VIỆT NAM CỘNG HOÀ 10 NGÀY CUỐI CÙNG (Trần Đông Phong)

Việt Nam 1975
Việt Nam Cộng Hòa 10 Ngày Cuối Cùng

Trần Đông Phong

(nguồn: http://vietnam1975.blogspot.ca/
http://giaocam.saigonline.com/)
Hình ảnh: BVCV sưu tầm

* Lời Giới Thiệu (Đinh Thạch Bích)
* Bối Cảnh Truớc 1975
* Một Vài Suy Ngẫm

2004-3004calendar

Chủ Nhật 20.4.1975
Thứ hai 21.04.1975
Thứ ba 22.04.1975
Thứ tư 23.04.1975
Thứ năm 24.04.1975
Thứ sáu 25.04.1975
Thứ bảy 26.04.1975
Chúa nhật 27.04.1975
Thứ hai 28.04.1975
Thứ ba 29.04.1975
Thứ tư 30.04.1975

o O o


Chủ Nhật 20.4.1975

20041975

Trong cuốn hồi ký Đất Nước Tôi được xuất bản vào năm 2003, vị thủ tướng cuối cùng của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa là ông Nguyễn Bá Cẩn cho biết rằng:

“Cũng chính ngày 20 tháng 4 nầy, trong lúc Cộng Sản Bắc Việt đang chặt tay, chặt chân để bóp cổ và chọc thủng bụng theo thế đánh mà bọn chúng thường rêu rao để tuyên truyền thì đồng minh của Việt Nam Cộng Hòa đã “trảm thủ” miền Nam bằng một nhát gươm ân huệ. Thật vậy, sáng hôm ấy, Đại Sứ Martin đến gặp TT Thiệu. Sau khi Đại sứ Martin ra về thì một màn khói im lặng và bí mật bao phủ Dinh Độc Lập cho đến sáng hôm sau” (Nguyễn Bá Cẩn: Đất Nước Tôi, Hoa Hoa Press, Derwood, Maryland, trang 420)

Ngày Chủ Nhật 20 tháng 4 không chỉ có Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin mà còn có cả đại sứ Pháp Mérillon đến hội kiến với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tại Dinh Độc Lập với mục đích thuyết phục ông từ chức để cứu vãn tình hình vì phe Cộng sản dứt khoát không chịu thương thuyết với ông. Theo Frank Snepp và các tác giả của bộ “The Vietnam experience” thì Đại Sứ Mérillon vào gặp TT Thiệu trước Đại sứ Martin, tuy nhiên theo Oliver Todd thì ông đại sứ Pháp vào gặp TT Thiệu sau ông đại sứ Hoa Kỳ.

Oliver Todd cho biết: vào ngày 20 tháng 4, Đại sứ Mérillon đến Dinh Độc Lập một mình và nói chuyện thẳng với TT Thiệu. Đại sứ Mérillon nói rằng: “Thưa Tổng Thống, tôi đến gặp Ngài tại vì tình hình đã trở nên vô cùng nghiêm trọng. Không còn vấn đề quân sự nữa”. TT Thiệu không trả lời và Đại sứ Mérillon nói tiếp: “Tôi thấy chỉ còn là vấn đề chính trị. Cần phải để cho một tiến trình dân chủ được khai triển”.

“Tổng Thống Thiệu ngồi nghe trong khi Đại sứ Mérillon tiếp tục trình bày gần như là độc thoại về những thực tế mà ông Thiệu dần dần bắt đầu hiểu. Đại sứ Mérillon nói rằng chính phủ chỉ còn nắm giữ được vài thành phố lớn nhưng ba phần tư lãnh thổ đã bị mất vào tay Cộng sản, rồi ông Đại sứ nói đến những mối liên lạc thân hữu giữa cá nhân hai người và cả giữa bà Thiệu và bà Mérillon nữa, ông kêu gọi đến trách nhiệm trước lịch sử, đến danh dự cá nhân và yêu cầu Tổng Thống Thiệu nên làm một sự hy sinh lớn lao cho dân tộc Việt Nam qua một sự thương thuyết không thể tránh khỏi để cho một vài quyền lợi nào đó còn có thể cứu vãn được.

