Người Cộng-sản có phải là người VN không? (Thiện Chí Nhân)

– PHẦN B –

NHỮNG KHÁC BIỆT GIỮA NGƯỜI CỘNG SẢN VÀ NGƯỜI VIỆT NAM

Trên thế giới có nhiều trường hợp, người có ngoại hình giống nhau, nói chung một thứ tiếng nhưng lại thuộc về những dân tộc khác biệt như người Pháp và người Bỉ, người Đức và người Áo.

Có bốn điểm lớn phân biệt người giữa dân tộc này với một dân tộc khác. Đó là Tổ Quốc, Lịch Sử, Khát Vọng chung của cộng đồng dân tộc và Văn Hoá. Chúng ta lần lượt khảo sát xem người Cộng Sản gọi là người Việt Nam có khác nhau với người Việt trong bốn điểm trên hay không.

1- Tổ Quốc

Những người thuộc dân tộc Việt Nam đều xem Tổ Quốc của mình là cái quốc gia đầu tiên với danh xưng Văn Lang do cụ Tổ Hùng Vương thiết lập trong thế kỷ thứ 7 trước Công Nguyên bằng cách quy tụ lại tất cả các bộ tộc Lạc Việt sống trong lưu vực sông Hồng Hà. Chữ Tổ Quốc là một tình cảm thiêng liêng không thế lực ngoại lai nào xóa bỏ được. Hồ Chí Minh và đồng bọn xem Liên Xô là Tổ Quốc của chúng. Điều này được cáo Hồ xác nhận trong chúc thư trước khi chết. Con người trước khi chết thường nói hết những gì dấu ẩn ở trong nội tâm. Họ Hồ nói rằng khi lìa đời sẽ đi tìm cụ Mác cụ Lê chứ không đi tìm Quốc Tổ Hùng Vương. Ai cũng có quyền chọn lựa Tổ Quốc nhưng khi Hồ và đàn em lựa chọn Liên Xô làm Tổ Quốc thì họ phải có một chút tư cách nào còn sót lại trong con người, đừng giả vờ đánh lận con đen nói Việt Nam là Tổ Quốc của mình. Vả lại mới ngày hôm qua đây khẩu hiệu “Yêu nước là yêu Xã Hội Chủ Nghĩa” còn bắt dân, bắt trẻ con học tập dài dài thì người Việt Nam và người Cộng sản Việt Nam là dân của hai Tổ Quốc khác biệt nhau không gì để bàn nữa.

2- Lịch Sử

Người cùng dân tộc đều chấp nhận có một lịch sử chung. Người Việt nào cũng đều thấy lòng mình xót xa đau khổ khi đọc sử đến đoạn hai Bà Trưng tự trầm xuống Hát Giang. Ngươi Việt nào cũng thấy lòng mình tràn ngập một niềm hãnh diện khó tả khi nhạc trổi bài Chi Lăng hay Trên Sông Bạch Đằng. Người Việt tôn thờ Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung v.v.. .

Người CSVN nhìn lịch sử nước ta một cách khác vì họ là người ngoại quốc. Họ gọi Đức Lê Lợi là một địa chủ nghĩa là một phần tử “xấu’ phải đem ra đấu tố. Họ xem vua Quang Trung là lãnh tụ nông dân phản bội Cách Mạng nông dân chỉ vì Ngài lên ngôi hoàng đế. Nếu lúc đó Ngài lấy danh hiệu là Tổng Bí Thư của đảng Tây Sơn chắc người Cộng sản không tiếc lời ca tụng!

