_2.2.docMicrosoft Word - cd_hcm_2.2.docMicrosoft Word - cd_hcm_2.2.docMicrosoft Word - cd_hcm_2.2.docMicrosoft Word - cd_hcm_2.2.doc

—>Phần III

This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, NGUYỄN ĐỨC PHƯƠNG: Chiến-dịch Hồ Chí Minh. Bookmark the permalink.

3 Responses to CHIẾN-DỊCH HỒ CHÍ MINH (TS. Nguyễn Đức Phương): Phần II

  1. Thủ Đức says:

    Lữ Đoàn III xung kích rời Biên Hoà khoảng 9 giờ sáng ngày 30-4-75 . Như vậy khg có trận đánh nào xãy ra lúc 7:30 sáng tại cầu Vĩnh Bình cả. Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh ( gồm có BCH/Thiết đoàn, Chi đoàn 1/5 CX và Chi Đoàn 2/5 Thiết Kỵ ) di chuyển từ Biên Hoà về cùng với Lữ Đoàn III Xung Kích. Khi qua khỏi Trại Sóng Thần thì nghe lời đầu hàng của Dương Văn Minh và kể từ giờ phút này chúng tôi khg nỗ súng mặc dù thấy địch rất nhiều trên đường rút quân. Chúng tôi về đến cầu Bình Phước khoảng 11:30 trưa và bị địch áp chế cướp 10 xe M113 của Chi đoàn tôi ( Chi đoàn 2/5 TK – 10 xe M113 chứ không phải 8 xe M41 như trong bài viết ). Tất cả các xạ thủ bị thay thế bằng Bộ đội CSBV Chỉ có tài xế là Kỵ binh của ta. Tất cả KB cả tôi vẫn ngồi trên xe. Chúng bắt ( khg phải tự nguyện quay đầu) chúng tôi theo lệnh chúng kéo về tấn công vào cổng chính Bộ TTM/QLVNCH lúc bấy giờ khoảng 12:30 giờ trưa. Trong Bộ TTM chúng tôi vẫn còn thấy bóng các chiến sĩ BC 81 ND………………. ( Cựu Chi đoàn trưởng Chi đoàn 2/5 TK )

    Like

    • ND Phuong says:

      Kính anh,
      Rất vui mừng nhận được ý kiến đóng góp của anh. Đó chính là ý muốn của
      tôi khi cho đăng tải loạt bài này. Có lẽ tôi cần nhiều tin tức thêm nữa
      ở anh cho phần chót khi nói về mặt trận hướng đông và đông-nam. Xin rất
      cám ơn anh.
      Trở lại vấn đề anh vừa nêu thì đây là một bằng chứng quan trọng về việc
      vi phạm công ước Genève về tù binh mà chính quyền CSBV đã ký kết. Xin
      phép anh cho tôi được đưa phần viết của anh vào đúng chỗ của nó trong
      Phần 2.
      Như anh biết, quân đội CS (CSBV & VC) đã phạm phải hai vết nhơ lớn
      trong quân sử cận đại. Đầu tiên là mỗi lần thắng thế trên chiến trường
      thì đều tàn sát thương binh của QLVNCH. Từ trận Đồng Xoài vào đầu cuộc
      chiến đến Suối Nước Nóng của mặt trận Khánh Dương cuối cuộc chiến, họ
      đã nhẫn tâm tàn sát thương binh của đối phương nằm lại chiến trường.
      Đến giai đoạn chót thì chính anh đã thấy họ sử dụng các binh sĩ tù binh
      trong tác chiến.
      Với những người dân thường thì chuyện này có lẽ không có gì quan trọng
      hay đáng quan tâm. Nhưng đối với những chiến binh trên chiến trường thì
      hoàn toàn là một điều khác hẳn. Một trận đá bóng còn có những qui luật
      thì chuyện chết sống trên chiến địa phải có những qui luật khắc khe của
      nó. Các nước trên thế giới do đó phải tuân thủ công ước Genève trong
      các cuộc can qua. Trong quân sử, khi Đức tấn công Nga, họ đã ra lệnh
      tàn sát các chính ủy của hồng quân Xô Viết. Kết cục, khi Nga thắng thế,
      họ tàn sát binh sĩ Đức bất kể là lực lượng SS hay không. Quân sử khi
      viết lại do đó gặp khó khăn khi lên án bên này hay bên kia trong chiến
      tranh thế giới thứ II. Trong chiến tranhVN thì ngược lại, tính nhân bản
      của QLVNCH thì tôi chắc chắn anh đã hơn một lần bắt giữ được tù binh
      của đối phương và đã biết phải cư xữ như thế nào rồi. Có lẽ anh cũng
      thừa biết không hy vọng được đối xữ tương tự nếu phải sa cơ. Ngày
      30/4/1975 đã cho anh chứng kiến hoàn cảnh nghiệt ngã này.
      QLVNCH thua trận đánh sau cùng nhưng chưa hẵn đã thua cuộc chiến. Hoàn
      toàn không có vết nhơ trong chiến sử đã là một điểm son.
      NĐ Phương, tháng 4/2013.

