CÕI ĐÁ VÀNG (Nguyễn Thị Thanh Sâm): chương 1-20

CHƯƠNG XIV

Trong lúc mọi người nói chuyện, vui đùa giữa bữa ăn, Lương bỗng sực nhớ, anh hỏi Huỳnh:

– Sao lâu quá tôi không thấy Trần về nhỉ, lâu không gặp lại đâm ra nhớ. Giá bữa cơm hôm nay mà có Trần thì thật là vui hoàn toàn.

Gương mặt Huỳnh thoáng qua một chút u ám:

– Trần vừa đi dự lớp chỉnh huấn về gần một tháng nay, tôi nghe tin Trần bị đau nặng lắm, không biết đã khỏi chưa. Tôi vừa trở lại đơn vị, công việc sắp đặt chưa yên. Có lẽ phải đến tháng sau tôi mới đi công tác về trên ấy để đi thăm Trần luôn thể.

Hoàng chép miệng:

– Cũng khó mà chịu đựng nổi những điều như anh Trần đã trải qua, anh ấy đau nặng là phải.

Lương vốn ít biết tin tức trong giới những người kháng chiến nên anh hỏi:

– Có việc gì xảy ra cho Trần thế?

Huỳnh vắn tắt kể lại cho Lương nghe chuyện Trần đi công tác tình cờ chứng kiến vụ công an xử tử một cô gái ra sao, và người cán bộ công an chỉ huy vụ hành quyết đã dùng cô gái để thí nghiệm ba mũi tên tẩm thuốc độc của người thiểu số cho y ra sao, Huỳnh nói tiếp:

– Việc đó đã làm cho Trần điên đảo, xưa nay nó vốn cả lòng tin, nó mang một ý thức tốt đẹp toàn vẹn về đời sống chiến khu và không khí kháng chiến. Nó yêu đời và yêu người, nó yêu cả kẻ thù khi đã ngã xuống nằm trên trận địa. Có lần tôi và nó gặp nhau giữa trận Thanh Bồ, khi tiếng súng đã im, quân ta hoàn toàn làm chủ chiến trường, chúng tôi đi ngang qua một khe nước trông thấy xác một thằng Tây nằm vắt qua một cành cây mục, hai tay thòng xuống nước, mình mẩy trần truồng, chứng tỏ nó đã bị lính của ta lột sạch, việc đó là thường. Tôi định đi thẳng nhưng Trần kéo tôi lại xin tôi phụ với nó khiêng xác thằng Tây đặt lên một mô đất cao ráo, cho toán thu dọn chiến trường dễ tìm thấy. Thằng Pháp có những vòng tóc vàng hoe xõa rối trên vầng trán, khuôn mặt thật trẻ trung. Trần vuốt mắt, sửa tay chân cho nó thật ngay ngắn, đoạn nó đi bẻ một cành lá bội đắp lên chỗ trần truồng của xác chết, vừa làm mọi việc đó nó vừa nói thì thầm như thằng kia có thể nghe được nó: “Cái áo tao đang mặc là của quân đội tao phát cho, khi nào tao không đi lính nữa phải trả lại quân đội, vì thế tao không thể cởi ra đắp cho mày như lòng tao mong muốn được. Đồng đội tao nó lột mày trần như nhộng mày đừng giận làm gì, chúng nó nghèo, chúng nó cũng khốn khổ như mày, như tao vậy, đứa nào cũng trẻ trung, cũng yêu đời, đứa nào cũng còn cha mẹ, anh em, chị em, người yêu, bạn bè chờ đợi ở nhà, vậy mà cả lũ kéo nhau đến đây bắn giết nhau bằng thích. Đời nó xui khiến ra như vậy, cuộc đời chó chết lắm, mày thấy không, nhưng mày đã yêu nó, tao cũng yêu nó, yêu quá đỗi đến nỗi bị nó xui khiến cho phải xông ra chém giết nhau. Mày chết thật phi lý, tao mà chết cũng vậy thôi, hỏi quê hương mày, quê hương tao sẽ hưởng được những gì từ cái chết của mày, của tao? E rằng cả mày và tao, chúng ta đều không kịp biết đâu mày ạ.”

Huỳnh ngừng lại ngẫm nghĩ một chút, anh mỉm cười tiếp:

– Rồi nó chỉ mặt thằng Pháp nằm yên như say ngủ, bảo tôi: “Cái mặt thằng Pháp này phải sống để làm thi sĩ phải không mày, mày xem, vầng trán cao, rộng mênh mông xanh ngắt, vòng tóc vàng xõa rối thật lãng mạn, nét mặt thanh cao, chết mà con tươi rói, nó còn có vẻ thi sĩ hơn mày, hơn tao nữa. Nói cho cùng thì cái chết của nó cũng đẹp đấy chứ, trả lại thế gian tất cả những thứ đã khoác lên mình nó, áo quần, vật dụng, tên tuổi, chỉ còn lại chính nó mà thôi. Thì khi cha mẹ nó sinh ra, nó đã trần truồng mà chui ra, bây giờ đời có tước đi tất cả thì nó lại vẫn trần truồng, coi như huề vốn, có mất mát gì đâu mà buồn. Bây giờ nó nằm đây, bên khe ngọc tuyền, có hai thằng lính thi sĩ Việt Nam vuốt mắt nó, đắp lên mình nó nhành lá cây đã từng tô điểm phong cảnh quê hương Việt Nam. Đáng ra phải quấn cho nó bằng một lá cờ, nhưng nghĩ cho cùng, một nhánh lá cây giữa trời đất vẫn hơn, mày nghĩ sao?”

