Hoa Huệ Trắng (Kha Lăng Đa)

LỒNG CHIM CỦA CON TÔI

Hằng năm vào tiết lập Thu, cây trứng cá trước nhà tôi đươm đầy trái chín. Những ngày cuối tuần, tôi thường leo lên cây hái những trái chín đỏ mơn mởn cho ba đứa con tôi. Chúng nó vui cười, chia nhau trái chín, ngồi trên cái băng gỗ đặt trước nhà, vừa ăn vừa nói chuyện líu lo, nhìn lũ chim “chào mào” đang chuyền cành trên cây trứng cá che rợp bóng một phần sân nhà.

Ai cũng khen nhà tôi có cây trứng cá rậm tàng và say trái nhứt trong cư xá “Thanh Diệp” của Sư Đoàn 4 Không Quân. Tôi còn trồng thêm một giàn hoa tím để nối bóng mát với tàng cây trứng cá cho rộng chỗ để các con tôi nô đùa.

Trước sân nhà là hàng rào với dây mướp hương leo quấn quít, khoe những hoa vàng và trái xanh tươi đong đưa theo những trận gió đùa. Dưới chân hàng rào, tôi trồng phối hợp nhiều loại hoa: Vạn Thọ, Cúc Vàng, Cúc Bách Nhựt, Cúc Đà Lạt, bông Trang, bông Lài và hoa Móng Tay.

Trong thời chinh chiến, ở cư xá nhà binh mà có được cảnh gia đình ấm áp pha vẻ thơ mộng (như “Túp Lều Lý Tưởng”) thì kể ra tôi cũng được phần diễm phúc của trời ban cho.

Vào một sáng thứ Bảy, nhận nhiệm vụ “Ground Alert” (Túc trực dưới đất), tôi vừa dắt xe Honda ra ngõ định chạy đến phi đoàn thì gặp các con tôi đang ngồi trước sân nhà nhìn những con chim chào mào đang ăn trái trứng cá. Đứa con trai đầu lòng chạy đến ôm chân tôi, nũng nịu nói:

– Con muốn ba bắt cho tụi con bầy chim ăn trái trứng cá để tụi con nuôi nó trong lồng, nghe ba!

Hai đứa kia phụ họa theo anh nó:

Bắt cho tụi con đi ba!

Vì muốn đi gấp đến đơn vị nên tôi hứa hão với các con tôi để chúng nó không nói dài dòng làm mất thời giờ của tôi:

– Các con ở nhà phải nghe lời má các con, ngày mai ba sẽ bắt chim cho các con!

Các con tôi tươi cười hớn hở. Tôi xoa đầu chúng nó rồi vội vã lên xe Honda chạy đi.

Tôi tưởng rằng các con tôi có sự ham muốn nhứt thời về việc nuôi chim nên định phớt lờ lời hứa vì trò chơi này tôi đã bị cha mẹ cấm đoán ngày xưa. Mùa mưa nào tôi cũng lặn lội vào cánh rừng Sát của quê tôi để bắt tổ chim sáo. Tôi đã bị cha mẹ tôi đánh đòn nhiều lần đến nỗi tôi phải đem chim sáo đến gởi ở nhà của bạn bè thân thích rồi lén lút nuôi dưỡng. Cha tôi rất nghiêm khắc với tôi. Tôi còn nhớ lời cha tôi mắng tôi khi tôi bắt chuồn chuồn, ngắt cánh, nuôi trong hộp giấy:

– Mày là đồ sát sanh, người ta đang sống tự do, bay lượn, mày nỡ bắt người ta, ngắt cánh, nuôi trong hộp giấy.

Tôi đã bỏ thú nuôi chim khi thấy mẹ tôi mua những lồng chim để phóng thích trong những mùa Vu Lan.

Sáng Chúa Nhật, khi đi lễ ở nhà thờ về, các con tôi bỗng nhắc lại lời hứa của tôi:

– Ba làm lồng chim và bắt chim cho con đi ba!

Vợ tôi hỏi:

– Bộ anh hứa với tụi nó hả? Hèn chi cả ngày hôm qua nó cứ ao ước cái lồng chim và nói với em hoài.

Tôi trả lời:

– Ờ, anh có hứa với tụi nó, anh sẽ làm.

