ĐÀO DUY TỪ – Người Vượt Tuyến Vào Nam Tìm Tự Do Đầu Tiên Trong Lịch Sử (Hứa Hoành)

Vào đời Trần, Thanh Hóa gọi là xứ Thanh. Đó là đất Ái Châu ngày xưa. Còn sông Mã chảy ngang Thanh Hóa chia xứ Thanh làm hai khu vực:

– Phía Nam trùng điệp đồi núi thấp như Hùng Lĩnh, Ngọc Lĩnh, núi Phượng, núi Nứa…
– Phía Bắc là vùng địa linh nhân kiệt với huyện Hà Trung, phủ Hoằng Hóa, huyện Tống Sơn, quê hương của các vua nhà Nguyễn.

Đến đời vua Minh Mạng, xứ Thanh đổi làm tỉnh Thanh Hóa, đời đời phát sinh nhiều anh hùng hào kiệt. Nhiều người cho rằng quá nửa nhân tài đất nước đều là người xứ Thanh cũng không quá đáng. Thanh Hóa là đất quỳ hương. Các vua sáng lập ra các triều đại phần lớn đều chào đời hay sống cả thời thơ ấu ở đó. Người sáng lập nhà Tiền Lê tức là Lê Hoàn thuở hàn vi sống với mẹ ở làng Xuân Lập, huyện Thọ Xuân. Đinh Bộ Lĩnh người huyện Gia Viễn vốn là đất Thanh Hóa ngoại. Rồi Lê Lợi, Trịnh Kiểm Nguyễn Kim… đều có chung quê hương ở xứ Thanh. Nơi đây cũng là chỗ xuất phát các dòng họ đời đời khoa bảng, nơi sản sinh đạo quân Tam Phủ ngạo ngược thay vua đổi chúa một thời.

Năm Mậu Ngọ 1551, chúa Nguyễn Hoàng vào Nam khai sáng cơ nghiệp nhà Nguyễn, đem theo cả gia quyến và nhiều bộ hạ tâm phúc cùng quê như dòng họ Tống, họ Nguyễn, chính là những người rường cột mở nước và dựng nước sau nầy. Cứ xét các danh nhân được thờ trong Thái Miếu ở Huế ta biết công nghiệp của họ. Nơi tả tòng tự thờ các vị thuộc dòng Tôn Thất, hữu tòng tự thờ các công thần xuất thân hàng dân giả. Có tất cả 7 bài vị:

– Nguyễn Ư Kỷ, đại tướng và là người nuôi nấng chúa Nguyễn Hoàng từ thuở nhỏ.
– Nguyễn Hữu Dật, các con là: Nguyễn Hữu Kính, còn gọi là Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Hữu Hào, Nguyễn Cư Trinh
– Đào Duy Từ và con rể là Nguyễn Hữu Tiến.

Căn cứ vào điều đó cho phép chúng ta suy luận về sự đóng góp của Đào Duy Từ vào công cuộc mở mang đất nước về phương Nam.

Dòng dõi và quê quán

Con sông Gianh, còn gọi là Linh Giang chảy trong tỉnh Quảng Bình làm ranh giới trong thời Nam Bắc phân tranh Trịnh Nguyễn. Đào Duy Từ chào đời năm 1572 tại thôn Giáp Nổ, nay là xã Nguyên Bình, phủ Tỉnh Gia, phía bắc sông Gianh, đời Nguyễn là tỉnh Thanh Hóa, vào thời Nam Bắc triều (phía Bắc nhà Mạc, phía Nam nhà Lê trung hưng), lấy đèo Tam Điệp làm ranh. Hiện nay miếu duệ của Đào Duy Từ đều có rải rác từ Quảng Trị, Bình Định và ngay cả miền Nam. Theo một nguồn tin chưa kiểm chứng thì nhạc mẫu của học giả Hồ Hữu Tường là cụ bà Đào Duy Châu, cháu nhiều đời của Đào Duy Từ. Trước năm 1945, tại thôn Giáp Nổ còn ngôi đền thờ của Đào Duy Từ do chính cháu chắt của cụ từ thôn Bích La ở Quảng Trị về dựng nên. Hàng năm đều có cúng tế rất lớn, nhưng sau đó vì chiến tranh nên ngôi đền bị bỏ hoang phế.