      Like

      • Thủ Đức says:

        Kính gởi Trang Web BVCV và Tiến Sĩ Nguyễn Đức Phương.
        Thật sự anh nhận xét vấn đề rất tinh tế và chính xác. Tôi hy vọng sớm có một tập Quân sử VNCH hoàn chỉnh do anh biên soạn.
        Vấn đề CSBV vi phạm Công ước Quốc Tế Genève và Hiệp Định Paris thì khg thể kể hết được. Tôi sẽ gởi cho anh bài ” Tưởng Đã Hoà Bình ” viết về trận chiến Vùng Xà Bang, Bình Giã nói lên sự vi phạm của CSBV sau Hiệp Định Paris năm 1973. Và cũng chính nơi đây những người lính QLVNCH đã đã tỏ lòng Nhân bản với những thương binh của địch bằng cách chúng tôi đã băng bó, tải thương về bệnh viện điều trị một cách đàng hoàng.
        Lời nói của một nữ cán bộ VC ” Các anh thật sự có lòng nhân đạo ” năm 1973 và lập lại một lần nữa sau năm 75. Nhân đây tôi xin kể tóm lược một câu chuyện có thật.

        Sau trận Xà Bang giải toả áp lực địch bao vây tấn kích vào đồn của Đại đội ĐPQ. Chi Đoàn tôi đóng quân ngay trước xã Cẩm Mỹ, Quận Xuân Lộc, Long Khánh. Sau đó, tôi có quen một cô y tá làm việc trong đồn điền cao su của người Pháp. Trong những lúc nói chuyện, có lần cô ta buộc miệng nói ” Các anh thật sự có lòng nhân đạo “. Tôi ngỡ ngàng không hiểu cô căn cứ vào đâu để nói lên câu này, và ám chỉ điều gì ?… Sau một thời gian quen biết, tôi được cảnh báo của An Ninh Quân Đội Sư Đoàn 18BB là cô ta có hoạt động với phía bên kia. Cũng may là lời cảnh báo kịp thời tôi đã không vi phạm Quân Kỷ và phạm tội với gia đình…( Xin cảm ơn Phòng ANQD. SD.18BB )…………..
        Tháng 6/75 tôi tập trung tại trại Long Giao. Có một ngày vệ binh xuống gọi tôi lên gặp cán bộ trại. Tôi theo lên, bước vào phòng tiếp khách và hởi ôi gặp lại cô ta! Bấy giờ cô ta mặc Quân phục với quân hàm Trung uý. Tôi thật sự ngỡ ngàng, bối rối trước hoàn cảnh này. Nhưng rất may cô ta trấn an tôi ngay tức thời. Cô ta nói: cô ta không phải cán bộ trại, chỉ vào thăm tôi mà thôi. Và có một điều đặc biệt cô ta lập lại lời nói của năm 73 ” Các anh thật sự có lòng nhân đạo”. Sau đó cô ta mới cho biết là trong mặt trận Xà Bang tháng 3 năm 73. mặc dù bên Trung Đoàn Bình giã có thiệt hại nhưng những thương binh đã được đối xữ tử tế và tại bệnh viện điều trị một cách đàng hoàng không phân biệt Bạn và Thù. Cô ta là Sĩ quan Tình báo.
        Cô ta đến thăm tôi vì tình cảm lúc trước và có biếu tôi ít quà và thuốc Tây. Tôi nói chỉ nhận thuốc Tây để phòng khi ốm đau mà thôi, nhưng lời từ chối ấy khg được, rồi phải nhận tất cả. Cuối cùng tôi chỉ biết nói lời cảm ơn và từ biệt……………………………………
        Thân Kính : Thủ Đức.

        Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s