CÕI ĐÁ VÀNG (Nguyễn Thị Thanh Sâm): chương 1-20

CHƯƠNG XI

“Thật không còn gì để tiếc nuối nữa, mọi sự đã rõ ràng lắm rồi, anh Lương, em hiểu là anh biết rõ lắm, nhưng anh từ chối sự thật, anh từ chối ngay cả anh, mỗi ngày ở đây dài quá, vâng, dài quá anh ạ, em không chịu nổi nữa. Em muốn chúng ta mang các con đi, anh nghĩ xem, ở đây chúng ta không làm gì được nữa, chúng ta không có ích gì ở miền kháng chiến này nữa, họ đã tỏ cho chúng ta biết như vậy.

Hãy nói cho em biết, tại sao đây là quê hương, là chốn thân yêu quen thuộc của chúng ta từ trước, mà bây giờ chúng ta bỗng thấy lạc lõng xa lạ giữa nơi này? Tại sao những bà con thân thích hiền lành chất phác của chúng ta lúc trước bây giờ không còn ai như xưa nữa? Bây giờ mọi người đều trở nên tinh khôn quá, độc ác quá, họ nhìn nhau giữ miếng, thù hằn và nghi kỵ. Họ nói toàn những chữ mới và họ cho như vậy là tiến bộ, những ai còn như xưa đều bị bỏ rơi khinh rẻ. Thị như chúng ta đây vậy, tại sao, tại sao, anh hãy nói cho em nghe, tại sao anh im lặng, hễ mỗi lần em nhắc đến anh lại thở dài, có gì giữ chúng ta ở lại đây để chịu đựng cơ sự này?”

Lương thở dài, hai tay ôm đầu, cúi mặt, mỗi lời nói của Hà, vợ anh như xoáy vào da thịt anh, tê lạnh từng đốt xương, bải hoải cả tâm hồn; Hà đã nói đúng mọi nguồn cơn hiển nhiên như thế, Lương đã đòi hỏi nàng phải chịu đựng quá sức của nàng. Hà chỉ là một người đàn bà yếu đuối, nàng đã vui lòng nghe theo ý muốn của Lương ở lại miền quê này từ ngày chiến tranh bùng nổ.

Người vợ môi hồng mắt trong thăm thẳm của Lương ba năm về trước bây giờ khốn khổ quá đi rồi. Những lần ôm con chạy giặc, nàng gầy yếu tội nghiệp biết bao với đứa con nhỏ trên tay và bọc đồ trên vai, dưới làn mưa đạn rít lên từ những chiếc máy bay lồng lộn trên không, những chiếc xe Jeep của giặc đuổi theo hàng đoàn dân chúng chạy tán loạn trong những dải cát dài mênh mông; những bờ bụi khuất lấp che chở những thân phận người nhỏ nhoi và rẻ rúng vô cùng.

Khi những cánh quân của giặc đi qua, từng loạt đạn xé toang, mọi người nép sát mình vào đất, nín thở, sợ hãi cả tiếng tim đập thình thịch của mình, thời gian và cái chết chỉ trong gang tấc.

Những buổi chiều, khi tiếng súng đã xa dần rồi im hẳn, khi trên trời chỉ còn những cánh chim bé nhỏ bay về thay thế những chiếc máy bay mang theo hãi hùng chết chóc, từng đoàn người nhô ra từ những bụi rậm, những bờ lác, đi lang thang lếch thếch trở về xóm làng còn nghi ngút khói lửa.

Lương và vợ mỗi người bế một đứa con mặt mũi xám ngắt trên tay, những đôi mắt trẻ thơ ủ rũ, chúng không buồn khóc, linh tính thơ ngây cho chúng biết chúng đang sống giữa một miền mà trẻ con không được cả quyền khóc.

Lương vẫn phải đi dạy trường tiểu học của xã mỗi ngày, và các lớp bình dân học vụ mỗi đêm. Anh không còn biên khảo gì được nữa, những nguy nan thường trực, những công việc vặt vãnh choán hết cả thì giờ. Cả một thư viện của anh bây giờ cũng không còn lại gì cả, sách vở chôn giấu bị mục nát hết. Sau một trận lụt, Lương đào hầm sách lên phơi, anh lặng người đau đớn thấy bao nhiêu sách quý mà anh giữ gìn cẩn trọng trong bao nhiêu năm chỉ còn là một đống bùn nhão nhoẹt, lần đó anh không thiết ăn uống nói năng cả tháng liền.

Hà nhẫn nại sống bên chồng như một cái bóng, cô nữ sinh trường Jeanne d’Arc ngày nào đã yêu Lương, nàng về làm vợ Lương một cách hồn nhiên và tôn trọng tất cả mọi quyết định của chồng, cùng chịu đựng tính nết vui buồn của chồng một cách lặng lẽ giản dị, như là cuộc đời phải là vậy.