Thôn Giáp Nổ thuộc xã Hoa Trai, tổng Liên Trì, là một trong 4 tổng thuộc huyện Ngọc Sơn, phủ Tỉnh Gia, Thanh Hóa. Quốc lộ số 1A từ phía Bắc chạy xuống chợ Kho ở đầu làng. Dọc theo quốc lộ có con kinh Trầm thẳng tắp, là đường vận chuyển hàng hóa hồi trước nối hai miền Thanh Nghệ. Từ Hoa Trai lên đến huyện lỵ độ một cây số, rồi băng qua các xã Du Xuyên, Ba Làng, Lạch Bạng (cửa Bạng) là đã tới biển. Du Xuyên là một ngọn núi nhỏ nhưng có nhiều đền thờ các danh thần, võ tướng. Lưng chừng phía trên núi là đền thờ Quang Trung đại đế, phía dưới thờ Yết Kiêu, công thần đời nhà Trần có công trong trận đánh quân Nguyên. Phía trên núi trông ra cửa Bạng có đền vua Lê Đại Hành tức Lê Hoàn với Dương Vân Nga, Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành. Từ núi nhìn chếch về hướng phía Nam bờ biển là các hòn đảo lô nhô như hòn Biên Sơn, hòn Mê làm án ngữ mặt biển. Giáp thôn Giáp Nổ là đất Thổ Sơn bãi chiến trường đẫm máu của thời Trịnh Nguyễn và gần đây hơn là nơi quân Nguyễn và Tây Sơn từng giao chiến. Xã Vân Trai liền với Hoa Trai là quê hương của Nguyễn Hữu Tiến, con rể của Đào Duy Từ. Như thế rõ ràng quê hương nơi xuất phát nhiều danh thần, lương tướng đã ảnh hưởng phần nào đến chí hướng và cá tính của con người Đào Duy Từ.

Khi còn là một cậu bé để chỏm, Đào Duy Từ là một đứa trẻ thông minh, nổi tiếng thần đồng, học đâu biết đó. Càng lớn, cậu càng tỏ ra thông kinh sử, văn hay chữ tốt, lại biết nghề lý số, tử vi. Đến năm 1592, Đào Duy Từ nạp quyển xin ứng thí trường thi xứ Thanh, nhưng bị từ chối vì “lý lịch xấu”. Thế mới biết, cách nay 400 năm cũng có nạn “học tài thi lý lịch” như kiểu VC bây giờ. Quan sở tại truy xét biết Đào Duy Từ là con của Đào Tá Hán, vừa là kép hát, vừa làm chức linh quan coi đội nữ nhạc dưới triều vua Lê Anh Tôn (1557 – 1573) nhưng mất sớm. Theo sự nghiên cứu mới đây, người ta biết mẹ ông là Vũ Thị Kim Chi, cũng thuộc dòng con hát (Nghiên Cứu Lịch Sử tháng 8 năm 1991, trang 48).

Theo thành kiến, con nhà kép hát, “thuộc phường xướng ca vô loại” không được đi thi. Đào ôm hận và tự nghĩ rằng mình phải tìm kế lập thân, chớ ở đây đường công danh sẽ bế tắc. Hơn nữa, lúc theo học với thầy từng nghe kể nhiều chuyện bất công của xã hội Đàng Ngoài khiến ông chán nản. Nhà Mạc kỳ thị Bắc Nam, vua Lê u tối, các chúa Trịnh lộng quyền hà hiếp vua Lê, phế bỏ kỷ cương. Theo lời thầy học kể lại rằng mấy năm trước nhà Mạc mở khoa thi kén chọn nhân tài mà kỳ thị khiến cho sĩ tử căm ghét. Ông Lương Hữu Khánh, con Lương Đắc Bằng thuộc dòng họ đời đời khoa bảng ở xứ Thanh đã là nạn nhân. Thực tâm Lương Hữu Khánh không muốn ra cộng tác với nhà Mạc, một triều đại bị mang tiếng rất nhiều. Nhưng vì nhà nghèo, mẹ già đau yếu luôn, nhiều bạn bè khuyên nên tìm cách tiến thân để có tiền nuôi mẹ, ông bất đắc dĩ đi thi. Lương Hữu Khánh đỗ đầu luôn 4 kỳ thi (tứ trường). Người đỗ thứ nhì là ông Kế Khê. Đến khi chủ khảo hồi phách các bài thi, (lúc chấm phải rọc đi để giám khảo không biết tên họ và quê quán của thí sinh) thì mới biết Lương Hữu Khánh là người xứ Thanh, thuộc đất nhà Lê, nên hạ ông xuống đỗ thứ nhì, và nâng ông Kế Khê lên đỗ đầu. Thấy tình trạng xã hội và quan trường bất công như vậy, Lương Hữu Khánh giận bỏ không dự kỳ thi Đình, nên Kế Khê mới đỗ trạng nguyên.