Đức Trần Hưng Đạo được dân ta tôn thờ là anh hùng dân tộc. Khi nói đến Ngài, người Việt thường để cho Đức trước tên Ngài để tỏ lòng tôn kính. Chỉ có một người dám gọi bác – bác, anh – anh với Ngài là Hồ Chí Minh. Điều đó xúc phạm người Việt, nhưng biết làm sao hơn vì cáo Hồ là người ngoại quốc mới dám nói phạm thượng như thế

Một vài cử chỉ nhỏ nói lên một cách không chối cãi được người CSVN không có chung một lịch sử với người Việt. Tại Sài Gòn có đại lộ Chi Lăng nối liền chợ Bà Chiểu với chợ Phú Nhuận. Chi Lăng và Bạch Đằng là hai trong những chiến công lẫy lừng nhất của dân tộc Việt. Khi chiếm được Sài Gòn, CSVN đã đổi tên Chi Lăng thành Phan Đăng Lưu một tên Cộng sản không hề có chút công lao nào với dân tộc Việt Nam và tên Bến Bạch Đằng thành đường Tôn Đức Thắng, một tên Việt gian Miền Nam bán mình cho Cộng sản.

Sự đổi tên này nói lên một cách vững chắc là lịch sử Việt Nam không dính dấp đến người Cộng sản tại Việt Nam vì họ là người ngoại quốc.

3-Khát Vọng Dân Tộc

Mỗi dân tộc có một khát vọng chung cho cộng đồng dân tộc đó. Ví dụ với người Hoa, nếu không bị gán ép là xuyên tạc, thì khát vọng dân tộc họ là thực hiện mộng Đại Hán. Việt Nam vì hoàn cảnh địa lý chính trị, luôn luôn bị ám ảnh bởi Bắc phương xâm lược nên khát vọng của cộng đồn dân tộc Việt là sống an cư lạc nghiệp trong một nước độc lập.

Người Cộng sản có khát vọng cao, có lẽ vì quá cao nên trở thành không tưởng, là thực hiện xã hội Cộng sản một thiên đường hạ giới. Khát vọng này hoàn toàn xa lạ với người Việt.

4- Văn Hoá

Nếu định nghĩa văn hoá thì quá bao la và mỗi học giả nói một cách khác nên chúng tôi thu hẹp nghĩa văn hoá của một dân tộc vào một lối sống, một lối suy nghĩ, một lối hành động. Hiểu như thế thì trong văn hóa có Học Thuật, Phong Tục, Tập Quán, Tiếng Nói.

Cốt tuỷ của văn hoá Việt là TÌNH THUƠNG. Từ trong liên hệ Gia Đình, Xã Ấp, Làng Xóm đến liên hệ giữa những thành viện trong cộng đồng xã hội. Căn bản đối xử với nhau trên tình thương đã giúp cho gia đình Việt được bền vững hơn gia đình các dân tộc khác, sự sống trong xã ấp và trong xã hội được hài hòa.

Cốt tuỷ của nền văn hóa mới của Cộng sản, gọi là văn hóa Xã Hội Chủ Nghĩa là HẬN THÙ và TƯ LỢI trong gia đình, trong làng xóm, trong xã hội. Cảnh đổ vỡ đến mức báo động. Sự giao thiệp giữa con người với con người tại làng, xóm, trong xã hội được đặt trên phương châm “thằng nào ngu mới sống không lưu manh”. Một xã hội điên loạn trong đó có cảnh người bóc lột người đã tiến bộ thêm một bước để thành người ăn thịt người.

Về mặt ngôn ngữ thì người Cộng sản nói một thứ tiếng Việt gọi là “cải tiến” khác hẳn tiếng Việt bình thường. Hãy nghe hai chị công an nói chuyện với nhau về thịt mua ở cửa hàng quốc doanh trích trong quyển phiếm luận “Giầy sô, nói phét và đàn bà” của Huỳnh Văn Phú:

“Nếu đi từ ‘trực quan sinh động’ đến ‘tư duy trừu tượng’ thì tôi nói với đồng chí là “thị trường thịt’ hôm nay ‘căng’ lắm, nhưng giữa tôi và đồng chí có mối ‘quan hệ hữu cơ’ với nhau nên tôi sẽ để lại cho đồng chí một nửa số thịt hiện có với giá ‘hữu nghị’ thôi.”

Chúng tôi không có ý kiến gì để phê bình ngôn ngữ của nước khác khi nghe hai nữ cán bộ công an Cộng sản nói chuyện với nhau bằng tiếng nước họ !