Ba năm ở quê làng với cuộc sống cơ cực, chạy giặc hàng ngày, vất vả với công việc đồng áng, trông coi ruộng nương vườn tược, nàng không hề hé môi than thở, nhưng càng ngày, lòng người thay đổi chung quanh đã khiến nàng đau khổ mệt mỏi đến cùng tận.

Dù nàng sống thêm một trăm năm nữa, nàng cũng không hiểu nổi những điều xảy ra trước mắt nàng. Chồng nàng không muốn rời quê hương đang kháng chiến chống xâm lăng; nàng đồng ý với chồng. Nhưng ba năm trời ở đây người ta đã tỏ cho vợ chồng nàng biết là họ không cần đến mình. Việc đi dạy của Lương như là một ân huệ mà họ ban phát cho chồng nàng. Dù cố làm ngơ, nàng cũng không thể không nhận thấy rằng người ta đã xem vợ chồng nàng là những kẻ sống thừa, không theo kịp đời sống tiến bộ.

Khi một người muốn xin một mồi lửa để hút thuốc, thay vì nói “cho tôi xin mồi lửa,” thì người ta nói “hãy ủng hộ cho tôi tí lửa,” và đó là cách nói của những người tiến bộ. Hà không bao giờ có thể nói như thế được, nàng chỉ có thể nói “cho tôi xin mồi lửa,” cách nói xưa như tổ tiên của nàng hằng nói, thế thôi.

Và như thế là không hợp thời, không hợp cảnh.

Cái cách người ta yêu thương nhau, kết hợp thành vợ thành chồng ở đây cũng làm Hà suy nghĩ và thấy xốn xang, nàng không hiểu sao người ta có thể cảm thấy hạnh phúc khi phải được sự đồng ý của đoàn thể mới được yêu nhau, đám cưới do sự cho phép của cấp lãnh đạo, được trang hoàng bằng bàn thờ Tổ quốc có treo ảnh Hồ chủ tịch, có cờ đỏ sao vàng và đồng chí chủ tịch xã làm chủ hôn. Hà nghĩ đến bàn thờ tổ tiên có trầm hương nghi ngút, lộng lẫy trang nghiêm trong ngày cưới của nàng, cùng họ hàng cha mẹ của hai gia đình trai gái, cảnh tượng đó làm cho Hà thấy tình yêu đượm vẻ thiêng liêng, về nguồn về cội.

Lại cái cách đau khổ của những người tiến bộ cũng làm cho Hà lạ lắm. Có một chị cán bộ phụ nữ huyện thường về đây họp phụ nữ xã, có chồng làm đại đội trưởng Vệ Quốc đoàn cũng về đây một lần với chị. Hà thấy họ đi với nhau, chị cán

bộ người thô kệch, búi tóc cao lên sau gáy, người chồng có vẻ thư sinh, dong dỏng cao nét mặt thanh tú, nghe đâu họ lấy nhau vì Đảng kết hợp. Tháng trước người chồng chết trong trận đánh ở gần Huế, tin chồng chết đến với chị cán bộ trong khi chị đang chủ tọa một cuộc họp phụ nữ xã, người ta gọi chị ra để báo tin. Chị nghe qua nét mặt không đổi sắc vẫn bình tĩnh trở vào tiếp tục chủ tọa cuộc họp, và tuyên bố rằng việc cá nhân không thể để ảnh hưởng đến việc đoàn thể được. Cái cách để tang chồng của chị cán bộ mới lạ hơn nữa: tóc chị từ trước vẫn búi cao lên bây giờ chị tuyên bố cắt tóc để tang chồng, chị cắt ngắn xõa ngang vai, nay nom chị đi đằng xa trông như một thiếu nữ không có dấu vết gì của một góa phụ hay một người đàn bà có chồng nữa. Hà thấy mọi người đều tỏ ra kính phục chị cán bộ ấy lắm, các bà các chị trong vùng này gần như sợ hãi nịnh nọt chị ta đủ điều.

Hà nói với Lương, giọng van lơn:

– Anh xem, làm sao em có thể hiểu được những điều đó. Sự tiến bộ đó quá với sức con người của em. Ở đây chúng ta lạc lõng quá, mọi người đều lạnh nhạt với mình, bà con làng nước ai có cảm tình với mình cũng không dám đến gần mình nữa, họ sợ liên lụy. Ngay giữa họ với nhau cũng không ai dám tin ai cả. Anh có nghe người ta nói đã đến lúc phải tiêu diệt địa chủ để chia ruộng đất cho bần cố nông đó không. Em tưởng đã đến lúc chúng mình phải rời khỏi nơi đây. Chúng mình trở về thành phố, con mình đã đến tuổi đi học, anh không làm việc cho Tây thì không có gì phải ân hận. Anh sẽ có thì giờ tiếp tục viết sách, anh nghĩ sao?

