Cái chết oai dũng của Chuẩn Úy NGUYỄN VĂN PHẦN (Nghĩa Ân)

Cái chết oai dũng của
Chuẩn Úy Nguyễn Văn Phần

Ðể tưởng nhớ những anh hùng của Hậu Nghĩa.

::: Nghĩa Ân :::

Người viết bài nầy là một Quân nhân phục vụ trong ngành An ninh Quân đội thuộc Tiểu khu Hậu Nghĩa từ những ngày đầu thành lập Tỉnh nầy năm 1964. Anh lấy bút hiệu là Nghĩa Ân, tên ghép lại của hai anh Ngô Ðình Nghĩa, Trưởng ty An ninh Quân đội Tỉnh Hậu Nghĩa và của anh Chuẩn úy Ân, thuộc Ty ANQÐ / HN, hai người đã hy sinh trong cuộc chiến đấu chống Cộng sản Bắc Việt xâm lăng mà tác giả đặc biệt quý trọng.

Cái chết kiêu hùng của Chuẩn úy Phần cùng với cái chết “da ngựa bọc thây” của bao nhiêu anh chị em Quân nhân trẻ khác của QLVNCH “không chịu đầu hàng Cộng sản” là tiếng nói bất khuất của Miền Nam tự do để làm cho những kẻ hèn nhát phải cúi đầu trong nhục nhã và Cộng sản phải thất bại ê chề trong các chiến dịch tuyên truyền, huênh hoang rằng “toàn thể Miền Nam đã thần phục chúng”.

Trước ngày Trung sĩ Phần thuộc Ðại đội CTCT/ Tiểu khu lên đường ra Ðồng Ðế học khóa Sĩ quan Ðặc biệt, tác giả bài nầy và Tr/sĩ Phần, tuy có quen biết nhau (vì Ðại đội CTCT/TK nằm gần Ty ANQÐ/TK) nhưng hai người không mấy thân nhau. Khi tốt nghiệp Sĩ quan, Chuẩn úy Nguyễn Văn Phần được đưa về Tiểu đoàn 327 (Thiếu tá Tôn Thất Trân) / Tiểu khu Hậu Nghĩa. Sau ngày 30/4/75, tác giả bị VC nhốt chung với Chuẩn úy Phần tại nhà tù Long An… và có dịp gặp lại người bạn cũ “tử tù Nguyễn Văn Phần”.

Chuẩn úy Nguyễn Văn Phần, trước khi đi học khóa Sĩ quan Bộ binh ở Ðồng Ðế (Nha Trang), là một Quân nhân ngành Chiến Tranh Chánh Trị xuất thân từ Trung tâm Huấn luyện Cán bộ CTCT – Trại Nguyễn Trãi thuộc Biệt khu Thủ đô -. Khi đi học về, anh được đưa về Tiểu đoàn 327 Ðịa phương quân Tiểu khu Hậu Nghĩa của Thiếu tá Tôn Thất Trân, có nhiệm vụ chận không cho bọn VC từ mật khu “Rừng tràm Bà Vụ” (trước đây là đồn điền Lý Văn Mạnh) được ra liên lạc tiếp xúc với các làng xóm ở chung quanh. Ai ở Ðức Hòa cũng biết đến mật khu nầy, nằm ở phía Tây Nam của lãnh thổ của Chi khu Ðức Hòa (một phần ăn sang lãnh thổ Chi khu Thủ Thừa thuộc Long An), bên này bờ sông Vàm Cỏ Ðông. Trung đội của Chuẩn úy Phần làm tiền trạm, nằm gần bờ rừng tràm của mật khu…

Sau ngày 30/4/75, tháng 8/75, tôi bị bắt đưa về nhốt ở khám Long An cùng với các bạn trong ngành ANQÐ. Khi cán bộ nhà tù khóa cửa lại và đi khỏi, nhiều anh em ở Tiểu khu Hậu Nghĩa chạy lại vồn vã, tay bắt mặt mừng, thăm hỏi tôi đủ điều đủ chuyện… trong khi tôi không biết gì hơn các ảnh. Tôi được các ảnh đưa lại “trình diện” trưởng phòng, một cán bộ VC chiêu hồi, các ảnh giới thiệu trước với tôi là “đối xử tốt với anh em mình”. Tôi được chỉ chỗ nằm (?) “dành đặc biệt cho những người mới đến” (chỗ gần cầu tiêu). Ngồi tại chỗ, cạnh cái giỏ lát đi chợ đựng hai bộ đồ cũ…, tôi bắt đầu nhìn chung quanh. Phòng bề sâu 4 thước, dài 5 thước, nhốt 26 người già có trẻ có. “Làm sao nằm?” Phòng ngó ra sân xi măng bằng một cánh cửa song sắt rộng khoảng 6 tấc. “Làm sao đủ không khí cho bao nhiêu người thở?” Nhưng, đã là tù thì làm gì còn quyền có ý kiến?