Bốn điểm trình bày ở trên là những điểm chung của mọi người dân trong cộng đồng dân tộc Việt. Những điểm này là những chỗ khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác.

HÀNH ĐỘNG CỦA NGƯỜI CỘNG SẢN KHI CAI TRỊ NƯỚC VIỆT NAM

Người Cộng sản còn để lộ rõ tư cách ngoại quốc trong cung cách họ cai trị nước Việt Nam khi họ bất chấp quyền lợi quốc gia của dân Việt. Lúc nào người Cộng sản Việt Nam cũng ưu tiên lo cho quyền lợi của hai mẫu quốc Liên Xô và Trung Cộng khi chúng ta nhìn một vài hành động sau đây:

l- Cải cách ruộng đất ở Miền Bắc thời gian 1953-1956

Đây là một tội ác kinh tởm. Suốt thời kỳ độc lập, trong lịch sử Việt Nam, chưa bao giờ có một ông vua nào dám thi hành điều đó dầu là một vua bạo ngược. Tội ác này chỉ diễn ra khi thủ phạm là người ngoại quốc như vụ thảm sát hàng vạn sĩ quan Ba Lan tù binh tại Katyn, một khu rừng hẻo lánh trong xứ Biélorussie do Staline ra lệnh và vụ giết người tù Do Thái đại quy mô bằng lò hơi ngạt trong trại tù của Đức Quốc Xã do lệnh cua Hitler.

Thủ phạm cải cách ruộng đất là cáo già Hồ Chí Minh mặc dù có hai tay cộng sản có tiếng tăm đã thoát khỏi sự kiềm tỏa của Cộng sản là Bùi Tín và Vũ Thư Hiên cố bào chữa cho Hồ là y ta bị các cố vấn Tàu áp lực quá mạnh, không cãi lại được. Bùi Tín còn nói Hồ phải thi hành nhưng không mặn mà cho lắm. Bênh như thế chỉ xác nhận tư cách không phải là người Việt Nam của Hồ. Cáo Hồ là chủ tịch một nước, không lẽ khi các cố vấn Thiên Triều bảo Hồ ăn cứt gà Hồ cũng phải nhắm mắt ăn thử dù không mặn mà lắm !

Thay vì cố chạy tội cho Hồ, hai tay trên nên tôn trọng sự trung thực của người cầm bút. Có lẽ viết như thế này sát với thực tế hơn:

“Hồ không thích chuyện cải cách ruộng đất của ông Mao, một chuyện làm ngu xuẩn mất lòng dân nhưng vì nạn nhân là người Việt chớ không phải đồng bào của Hồ nên y ta cứ để cho Trường Chinh và Hồ Việt Thắng làm để vừa lòng Thiên Triều. Sinh mạng của mười vạn dân bị giết oan là ba cái lẻ tẻ nhăm nhò gì, nếu nhờ hành động tội ác đó mà Thiên Triều thấy được sự ngoan ngoãn gương mẫu của một quan thái thú trấn nhậm một phiên bang ở xa ! “

2- Khi Hạm Đội Của Trung Cộng Tấn Công Hoàng Sa

Khi hạm đội to lớn của Trung Cộng đè bẹp hạm dội nhỏ bé của Việt Nam Cộng Hòa không một lời phản đối. Mà phản đối sao được khi Bộ Ngoại Giao Bắc Việt đã long trọng xác nhận bằng văn thư Hoàng Sa là lãnh thổ của Thiên Triều Trung Cộng năm 1958. Trên thế giới chưa hề có một chánh phủ quốc gia nào dám tự nhiên xác nhận một phần lãnh thổ của quốc gia mình là của ngoại quốc. Nhật Bản thua trận trong Đệ Nhị thế chiến bị quân Nga chiếm bốn hòn đảo nhỏ ở miền Bắc. Dù thua trận nhưng Nhật Bản đến ngày nay, nửa thế kỷ sau Nhật Bản cứ khăng khăng đòi lại bốn đảo nhỏ này.

