Hoa Huệ Trắng (Kha Lăng Đa)

TÌM NƠI TĨNH MỊCH

Hơn ba năm, ba tháng sống trên miền đất hứa Tự Do, tôi đã trải qua ba “job”. Tháng thứ hai từ khi tôi đến Mỹ theo diện H. O, tôi làm việc ở hãng chuyên sản xuất giường sắt. Được một năm, một tháng, vì tình trạng phức tạp của hãng tôi xin vào làm cho hãng “Design Trend” chuyên may đồ gia dụng. Ở đây cũng gặp nhiều rắc rối, tôi quyết định vào làm trong tu viện Saint Louis.

Kể ra cuộc đời tôi cũng “ba chìm bảy nổi, chín cái lênh đênh”. Tôi làm hãng nào cũng được liệt vào hạng công nhân xuất sắc. Cũng do cái xuất sắc ấy mà người khác ganh tỵ, nhứt là người thoát thai từ “Trăm trứng của Mẹ Âu Cơ” như tôi. Tôi nghĩ chắc tại số phần mình như vậy. Ngày xưa, tôi đã chuyển “bầu đoàn thê tử” từ Nha Trang ra Đà Nẵng, rồi từ “ải địa đầu” nầy lại bồng chống về Cần Thơ. Những năm tháng sau khi ra khỏi ngục tù Cộng Sản, tôi lặn lội như con cò . . . trống nuôi vợ con. Từ trên rừng, phá cây làm rẫy, tôi lại ra biển bủa lưới giăng câu. Cuộc đời đưa đến “bỉ cực”, tối như đêm 30 nhưng may mắn thay, tôi lại được “thới lai”. Qua biết bao gian lao, khổ nhọc, tủi nhục, cay đắng, lúc đến Mỹ tôi như một “cua-rơ” bị bể cả hai lốp xe nhưng cũng cố đạp về đến mức. Ấy vậy mà lúc “huy hoàng”, thực phẩm ê hề, tôi lại không ăn được nhiều để bồi dưỡng nên vẫn ốm tong. (Đầm chê là cái chắc!)

Lúc vào làm việc trong tu viện Saint Louis, buổi trưa tôi ăn chung với đám học trò và giáo sư. Gặp thức ăn của Mỹ tôi lại càng “ớn” thêm, ráng nuốt trợn trạo cho qua bữa chớ không thấy ngon lành gì cả! Thôi thì đành chịu vậy. Có điều làm tôi vui thích là tìm được chỗ làm yên tĩnh, không ai ganh tị với tôi nữa. Công việc của một “custodian” cũng là “cu-li thượng hạng” thôi, nhưng tôi làm cho các Cha, các Thầy của nhà Dòng chắc Chúa cũng sẽ phù hộ tôi! (vậy mà chưa trúng số!)

Chu vi phần đất thuộc Tu viện rộng khoảng mười mẫu. Thế đất giống như Đà Lạt nhiều đồi dốc, trũng.

Nhà thờ được kiến trúc kiểu “nhà vòm”, hình tròn có hành lang thông qua Tu viện. Trường Trung học với Thư viện, phòng Thí nghiệm, phòng Thể thao đầy đủ dụng cụ. Hầu hết học sinh học ở đây là con nhà giàu vì học phí mỗi năm từ 6000 đến 8000 USD.

Tôi là công nhân của hãng “SERVICEMASTER” ký hợp đồng phục vụ cho Tu viện nhưng người trực tiếp điều động công việc làm là thầy Martin. Ông đã ơn bảy mươi tuổi, tóc trắng như bông, rất khó tính nhưng lại thích “tiếu lâm”! Điều làm cho tôi vui là lời bộc lộ của thầy Martin khi tôi mới vừa vào làm việc:

– Tôi cần người Việt Nam làm việc hơn là người Mỹ !

Hy vọng thầy nói thật chớ không “bơm” cho tôi lên … gân!

Thầy hỏi tôi:

Tại sao anh thích làm việc ở đây?

Tôi trả lời:

Vì tôi là người Catholic, tôi thích được gần nhà thờ, các Cha, các Thầy.

Thầy cười, nhìn tôi:

Rất tốt!