Từ đó, Đào Duy Từ nghĩ rằng với một xã hội bất công như vậy mình ở lại cũng không thể nào đem sở học ra giúp đời và tài năng sẽ mai một đi. Do đó, ông mới có ý định vượt tuyến vào Nam tìm tự do và minh chúa. Cứ mỗi độ gió nồm, nhiều ghe bầu từ đàng trong trở về xứ, mang theo nhiều sản vật lạ cùng tin tức về sự phú túc của Nam hà. Qua nhiều lần hỏi thăm, Đào Duy Từ biết thêm bầu không khí tự do ở miền đất lạ. Lại nữa, nghe đồn rằng ở vùng Thuận Hóa, Ái Tử, các chúa Nguyễn đang chiêu hiền đãi sĩ, thu dụng nhân tài, danh sĩ các nơi quy tụ về rất đông. Từ đó ông nhứt quyết tìm cách trốn vào Nam cho thỏa chí tang bồng.

Vượt tuyến tìm tự do vào xứ Đàng Trong

Giữa thời buổi loạn lạc của cuộc Nam Bắc tương tranh vào thế kỷ 17, tại Đàng Trong, Đào Duy Từ xuất hiện như một ngôi sao sáng. Trong khi lo củng cố thế lực để Bắc Cự và Nam Tiến, các chúa Nguyễn giăng tay mở rộng đón tiếp các nhân tài từ mọi nơi ra giúp nước không phân biệt, kỳ thị.

Đối với người xưa, quê hương là chỗ thiêng liêng, nơi chôn nhau cắt rún, có cha mẹ ông bà, tổ tiên, khiến họ sống chết vì quê hương. Sau nhiều đêm suy nghĩ, Đào Duy Từ có một quyết định bằng nước mắt. Vào một đêm không trăng sao, Đào khăn gói, từ giã gia đình trốn ra đi. Vai mang hành trang với vài bộ sách quý, Đào giả làm khách thương hồ, đáp ghe bầu vào Nam buôn bán. Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển cả, chiếc ghe cặp bến vào xứ Tùng Châu thuộc Bình Định, Đào phải giấu tông tích, lo tìm kế sinh nhai. Vùng nầy ruộng đồng xanh tốt, nhiều nhà ngói ẩn hiện, xa xa có núi non. Cũng như hầu hết những người tị nạn ngày nay, Đào chấp nhận làm bất cứ việc gì để kiếm cơm. Ban đầu Đào ở đợ chăn trâu cho một phú hộ trong làng, chủ nhân cũng là một tay văn chương nổi tiếng.

Như thường lệ, mỗi tháng vào ngày rằm chủ nhà đều có mở tiệc bình thơ, xướng họa văn chương, bàn chuyện kim cổ với các tao nhân mặc khách tứ xứ. Một buổi chiều, Đào Duy Từ lùa trâu về sớm. Trong nhà, nhiều khách khứa đông đảo, đang bàn luận việc cổ kim và uống rượu. Đào Duy Từ đứng lấp ló ngoài cửa để nghe. Bỗng một cao nhân ra câu đối hóc hiểm, cả bàn tiệc lúng túng ngẩn ngơ, chưa có ai đối được. Vốn thông hiểu kinh sử, chẳng chút rụt rè, Đào Duy Từ xin đối đáp làm cả bàn tiệc giựt mình, có kẻ tức giận vì sự “xấc láo” của đứa chăn trâu. Đào Duy Từ đối được câu hóc hiểm ấy với ý tứ thâm trầm lời lẽ cao siêu khiến mọi người có mặt đều thán phục. Rồi Từ nhập tiệc, bàn luận cổ kim, bách gia kinh sử đều thông suốt cả. Thấy vậy, nhà phú hào mới đem chuyện kể lại với một viên chức địa phương là Khâm lý Trần Đức Hòa. Khi được tiếp chuyện với Đức Hòa, Từ ứng đáp, biện bác trôi chảy, tỏ ra học vấn rộng, kiến thức quảng bác. Từ đó Trần Đức Hòa mời “đứa chăn trâu” về nhà làm gia sư dạy các con học, và còn gả con gái cho Từ. Cuộc đời lận đận của người tị nạn chấm dứt. Tương lai rực rỡ đang mở ra. Đào Duy Từ mới lấy tập “Ngọa Long Cương” (Đồi Con Rồng Nằm) viết bằng văn quốc âm, thể lục bát cho nhạc gia xem, trong đó Từ ví mình như Khổng Minh Gia Cát. Về sau, Từ có làm thêm bài “Tư Dung Văn” (Bài văn về Cửa Bể Tư Dung) và tập binh thư “Hổ Trướng Khu Cơ”.