Như thế phải hiểu thế nào về thái độ của Cộng sản Việt Nam năm 1958? Có phải đây là người ngoại quốc cai trị Việt Nam nên cắt đất của nước bị trị dâng cho Thiên triều Trung Quốc để lấy lòng không?

3- Người CS Đã Lồng Lộn Hay Giả Vờ Lồng Lộn

Nói rằng đất nước bị quân Mỹ xâm lược vì sự hiện diện của nửa triệu quân Mỹ và Đồng Minh ở Miền Nam chống lại mưu toan xâm lược của Miền Bắc. Nhưng người Cộng sản giải thích thế nào khi thông tấn xã Kyodo của Nhật (báo Người Việt ở Quận Cam, Califumia, ngày thứ hai 1-4-96) loan tin “phát ngôn viện của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc xác nhận nước này đã gởi quân sang giúp Cộng sản Việt Nam. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, theo lời yêu cầu của chánh phủ Cộng sản Miền Bắc, Trung Quốc,đã gởi một đạo quân ba trăm hai chục ngàn (320 000) sang Việt Nam trong giai đoạn 1965-1968”

Chúng ta nên lưu ý câu “theo lời yêu cầu của nhà nước Cộng sản”. Chuyện này chỉ xảy ra một lần duy nhất trong lịch sử Việt Nam khi Lê Chiêu Thống yêu cầu quân Tàu sang Việt Nam để giúp ông ta lấy lại ngai vàng trong tay Tây Sơn !

4- Năm 1981, Phạm Văn Đồng Tiếp Ký Giả Mỹ

Khi ký giả Stanley Kamow đến Hà Nội được Đồng tiếp trong lúc bài học mà Trung Cộng dạy đàn em còn nóng hổi, Đồng không dằn được bực tức đã tiết lộ: “Hắn (chỉ Mao Trạch Đông) luôn luôn sẵn sàng đánh đến người Việt cuối cùng” (Stanley Kamow – Viet Nam a history – The Viking Press New York 1983 – trang 329).

Nếu là người Việt cai trị người Việt, khi biết một đại cường xem toàn dân Việt Nam chỉ là những cơn chốt, nếu cần thí hết để phục vụ cho cường quốc đó, có nhà lãnh đạo Việt Nam nào dám làm một chuyện tầy trời như thế để gây chiến với anh em trong nhà ?

Vì là người ngoại quốc nên Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo đã huy động hết nhân tài vật lực của Miền Bắc để đánh cho đến người Việt cuối cùng. Hồ còn nói huỵch toẹt là còn đánh đến đời con đời cháu.

Nếu xem Mỹ là kẻ thù bất cộng đái thiên bắt dân Việt hy sinh qua sức to lớn về người và của để đánh cho Mỹ cút bằng mọi giá, sao lại lạy lục nó trở lại trong thập niên 90?

Một vài chuyện phản bội quốc gia Việt Nam kể trên xác nhận một lần nữa, người Cộng sản Việt Nam không phải là người Việt Nam dầu họ mồm loa mép dãi cãi chối sau khi gió đã xoay chiều, Cộng sản không còn mạnh thế nữa, họ phải cố tình lấy lòng dân tộc Việt Nam.

NGƯỜI CỘNG SẢN VIỆT NAM KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI VIỆT NAM MANG LẠI HẬU QUẢ GÌ ?

Trong lịch sử Việt Nam, cách mạng là một biến cố long trời lỡ đất mang lại sự đổi đời có một nét độc đáo.

Suốt thời gian độc lập, người Việt cai trị người Việt, dân Việt không hề làm cách mạng để lật đổ một tay cầm quyền ác ôn và bè lũ để thay thế chế độ cũ bằng một chế độ mới cho người dân sống dễ chịu hơn. Có nỗi dậy nhưng đó là hành động của cá nhân bất mãn, những nhóm người bất mãn. Chưa hề có toàn dân nỗi dậy. Cuộc cách mạng chỉ xảy ra khi nước Việt Nam bị ngoại quốc đô hộ, bị thiết lập một chế độ thực dân cai trị. Nhưng đây là cách mạng giải phóng dân tộc, nói gọn là Cách Mạng Dân Tộc. Cuộc cách mạng này là một tiến trình đấu tranh lâu dài, dưới mọi hình thức, khởi phát khi chế độ thực dân được thiết lập và chỉ chấm dứt khi chế độ thực dân bị dẹp bỏ.