“Tổng Thống Thiệu bắt đầu nói đến những tái phối trí cần thiết, về sự phản bội của Mỹ và tinh thần chủ bại của một số tướng lãnh. Rồi Tổng Thống Thiệu kết thúc cuộc hội kiếh bằng mộtn câu nói rất bình dân: “thôi, tới đâu hay tới đó” và ông Đại sứ ra về” (ghi chú: Oliver Todd: sách đã dẫn, trang 312)

Vào hồi 10 giờ sáng, đến lượt Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin vào gặp Tổng Thống Thiệu và cuộc gặp kéo dài trong một tiếng rưởi đồng hồ.

Đại sứ Martin trước hết trình bày với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu về nhận định của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ đối với tình hình quân sự hiện tại. Thực ra thì bản nhận định nầy đã được Frank Nepp, một chuyên viên phân tích tình báo (intelligence analyst) của CIA soạn thảo. Trong cuốn Decent Interval, Frank Nepp tiết lộ rằng ông đã được Polga, Giám Đốc CIA tại Sài Gòn ra chỉ thị phải “soạn thảo bản nhận định càng đen tối càng tốt chừng đó. Đại sứ Martin sẽ dùng bản nhận định nầy để thuyết phục ông Thiệu rằng đã đến lúc ông ta phải ra đi”

Đại sứ Martin đã đưa cho TT Nguyễn Văn Thiệu bản nhận định do Frank Nepp viết nguyên văn như sau:

“Với cuộc sụp đổ của các cuộc phòng thủ của quân đội của chính phủ quanh tỉnh lỵ Xuân Lộc và sự tiếp tục gia tăng tập trung quân đội của Cộng sản trong Vùng 3 Chiến Thuật cán cân lực lượng trong vùng chung quanh Sài Gòn hiện nay đã nghiêng về phía Bắc Việt và Việt Công. Mặc dù chính phủ vẫn còn có thể tăng viện cho một trong những mục tiêu có thể sẽ bị tấn công như Biên Hòa – Long Bình ở về phía Đông Sài Gòn, các tỉnh Long An, Hậu Nghĩa ở về phía Tây hay tỉnh Bình Dương ở về phía Bắc, tuy nhiên lực lượng của chính phủ sẽ không đủ sức mạnh để phòng thủ tất cả các mục tiêu nầy một cách hữu hiệu.Mặt khác về phía Bắc Việt và Việt công thì chỉ trong vòng ba hay bốn ngày, họ lại có đủ khả năng phóng ra những cuộc hành quân phối hợp trên mức nhiều sư đoàn vào tất cả những mục tiêu nầy. Như vậy thì chính phủ VNCH sẽ phải đối phó với một tình trạng mà trong đó Sài Gòn sẽ bị cô lập và sẽ không còn liên lạc được với bên ngoài chỉ trong vòng vài tuần lễ và có thể rơi vào tay của các lực lượng Bắc Việt – Việt Cộng trong vòng 3 hay 4 tuần lễ.

(Frank Nepp nói rằng ông muốn viết “chỉ vài tuần lễ” nhưng Polgar không muốn như vậy. Frank Nepp cũng cho biết thêm rằng sau khi ra đi, ông Thiệu vẫn còn để bản nhận định nầy trên bàn giấy của ông trong Dinh Độc Lập. Khi VC chiếm Sài Gòn, Văn Tiến Dũng đã lấy được bản nhận định nầy và đã cho đăng nguyên văn trong cuốn sách “Đại Thắng Mùa Xuân” của ông ta (ghi chú: Frank Nepp: sđd, trang 382)

Sau nầy, trong một buổi tường trình với Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện Mỹ vào ngày 22 tháng 1 năm 1976, Đại sứ Martin nói rằng ông ta đến gặp TT Thiệu “với tư cách cá nhân, ông ta không đại diện cho TT Gerald Ford, không đại diện cho Ngoại Trưởng Henry Kissinger và cũng không nói chuyện với tư cách là đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Hòa, ông chỉ nói chuyện với tư cách là một người đã từng quan sát tình hình ở Đông Nam Á từ bao nhiêu năm qua và cũng là một người mà trong hai năm qua đã bỏ ra nhiều thì giờ tìm hiểu tất cả ngọn ngành của các vấn đề quân sự tại Việt Nam”