Nét mặt các con tôi trở nên rạng rỡ. Riêng tôi thì nghe lòng ray rứt khi nhớ lời mẹ cha tôi giáo huấn ngày xưa. Vì chữ “tín” đối với các con tôi, tôi phải làm lồng chim và bắt chim cho chúng nó. Nếu tôi thất tín với chúng nó, e rằng các con tôi sẽ không vâng lời tôi vì chúng nghĩ rằng tôi là người không đáng tin tưởng bởi cái trò dối gạt, phỉnh phờ. Tôi sẽ cố tìm cách dạy dỗ các con tôi qua cái lồng chim tôi sẽ làm cho chúng nó.

Tôi đi lục lưới kẽm mắt cáo đóng vào phía mặt trước và đáy của một cái thùng gỗ vừa tháo ván ra, làm thêm cái cửa bên hông thì đã hoàn thành cái lồng chim một cách nhanh chóng. Việc thứ hai, tôi tháo cây kèo của cây dù để làm bẫy “cò ke” có hình dáng giống như chữ “A”. Tôi treo cả chùm trái trứng cá vào phần giữa gạch ngang của chữ “A” ác nghiệt kia. Giương hai cần cung của hai bên lên để gài bẫy, con chim nào đứng trên cây xà ngang phía dưới để ăn trái trứng cá sẽ bị đè xuống ngang phần cổ bởi cây xà ngang phía trên. Tôi treo bẫy lên cây rồi cùng các con tôi rình xem lũ chim kéo đến. Quả nhiên, thấy chùm trái trứng cá hấp dẫn, chúng thi nhau đến ăn và bị mắc bẫy. Các con tôi vỗ tay reo mừng khi tôi bắt những con chim xấu số đem nhốt vào lồng. Bẫy được sáu con chim, tôi không gài bẫy nữa và hàng ngày hái trứng cá bỏ vào lồng để nuôi chim. Các con tôi cả ngày đứng xem chim ăn trái, xem chim uống nước, xem chim rỉa lông. Tôi cố nuôi cho lũ chim được mạnh, lành và định sẽ thả chúng ra trong một tương lai rất gần sau khi thuyết phục các con tôi.

Một hôm, tôi chở vợ con tôi đi chơi ngoài phố Cần Thơ về, tôi cùng chúng nó đến trước lồng chim. Lũ chim đứng ủ rũ không nhảy nhót như những ngày trước. Chúng nó xù lông như đau buồn, như bệnh hoạn. Có lẽ chúng đang nhớ tổ cũ, rừng xưa. Các con tôi hỏi:

– Sao chim nó buồn quá vậy ba?

Tôi ôn tồn nói với các con tôi:

– Chắc nó đang nhớ tổ cũ của nó, nó nhớ các con của chúng nó. Có lẻ bầy chim này đang có con, đang đi kiếm mồi về để nuôi các con nó cũng như ba má đang nuôi các con bây giờ. Nếu lỡ một ngày nào đó ba bị Việt Cộng bắt nhốt như những con chim này, chắc ba sẽ nhớ các con, nhớ má các con mà chết. Nếu ai bắt các con đem đi chỗ nào khác và nhốt các con lại, các con không còn được ở gần bên ba má nữa thì các con có buồn không?

Các con tôi im lặng nhìn nhau rồi há hốc nhìn vào lồng chim.

Tôi nói tiếp:

– Như các con đã thấy, lũ chim khi được tự do bay nhảy, chúng nó hân hoan chuyền cành, ăn trái chín trông rất ngon lành và hót nghe rất vui tai. Ngược lại khi nó bị giam cầm trong lồng, chúng nó buồn rũ rượi và hót nghe rất bi thương. Chúng nó đang mơ ước được thả ra để bay về tổ cũ, rừng xưa, để được sống gần những người thân yêu như các con đang sống bên cạnh cha mẹ. Ba muốn các con thả chúng nó ra để chúng nó về với các con chúng nó. Các con thích đồ chơi nào khác, ba sẽ đi mua cho các con.

Thằng con trai đầu lòng của tôi đượm vẻ buồn pha xúc động khi nghe tôi nói. Nó bảo hai em nó:

– Mình thả hết chim ra đi em!

Hai em nó nhìn tôi với đôi mắt như ướm lệ:

Ba thả chim đi ba!

Tôi xoa đầu các con:

– Các con giỏi lắm, rồi ba sẽ thưởng các con.