Cách Mạng Dân Tộc có một số nét đặc biệt không có trong những cuộc cách mạng thông thường.

1 Thứ Nhất. Đây là cuộc chiến của toàn dân, đứng hơn là của đa số dân còn ý thức chất Việt trong huyết quản, trong tâm thức. Họ lao vào chiến đấu vì bị thúc đẩy bởi một cái lực bí mật trong nội tâm. Cái lực đó, chúng tôi gọi là hồn nước trong tài liệu “Cách Mạng Dân Tộc” là sự thúc hối của bản năng sinh tồn của cộng đồng dân tộc. Họ lao vào cuộc chiến đấu trong cảnh châu chấu đá voi. Chúng ta nên nhớ làm Cách Mạng trong một chế độ thực dân thực dân nhà Minh, thực dân Pháp, thực dân Cộng sản, không phải là một trò đùa. Khi bị bắt hay thất bại là bản án tử hình hay lưu đày dài hạn hay biệt xứ trong các trại tù khắc nghiệt. Trong giai đoạn đầu, tương quan lực lượng còn thiên về thực dân, người làm cách mạng mười lần như một đều thất bại. Nhưng dù thế nào họ vẫn nỗi dậy. Đặc tính của Cách Mạng Dân Tộc nằm trong điểm “dầu thua cũng đánh”. Câu nói của liệt sĩ Nguyễn Thái Học xác định rõ ràng đặc trình này: “không thành công thì thành nhân”. Nói như thế là cầm chắc cái thua trước khi khởi nghĩa nhưng không phải vì thấy thua mà không đánh.

Từ 1975 đến nay thế giới bên ngoài và đồng bào hải ngoại không hề biết là Cộng sản đã xử tử trong bí mật, đã tra tấn thành phế nhân không biết bao nhiêu nhà Cách Mạng Dân Tộc.

Trong năm 1980, những liệt sĩ này có khi là thanh niên hay thiếu nữ chưa đến 20 tuổi. Điều đó có nghĩa là sau ngày 30-4-75, những thiếu niên anh hùng này là trẻ con không có ân oán giang hồ với Cộng sản. Họ lao vào chiến đấu chỉ vì họ thấy Cộng san quá ác, Cộng sản là kẻ thù không để cho dân được quyền sống bình thường. Khi quy tụ được 10 hay 15 người họ tổ chức thành một tổ chức kháng chiến mang tên Phục Quốc để đi rải truyền đơn liệng lựu đạn v.v. .

Vì họ không có kinh nghiệm chiến đấu hay tổ chức nên hầu hết các tổ chức này bị Cộng sản phá vỡ. Điểm đặc biệt trong cảnh châu châu đá voi như thế, hết lớp này đến lớp khác lao vào chiến dấu không cần biết ngày mai ra sao. Chính cuộc chiến đấu với tánh chất “thua cũng đánh” đã nói lên rõ ràng đây là tiến trình của Cách Mạng Dân Tộc đang khởi động.

2- Thứ Nhì. Cuộc chiến đấu trong Cách Mạng Dân Tộc diễn ra dưới mọi hình thức. Không bao giờ ngừng nghỉ, không bỏ cuộc, chiến đấu cho đến khi nào Cách Mạng thành công

