Trí và Dũng nơi con người Cố TT. Ngô Đình Diệm (Nguyễn Văn Lượng)

Di ảnh Cố TT Ngô Đình Diệm trên bàn thờ các Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân tại Khu Hội Tù Nhân Chính Trị Bắc Cali – San Jose
(Ảnh do Lê Thy/BVCV chụp nhân dịp dự Lễ Giỗ thứ 49 của Cụ)

….Người đã nằm xuống, nhưng lòng thương tiếc, cảm phục Người mỗi ngày mỗi tăng ở trong cũng như ở ngoài nước. Những kẻ đã trực tiếp hay gián tiếp nhúng tay vào vụ thảm sát Người đã chối leo lẽo. Họ đã có mặc cảm tội lỗi giết thầy phản bạn, mãi quốc cầu vinh, và đang bị đồng bào trong và ngoài nước nguyền rủa. Họ đã không có Trí nên thua mưu Cộng sản và bị ngoại bang lợi dụng đến nỗi phải mất nước, họ không có Dũng nên tham sinh úy tử, nhục nhã đầu hàng Cộng sản hoặc lanh chân đào tẩu ra ngoại quốc bỏ rơi đồng bào và đồng ngũ. Hôm nay chúng ta tưởng niệm một vị lãnh tụ ái quốc, một đấng quân tử chân chính. Và cũng là một dịp cho chúng ta bày tỏ lòng thương xót quê hương yêu dấu đã phải mất chủ quyền từ năm 1963 đến năm 1975, và đã phải lọt vào vòng kiềm tỏa của Cộng sản từ năm 1975 cho đến nay.

Cách đây hai năm, cũng trong một buổi lễ tưởng niệm như hôm nay, tôi đã có hân hạnh trình bày về Thái Độ Kẻ Cả của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Hôm nay tôi xin mạn phép đề cập đến cái Trí và cái Dũng nơi con người đã một thời lãnh đạo Việt Nam, đưa một nước vừa mới thoát khỏi ách nô lệ, lạc hậu về kinh tế, hỗn loạn về chính trị, lên địa vị một quốc gia độc lập thật sự, có kỷ cương về mọi mặt, đứng vào hàng đầu ở Đông Nam Á

Vậy Trí là gì? Và Dũng là gì?

Trí là óc thông minh, sự sáng suất để trong mọi hoàn cảnh lượng định được tình hình, phân định được hư thực, xác quyết được phải trái, cân nhắc được lợi hại để sau đó quyết định đường hướng phải đi, giải pháp phải theo, kế hoạch phải dùng đặng hoá giải mọi khó khăn ngõ hầu giải quyết toàn bộ vấn đề. Tài đi theo Trí . Cần phải phân biệt Trí với những tiểu xảo chính trị để lừa dối dư luận và tự đề cao uy tín, những thủ đoạn gian hùng để làm hại kẻ khác đặng phục vụ quyền lợi riêng tư của bản thân hoặc của bè phái.

Dũng là lòng can đảm, sự quyết chí. Người có Dũng không e ngại khó khăn, không nao núng trước các mối đe dọa, không lùi bước trước các sự hiểm nguy có thể đưa đến mạng vong. Dũng giúp ta đi đúng đường hướng, thi hành được kế hoạch, áp dụng được giải pháp mà Trí đã vạch ra ngõ hầu đạt dược kết quả mong muốn. Dũng đi với Luợc . Dũng không có nghĩa là liều lĩnh mà là sự can trường có suy tính. Kẻ liều lĩnh hành động mù quáng, có ít cơ hội thành công vì chỉ trông cậy vào may rủi. Lãnh đạo quốc gia mà thiếu Trí và Dũng thì chỉ làm hại quốc gia, vùi chôn quốc thể mà thôi. Trí và Dũng là hai đức tính bổ túc cho nhau, được thấy nơi bất cứ một lãnh tụ chân chính nào. Và cố Tổng Thống Ngô Dình Diệm đã có đầy đủ Trí và Dũng. Nhiễu sự kiện và biến cố trong đời Người đã chứng minh điều đó.

Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một chính khách có TríNgười:

  • đã thấy rõ lòng ngoan cố của thực dân Pháp nên đã treo ấn từ quan năm 1933 sau bốn tháng cầm đầu nội các đầu tiên của Bảo Đại;
  • đã thấy rõ dã tâm của người Nhật nên đã không đứng ra thành lập nội các năm 1945 theo lời triệu thỉnh của Bảo Đại;
  • đã thấy rõ thâm ý của Hồ Chí Minh nên đã chối từ lời mời hợp tác với Việt Minh năm 1946 (l).

Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một kẻ sĩ có Trí Người:

  • đã lượng định đúng thời cơ để ra tham chính vào năm 1954 dù tình hình lúc bấy giờ không chút sáng sủa, nhân tâm rất đỗi xao xuyến;
  • đã trưng cầu dân ý để truất phế Bảo Đại vì vị vua này dưới sự chi phối của chính quyền thực dân Pháp là một trở ngại lớn lao cho việc dựng lại đất nước và canh tân xứ sở;
  • đã cương quyết không cho Hoa Kỳ đưa quân vào tham chiến tại Việt Nam vì sự hiện diện của quân đội ngoại quốc sẽ làm tiêu tan chính nghĩa của Việt Nam Cộng Hòa ở quốc nội cũng như ở hải ngoại. Và những gì đã xảy ra cho Miền Nam sau khi Người nằm xuống đã hùng hồn nói lên sự sáng suốt của Người.

Trí của Người ta đã thấy. Vậy còn Dũng thì ở đâu?

Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một lãnh tụ có Dũng:

  • khi Người nói thẳng với Hồ Chí Minh những cảm nghĩ của mình về chính sách chuyên chế của Cộng sản và hành động đẫm máu của cán bộ Cộng sản; (2)
  • khi Người chấp nhận dấn thân năm 1954 trong lúc Hội nghị Genève đang thảo luận việc chia đôi đất nước;
  • khi Người đương đầu với cuộc nổi loạn võ trang của các tướng tá làm tay sai cho thực dân Pháp, của đảng cướp Bình Xuyên và của các lãnh tụ đầy tham vọng cá nhân trong các giáo phái.

Chúng ta phải đi ngược dòng lịch sử, sống lại cái cảnh dầu sôi lửa bỏng của những ngày tháng trên mới ý thức được một cách đứng đắn cái Dũng nơi Ngô chí sĩ.

  • Năm 1946, Ngô chí sĩ diện kiến họ Hồ tại Bắc Bộ Phủ là lúc Người đang ở trong vòng sinh sát của họ Hồ. Hồ Chí Minh đã không dám ám hại Người mặc dầu ông ta rất bực mình về những lời lẽ bộc trực của Người.
  • Năm 1954, để vớt vát quyền lợi, thực dân Pháp đã âm mưu với Cộng sản chia đôi lãnh thổ tại vị tuyến 17, ngang sông Bến Hải. Một triệu người đã ồ ạt di cư vào Nam tị nạn Cộng sản cần được định cư gấp rút mặc dầu Cộng sản vẫn tiếp tục khủng bố tại những vùng mà trước kia chúng chiếm đóng.
  • Năm 1955, bọn tướng tá bồi Tây đã vu khống, mạ lị Người ngày đêm trên đài Pháp Á. Đảng cướp Bình Xuyên thì hùng cứ vùng Chợ Lớn, công khai hiếp dân đoạt của, khai thác cờ bạc , đi điếm, ma túy. . . xem thường luật pháp quốc gia. Một số lãnh tụ các giáo phái, vì quyền lợi riêng tư của mình chứ không phải vì quyền lợi của đất nước, cũng nổi loạn tại miền Tây và miền Đông với sự tiếp tay của thực dân Pháp.Trong lúc đó thì Cơ quan An ninh, Việt Binh Đoàn, tuy thuộc quyền của Thủ Tướng, vẫn còn được điều khiển bởi tay chân của thực dân Pháp, quân đội viễn chinh Pháp vẫn còn chiếm đóng lãnh thổ, và người Pháp vẫn ngoan cố kéo dài việc điều đình trao trả chủ quyền.

