CÕI ĐÁ VÀNG (Nguyễn Thị Thanh Sâm): chương 1-20

NGUYỄN THỊ THANH SÂM

CÕI ĐÁ VÀNG

TRUYỆN DÀI

do An Tiêm ấn hành lần thứ nhất
tại Saigon tháng 9 năm 1971.

Dâng Tốn tác-phẩm đầu tiên của Sâm.
Cuộc đời này không dung những kẻ thương yêu nhau.
Em đã tìm thấy Anh trong
Cõi Đá Vàng.

THANH SÂM

coi-da-vang

CHƯƠNG I

Trần thả ngòi bút trên trang giấy chi chít những dòng chữ, trận đánh cuối mùa chiến dịch Đông Xuân với những hình ảnh sống động độc đáo nhất được chàng trần thuật lại trên mười trang giấy bằng một giọng văn thâm trầm sắc sảo. Chàng đứng dậy vuôn vai, sự mệt nhọc xâm chiếm cơ thể, chàng bước tới đẩy liếp cửa ra sân, mảnh trăng khuyết còn lơ lửng góc trời, ánh sáng mờ đục bàng bạc khắp nơi, Trần mỉm cười với trăng, nghĩ bâng quơ: “Ờ, thế mà tưởng là đã lặn rồi chứ.”

Khí núi mát lạnh làm chàng tỉnh táo, người cảm thấy nhẹ nhàng, chàng bách bộ quanh sân, tận hưởng phút giao hòa của Trời Đất bên triền đồi núi này, một chút kinh ngạc thích thú thoáng hiện trong mắt chàng. “Thế ra trời sắp sáng chứ không phải là nửa đêm, ánh sáng này pha lẫn bình minh chứ không phải là ánh trăng khuya, ra mình đã thức trắng đêm nay, đã viết triền miên như vô cùng tận, vậy mà vẫn không kịp, không đủ, không hề đủ. Cuộc sống quả là kỳ diệu, ta mãi mãi ngạc nhiên mà vẫn không vơi những chuyện lạ, ta nghĩ hoài về nó mà không hề mãn ý, ta sẽ sống hoài những đêm tràn đầy như đêm nay, mười năm, hai mươi năm, một trăm, một ngàn năm sau nữa, có lẽ cũng không hề đủ.

Có tiếng động trong nhà, tiếng chân người di chuyển xuống bếp, Trần nghĩ chắc chị Hiếu đã dậy lo buổi sáng cho hai con nhỏ của chị, khuôn mặt người đàn bà không nhan sắc, buồn bã với những nét mờ nhạt hiện ra trong trí chàng.

Ừ, kể cả người đàn bà này nữa, và hai đứa con của chị ta, sự hiện diện của họ trong vùng đồi núi miền chiến khu này cũng thật lạ lùng. Chồng chị đã chết ở Huế trong những ngày đầu tiếng súng nổ giữa quân Pháp và những người kháng chiến, người ta thấy sự có mặt của chị và hai con nhỏ như một ngẫu nhiên từ khi chiến khu này thành lập. Chị dựng căn nhà nhỏ này ở đây buôn bán ngược xuôi về đồng bằng, có khi vào tận thành phố Huế là nơi đang thuộc chủ quyền của người Pháp để mua hàng hóa thuốc men về bán cho những người kháng chiến. Chị còn nhận công tác liên lạc với những cơ sở bí mật của kháng chiến ở nội thành, nhờ đó chị có đủ mọi giấy tờ cần thiết để ra vào đất địch dễ dàng. Hai đứa con chị còn nhỏ chừng năm sáu tuổi, thơ thẩn ở nhà chơi với nhau suốt ngày chờ mẹ về mỗi buổi chiều.