Tôi vào tù được vài ngày thì một buổi chiều nọ, có nhiều tiếng ồn ào ngoài sân và cánh cửa phòng tôi kêu lẻng kẻng, anh VC cai ngục mở khóa bước vào:

– Các anh ở góc kia dời đi chỗ khác. Chỗ nầy sẽ để tạm cho 3 anh tù “tử tội”. Cấm mọi người tiếp xúc với các anh nầy! Vi phạm điều cấm nầy sẽ bị những biện pháp kỷ luật nặng nhất!

Các người ở góc phòng được chỉ, ríu ríu tuân hành và dọn đi trong nháy mắt.

Tụi VC từ ngoài sân trước lôi vào 3 người, tay chân xiềng bằng dây dừa và bằng xích xe đạp, liệng vào góc. Trước khi đi ra, bọn VC tháo dây xích cột tay các “tử tù” trong khi tên “xếp” lên giọng huênh hoang, nào là về “đạo đức cách mạng”, nào là “đại nhân đại nghĩa”, nào là “đường lối trước sau như một”… Tức khí, một trong 3 anh “tử tù” la to:

– “Bọn ăn cướp giết người”, tụi bay mà dám nói đến đạo đức sao?

Tên “xếp” VC bị cắt ngang, đưa mắt ra lệnh cho các tay VC đàn em. Bọn này nhảy xổ lại lôi anh “tử tù” ấy ra ngoài, khóa đóng cửa phòng lại. Ðem người “tử tù” đi đâu, không ai biết! Tôi hỏi anh bạn cùng đơn vị ANQÐ với tôi đang ngồi cạnh:

– Chúng đem đi đâu?

Thay vì trả lời, ông bạn tôi chỉ khẽ nói:

– Ðừng hỏi! Tụi ăng-ten nhiều lắm đó!

Một bầu không khí nghi kỵ, người nầy sợ người kia… Chúng tôi cảm thấy mình trở nên hèn… Sáng hôm sau, bọn VC khiêng người “tử tù” trở lại phòng. Cửa vừa đóng, tôi nhìn lại góc phòng tụi VC cấm. Một dáng người quen quen. Tôi hỏi anh bạn bên cạnh:

– Ai mà thấy có vẻ quen quá vậy?

– Chuẩn úy Phần, Tiểu đoàn Thiếu tá Trân đó!

Tôi kêu trời và định chạy lại thì bị anh bạn níu lại:

– Khoan vội! Ðợi chút nữa thằng Tam đi xuống bếp để đem cơm cho tù rồi hãy nói chuyện.

– Thằng Tam nào?

– Thằng đứng ở cửa kìa! Chiêu hồi. Nó là chúa ăng-ten ở trong phòng. Nó mà báo cáo anh có liên hệ với “tử tù” thì đòn nát xương.

– Sao tôi nghe “tử tù” nhốt xà-lim mà?

– Ðúng vậy! Các “phòng tập thể” dành cho tội nhẹ và tội “chưa đủ bằng chứng”. Tội nặng và “tử tù” thì nhốt ở dãy xà-lim đang cất. Có lẽ dãy xà-lim chưa cất xong nên chúng đem nhốt ở đây đỡ vài ngày.