Lương suy nghĩ điều đó đã lâu lắm rồi, nhưng không bao giờ anh muốn đề cập đến. Những điều Hà nói như âm vang của tâm trí nhọc nhằn của anh. Mọi sự dàn trải ra đó, ai mà không thấy không biết, nhưng sự im lặng trong lúc này vẫn như một nơi ẩn náu cần thiết.

Đối với Lương thật khó xử vô cùng, vợ con anh thì không nói làm gì, chứ còn anh mà trở về thành phố là mang tiếng đầu hàng, là theo giặc, không thể biện minh gì hơn được, dù ở đây người ta không dung anh, anh không giúp gì cho kháng chiến như anh có thể mong muốn được cả. Anh ở vào tình trạng không lối thoát. Lương buồn bã cầm tay vợ, bàn tay đã chai cứng mỏi mòn, anh nhìn khuôn mặt héo hon của vợ, anh hỏi nàng bằng một giọng thương cảm:

– Hà, em nghĩ chúng mình có thể tạm xa nhau trong ít lâu được không?

Hà hốt hoảng, nàng trố mắt nhìn chồng:

– Anh bảo sao, xa nhau là thế nào?

– Em ạ, bây giờ chỉ còn có một cách, là em mang con về Huế ở với cha mẹ để phục hồi lại sức khỏe cho các con và cả cho em nữa, dạo này anh thấy em gầy yếu quá. Còn anh thì anh phải ở lại ngoài này, anh cũng biết những công việc mà anh em ở đây họ giao cho anh tuy tầm thường nhỏ nhoi thật đấy, nhưng đối với anh nó bao hàm thật nhiều ý nghĩa trong đời sống này.

Anh không thể chọn lựa, những điều em vừa nói không phải là anh không nghĩ đến, nhưng anh vẫn còn hy vọng, dù thật là mơ hồ, cả hy vọng cái gì anh cũng không biết rõ. Anh vẫn nghĩ rằng tình thế sẽ sáng sủa dần dần. Nhưng anh thấy em và các con đã kiệt sức, quả thật không khí chiến tranh không thể dung dưỡng đàn bà và trẻ con, em và các con không thể chờ đợi hơn nữa. Anh thì vẫn phải chờ đợi. Thế cho nên anh xin em mang con về trước với cha mẹ, đó là nơi trú ẩn cần thiết cho em và con trong lúc này.

Hà lắc đầu một cách cương quyết, nàng sờ vào khuôn mặt gầy và xương xẩu của chồng:

– Ồ, thật là quá sức, em không thể tưởng tượng được em có thể sống nơi nào mà thiếu vắng anh, anh nghĩ quẩn rồi, em cũng vậy. Thôi vậy, chúng ta không trở lại vấn đề này nữa. Cứ để đến đâu hay đấy.

Hà đã giữ lời, nàng câm nín không than thở nữa, nhưng số phận đã thay con người để làm công việc của nó. Bé Cao, đứa con trai lớn lên ba tuổi của họ càng ngày càng xuống sắc, da nó vàng úa dần dần, nó không chịu ăn uống gì cả, chỉ còn da bọc xương, các y sĩ trong vùng đều thất vọng vì họ quá nghèo nàn về phương tiện trị liệu. Cuối cùng họ đề nghị cấp giấy tờ cho Hà mang con vào thành phố Huế để chữa bệnh.

Có một cái gì trong thời chiến, khiến cho những người thương nhau khi chia tay đều có một cảm giác giá lạnh, in thể lần cuối họ còn nhìn thấy mặt nhau.

Hai vợ chồng Lương thức trắng đêm bên nhau trước ngày Hà mang hai con trở về thành phố Huế. Gần về sáng Hà cố nuốt tiếng nức nở không cho thoát ra khỏi cổ họng, nàng sợ tiếng khóc sáng nay như một âm vang cuối cùng, một điềm xui xẻo có thể khiến cho nàng không còn thấy lại khuôn mặt yêu dấu của chồng nữa. Lương cũng vậy, anh sợ tiếng khóc của vợ, anh trầm ngâm lặng lẽ hút thuốc trong bóng tối, anh biết mỗi lời nói, mỗi cử chỉ yêu thương trong giờ phút này đều khơi nguồn nước mắt buồn đau. Vợ chồng Lương đã hẹn với nhau đem con về Huế chữa bệnh sẽ trở lại trong vòng ba tháng nữa. Ba tháng có là bao so với cả một đời họ đã hứa cho nhau, và khoảng cách trên sông dài cũng chỉ mang ý nghĩa thời gian buổi sáng thuyền nhổ sào buổi chiều cập bến.

Nhưng trong không khí chiến tranh vây quanh này, cuộc chia ly mang một sắc thái như cả thiên thu.

—->Chương 12

This entry was posted in Nguyễn Thị Thanh Sâm, Truyện dài - Tiểu thuyết and tagged , . Bookmark the permalink.