Sau khi trình bày với TT Thiệu về nhận định đầy đen tối về tình hình trong một vài ngày sắp tới, Đại sứ Martin nói rằng ông không hề nói với TT Thiệu là ông ta phải từ chức, ông “chỉ trình bày với TT Thiệu một cách rõ ràng, chính xác và khách quan về nhận định của người Mỹ đối với tình hình hiện tại”

Đại sứ Martin nói rằng ông “nói với TT Thiệu, sau khi phân tích và so sánh lực lượng hai bên và nếu cả hai điều dồn lực lượng vào trận đánh cuối cùng thì các cân quân sự về phía VNCH rất bi quan. Kết luận của tôi là nếu Cộng sản quyết tâm đánh để tiêu diệt Sài Gòn thì Sài Gòn không thể cầm cự được hơn một tháng. Dù sự phòng thủ có khéo léo, dũng cảm và quyết tâm đến đâu chăng nữa thì cũng không thể kéo dài quá ba tuần lễ.

“Tôi nói, theo ý kiến của tôi thì Hà Nội muốn giữ Sài Gòn nguyên vẹn chứ không muốn Sài Gòn trở thành một đống gạch vụn khi họ chiếm đóng. Tuy nhiên không ai biết được một cách chắc chắn rằng Hà Nội sẽ không biến Sài Gòn thành bình địa nếu mà không có một sự thương thuyết nhằm vào việc đình chiến” (ghi chú: Graham Martin: Bản Điều Trần Tại Ủy Ban Ngoại Giao của Hạ Viện Hoa Kỳ tại Washington ngày 22 tháng 1 năm 1976)

Đại sứ Martin nói trắng rằng đây là một việc mà chỉ có một mình TT Thiệu mới có quyền quyết định, tuy nhiên ông Đại sứ cũng “nhắc khéo” TT Thiệu là đa số người Việt Nam đều quy trách ông Thiệu là người phải chịu trách nhiệm trước sự thãm bại quân sự trong hơn một tháng qua, đa số người Việt Nam không tin rằng ông Thiệu còn có đủ khả năng lãnh đạo dất nước vượt qua cuộc khủng hoảng nầy và họ tin tưởng rằng nếu ông Thiệu ra đi thì việc thương thuyết với phe Cộng sản sẽ dễ dàng hơn.

Tổng Thống Thiệu hỏi Đại sứ Martin rằng nếu ông ra đi, liệu quốc hội Hoa Kỳ có thay đổi ý kiến mà bỏ phiếu chấp thuận viện trợ bổ túc cho VNCH hay không thì Đại sứ Martin trả lời rằng nếu cách đây vài tháng, việc đó có thể giúp VNCH có thêm vài ba phiếu tại quốc hội Mỹ, tuy nhiên đó là việc đã qua. Đại sứ nói thêm rằng “giả thử như quốc hội Mỹ chấp thuận viện trợ bổ túc cho VNCH đi nữa thì sự viện trợ đó cũng không thể đến kịp thời để thay đổi tình hình quân sự tại miền Nam”

Thật ra thì khoảng 10 ngày trước đó, vào ngày 10 tháng 4, TT Hoa Kỳ Gerald Ford trong một bài diễn văn được truyền hình trên toàn nước Mỹ đã cho biết rằng ông đã yêu cầu quốc hội cung cấp 722 triệu đô la viện trợ quân sự bổ túc cho VNCH theo đề nghị của Đại Tướng Frederick Weyand và còn xin thêm 250 triệu nữa để cung cấp thực phẩm, thuốc men và cứu trợ cho người tỵ nạn, tuy nhiên đề nghị đã bị Thượng Viện lúc bấy giờ do Đảng Dân Chủ kiểm soát ngâm tôm, không cứu xét.