Ðợi thằng Tam ngó ra ngoài, tôi vội đưa tay vẫy chào Chuẩn úy Phần. Ðến khoảng gần trưa, cán bộ VC coi nhà tù đến mở cửa cho thằng Tam ra ngoài xuống bếp đem phát cơm cho tù. Anh bạn kề tôi ra dấu. Tôi đến gần Chuẩn úy Phần. Bắt tay. Nhìn nhau trong im lặng. Chuẩn úy Phần mặt mày sưng vù, đầy vết máu, vết bầm… nhưng cặp mắt sáng quắc, vẻ đầy cương quyết nhưng không kém phần dịu dàng. Anh nhìn tôi một chập rồi cười nói:

– An ninh Quân đội vào “điều chuẩn an ninh” trước khi đem tôi ra bắn (theo thủ tục ANQÐ, mỗi khi đi làm gì “không thường lệ” thì phải “điều chuẩn an ninh”).

Rồi anh lại cười… và tôi cũng cười theo. Chợt tôi nhớ lại:

– Tụi nó sắp bắn anh?

– Tôi muốn bắn tụi nó nhưng không có súng nên phải để tụi nó bắn tôi! Thì cũng là công bình thôi! Tôi bắn tụi nó cả chục. Tụi nó chỉ bắn một mình tôi. Như vậy là mình lời! Chuyện chi phải lo cho mệt!

– Thế tại sao anh bị nặng như thế nầy?

– Thì chuyện “chơi” mà “nhứt chín nhì bù” mà…

– Mặt mày anh sưng húp! Bị tụi nó đánh à?

– Hôm qua, tôi chửi thằng “xếp” nên bị tụi nó lôi ra phòng “hỏi cung” trói lại cho 6 thằng “bề hội đồng”. “Mềm như cái mền”. Không ngồi được, nên giờ chúng mới khiêng vào.

Tôi hỏi tiếp:

– Anh làm gì mà “tử tù”?

Khoảng 15 – 16 tháng 4/75, từ bên kia sông Vàm Cỏ Ðông, pháo 130 ly của VC nả vào các vị trí của Tiểu đoàn. Trên máy, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng ra lệnh:

– Các đơn vị đóng ở những chỗ trống hãy rút về những nơi an toàn và báo cáo vị trí mới.

Lệnh được lập đi lập lại ba lần, rồi không nghe gì trong máy nữa. Bỗng máy rè rè trở lại và có tiếng của Thiếu tá:

– Non nước gọi Non nước 1… Non nước gọi Non nước 1… Anh nghe rõ không? Anh nghe rõ không?

Tôi vội chạy lại cầm ống nghe trả lời:

– Non nước 1 nghe năm trên năm! sẵn sàng nhận lệnh!

– Chỗ các anh có bị pháo không? Rút ngay vào làng (vì dân làng nầy theo VC – giáp mật khu của VC – nên không khi nào chúng pháo vào đây)! Phải sẵn sàng chiến đấu! “Tiền pháo hậu xung” đấy!

– Non nước 1 cũng bị pháo nhưng con cái an toàn vì có chỗ chiến đấu tốt. Sẽ chờ chúng tại đây! Ðánh thì đánh chớ sợ gì! Chờ hoài thét muốn điên!

– Tôi cũng muốn ở chỗ các anh! nhớ gọi khi cần yểm trợ!

Tôi xoay lại anh truyền tin:

– Mày chạy ra ngoài bờ ruộng báo tin mừng cho anh em và nói với họ sẵn sàng vũ khí để “chơi” với tụi nó! Khoảng nửa tiếng nữa tao ra coi lại. Rồi mày chạy lại bảo nhà bếp, cơm nước phải xong cho anh em khi tao xuống! Nhớ bảo thằng Trung đưa cây M16 của tao cho tao!

Ngày nào cũng ở tư thế sẵn sàng nhưng không có bóng dáng một thằng VC nào. Thiệt là chán! Phải chi tụi nó mò ra để mình “thịt” chơi! Không có chuyện gì ngoài chuyện pháo kích mỗi ngày nên thường tắt máy vì sợ hết pin.

Ngày 28-29/4/75, chờ VC pháo nhưng chúng không pháo. Mấy ngày sau cũng thế… Sáng 30/4/75 thì nghe Dương Văn Minh ra lệnh “bỏ súng đầu hàng”. Tôi hét anh giữ máy:

-Mở máy liên lạc Tiểu đoàn!

Máy hư. “Làm sao bây giờ?” Tôi chưa biết tính sao:

-Mầy ráng sửa thử!

Nhưng vô phương. Thôi đành… Tôi bảo ra tập họp anh em để tôi nói chuyện gấp:

– Có lệnh buông súng đầu hàng. Trung đội đã mất liên lạc với trên Tiểu đoàn. Ai muốn về thì bỏ súng ra về…

– Còn Chuẩn úy?