Ngày cơ quan của chàng về trú tại vùng này, người ta chia ra từng nhóm hai ba người đến ở trọ các nhà dân chúng. Trần là chủ nhiệm tờ báo của quân đội kháng chiến, chàng được chỉ định đến ở nhà của chị Hiếu vì căn nhà của chị khang trang, biệt lập bên một triền núi, rất thuận tiện cho sự viết lách cùng mọi hoạt động biên tập của nhóm chàng. Chàng thấy đời sống của chị Hiếu và hai con chị ở miền chiến khu đầy bất trắc này thật phi lý, cuộc chiến giành lại quê hương này cần những người trẻ tuổi và không bận bịu như chàng, chị Hiếu chỉ là một người đàn bà buôn bán nuôi con qua ngày, lo cho hai đứa con cho đến khôn lớn cũng đủ cơ cực rồi, chị đâu cần có mặt nơi đây để chịu đựng lam sơn chướng khí, những chuyến đi mua hàng gian nan nguy hiểm, ngang qua đồn bót của Tây, những chuyến trèo đèo vượt suối, bọc hàng nặng trĩu trên vai, quá sức của một người đàn bà yếu đuối. Trần nhớ khuôn mặt xanh xao của chị mỗi chiều tối mang cây đèn thắp sáng đặt trên bàn viết của chàng, khuôn mặt còn in nét nhọc nhằn cam khổ như dấu hiệu hẩm hiu của người đàn bà không nhan sắc, không được che chở trong cuộc đời. Điều bất hạnh nhất cho chị là đôi mắt lé quá nặng nề của chị, nó làm biến đổi hẳn nét mặt lẽ ra cũng không đến nỗi nào. Hồi mới đến Trần không dám nhìn thẳng vào mắt chị mỗi khi có điều cần hỏi, Trần sợ chị ngượng nhưng lâu dần vẻ hiền hòa dịu dàng của chị, nét buồn rầu cam phận như cái bóng nhạt nhòa khiến chàng không nghĩ gì nữa. Có lần chàng hỏi chị sao không đưa những đứa bé về xuôi sống một cuộc đời dễ chịu bình yên hơn, chàng nói rằng không ai trách cứ gì chị khi chị cũng đã hiến cho Tổ quốc người chồng thân yêu của chị, không ai đòi hỏi sự góp phần của người đàn bà yếu đuối phải cưu mang hai đứa trẻ mồ côi. Chị cười buồn nói:

Chỗ của mẹ con tôi là ở đây chú ạ, có lần tôi cũng nghĩ như chú nhưng tôi không thể bỏ lỡ dịp cho các con tôi được trông thấy và lớn lên trong cuộc kháng chiến này.”

Câu nói khiến Trần bàng hoàng nhìn kỹ chị, nét mặt của người đàn bà ngoài ba mươi tuổi dầu dãi nắng mưa vẫn bình dị yên tĩnh. Trần kinh ngạc quay đi, cảm thấy giận mình vô cớ.

Trong buổi tranh tối tranh sáng mà sa mù bắt đầu rơi dày trên thung lũng đó đây, Trần bỗng nhớ lại niềm kinh ngạc đó, chàng vẫn chưa hết lạ lùng, làm sao có thể ngờ được một người đàn bà như vậy lại có thể nói được một câu như thế. Chị ấy có biết mình đã nói gì chăng, chị ấy có biết bằng câu nói ấy chị đã tuyên đọc một thông điệp cho cả một thế hệ sắp tới trên quê hương này? Cái gì sẽ xảy đến sau khi thông điệp được ban ra? Sự sống hay sự chết? Có lẽ không cần thiết, điều quan hệ là nó đã là một thông điệp.

Một cánh chim nhỏ lướt qua không gian mất hút sau đám mù xa, những ngôi sao thưa thớt nhạt dần, vài đóm lửa lập lòe bên kia thung lũng, tự đó tỏa lên một làn khói mỏng manh tha thướt như xiêm y của người con gái liêu trai, làn sương khói cứ bay lên, bay lên mãi để ngừng lại trên ngọn đồi xa, ở đó đã có một vài tia hồng yếu ớt.

Trần bỗng rùng mình, chàng vụt quay về phía ngõ, đi lên hướng ngọn đồi.