Qua ngày 16 tháng 4, trong một bài diễn văn đọc trước “Hội Các Nhà Biên Tập Báo Chí Hoa Kỳ (American Society of Newspaper Ediors), TT Ford đã lên án quốc hội bội ước không giữ đúng sự cam kết và nghĩa vụ trợ giúp cho VNCH trong khi Liên Xô và Trung Cộng lại gia tăng nổ lực viện trợ cho đồng minh của họ là Cộng sản Bắc Việt. Dùng ngôn từ của giới mộ điệu football, TT Ford nói rằng: “Tôi cảm thấy muốn phát bệnh khi mà trong hiệp chót (của trận football) nước Mỹ đã không có một nổ lực đặc biệt nào, không có một chút cam kết dù là nhỏ nhoi trong việc viện trợ kinh tế và quân sự mà VNCH cần phải có để có thể tránh được tình trạng bi thảm nầy”

Ngày hôm sau 17 tháng 4, Tiểu ban Quân vụ của Thượng Viện Hoa Kỳ do Đảng Dân Chủ kiểm soát biểu quyết không chấp thuận bất cứ viện trợ quân sự bổ nào cho VNCH, điều nầy có nghĩa là vấn đề viện trợ quân sự cho VNCH sẽ không còn được đưa ra cứu xét trước Thượng Viện Hoa Kỳ nữa.

Qua ngày 18 tháng 4, quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật về viện trợ quân sự tài khóa 1976 trên 3 tỷ đô la dành cho nhiều nước trên thế giới, nhưng trong số những quốc gia nhận được viện trợ không có VNCH. Như vậy có nghĩa là sau ngày 30 tháng 6 năm 1975, dù có còn tồn tại, VNCH cũng sẽ không còn nhận được một số tiền viện trợ nào dành cho quân sự nữa, không còn ngân khoản nào để mua súng đạn, nhiên liệu và cũng không còn để trả lương cho quân đội nữa.

Sau khi VNCH bị Cộng sản cưỡng chiếm, Đại sứ Graham Martin đã điều trần với quốc hội rằng: “Tôi nói với TT Nguyễn Văn Thiệu rằng kết luận của tôi là dù các sĩ quan trong quân đội vẫn còn phải tiếp tục chiến đấu, nhưng gần như hàu hết các vị tướng lãnh của ông Thiệu đều tin rằng đó là một cuộc chiến vô vọng, trừ khi mà bên cạnh sự chiến đấu đó phải bắt đầu khởi sự tiến trình thương thuyết. Tôi nói với ông Thiệu rằng các tướng lãnh tin tưởng rằng tiến trình đó không thể nào được khởi sự trừ khi ộng Thiệu ra đi hoặc là ông Thiệu phải thực hiện ngay tiến trình thương thuyết đó với phe Cộng sản. Tôi nói tôi có cảm tưởng rằng nếu ông Thiệu không từ chức ngay tức khắc thì các tướng lãnh của ông buộc ông phải ra đi”

Sau khi Đại sứ Martin nói hết những điều cần nói. Tổng Thống Thiệu cam kết với ông Martin là ông “sẽ làm bất cứ những gì mà tôi nghĩ rằng có lợi nhất cho đất nước của chúng tôi. (*123: The Vietnam Experience, sđd, trang 136)

—-> Thứ hai 21.04.1975

Advertisements
This entry was posted in * Mùa QUỐC HẬN, Tài-liệu - Biên-khảo, TRẦN ĐÔNG PHONG: 10 ngày cuối cùng của VNCH. Bookmark the permalink.