– Tôi chưa biết… Ở lại…

Có hơn một nửa ra về. Còn hơn mười lăm anh em ở lại. Tôi nhìn anh em:

– Không về à ? Gia đình lo sao?

– Thì coi như mình đã chết trận!

Có người hỏi:

– Bây giờ mình làm gì đây?

Tôi chả biết và anh em cũng không ai biết… Tất cả chúng tôi chỉ có chung một ý nghĩ: “Không bỏ súng đầu hàng, tiếp tục đánh bọn chúng, có chết cũng chấp nhận”. Chợt có tiếng anh Thượng sĩ Trung đội phó:

-Mấy ngày nay không thấy bóng thằng VC nào mò ra xóm kiếm gạo. Chắc trong đó không còn đứa nào. Hay mình vào đó ở tạm… rồi sẽ tìm chỗ khác!

Vào ở trong sâu được hơn một tuần, sắp di chuyển… thì một buổi sáng nọ, toán mấy người đi bắt cua cho một người về hỏi:

– Tụi tôi vừa đến chỗ bắt cua thì bị một bọn tụi nhỏ trông thấy. Vậy bây giờ mình phải tính sao đây? Tụi nó bị tụi tôi giữ ngoài chỗ bắt cua…

Trong anh em có ý kiến:

– Tụi nhỏ ở các xóm vùng nầy toàn là “VC con”. Phải “thịt” để khỏi bị lộ bí mật, vì mình còn phải ở lại đây vài ba ngày để chờ các anh đi lên trên kia về (trên kia là chỗ sắp đến)!

Nhưng tôi nói:

– Chưa chắc dân chúng ở đây đã theo VC. Ở trong vùng gần mật khu thì nghe theo VC là lẽ đương nhiên! Mình không nên giết bọn trẻ con. Chúng gặp mình vì “vô tình” chứ không làm tình báo cho bọn VC. Ðể đề phòng bất trắc, mình nên di chuyển sâu hơn…

Anh em đồng ý. Nhưng không may cho tụi tôi. Trong bọn trẻ có đứa đi báo VC… Ngay chiều hôm đó, trong lúc tôi mới nằm định chợp mắt nghỉ mệt một chút vì mới vác gạo, thì một anh trong chúng tôi hớt hơ hớt hãi chạy lại đập tôi dậy:

– Chuẩn úy! Chuẩn úy! Bọn VC! Tụi nó đông lắm! Cả trăm!

– Tụi nó đang ở đâu?

Một tiếng “ầm” trả lời cho tôi.

– Cối 60 ly. Tụi nó không còn xa!

– Mình rút về giữa sông được không? Mình có giấu ghe sẵn mà!

– Tụi nó bao vây mọi phía rồi!

Vừa lúc đó thì nhiều tiếng cối khác nổ chung quanh… Anh em chúng tôi chụp vũ khí và tìm chỗ núp đạn cối. Ðạn cối từ từ đến gần…, và sau cùng liên tục chụp lên đầu chúng tôi. Chúng nó biết chỗ tụi tôi rồi. Gần như không có chỗ núp nào là trốn được cối. Trong số hơn mười anh em đã có gần hai phần chết và bị thương. Giờ thì thấy rõ bọn chúng. Ðông quá! Cối thôi nổ. Chúng tôi và tụi nó đánh nhau bằng súng M16, AK và lựu đạn. Chúng tôi chỉ còn mỗi một ổ kháng cự nhỏ ở chỗ tôi với một cây đại liên M60, cây phóng lựu M79 và hai cây M16. Nhưng bọn VC lên tên nào là “rớt” tên đó. Bắn đã quá. Tụi tôi “thịt” cả mấy chục. Nhưng dần dần chúng tôi hết đạn… Tôi dùng đến cây Colt… Cây Colt cũng hết đạn… Còn lại 3 anh em… Ðưa mắt nhìn nhau lắt đầu nhưng vẫn mỉm cười… Bọn VC biết chúng tôi hết đạn:

– Bỏ súng xuống! Giơ tay đầu hàng! Ðứng dậy bước ra!

Chúng tôi làm y như chúng nói nhưng chúng vẫn còn sợ:

– Ra hết chưa?