Nhân một chuyến ra Thuận Hóa chầu chúa Nguyễn, Trần Đức Hòa dâng chúa bài “Ngọa Long Cương” rồi tâu rằng:

– Bài nầy của thầy đồ dạy học nhà tôi, tên Đào Duy Từ làm ra.

Xem xong, chúa Nguyễn cảm phục, truyền đòi Từ vào chầu. Lúc yết kiến, Từ biện bác đủ lẽ thuận nghịch, hưng lợi trừ hại, chúa Hy Tôn cả mừng và nói rằng:

– Sao khanh đến muộn thế?

Từ đó Đào Duy Từ được trọng dụng. Lúc bàn việc nước, Đào Duy Từ nêu nhiều lý lẽ để phòng thủ miền Thuận Quảng, chúa nghe theo. Đào còn đem sở học ra thi thố, giúp chúa củng cố cơ nghiệp, tổ chức guồng máy chính quyền trung ương có nề nếp.

Năm 1625, mượn tiếng vua Lê, chúa Trịnh đòi chúa Nguyễn thân chinh ra Bắc để dẹp loạn. Sứ giả nhà Trịnh, tên Nguyễn Khắc Minh, đem tờ sắc phong của vua Lê cho chúa Nguyễn làm “Thái Phó Quốc Công”, và giục chúa ra Đông Đô để hiệp cùng quân Trịnh đi tiễu trừ giặc giã. Chúa Nguyễn còn phân vân, thì Đào Duy Từ tâu:

– Đó chẳng qua Trịnh Tráng mượn lịnh vua Lê để lừa gạt ta. Nếu ta không nhận sắc phong, thì quân Trịnh động binh vào đánh. Còn nhận sắc phong mà không ra, thì sinh hiềm thù. Đã hiềm khích thì mài nanh giũa vuốt. Vả lại, phía Nam thành quách kiên cố ta chưa có, quân sĩ thiếu luyện tập, lấy gì chống lại quân Trịnh? Vì thế nay ta chỉ tạm nhận sắc phong, để cho địch đừng nghi ngờ, rồi có thì giờ sửa sang bờ cõi, tập luyện binh sĩ cho tinh, thành quách cho vững, rồi dùng kế trả lại sắc thư và sẵn sàng nghinh chiến.

Nghe lời cố vấn Đào Duy Từ, chúa Hy Tôn vui vẻ nhận sắc phong của vua Lê, hậu đãi sứ giả Nguyễn Khắc Minh, rồi tặng quà cáp, cho về.

Xây thành đắp lũy sẵn sàng nghinh chiến

Trong khi luận bàn về kế sách phòng thủ trong chiến tranh; Đào Duy Từ nhiều lần nêu ý kiến phải xây dựng chiến lũy. Đào Duy Từ tâu:

– Nếu ta chịu cực một năm thì yên ổn 10 năm, chịu khổ 10 năm thì giữ yên được 100 năm, đó là phải xây thành đắp lũy chống giặc.

Khi sứ giả về, chúa Nguyễn ra lịnh cho Đào Duy Từ khởi công xây dựng lũy Đồng Hới. Dân chúng còn gọi “Lũy Thầy” vì coi Đào như bậc thầy. Lũy nầy chạy từ tả ngạn sông Nhật Lệ sát cửa biển, tới chân núi Đâu Mâu. Lũy bằng đất, dài độ 12 km, cao 6 m, trên mặt có đường lớn, voi ngựa đi lại được, liên lạc với các tháp canh. Tương truyền trong khi cổ võ dân phu đắp lũy, Đào Duy Từ sáng tác một điệu hò, gọi “Hò khoan bắt cái hò khoan” để dân phu vừa làm vừa hò quên mệt nhọc.