11 Responses to VIỆT NAM CỘNG HOÀ 10 NGÀY CUỐI CÙNG (Trần Đông Phong)

  1. Tiểu đoàn 126 Quảng trị-Pháo đội A tiểu đoàn 2 pháo binh dù says:

    Nói ra nhửng nguyên nhân vnch thất bại thì nhiều,cốt lõi là chúng ta thiếu lảnh đạo tài ba,không may mắn như ĐẠI HÀN có PAK CHUNG HEE,Đài loan với TƯỞNG GIỚI THẠCH,,LÝ QUANG DIỆU của SINGARPORE hay FERDINAN MACOS của PHI LUẬT TÂN…Nhân tài bị ám hại,tử nạn sớm như anh em nhà NGÔ ĐÌNH,các sỉ quan kiệt xuất mưu lược PHAN QUANG ĐÔNG,LIÊN PHONG,HỒ TẤN QUYỀN,ĐỖ CAO TRÍ,NG.VIẾT THANH,TRƯƠNG QUANG ÂN,NGUYỄN VĂN HIẾU..đều mất sớm,còn lại sau này nhửng NG.KHOA NAM,NGÔ Q.TRƯỞNG,TRẦN V.HAI,LÊ QUANG LƯỠNG,TRẦN QUANG KHÔI,TRẦN VĂN MINH(KQ)v.v.v đều bị ô.THIỆU xủ dụng theo lối độc đoán,mệnh lệnh,cái bất tài của ô. lộ rõ trong những ngày tháng 4/75,kém cỏi quân sự,dù leo lên hàng ngủ 3 sao nhưng khả năng tầm cở tiểu đoàn trưởng (như đánh giá của ký giả ngoại quốc) làm hàng loạt dân quân cán chính vnch chết thảm,đầu hàng.NHẤT TƯỚNG BẤT TÀI VẠN CỐT KHÔ huống chi năm 75 quân đội có tới 4 ô.tướng là NG.V.THIỆU,TR.THIỆN KHIÊM,DƯƠNG V.MINH,CAO V.VIÊN thì làm sao máu không đổ trên tỉnh lộ 7,ở cửa TƯ HIỀN,bãi biển THUẬN AN,dọc quốc lộ 1….Bắc quân ồ ạt tiến vào dể dàng từng ngày cộng thêm sự bội tín của đồng minh HK,nhửng sỉ quan,binh sỉ anh dủng có chiến đấu kháng cự củng chỉ từng giai đoạn sau khi vùng 1,vùng 2 tan rả
    Chuyện đả qua nhắc lại biết bao uất ức,bi thương cho vận nước…..,Nếu…quốc gia được điều khiển bởi các nhân tài kể trên thì đâu đến nổi

    Like

  2. Hải Lăng says:

    CHƯA CÓ DÂN TỘC NÀO ĐAU KHỔ CHO BẰNG DÂN TỘC VN ? TRƯỚC KIA THÌ TỔNG THỐNG , TƯỚNG TÁ THAY NHAU BỐC LỘT , THAM NHŨNG , HẠI DÂN RỒI BỎ DÂN THÁO CHẠY RA NGOẠI QUỐC .CÒN TUYÊN BỐ TỤI NÓ VƯỢT SÔNG , VUỢT BIỂN THÌ KỆ CHÚNG NÓ . ĐÂU MẮC MỚ GÌ ĐẾN TÔI . LẠI CÒN CÓ ÔNG ĐẠI TÁ BẢO :TOÀN DÂN PHẢI NHỚ ƠN TỤI BẮC KỲ VÌ NHỜ CHÚNG NÓ CÓ CÔNG THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC !!! TRỜI ƠI BÂY GIỜ ĐẾN PHIÊN BỌN CỘNG SẢN BẮC VIỆT THÌ …CŨNG CÁ MÈ MỘT LỨA ? CŨNG HỐI LỘ , THAM NHŨNG ĐÀN ÁP NHÂN DÂN . BỌN CHÚNG NÓ ĂN TRÊN NGỒI TRƯỚC , BỐC HỐT CỦA DÂN MANG VỀ CHO GIA ĐÌNH CHÚNG NÓ , CÒN DÂN KHỐN KHỔ ĐÓI RÁCH THÌ MẶC KỆ DÂN ; NHẮC LẠI CHỈ THÊM ĐAU LÒNG THÔI . CŨNG CHỈ VÌ DÂN VN HAY KHUYÊN BẢO NHAU DĨ HOÀ VI QUÝ NÊN CỨ NHỊN NHỤC MÃI KHÔNG DÁM VÙNG LÊN !!!