Những ngày đầu lái xe đi làm, tôi hơi nản chí vì lộ trình khá xa xôi. Từ nhà tôi đến Tu viện mất 30 phút lái xe qua xa lộ 40 West. Có những ngày mưa tầm tã, tôi đến Tu viện và trở về nhà hơi vất vả vì gạt nước gạt không kịp, kính trước nhạt nhòa không thấy rõ đường. Những ngày có tuyết rơi nhiều lại càng cực nhọc hơn. Nhưng tôi đã chí quyết tìm nơi tĩnh mịch để xa lánh mọi phiền lụy của hãng xưởng thì dù khó khăn nào tôi cũng cố vượt qua. Hơn nữa công việc làm hàng ngày rất nhẹ nhàng chỉ trong vòng hai ba tiếng đồng hồ là tôi đã làm xong. Trong đó có phần săn sóc cây kiểng là tôi thích nhứt vì được nhìn nhiều loại hoa nở theo thời tiết, theo mùa. Có lẽ tôi sẽ phục vụ ở Tu viện lâu dài để dưỡng già. Mỗi ngày, tôi xin thầy Martin cho phép tôi đọc sách nửa giờ và qua nhà thờ nửa giờ quì dưới tượng Đức Mẹ cầu nguyện cho gia đình, cho Tổ Quốc. Cũng chính tại nơi đây, tôi mới có thời giờ viết thơ văn để góp mặt với anh em đồng đội ngày xưa trên Đặc San “Lý Tưởng” của Không Quân. Đó là niềm an ủi, sự ấm áp tâm hồn, tôi tưởng tượng mình còn được kề cận với bạn bè với lý tưởng “Bảo Quốc, Trấn Không”.

Những lúc hoàn tất công việc, tôi thường ra ngồi dưới bóng cây sau Tu viện hút thuốc, nhìn cánh rừng xanh mướt, nghĩ ngợi xa xăm. Thỉnh thoảng có một chiếc Cessna hoặc T.41 bay qua gợi cho tôi nhớ mênh mông về vùng trời kỷ niệm của quê hương. Tiếng động cơ quen thuộc đưa tôi vào nuối tiếc thuở tung mây lướt gió. Hình ảnh quê hương, bạn bè thân yêu chợt hiện về giữa hồn tôi. Trong khung cảnh tĩnh mịch, tôi thấy mình cô đơn quá, lòng dâng lên nỗi buồn miên man biết bày tỏ cùng ai.

Sống trên “miền đất tạm dung” , bạn bè ngày trước mỗi người mỗi ngã, thỉnh thoảng chỉ gặp nhau qua dây điện thoại. Ai cũng mang gánh nặng gia đình khó mà đi thăm viếng nhau được. Những gì cho nhau ngày trước giờ chỉ còn trong kỷ niệm mà thôi. Đối với những bạn bè chí thân, tôi như có được sự “thần giao cách cảm” với họ. Nhớ lúc còn ở Phi Đoàn 122 ở phi trường Trà Nóc– Cần Thơ, người bạn trẻ của tôi là Lộc tử nạn phi cơ ở Kontum đã có báo mộng cho tôi. Khi bị giam cầm trong ngục Đỏ, tôi nằm mơ thường thấy mình ngồi uống rượu với Trương Hải Yến. Bây giờ qua Mỹ, Yến đã ở nơi nào, tôi thăm dò tin tức mấy năm nay chưa biết được. Yến là một “hảo hớn”tay cặp nách chai rượu, tay cầm cần lái. Vậy mà nó bay rất giỏi, rất đẹp, dày dạn kinh nghiệm và bay an toàn. Nó đáp đủ kiểu, y như cầm chiếc phi cơ mà đặt xuống phi đạo. Có nhiều lần nó biểu diễn cho tôi coi kiểu đáp “chó đái” giống như con chó co lên một cẳng để tè vào bụi cây. Có lần ra Phú Quốc, nó bay qua Dương Đông nhậu đến tối mới về An Thới. Sân bay không có đèn, phi đạo lại có gió ngang, gió giựt rất mạnh. Thế mà khi xe “Jeep” đậu ở đầu sân pha đèn, nó đáp xuống ngọt sớt!

Tôi ẩn thân ở Tu viện hình như để sống cho dĩ vãng. Mọi thứ bon chen tôi đều dẹp bỏ. Ấy vậy mà rượu thì chưa bỏ được. Tôi thường nói với người quen: “Tôi vào Tu viện để tu”. Người ta cười bảo tôi:

– Tu hú chớ tu cái gì, uống rượu như “quỉ” mà tu à?

Tôi biện hộ:

Tu tâm được chứ, ăn thịt uống rượu nhưng không làm điều ác, miễn đừng có “khẩu Phật tâm xà” là được rồi. Tôi tu theo kiểu Lỗ Trí Thâm của truyện Thủy Hử đó!

Hằng ngày trong Tu viện, cứ mỗi đầu giờ, nửa giờ thì chuông nhà thờ lại đổ. Âm vang của tiếng chuông như cảnh tỉnh tôi xét mình, có lỗi thì phải ăn năn sám hối. Mỗi khi quì dưới chân Đức Mẹ để đọc kinh cầu nguyện, tôi nghe hồn mình lắng dịu mọi ưu phiền của cuộc sống.

Thời gian êm đềm trôi như dòng sông chảy lững lờ. Mùa Đông giá lạnh với những ngày tuyết rơi ngập đất. Cánh rừng sau Tu viện, cây trơ cành, trụi lá. Khi Đông tàn, những cây anh đào trước nhà thờ vụt nở hoa trong màu nắng pha lê. Chim chóc về tụ họp, chuyền cành, ca hát líu lo. Ngỗng trời từng đàn về đậu trước sân cỏ. Những con sóc hân hoan nô giỡn, những con thỏ rừng chạy , nhảy tung tăng. Có những buổi hoàng hôn, đứng phía sau Tu viện, tôi thấy đàn nai cả mười con ra gặm cỏ. Thú vật cũng biết tìm chỗ yên bình để sống. Đó là bản năng sinh tồn của chúng huống chi đây là đất Thánh của Tu viện.