Từ năm 1627 đến 1672, hai bên Trịnh Nguyễn giao tranh 7 trận, bất phân thắng bại. Có lần quân Nguyễn vì quân số ít, nao núng vì thấy lũy sắp bị quân Trịnh tràn qua, nhưng nhờ tướng Trương Phúc Phấn cương quyết liều chết, đốc xuất quân sĩ chống cự. Hai bên giao chiến hỗn loạn. Tên đạn bắn như mưa. Vài chỗ trên lũy bị phá, quân Trịnh áp sát vào. Thấy nguy cấp, Trương Phúc Phấn hét lớn:

– Ta thà chết chứ không lui. Hãy cố thủ. Ai hèn nhát sẽ bị chém đầu.

Rồi Trương Phúc Phấn truyền cho vệ sĩ trương lộng cho ông ngồi thẳng người trên đài chỉ huy, bất chấp tên quân Trịnh bắn vèo vèo. Thấy chủ tướng can đảm và quyết tử chiến, binh sĩ nức lòng, liều chết với chủ. Chỉ một lát sau, quân Trịnh núng thế, vì tưởng Trương Phúc Phấn là thần linh, tên đạn bắn không thủng, nên hoảng sợ. Quân Trịnh mất tinh thần, bỏ chạy trong hỗn loạn. Từ đó, Trương Phúc Phấn được phong chức “Phấn Cố Trì”, tức vị tướng can đảm giữ vững vị trí thành lũy. Về sau ở châu thành Vĩnh Long, có một con đường có tên “Cố Trì”, tương truyền để vinh danh tướng Trương Phúc Phấn. Nói về danh tiếng Lũy Thầy, ca dao địa phương nhắc tới:

“Đi bộ thì khiếp lũy Thầy,
“Đi biển thì khiếp sóng thần hang Dơn”
(vùng Thanh Hóa).

Mấy năm sau, Đào Duy Từ còn coi sóc xây thêm lũy Trường Dục, vì chạy ngang làng Trường Dục. Lũy nầy dài chừng 20km, chạy từ núi cùng tên, ra phá Hạc Hải. Hai chiến lũy Đồng Hới (Lũy Thầy) và Trường Dục biểu hiện ý chí bất phục tùng vua Lê chúa Trịnh của các chúa Nguyễn Nam hà. Khi thế lực đủ mạnh, Đào Duy Từ xin chúa trả lại sắc phong. Đào sai làm một cái mâm lễ vật hai đáy, phía dưới để tờ sắc phong mấy năm trước sắp phẩm vật lên trên. Trước khi sứ giả lên đường, Đào dặn dò cách ứng xử đối đáp. Đến kinh đô, Trịnh Tráng đòi vào vặn hỏi. Sứ giả Lại Văn Khuông biện bác trôi chảy không chịu khuất phục.

Trịnh Tráng rất hài lòng, cho sứ giả vào trong, tiếp đãi, mời ăn uống rồi tặng quà cáp gởi về chúa Nguyễn. Lại Văn Khuông được lưu lại nhà khách thêm mấy hôm, được chúa Trịnh ân cần hỏi han như người nhà.

Nửa đêm, sứ giả Lại Văn Khuông lẻn xuống ghe, trốn về Nam.

Sinh nghi, Trịnh Tráng cho kiểm soát mâm lễ vật thì thấy có hai đáy, phía dưới để tờ sắc phong khi trước, và một tấm thiếp đề 4 câu thơ:

“Mâu nhi vô dịch,
“Mịch phi kiến tích,
“Ái lạc tâm tràng
“Lực lai tương địch”. (1)

Bài thơ có ý tứ mới lạ không ai hiểu ra. Chúa Trịnh Tráng cho vời Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, anh em cùng mẹ khác cha với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đến để hỏi. Phùng Khắc Khoan liền giải đoán được ý nghĩa 4 câu thơ đó là: “Dư bất thụ sắc” (Ta không nhận sắc phong)