    Like

  3. Võ Khoa says:

    Theo tôi biết vì tôi đã tham chiến tại mặt trận Vùng Dầu Giây Long Khánh. Hai quả bom BLU 82 được thả xuống vùng Bình Lộc cách thị xã Long Khánh 6 km sáng ngày 16-4-75, sau khi Lực lượng tại Dầu Giây thất thủ. chứ không phải đến ngày 22 hay 23 – 4 -75. Như vậy càng không phải là TT Hương ra lệnh thả bom. Thứ hai bài viết đã mâu thuẩn vì ngày 22 – 4 Sư Đoàn 18 đã rút khỏi Xuân Lộc rồi, không thể nói : ” Tuy nhiên dù có bom CBU nhưng một Sư Đoàn 18 không thể nào chống cự được với một lực lượng địch đông gấp bội,” ??? Kính

    Like

  4. Lê thái Linh Yên,Lê thái Chân says:

    Những tài liệu chi tiết mà tác giả TR.Đ.PHONG viết ra có lẽ đúng nhiều về VN từ giai đoạn trước,,sau năm 1954 đến nay,cho chúng ta có cái nhìn toàn cục diển tiển tình hình thế giới ảnh hưởng tới chiến tranh VN.Sự hăm hở nhảy vào và cuối cùng phản bội của người MỸ cùng lề lối lảnh đạo kém cỏi,bất tài của vị tt độc đoán NG.V.THIỆU làm người dân miền nam vn sửng sờ,uất hận,,,nguyên nhân mất nước đả thấy rỏ!!!giờ nhửng tên chính khách HOA KỲ như MANSFIELD,E.KENEDY,HUMMPRY,KISSINGER…hay ô.THIỆU đả ra người thiên cổ,biết có còn nghe lời ai oán,nguyền rủa của hàng trăm ngàn nạn nhân CS đả bỏ mạng vì hành động phản trắc vô tâm của giới chóp bu cả MỸ lẩn VN
    Xin dành nhửng giây phút vinh danh thời đệ nhất cộng hoà của các lãnh đạo tài ba đức độ,có viển kiến chính trị như NG.Đ.DIỆM,ô.bà cố vấn NG.Đ.NHU,chỉ còn nhửng người này mới là ngôi sao sáng của quốc gia trong nhửng tình huống bị gọng kềm quốc tế phá hoại,tiếc cho sự tồn tai của họ không lâu vì sự can thiệp của HK,củng như âm mưu phản loạn của nhóm ngu xuẩn,hèn mạt:DƯƠNG V.MINH,ĐỖ MẬU,NG.KHÁNH,TRẦN V.ĐÔN,MAI HỬU XUÂN,NG. VĂN THIỆU,TR. THIỆN KHIÊM…..gây ra ngày 1/11/63 báo hiệu sự sụp đổ của thể chế VNCH 12 năm sau