Tôi mở cửa lồng, khua động cho lũ chim bay nhảy để nhìn thấy lỗ trống của cái cửa đã mở mà chui ra. Sau khi tiếp nối thoát ra khỏi lồng, chúng vừa bay vừa hót vui mừng.

Những ngày sau, trên cây trứng cá nghe như có nhiều tiếng chim hót hơn trước. Có lẻ lũ chim được trả tự do vẫn trở lại cội cây thân yêu để cùng bè bạn ăn trái cây chín, chuyền cành, ca hót. Các con tôi vẫn vui đùa trước sân nhà, nhìn những con chim chào mào nuốt chửng những trái trứng cá chín đỏ mà nở nụ cười thích thú.

Tôi đã theo cánh sắt bay khắp vùng sông núi để yểm trợ các cuộc hành quân của lực lượng bạn chiến đấu với Cộng Sản xâm lược. Từ miền Nha Trang nắng vàng, cát trắng, biển xanh, đến miền Tây Nguyên rừng núi điệp trùng, miền hỏa tuyến Gio Linh, Bến Hải, rồi đến đồng bằng sông Cửu Long của miền Nam cây lành, trái ngọt.

Khi vầng dương chưa thức dậy, tôi và bằng hữu đã họp đoàn đi thi hành phi vụ ở các tỉnh hay khu vực trách nhiệm. Lúc hoàng hôn, chúng tôi trở về phi trường gốc hay phi trường biệt phái như đàn chim bay về tổ cũ.

Bỗng cơ trời xui khiến cảnh “đất bằng sóng dậy”đưa đất nước đến ngày “Quốc Hận”, tôi và chiến hữu bị giam cầm trong ngục đỏ của Cộng Sản khác chi những con chim trời bị nhốt giữa lồng giam, xa lìa không gian bao la đầy nắng ấm.

Sau những ngày làm việc cực nhọc, gian khổ trong nắng dãi, mưa dầm, đêm về tôi quằn quại nhớ vợ tôi và các con tôi. Tôi mơ ước được chắp cánh như chim để bay về tổ ấm, nhưng đó chỉ là ảo vọng!

Tôi nhớ lại chuyện cái lồng chim của các con tôi mà nghe lòng quặn thắt. Bây giờ tôi có khác chi con chim trống bị nhốt trong lồng. Vợ tôi như con chim mái lẻ bạn phải chịu bao nỗi đau thương, cay đắng của cuộc đời để nuôi các con tôi còn thơ dại. Chim mái lại còn phải tha mồi vào tận lồng giam để nuôi con chim trống. Các con tôi đang mong một ngày tôi sẽ được trả tự do như những con chim được chúng đồng ý thả ra từ chiếc lồng bé nhỏ năm xưa.

Tôi bị đọa đầy, ốm yếu, xanh xao với bao người đồng cảnh. Một đêm trong tù, nằm trằn trọc không ngủ được vì sự đói khát hành hạ bao tử, trong khi bạn bè tôi đã an giấc sau một ngày bị cưỡng bức lao động. Bỗng nghe tiếng hót trên nóc mùng. Tôi rón rén chui ra ngoài, ngóc đầu nhìn thấy một con chim “Chiền chiện”đang đứng bất động. Không biết theo lối nào mà kiếp chim tự do lại bay lạc vào nhà tù! Trong ánh sáng lờ mờ, tôi đưa tay ra phía sau lưng chim, từ từ chụp lấy nó. Tôi bỏ nó vào một cái bao cát ni-lông, buộc miệng bao lại, đặt bao lên cái kệ trên vách.

Tôi nhốt chim lại để bảo vệ an toàn cho nó. Nếu tôi không làm như vậy, bạn bè tôi bắt được sẽ ăn thịt nó vì ai ở trong tù cũng thèm chất tươi sống.

Khi tiếng kẻng báo thức thúc giục tù nhân sẵn sàng đi lao động, tôi ngồi dậy, đưa bao cát ra ngoài chấn song và mở miệng bao cho chim bay ra bầu trời, đón ánh bình minh. Khi chim bay ra lối thoát, tôi nghe tiếng kêu vui mừng của nó .

Thời gian nặng nề trôi qua như kéo dài thêm sự mong chờ của vợ con tôi và tôi, đúng như câu “nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại!”

Tôi không dám nghĩ tới ngày trở về xum họp với gia đình nữa vì sự mơ ước đã mỏi mòn mà mộng vẫn không thành sự thật!