“Tôi đã sống hai mươi ba năm, mỗi ngày đến với tôi như thể lần đầu tiên tôi nhìn thấy, nhớ ngày nào bước chân hai mươi đi trên thành phố cũ, thành phố có một giòng sông, không, có mấy giòng sông, nhưng có hề gì, một giòng sông là đủ rồi, tất cả mọi giòng sông đều chỉ là một, đều chỉ từ nguồn suối đổ về và đều cùng đi ra biển cả.

Còn nhớ những buổi mai đợi đò qua bến Phu Văn Lâu chuyến sớm, tại sao lại phải chuyến đò thật sớm nhỉ, quả thật tôi không có việc gì phải dậy thật sớm để đến kịp chuyến đò ngang ấy cả, nếu không vì một chiếc nón bài thơ nghiêng nghiêng e ấp, che giấu một đôi mắt u uẩn tuyệt vời, tà áo lụa óng ả như đôi cánh bướm bay, mái tóc buông lơi trên vai gầy thơ dại, cảnh tượng sông nước ban mai, những tia nắng đầu tiên ấm áp trên đôi môi hồng, nét cười đằm thắm.

Tuổi hai mươi của tôi trôi qua như thế, như trong nôi hồng, uể oải nhịp bình yên, một tuổi trẻ nâng niu vàng óng, một giấc mơ chợt thấy mình hóa thành thi sĩ, tôi đã viết một bài thơ hay nhiều bài thơ, không còn nhớ rõ, những bài thơ cho nàng, chưa một lần biết tên, chưa một lời thăm hỏi, những bài thơ cho giòng sông, cho thành phố tôi yêu.

Bây giờ tất cả đã xa rồi. Tôi hai mươi ba tuổi, tôi nhìn lại chàng trai hai mươi ngày đó với cái nhìn khoan dung của người anh phong trần sương gió, tôi ngoái lại giòng sông, thành phố cũ trong viễn vọng ưu ái xót xa.

Bây giờ tôi ở đây, giữa miền đồi núi này, bỏ lại sau lưng thành phố thân yêu dưới gót xâm lăng của giặc Pháp, tôi đã ra đi, một sớm một chiều không còn nhớ rõ. Ở đây tôi hiện hữu giữa một không khí nồng say, giấc mơ của tôi còn đó, thế hệ của tôi đang có diễm phúc ôm tròn lý tưởng trong tay, lý tưởng sống chết giành lại đất đai quê hương này. Những kẻ ôm mộng xâm lăng phải mở mắt ra, phải hiểu rằng có tôi trong cuộc chiến, có tôi trong triệu triệu tuổi trẻ sẵn sàng chết cho xứ sở đau thương này.”

Trần dừng lại trên ngọn đồi, chàng lặng người trong một hạnh phúc vô biên, chàng muốn thét lên một tiếng, tim run run trong khoái cảm tràn ngập, buổi mai mà khí trời trong như được lọc từ lớp bụi vàng ở xa kia, rõ ràng trời đất chuyển mình, nghe như trong mạch đất tiếng rào rào của muôn ngàn côn trùng đang muốn chui lên góp mặt, tiếng chim đột ngột trỗi lên lảnh lót trong rừng xa, giòng suối dưới chân đồi róc rách như nguồn ân tình vô tận.

Trần chợt nghĩ đến Huỳnh, người bạn văn thân thiết nhất của chàng và thầm tiếc không có bạn ở đây với mình bây giờ, chàng chậc lưỡi, ừ nếu có hắn thì mới thật là tuyệt, cả hai đứa sẽ làm đủ mọi chuyện điên khùng vì nỗi vui được chia sớt, hai đứa sẽ chạy nhảy, sẽ vật nhau cho đến mệt nhoài, thơ sẽ được ngâm vang lên, và một ngày sẽ bắt đầu như ngày hội.