    Like

  5. Lê thái ...Tiểu đoàn 126 tiểu khu QUẢNG TRỊ KBC 6834 says:

    Thử hỏi ô. THIỆU đả phá nát tiềm năng quân đội từ vùng 1 và vùng 2 bằng lệnh rút lui tái phối trí cẩu thả,nguy hiểm làm tiêu hao biết bao nhiêu khí tài hoả lực bỏ lại suốt chặng đường tỉnh lộ 7,ở cửa THUẬN AN,TƯ HIỀN và máu,nước mắt của anh em TQLC,BĐQ,ND,sư đoàn 1,3,22,23 của các đơn vị thiết giáp,địa phương quân..của dân chúng đả đổ dọc theo đường di tản..Khi CS đến cận vùng LONG KHÁNH sức chống trả có mảnh liệt thì củng như nước đả sắp tràn ly,,chiến đấu bao nhiêu lâu khi vị tt kiêm tổng tư lệnh kém cỏi,độc đoán đả tạo lổ thủng cho địch tiến vào ? ô. THIỆU vô tình lập công để CS chiếm dể dàng từng quận từng tỉnh lỵ,thị xả…hàng ngủ tướng tá,binh sỉ dưới quyền có oằn mình ra chống đở củng chỉ giới hạn trước lợi thế ồ ạt của BV cho nên LỰC BẤT tòng tâm cuối cùng biết bao là gương hy sinh tuẩn tiết xảy ra cho đến ngày 30/4 khi tên đ/tướng ngu hèn,nội gián kí lệnh đầu hàng::DƯƠNG V.MINH
    Trách nhiệm của giới đầu nảo ở SG như ô. THIỆU,TR.THIỆM KHIÊM,CAO V.VIÊN quá rỏ ,biết HOA KỲ sắp bỏ rơi vì áp lực của tụi gốc DO THÁI nhưng thiếu mưu lược,không biết huy động nhân tài,vật lực để cùng nhau xả thân gìn giử giang sơn.Chỉ thụ động chờ viện trợ,cấu bè kết phái hưởng thụ,đàn bà gái đẹp như tt THIỆU làm sao đất nước không sụp đổ,,,ra nước ngoài sớm với mớ tài sản mang theo tậu nhà cửa,hưởng phú quý an nhàn lại còn họp báo bào chửa,nguỵ biện
    Hiệp định PARIS năm 1973 chỉ là mớ giấy lộn mà MỸ đả dàn dựng và bội ước làm ngơ cho BẮC quân tràn vào miền NAM cưởng chiếm,thủ phạm chính là H.KISSINGER,tất cả đều là vết nhơ trong quân sử của HOA KỲ,một cuộc chiến mà người MỸ hăm hở nhảy vào thay PHÁP ngay từ 1954 nhưng thiếu kinh nghiệm,yếu chính trị xử dụng người kém cỏi bằng chứng qua việc âm mưu với đám tướng tá bất tài,vô đức lật đổ và sát hại 3 anh em tt NG.Đ. DIỆM làm mất đi bao nhân tài,dủng lược của VNCH….

    Like

  6. Philong 51 says:

    Bài viết rất công phu với hàng trăm dẫn chứng (tài liệu) nhưng rất tiếc những chi tiết về phi trường Tân Sơn Nhứt hoàn toàn không đúng. Tôi không biết tất cả các sử gia ngoại quốc hay VN ghi lại từ nguồn tin nào ?
    Thí dụ :
    – Phi tuần của tên Nguyễn Thành Trung có 5 chiếc A-37 phát xuất từ Nha Trang ? Vào khoảng 5 giờ 45 phút chiều ngày 28/4/75 tôi suýt đụng phải phi tuần 4 chiếc A-37 trên sông Đồng Nai (bên Cồn) phía Đông Nam cầu Mới Biên Hoà ở cao độ thấp trên ngọn cây.
    – Phi trường Tân Sơn Nhứt bị hư hại nặng ? Tất cả các tài liệu ghi lại hoàn toàn không đúng ngay cả lời tường trình của Đ/S Martin trước Quốc Hội Mỹ (vì 1 lý do nào đó).
    Tôi đã cất cánh lúc 04 giờ 25 phút sáng và đáp lúc 06 giờ 55 phút tại đây.
    Sau phi vụ yểm trợ cho SĐ 5 BB ở Bến Cát phi tuần 2 chiếc A-1 của Th/tá Hồ văn Hiển và T/u Tân của PĐ 514 đáp xuống để chở chúng tôi gần 20 người đi Cần Thơ lúc 11 giờ trưa.
    Th/tá Nguyễn Ngọc Lành của PĐ 518 với hàng chục hành khách cất cánh 1 chiếc AD-5 lúc 3 giờ chiều để đi Phú Quốc.
    Tr/tá Nguyễn Ngọc Khoa SĐ 5KQ lái 1 chiếc C-47 tứ Côn Sơn vế đáp TSN, Ông chạy vế nhà ở cư xá Lử Gia gom góp thân nhân và cất cánh đi Côn Sơn lúc 4 giờ chiêu. Nếu nói rằng phi trường TSN không an toàn và thiếu an ninh thì đúng vì lúc 07 giờ sáng ngày 29/4/75 1 chiếc AC-119K với danh hiệu Tinh Long-07 do Tr/uý Trang văn Thành lái bị trúng hoả tiễn tầm nhiệt SA-7 . Phi cơ nầy bị gảy cánh phải, phi cơ phát hoả và đâm xuống đất bên trong vòng đai phía Bắc TSN cách đài kiểm Soát Không Lưu chừng 1 cây số và tạo ra 1 đám cháy, khói lửa bốc lên ngùn ngụt hàng trăm thước (hình ảnh nầy được nhiều người chú thích là kho bom đạn hay kho xăng dầu bị trúng pháo?)
    Sự xuất hiện của SA-7, khắc tinh của tất cả các loại phi cơ bay ở cao dộ thấp dưới 10 ngàn bộ Anh , nhất là khi cất cánh và đáp. Sau đó không lâu tất cả các loại phi cơ (F-5, C-130, C-47…) cất cánh bay lên như ong vỡ tổ và vài ba giờ sau cổng Phi Long của TSN bỏ ngõ.