Đức Ông Thomas Trưởng Tu Viện (Abbot) cho chim ăn khi mùa Đông giá buốt, ông để thức ăn trong chiếc lồng. Chim chóc kéo nhau đến ăn. Tôi thường đứng trong cửa kiếng nhìn từng đàn chim về hưởng ân đức của “Cha bề trên” Thomas. Tôi lấy sách ra đối chiếu và nhận dạng từng loại chim. Đây cũng là một cái thú thanh cao.

Cái lạnh ở Saint Louisai cũng phải sợ. Có những ngày lạnh –5 đến –10 độ C. Những cơn gió đùa làm tăng thêm cái lạnh thấu xương. Xứ này là xứ “âm thịnh, dương suy”: đàn bà đa số mập hay phì nộn, đàn ông thì “mình dây” hay ốm. Mùa Xuân và mùa Thu thì mát mẻ. Mùa Hạ thì nóng hơn cái nóng ở Việt Nam. Nóng đến nỗi “Đầm” muốn cởi áo. Nóng tới độ Mỹ đen năm nào cũng chết một số. Làm việc ở Tu viện, tôi rất thoải mái vì đi đâu cũng có máy lạnh. Giờ nghỉ xả hơi ra sân cũng mát vì nhờ cây cao, bóng rợp quanh tu viện. Có lần tôi lái xe về nhà, qua hết xa lộ, vào thành phố bị kẹt xe. Con đường Grand dẫn về nhà tôi chiều nào cũng tấp nập xe cộ. Cứ chạy một khoảng tôi phải ngừng lại chờ xe phía trước. Hôm ấy cũng là ngày nóng “Đầm muốn cởi áo”. Tôi đảo mắt nhìn lên đường thì trông thấy một nàng Mẽo rất là sexy, mặc áo quần hở ngực, hở mông như “bikini”. Đôi gò “Bồng đảo” của nàng như hai quả đu đủ đang chín, lúc lắc theo bước chân nhún nhảy. Xe phía trước đã chạy, tôi chạy theo sau lưng nhưng vẫn còn nhìn hai quả đu đủ (vậy mà tu cái gì!). Bỗng nhìn thẳng, thấy xe phía trước vừa thắng, tôi hốt hoảng đạp gấp thắng, xe tôi vừa chạm đít xe trước. Cũng may là không có chuyện gì xảy ra. Tôi chỉ bị bà đầm già xe phía trước “xì-nẹc” thôi. Vậy mà lúc lên xe tôi vẫn còn nhìn theo lưng nàng Mẽo. Tôi xin biện hộ cho tôi: vì thưởng thức nét đẹp của tạo hóa ban bố cho loài người chớ không phải thèm ăn “đu đủ”!

Những ngày nóng bức kế tiếp, lúc về tới đường Grand thấy “đu đủ”, “dừa xiêm”, bên lề đường tôi nhìn rất nhanh rồi dán mắt vào “lane” của mình, lòng tự nhủ: “Tu nhé! Tu nhé!” Tôi không còn dám nhìn lâu nét đẹp trời ban nữa! Có khi thấy thầy Martin buồn, tôi hay kể chuyện tiếu lâm Việt Nam cho thầy nghe để chọc thầy cười nhưng không dám kể chuyện “hai trái đu đủ” vì sợ thầy quở tôi là thằng già dê!

Tôi vẫn đi làm đều đặn và hình như xa Tu viện vài ngày nghỉ phép bệnh, tôi cũng cảm thấy buồn nhớ. Mỗi năm, tôi được nghỉ mười ngày vacation, mười ngày bệnh, bốn ngày vacation đặc biệt vậy mà tôi nghỉ không hết những ngày phép được hưởng.

Tôi tìm nơi tĩnh mịch không phải vì mang tư tưởng yếm thế như ông Nguyễn Bỉnh Khiêm “một mai, một cuốc, một cần câu” mà muốn mình có được một chuỗi ngày tĩnh tâm dài hạn. Những người già thường hướng thượng để bồi dưỡng phần hồn, dọn mình để chờ một ngày được về với Chúa hay Phật.

Khoảng cuối của cuộc đời tôi từ lúc vào ngục Đỏ đến khi được trả tự do, có khác chi cơn nắng lửa mà Tu viện Saint Louis trên miền đất hứa là bóng mát cho tôi trú ngụ, là nơi để cho tôi rũ sạch bụi phong trần, trút bỏ mọi khổ đau, phiền lụy ./.

Kha Lăng Đa
Saint Louis Abbey
19/06/1996

Trở Về Mục Lục

Xem tiếp

This entry was posted in KQ Kha Lăng Đa, Truyện ngắn. Bookmark the permalink.