Để đối phó với tình trạng hổn mang trong buồi giao thời, chí sĩ Ngô Đình Diệm đã thiếu hẳn cả phương tiện lẫn cán bộ, quân lực và nhất là quyền bính . vì Quốc Trưởng Bảo Đại bị thực dân Pháp khống chế đã không tận tình hổ trợ Người dù đã nài nỉ Người ra chấp chánh. Mặc dù tình thế thật bi đát và như vô vọng, Người vẫn vững tâm tiến bước và đã thành công đưa quốc gia qua cơn sóng gió.

Người đã có Trí và Dũng nên trong mọi biến cố Người đã tỏ ra rất bình tĩnh.

  • Trong vụ mưu sát ở Ban Mê Thuột ngày 22-2-1957 do Cộng sản chủ mưu, Người đã thản nhiên tiếp tục khai mạc hội chợ. Trên mặt Người không thoáng một chút hoảng hết (3).
  • Trong chính biến tháng 11 năm 1963, Người cùng bào đệ Ngô Đình Nhu quyết định ở lại, không xuất ngoại lưu vong theo lời gợi ý của vì Đại sứ bất lương Henry Cabot Lodge.
  • Đêm cuối cùng của Người tại tư thất ông Mã Tuyên, Người đã có phong thái trầm lặng của một đấng quân tử, khiến cho Mã tiên-sinh mến phục Người mãi mãi dù cho sau này tiên-sinh đã phải tan gia bại sản và lâm vào vòng lao lý chỉ vì đã để cho Người tá túc.
  • Buổi sáng cuối cùng tại nhà thờ Cha Tam, Người đã suy tư và cầu nguyện rất lâu và sau đó lạnh lùng chờ đợi quân phản loạn đến bắt Người.

Trong lịch sử Đông Tây cận đại, nói đến các lãnh tụ quốc gia có Trí và Dũng , chúng ta có thể kể cố Thủ Tướng Churchill của Anh quốc, cố Tổng Thống de Gaulle của Pháp-quốc, cố Tổng Thống Sadat của AI-Cập, cố Tổng Thống Phác Chánh Hy của Đại Hàn, và cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm của Việt Nam. Có thể còn nhiều vị khác nữa cũng có Trí và Dũng, nhưng chưa có cơ hội để làm sáng tỏ cái Trí và Dũng của mình.

Churchill và De Gaulle đã qua đời vì trọng tuổi. Ngô Đình Diệm, Phác Chánh Hy và Sadat đã bị thảm sát. Riêng cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, được cái vinh dự Vị Quốc Vong Thân.

Người đã nằm xuống, nhưng lòng thương tiếc, cảm phục Người mỗi ngày mỗi tăng ở trong cũng như ở ngoài nước. Những kẻ đã trực tiếp hay gián tiếp nhúng tay vào vụ thảm sát Người đã chối leo lẽo. Họ đã có mặc cảm tội lỗi giết thầy phản bạn, mãi quốc cầu vinh, và đang bị đồng bào trong và ngoài nước nguyền rủa. Họ đã không có Trí nên thua mưu Cộng sản và bị ngoại bang lợi dụng đến nỗi phải mất nước, họ không có Dũng nên tham sinh úy tử, nhục nhã đầu hàng Cộng san hoặc lanh chân đào tẩu ra ngoại quốc bỏ rơi đồng bào và đồng ngũ. Hôm nay chúng ta tưởng niệm một vị lãnh tụ ái quốc, một đấng quân tử chân chính. Và cũng là một dịp cho chúng ta bày tỏ lòng thương xót quê hương yêu dấu đã phải mất chủ quyền từ năm 1963 đến năm 1975, và đã phải lọt vào vòng kiềm tỏa của Cộng sản từ năm 1 975 cho đến nay.