    Like

  7. KiD says:

    Đất nước hiện nay sao màbi đát quá vậy, biết bao giờ dân tộc VN mới có thể tự hào ngẩng cao đầu với các nước khác trên thế giới. Gửi lời tri ân và cũng là sự tiếc thương vô cùng đối với VNCH. Đây là sai lầm lớn nhất của dân tộc Việt Nam.

    Like

    • ĐĐCS says:

      Tại sao đất nước VN hiện nay sao mà “bi đát” quá vậy? Tại đi theo con được “bác đi” đó mà !!

      Like

  8. Độc giả says:

    Vận nước đã tới hồi mạt, dù không xảy ra vào tháng Tư 1975 thời chắc chắn phải xảy ra vào 1 tháng nào đó. Đó là hậu quả đương nhiên. Thử hỏi, 1 quốc gia bé nhỏ phải đánh vật với bao kẻ thù, từ nội xâm đến ngoại xâm. Bị bủa vây trùng trùng điệp điệp. Song song còn bị lũ phản quốc manh tâm cấu kết với ngoại thù và bọn cộng sản xâm lược khốn kiếp ngày đêm dâng hiến đất nước cho lũ quỷ đỏ cộng sản quốc tế với đầy dẫy những chiến cụ tối tân thượng thặng. 30 tháng tư là điều hiển nhiên rồi. Than làm chi, thống khổ làm gì ? Có ích gì khi chúng ta cứ mãi ôm cái quá khứ bi đát đó ? Sao không biết biến giọt lệ ngày xưa phải trở thành hạt minh châu cho quốc gia và dân tộc ở thời nay hoặc ngày mai và mãi mãi ?

    Like

  9. Đức Minh says:

    Chúng ta có thể tự hỏi : Tại sao đầu hàng không nhằm vào ngày 29 hoặc 1 ngày nào đó của tháng tư, hoặc vào tháng 5 …

    Chúng ta có thể tự suy-luận : 30 là ngày có con số lớn nhất trong tháng tư. Và từ đó mới có câu ba mươi thứ tang hoặc ba chục thứ tang. Giả-dụ ngày đầu-hàng qua tháng 5 hoặc tháng nào đó phỏng còn ý-nghĩa gì nữa ?

    Vậy, con số 30 là con số tượng-trưng cho sự tang-tóc đen-tối nhất, lớn-lao nhất mà từ đó nước Việt-Nam và dân-tộc Việt-nam phải chịu-đựng mãi mãi và không biết đến bao giờ mới chấm-dứt ?

    Than ôi ! Đó phải chăng là con số tiền-định của dân-tộc và quốc-gia khốn-khổ này chăng ??? Bao tang-thương, đau-khổ miệt-mài kể từ ngày định-mênh đầy oan-khiên đó cho đến nay vẫn chưa có dấu-hiệu kết-thúc.

    Khốn-nạn thay cho những tên hoạt-đầu chánh-trị thời đó, chúng đã đang tâm ăn cơm quốc-gia thờ ma cộng-sản, giờ này đã biết hối lỗi, đã biết ân-hận ?

    Like

  10. Dung Dang says:

    Cám ơn bài viết, đã cho mọi người thấy được cái nhìn toàn cục về những ngày cuối cùng của VNCH. Bài trên BVCV đã được sửa lỗi và trình bày rất dễ xem, chứ trên bài gốc thi lỗi nhiều quá, xin cám ơn trang BVCV rất nhiều.

    Like

Comments are closed.