Cả giận, Trịnh Tráng định sai quân bắt Lại Văn Khuông lên tra hỏi, nhưng sứ giả đã xuống ghe về Nam rồi. Năm sau chúa Trịnh cử đại binh vào hỏi tội chúa Nguyễn. Hai bên giao chiến rất nhiều trận bất phân thắng bại, vì miền Nam có nhiều thành lũy kiên cố như lũy Đồng Hới, và lũy Trường Dục. Do biết được Đào Duy Từ chính là quân sư cho chúa Nguyễn ngày nay, đã hiến kế phòng thủ vững chãi miền Nam hà, gốc người Đàng Ngoài mà mình không trọng dụng, để ông trốn đi. Hối tiếc, chúa Trịnh lẻn cho người vào Nam Hà đem lễ vật đến tặng Đào Duy Từ và mời ông trở về Đàng Ngoài giúp họ Trịnh. Tương truyền, chúa Trịnh còn cho làm bài ca dao nhắn gửi:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa,
“Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân,
“Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
“Em có chồng anh tiếc lắm thay.”

Được tin ấy, Đào Duy Từ băn khoăn khó xử. Hiện tại chúa Trịnh Tráng đang có thế lực hùng hậu ở Đàng Ngoài, mà mồ mả tổ tiên của Đào Duy Từ vẫn còn ở Thanh Hóa, điều ấy khiến Đào Duy Từ không dám cự tuyệt. Đào Duy Từ lại nhớ đến tích xưa, và nhờ đó mà tìm ra một lối thoát.

Nguyên dưới thời nhà Đường, có Trương Tịch tự là Văn Xương, đã có hoàn cảnh khó xử như ông, mà khéo léo tế nhị, khiến người có thế lực không giận mình, và cũng không tìm cách trả thù mình được. Vào thời Trung Đường, tình hình trong nước rối ren, chia rẽ mạnh ai có thế lực thì hùng cứ một nơi, có ý kình chống nhau, mà triều đình trung ương thì đang suy yếu. Trong số các tiết độ sứ Giao Châu, Kiến Nam…. còn một phe khác có ý soán nghịch, đứng đầu là Tiết Độ Sứ Lý Sư Đạo vây cánh và thanh thế rất mạnh, khiến ai cũng phải nể sợ. Tại đất Tô Châu có Trương Tịch là một nhân tài lỗi lạc, đỗ tiến sĩ, được Hàn Dụ tiến cử làm Quốc Tử bác sĩ, rồi sau thăng chức “Bác sĩ Tư Nghiệp”. Tuy là quan chức của triều đình, nhưng biết thế lực của Lý Sư Đạo khiến Trương rất lo lắng. Một hôm Lý Sư Đạo dùng lễ đãi kẽ sĩ để mời Trương Tịch hợp tác. Ông ân cần viết thơ mời và mang lễ vật đến biếu, yêu cầu Trương Tịch về giúp mình gây sự nghiệp mưu bá đồ vương. Tình thế rất khó xử cho Trương. Binh lực Lý Sư Đạo rất hùng hậu và sẵn sàng gây chiến ngay, nếu cự tuyệt thì chắc mang họa. Do đó, ông giả cách nhận lễ vật, cám ơn nghĩa cử của Lý Sư Đạo, rồi sau nầy tìm cách trả lại cho Lý bớt nóng giận.

Về sau, Trương Tịch làm bài thơ “Tiết Phụ Ngâm” bày tỏ tâm trạng mình giống gái đã có chồng, không thờ hai chúa. Bài thơ được kèm trong mâm lễ vật, đem trả lại cho Tiết độ sứ Lý Sư Đạo, nguyên văn như sau:

“Quân tri thiếp hữu phu,
“Tặng thiếp song minh chu,
“Cảm quân triền miên ý,
“Hệ tại hồng la nhu.
“Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi,
“Lương nhân chấp kích Minh Quang lý
“Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt
“Sư phu thê nghĩ đồng sinh tử,
“Hoàn quân minh chu song lệ thùy,
“Hán bất tương phùng vị giá thì”

Bản dịch của Yả Hạc Nguyễn Văn Trung:

“Em có chồng rồi, chàng đã biết,
“Mà chàng còn tặng cặp minh châu
“Cảm lòng yêu mến khăng khăng ấy,
“Em giấu đeo trong yếm lụa đào.
“Khốn nỗi nhà em kề ngự uyển,
“Chồng em cầm kích ở hoàng cung,
“Lòng chàng trong sạch như băng tuyết,
“Mà đạo tùng phu phải thủy chung.
“Trả ngọc cho chàng em ứa lệ,
“Phải chi gặp gỡ lúc chưa chồng.”