Tuy nhiên trong cái rủi ro lớn lao ấy, chúng ta hãy tìm một cái may nhỏ nhoi để tự an ủi. Phải chăng Thượng Đế đã dành cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm một cái chết đau thương để cho đồng bào ở quốc nội càng thương tiếc con người ái quốc chân chính và càng tin tưởng ở chế độ quốc gia do Người chủ trương đù hiện nay phải chịu sự thống trị hà khắc của Việt Cộng, để cho chúng ta ở hải ngoại, mặc dù đang sống tạm gửi, còn hãnh diện với ngoại nhân là chúng ta đã có một lãnh tụ quốc gia chân chính có thừa Trí và Dũng .

Tài liệu tham khảo:

* Hai Mươi Năm Qua / Đoàn Thêm (Xuân Thu).

* Những Bí ân Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt- Nam, Quyển I / Lữ Giang.

* ( 1 ) Các tướng Tầu chỉ huy quân đội chiếm đóng là Lư Hán và Tiêu Văn đã nhận nhiều quà biếu bằng vàng khối của Việt Minh (vàng do dân chúng đóng góp trong ”tuần lễ vàng”) nên đã khuyến giục các lãnh tụ các đảng phái quốc gia (Việt Quốc, Việt Cách v.v) như Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam v.v. tham gia Chính-phủ Liên-hiệp Quốc Cộng, khiến sau này họ phải ân hận vì bị Việt Minh lợi dụng và xuýt vong mạng. Nhà cách-mạng lão thành Huỳnh thúc Kháng, cũng chỉ vì nhiệt tình với quốc gia dân tộc nên đã nhận lời mời của Hồ Chí Minh tham gia chính quyền để rồi phải mang tiếng làm bình phong cho Việt Minh đàn áp và sát hại Việt Quốc trong vụ án ngụy tạo “Ôn Như Hầu”, và cuối cùng âm thầm qua đời trong uất hận tại Nghĩa Hành, Quảng Ngãi.(Xin xem Những Bí ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam, Quyển I / Lữ Giang, từ trang 332-337.)

* ( 2 ) Xin xem Những Bí ẩn Lịch Sử Đàng Sau Cuộc Chiến Việt Nam, Quyển I 1 Lữ Giang, từ trang 368-376.

* ( 3 ).Khánh thành long trọng Hội-chợ Ban Mê Thuột. 8 giờ. 3 0 TT. Ngô Đình Diệm tới, gần đến khán đài, bị một thanh niên bắn bằng tiểu liên Mas.49 dấu dưới áo blouson. Nhưng đạn lại trúng BT. Cải Cách Điền Địa Đỗ Văn Công; ông Công bị thương nặng ở tay và ngực. Người bắn bị bắt ngay. Lễ khánh thành tiếp tục theo chương trình. Thanh niên bị bắt là Hà Minh Chí, tức Phạm Ngọc Phú, đã từng làm việc ở ty Thông Tin Tây Ninh.(Hai Mươi Năm Qua/Đoàn Thêm/ trang 212)

NguyễnVăn Lượng
(TiếngThị Phi)

Nguồn: http://www.bacaytruc.com/

This entry was posted in 2.Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà, Sự Thật. Bookmark the permalink.

3 Responses to Trí và Dũng nơi con người Cố TT. Ngô Đình Diệm (Nguyễn Văn Lượng)

  1. Tuấn says:

    Súng MAS-49 là “semi-automatic rifle” tức là tiểu liên, không phải bắn 1 viên lên đạn 1 lần chỉ cần nhấp ngón tay bóp cò.

    Like

  2. Đức Minh says:

    Trích : “bị một thanh niên bắn bằng tiểu liên Mas.49 dấu dưới áo blouson.”

    Đoạn này sai. Nếu là súng MAS. 49 thì đó là súng trường loại không tự động, bắn 1 viên lên đạn 1 lần. Nếu là tiểu liên thì phải là Thompson hoặc mauser. Tôi nhớ trong 1 cuốn sách nói về vụ này của 1 tác giả có uy tín (rất tiếc tôi đã quên tên) thì đó là tiểu liên Thompson.

    Like

  3. Đức Minh says:

    Nếu so sánh giữa pork hồ với Tổng thống Ngô Đình Diệm thì ta thấy một tên là ác quỉ với một đấng thánh nhân.

    Like

Comments are closed.