Chàng ngẫm nghĩ về Huỳnh trong khi trở gót quay trở lại nhà, cái thằng ở bẩn thật hết chỗ chê, và tính nết khó chịu đến không ai chịu nổi, Huỳnh luôn luôn mang một tâm trạng dằn vặt, ray rứt buồn phiền, hắn lầm lì cay đắng với cả mọi người, thế nhưng mỗi khi hai đứa gặp nhau, có dịp công tác hoặc đi chơi chỉ riêng hai thằng với nhau thì hắn như biến thành một người khác, hắn ngoan ngoãn như trẻ thơ, nụ cười chiếu sáng khuôn mặt xanh xao bẩn thỉu lởm chởm những râu và tóc, hắn lặng yên nghe Trần kể lể một cách nồng nàn về đời sống và bất chợt đôi lúc hắn cũng lây cơn cuồng say tuổi trẻ của Trần. Hắn bảo Trần: “Hãy cứ được như thế, và mong mày đừng khốn khổ như tao.”

Có một lần Trần gặp Huỳnh trong mùa chiến dịch ở đồng bằng, Trần vồ lấy bạn, buổi chiều xuân khí trời êm ả, hai đứa ngồi dưới gốc một cây bàng chơ vơ giữa cánh đồng lúa xanh ngăn ngắt, Trần nói với bạn:

– Cái vụ một vị linh mục bị tụi Tây bắn chết hôm qua dưới bến sông phía sau nhà thờ đó, bảo rằng chúng thấy màu áo đen tưởng đâu là du kích, cái bác chủ nhà tao ở nhân đi thăm ruộng có tạt lại xem, về bác ấy kể lại như thế này: “Tây nó bắn cái đạn chi mà lạ thiệt, vết đạn khi vô nơi ngực nó nhỏ bằng đồng xu, vậy mà trổ ra sau lưng nó to bằng dĩa thịt bò, tội nghiệp ông cha bị bắn chết nằm cả đêm lạnh lẽo dưới bến, đêm qua mưa nhỏ mà mưa cả đêm, xác ông cha bị ướt đầm xanh ngắt;” rồi bác ấy lại còn nói thế này: “Trời đất chi lạ thiệt, mưa một đêm mà sáng ni cây cối trút lá non ra hết, lúa mạ năm ni chắc được mùa, không biết Tây nó có để yên cho mình gặt hái không đây.”

Trần xuýt xoa với bạn:

– Lạ thật mày ạ, chiến tranh và mùa xuân đến thật bất ngờ và đầy thú vị trên môi một người dân quê chất phác, mày thấy không?

Huỳnh lặng yên, ngả người nằm dài trên cỏ, vắt tay lên trán nhìn trời, giây lâu mới nói:

– Điều làm tao nghĩ là cái chết của mình sau này có được như vị linh mục kia không, một phát đạn, nằm xuống, hồn còn đầy cảm tạ ơn Chúa, mưa xuân bay phơi phới trên mình, không ray rứt, không hận thù.

Trần hiểu ý bạn, lòng chàng hơi se sắt, chàng cũng đã cảm thấy một sự gì bất ổn trong cuộc sống và lý tưởng chàng đang đeo đuổi, nhưng chàng chưa biết rõ được là cái gì. Huỳnh biết rõ điều đó hơn chàng nhưng giữa họ vấn đề chưa hề được đề cập tới, có lẽ vì cuộc sống này còn quá mới mẻ, vùng ánh sáng này còn quá thanh tân. Trần vẫn mến trọng tư tưởng thâm sâu của bạn, cả những nỗi phiền muộn u uất của bạn, Trần hiểu Huỳnh đã dành những phút giây nhẹ nhàng thanh thản nhất, dễ chịu nhất mỗi khi có chàng. Huỳnh lớn hơn chàng vài tuổi, một tâm hồn sống động, bén nhạy đến tột cùng, Huỳnh vẫn nói với chàng mỗi khi nghe chàng bày tỏ những tư tưởng đam mê sôi nổi của chàng:

– Hãy cứ được như thế, và đừng khốn khổ như tao.

—->Chương 2

Advertisements
This entry was posted in Nguyễn Thị Thanh Sâm, Truyện dài - Tiểu thuyết and tagged , . Bookmark the permalink.