Chúng tôi chỉ gật đầu chứ không trả lời. Bây giờ chúng mới dám đứng lên nhưng vẫn chỉa súng vào chúng tôi:

– Trong tui bây thằng nào chỉ huy?

Tụi tôi không ai trả lời… Nhưng có một anh chỉ một anh khác nằm chết ở gốc cây:

– Thượng sĩ Lên!

– Láo! Láo! Ðánh chết tụi nó đi!

Bá súng tới tấp… Máu phun có vòi… Tụi tôi bị trói bằng dây dừa, và… bây giờ, ở đây.

– Những vết thương trên mặt là… ?

– Tôi bị bọn chúng đánh ba lần, khi chúng bắt, khi hỏi cung lần đầu và mới chiều hôm qua!

Anh mỉm cười tiếp:

– Khi chúng hỏi cung, tôi không khai gì hết, kể cả tên cha me, quê quán, cấp bậc… Chỉ chửi Hồ Chí Minh là kẻ bán nước! Rằng bọn chúng chỉ là một bầy súc vật làm tôi mọi cho Nga Tàu, là sâu bọ làm người v.v…, nên chúng “bề hội đồng”.

– Sau đó anh bị án “tử hình”?

– Ðúng vậy!

– Gia đình anh biết chưa?

– Cho gia đình khóc có ích gì đâu!

Rồi sau đó, ngày nào anh cũng lấy tay làm loa, lớn tiếng chửi bọn Cộng sản, làm náo động không những chỉ trong toàn nhà giam, mà các nhà dân xung quanh nhà giam cũng nghe rõ mồn một. Phản ứng của bọn Cộng sản là trói hai tay của anh để anh không còn làm loa được nữa. Không có loa thì anh ráng gân cổ la to hơn. Bọn VC liền áp dụng biện pháp xoa dịu và thương lượng: Nếu anh giữ im lặng và chấp hành nội quy, chúng sẽ cho anh liên lạc với gia đình để thăm nuôi. Và kết quả là anh càng chửi lớn hơn… Thế là lại bị “bề hội đồng”, bị nhốt vào xà-lim…

Một thời gian sau, tên Hai Trọng, “xếp” nhà giam, cho tập trung tù trước nhà giam và lên lớp về “chánh sách khoan hồng nhân đạo của cách mạng” (VC tự xưng là cách mạng). Các “tử tù” và các hạng “trọng tội” cũng được tập trung để “học tập”. Hắn cà kê dê ngổng suốt 2 – 3 tiếng đồng hồ rồi hỏi ai có muốn nói gì không. Một số cò mồi (hầu hết là bọn chiêu hồi) giơ tay ca tụng “đường lối nhân đạo của cách mạng”, “khoan hồng cho những kẻ lầm đường”, “đánh kẻ chạy đi không đánh người quay lại”…

Anh Nguyễn Văn Phần thấy sôi gan, vụt đứng dậy la to:

– Tôi tên là Nguyễn Văn Phần, Binh nhì của QLVNCH, bị các ông bắt ở rừng tràm Bà Vụ vì anh em tôi hết đạn. Các ông đánh tôi mềm như cái mền, từ đầu đến chân. Như vậy là khoan hồng, nhân đạo sao? Còn chúng tôi khi bị bọn con cái của các ông phát giác ở trong rừng, chúng tôi đã không nỡ giết bọn chúng để giữ bí mật… thì đó mới thực sự là đại nhân, đại nghĩa. Còn những gì các ông nói chỉ là láo khoét, bịp bợm… “Khoan hồng”, “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”… sao lại giết những người ra trình diện như Ðại úy Thinh, Thiếu tá Phúc, Thiếu tá Trân…?

Các tên tù “ăng-ten” nhảy tới lôi anh đi (không biết đi đâu)… và sau nầy, tôi nghe người ta nói anh đã bị bắn ở sân banh Bến Lức, và cũng có người nói anh bị bắn ở Thủ Thừa…

Nhưng, điều chắc chắn là anh đã bị bọn VC bắn.

Nghĩa Ân

Little Sàigòn, tháng 11/98

Advertisements
This entry was posted in * Mùa QUỐC HẬN, Chuyện Tù, Tổ Quốc Ghi Ơn, Tội Ác Cộng-sản. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s