Sau đây là bản dịch 4 câu đầu của Ngô Tất Tố theo thể lục bát mà tôi còn nhớ được; xin kể thêm để độc giả thẩm định:

“Biết em đã có chồng rồi,
“Yêu em, chàng tặng một đôi ngọc lành.
“Vấn vương bao mối cảm tình,
“Em đeo trong áo lót mình màu sen…”

Tiếp được bài thơ chan chứa tình cảm, Lý Sư Đạo sinh lòng yêu mến mà không còn theo đuổi nữa. Dựa vào lối thoát ấy, Đào Duy Từ mượn lời người con gái tạ tình khách đáp lại chúa Trịnh:

“Bây giờ em đã có chồng,
“Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
“Cá cắn câu biết đâu mà gở,
“Chim vào lòng biết thuở nào ra.”

Lời thơ êm ả, lọt vào tai Trịnh Tráng. Chúa Trịnh cũng biết mình đã bỏ lỡ một cơ hội, để một nhân tài như Đào Duy Từ ra giúp người khác. Như vậy, chính khách Đào Duy Từ đã ra hợp tác với chúa Nguyễn ở Đàng Trong, khác chi “chim vào lòng biết thuở nào ra”. Vẫn còn hy vọng và theo đuổi, chúa Trịnh mật sai sứ giả tìm Đào Duy Từ dụ dỗ, hứa hẹn quan chức bổng lộc khi trở về.

Chán ngán trước tình đời, đồng thời xác định thái độ dứt khoát vì sợ chúa Nguyễn hay biết được, nghi ngờ ông có nhị tâm, nên Đào Duy Từ nhắn về đất Bắc:

“Có lòng xin tạ ơn lòng,
“Xin đừng đi lại mà chồng em ghen”

Móc nối Đào Duy Từ trở về không có kết quả, Trịnh Tráng tức giận, đổi thái độ. Lần này quyết “ăn không được cũng phá cho hôi”. Trịnh Tráng cho người đặt câu ca dao nói huỵch toẹt ra rằng Đào Duy Từ không có tài cán gì, chẳng qua là một anh chàng khoác lác. Những điều anh ta nói “giấu đầu hở đuôi”:

“Rồng nằm (2) giếng cạn phờ râu,
“Mấy lời anh nói, giấu đầu hở đuôi.
“Rồng khoe lướt gió tung mây,
“Chẳng hay rồng đất, có ngày rồng tan”

Cuối cùng, họ Trịnh châm biếm và hăm dọa, cho Đào Duy Từ là kẻ tầm thường, vong bản, háo danh, tha phương cầu thực:

“Có ai về tới Đàng Trong,
“Nhắn nhe Bố đỏ liệu trông đường về.
“Mãn tham lợi, bỏ quê quán tổ,
“Đất nước người dù có như không”

Đào vẫn giữ thái độ im lặng. Rồi nội vụ chìm vào quên lãng.

Về nội tri, Đào Duy Từ giúp chúa Nguyễn đặt phép tuyển binh, kén chọn sĩ tốt, mở các khoa thi, thu dụng nhân tài. Cũng tại quê vợ, xứ Tùng Châu, Bồng Sơn, Đào Duy Tù đã khám phá một nhân tài cùng quê quán xứ Thanh, và tiến cử lên chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, đó là Nguyễn Hữu Tiến. Đào lại gả con gái cho Tiến. Về sau Tiến làm quan lập nhiều công trạng, được phong tước Thuận Nghĩa Hầu, chức Chưởng Cơ.

Đào Duy Từ mất ngày 17 tháng 10 năm Giáp Tuất 1634, được phong tước Lộc Khê Hầu.

Hứa Hoành
Những bài viết khác của cố Gs Hứa Hoành

Chú thích:

(1)chữ Mâu không có dấu phẩy là chữ
chữ Mịch không có chữ kiến là chữ Bất
chữ Ái bỏ chữ tâm ở giữa là chữ Thụ
chữ Lai đứng ngang với Lực là chữ Sắc

Nguyên câu: “Dư bất thụ sắc” (Ta không nhận sắc phong)

(2) Trong tác phẩm “Ngọa Long Cương Vãn”, Đào Duy Từ ví mình như Khổng Minh lúc chưa gặp thời.

This entry was posted in * Hứa Hoành, 5.Tài-liệu - Biên-khảo. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s