Bỗng tôi được Cộng Sản thả ra bất chợt như con chim nhốt trong bao cát được tôi mở miệng bao trả tự do! Tôi tìm về tổ cũ để xum họp với vợ con tôi trong nỗi vui mừng với những nụ cười ướt lệ!

Tôi đã thoát cảnh cá chậu chim lồng. Nhưng thực sự vẫn còn bị giam cầm trong “ngục tù bao la” của Cộng Sản. Vợ con tôi, tôi và đồng bào tôi đều bị sa vào sự kềm kẹp của Cộng Sản Việt Nam.

Tôi bị chồng thêm hai năm quản chế tại địa phương. Tôi bị gọi đi “trình diện” trong những ngày lễ lớn của Cộng Sản Việt Nam, bị gọi đi làm lao động cho xã, bị kiểm tra hộ khẩu bất chợt ban đêm. Chúng định chụp lên đầu tôi chiếc mũ phản động nhiều lần. Lần nào chúng cũng áp dụng “chiến thuật xa luân chiến” để buộc tội tôi. Chúng có hai tên cán bộ chất vấn tôi tới tấp như tra khảo tù nhân nhưng khi không thắng nổi tôi về mặt lý luận thì chúng giở trò đe dọa.

Các con tôi cũng được đến trường. Chúng bị nhồi nhét tư tưởng duy vật, tôn sùng Bác và Đảng của Cộng Sản. Chúng bị bạn bè chế riễu chúng là con của “Ngụy” nhưng chúng không có mặc cảm mà còn học giỏi.

Đứa con trai đầu lòng của tôi luôn đứng nhất lớp, luôn đạt danh hiệu “Tiên Tiến”trước sự nể phục của bè bạn. Nhưng khi đi thi lên lớp 10 thì nó bị đánh rớt một cách rất đau đớn. Sau này tôi mới biết nguyên do con tôi bị “trừng trị” vì nó không chịu gia nhập Đoàn Thanh Niên Cộng Sản, không chịu đeo khăn quàng đỏ để làm con cháu của “Bác Hồ”! Việc này tôi không xúi bảo con tôi, nó tự nghĩ suy và tự hành động. Đôi khi thấy nó buồn vì dở dang đường học vấn, tôi chỉ biết an ủi nó mà thôi. Gia đình tôi còn ở trong vòng kềm kẹp của Cộng Sản thì làm sao tránh khỏi sự phân biệt đối xử. Tôi và vợ con tôi luôn bị đứng bên lề xã hội.

May mắn thay, cả gia đình tôi được sang Mỹ theo diện H.O. Tôi và vợ con tôi đã thoát khỏi cái “ngục tù bao la” của Cộng sản, xóa bỏ cảnh đời nghèo khổ, tối tăm để đến miền đất hứa tự do. Nước cờ hoa, địa đàng của nhân loại đang mở rộng vòng tay đón tiếp dân tỵ nạn của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có nhiều cựu quân, cán, chính của Việt Nam Cộng Hòa ngày trước.

Giấc mơ đã thành sự thật. Gia đình tôi bắt đầu đi vào cuộc sống mới ấm no hạnh phúc. “Miền đất lành chim đậu”, nhân quyền luôn được đề cao, cả mạng sống của thú vật cũng được bảo vệ. Các con tôi rất cảm mến những người bạn Mỹ láng giềng bày chậu nước cho chim uống trong mùa Hè và treo thức ăn cho chim ăn trong mùa Đông lạnh giá. Các con tôi vẫn còn nhớ kỷ niệm cái lồng chim của chúng nó khi còn ở cư xá Thanh Diệp trong phi trường Trà Nóc, Cần Thơ mỗi khi tôi khơi lại chuyện cũ. Chúng nó còn nhớ rõ hình dáng con chim chào mào ăn trái trứng cá giống hệt như hình dáng con chim “Cardinal” ở đất Mỹ chỉ khác màu lông mà thôi.

Riêng tôi, thỉnh thoảng trong giấc mộng thấy mình còn bị giam cầm trong ngục tù của Cộng Sản ./.

Kha Lăng Đa

Trở Về Mục Lục

Xem tiếp

Advertisements
This entry was posted in KQ Kha Lăng Đa, Truyện ngắn. Bookmark the permalink.