Khi kể tên cách liệt sĩ Cách Mạng Dân Tộc: Nguyễn Trung Trực Trương Công Định, Thiên Hộ Dương, Quản Cơ Thành, Phan Tôn, Phan Liêm, Phan Đình Phùng Đinh Công Tráng, Nguyễn Thiên Thuật, Hoàng Hoa Thám, Phạm Hồng Thái, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thái Học, Trương Tử Anh, Lý Đông A, Huỳnh Phú Sổ, Nguyễn Văn Sâm, Hồ Văn Ngà, Trần Văn Bá, Hồ Thái Bạch, Trần Quốc Hoàng, Hoàng Thụy Mai, Nguyễn Trung Tuấn và hàng ngàn liệt sĩ khác, chúng ta thấy cóo một sự tiếp nối không dứt đoạn của những thế hệ chiến sĩ Cách Mạng Dân Tộc. Đối với thế hệ Nguyễn Trung Trực cũng như thế hệ Nguyễn Thái Học rồi đến thế hệ Trần Văn Bá, đối tượng tranh đấu luôn luôn là chế độ thực dân và bọn cầm quyền ngoại quốc đã cướp đi độc lập dân tộc. Tất cả đều tranh đấu cho dân tộc Việt Nam chớ không phải cho một phe nhóm nào dầu họ mang nhiều hãnh diện khác nhau.

CSVN như đã trình ở trên, là người ngoại quốc đến đất nước Việt Nam để cướp đi độc lập của dân tộc Việt và áp đặt lên đầu họ một chế độ thực dân, khắc nghiệt hơn thực dân Pháp vì mang cùng một lúc ba tánh chất: áp bức, bóc lột, và bất công.

Chế độ thực dân mới này đã tự động mắc vào chu kỳ oan nghiệt “Nổi dậy – Đàn áp – Nổi dậy” mà Cách Mạng Dân Tộc Việt Nam đã trói buộc thực dân.

Dân tộc Việt Nam đã khổ quá rồi, cảnh tức nước vỡ bờ thế nào cũng xảy ra mà những vụ như Kim Nổ, Thái Bình, Xuân Lộc chỉ là sự khơi ngòi Cách Mang.

Bọn thực dân Cộng sản hiện bị giới hạn trong hai khả năng hành động và chỉ có hai thôi trước viễn cảnh Cách Mạng bùng nổ :

– Khả năng một: phải giết cho hết người Việt mới hết nguy cơ Tổng Nổi Dậy,

– Khả năng hai: phải thực tâm đem tất cả quyền bính trao lại tận tay cho đại diện dân tộc Việt Nam.

Nếu có hành động như thế mới không có Tổng Nổi Dậy và người Cộng sản mới có thể bảo tồn được sinh mạng và tài sản, của chìm của nổi cướp được của dân Việt Nam.

Nếu quen trò cũ: mập mờ, lừa bịp, lưu manh, đánh lận con đen bằng cách trả độc lập nửa vời hoặc trao quyền cho người thuộc phe chúng núp dưới mặt nạ mới thì Cách Mạng Dân Tộc vẫn tiếp tục tiến trình cho đến khi đạt được mục tiêu.

Trong quá khứ không có thế lực ngoại quốc nào, dầu đó là thế lực của nhà Minh trong thời cường thịnh và lại sát nách nước Việt, cũng không thế ngăn cản Cách Mạng Dân Tộc đập tan chế độ thực dân của chúng tại Việt Nam.

Thời hiện dại, không có thế lực ngoại bang nào dầu là Cộng sản Tàu hay Tư bản Mỹ có thể có thể ngăn chặn Cách Mạng Dân Tộc bùng nổ tại Việt Nam vì người Việt bị áp bức và bóc lột quá nhiều và quá lâu rồi.

Đây là chân lý mà Bạn và Thù của dân tộc Việt Nam cần hiểu rõ.

::: Thiện Chí Nhân :::

Advertisements
This entry was posted in Tài-liệu - Biên-khảo, THIỆN CHÍ NHÂN: Người CS có phải là người VN không?. Bookmark the permalink.

2 Responses to Người Cộng-sản có phải là người VN không? (Thiện Chí Nhân)

  1. Tuyen Nguyen says:

    Bai viet that la hay

    Like

  2. Khả năng thứ nhất có thể xảy ra,khả năng thứ hai thì không,dân việt ta phải làm gì?không lẻ để chúng xỏ xâu lùa xuống biển?chúng phải bị tiêu diệt,nhưng phải có cơ trời,sự dốt nát của tôi nghĩ vậy!

    Like

Comments are closed.