Lương bật cười:

– Ông ấy lếu láo thật, như thế chẳng trách gì, khổ thân là phải.

Hoàng nói:

– Tôi nghĩ tếu như thế mà có thể là đảng viên Cộng sản cũng lạ thiệt.

Huỳnh nhăn mặt:

– Thì tất cả mọi trái ngược đó vây hãm lấy nó, đang làm nó dở sống dở chết kia. Nó làm tôi lo ngại vô cùng.

Huyên tự nãy giờ yên lặng chăm chú theo dõi câu chuyện, đôi mắt nàng sáng lên vẻ hiếu kỳ mãnh liệt, bây giờ mới buột miệng nói:

– Người như thế mà là đảng viên sao, lạ nhỉ, như vậy thì không giống một cái khuôn tí nào, em mới nghe lần này là một đấy.

Phong hỏi:

– Huyên nói gì mà một cái khuôn?

Lương cười giải thích:

– Huyên nó bảo những đảng viên họ như cùng một cái khuôn đúc ra, rập nhau từ dáng điệu cho đến cách phát biểu tư tưởng, đi một chiều, không bao giờ thay đổi.

Bửu gật gù nhìn Huyên, giọng nói cố ý kéo dài:

– Một ví dụ khá đấy, có lẽ lại chính xác không chừng, cần xét lại cho kỹ, nghe.

Hồ lại sừng sộ:

– Mày bỏ cái giọng mệ của mày đi cho tao nhờ, cứ tưởng mình là vua hoài.

Hoàng quay sang, giọng đe nẹt:

– Mấy thằng này hễ người lớn nói chuyện là cứ chộn rộn hoài, tao đập cho một trận nên thân bây giờ.

Mọi người cùng cười nhưng bầu không khí chợt trở nên buồn tẻ, không còn vui vẻ nữa, như có một đám mây vừa giăng qua, bao trùm lên số phận con người.

Sau bữa ăn, trong khi Hoàng, Bửu, Hồ, Phong và Huyên ra ngồi nói chuyện dưới hàng hiên, Lương và Huỳnh vào phòng sách, hai người ngồi hút thuốc bên nhau, yên lặng một lúc lâu.

Huỳnh gạt tàn thuốc vào một cái dĩa, vẻ trầm ngâm cất tiếng, nói chậm rãi:

– Anh để chị mang cháu đi là phải. Có lẽ rồi đây sẽ có nhiều biến chuyển mới, chưa biết ra sao. Nhưng chắc chắn là đời sống sẽ càng ngày càng khó khăn nhiều. Nhất là đối với những gia đình như gia đình anh.

Lương thở ra:

– Tôi hiểu, tôi đã định cho vợ con đi từ lâu rồi nhưng cứ nấn ná mãi cho đến nay, nhân cháu Cao đau nặng nên mới giải quyết được việc đó. Dù sao cũng khổ tâm lắm anh ạ, từ hồi nào đến bây giờ Hà và hai cháu đã quen có tôi ở bên cạnh rồi, vui buồn có nhau, xa nhau lần này là lần đầu, không biết sẽ ra sao, mình người lớn không nói gì chứ trẻ con nó nhớ thì tội lắm.

– Dù sao chị và các cháu vào trong ấy đã có hai bác, anh đừng lo. Nghĩ cho cùng, lêu bêu như tụi tôi mà lại hay, có gì thì chỉ chịu một mình, không làm khổ lụy đến ai hết, không để ai phải lận đận với mình.

– Đôi lúc tôi cũng nghĩ như thế, nhưng phần tôi chậm mất rồi. Như anh và Trần thì có thể thong thả chờ cho hết chiến tranh rồi lập gia đình của không muộn.

– Tôi thì chẳng nói làm gì, có hết chiến tranh cũng thế thôi, chắc gì người yêu có thể chờ đợi mình mãi, hết cả cái xuân xanh đi mất, hơn nữa chắc mình cũng không nỡ để ai chịu khổ vì mình. Thằng Trần nó cứ cằn nhằn tôi khó tính, ở bẩn, lấy vợ thêm tội cho vợ mà thôi. Còn Trần thì chắc sắp lo chuyện vợ con rồi đấy, mẹ Trần đã kén được con dâu rồi, gia đình Trần nhờ tôi gọi nó về vì chuyện ấy đấy, – Huỳnh mỉm cười – cứ tưởng tượng tôi cũng biết trước nó sẽ nhăn nhó bực bội như thế nào rồi.

– Sao vậy, Trần không thích cô ấy à?

– Không phải vậy, nhưng anh nghĩ hoàn cảnh tụi tôi bây giờ mà tính chuyện lấy vợ nó thất sách quá, lấy rồi bỏ người ta đó mà đi biệt à?

– Mẹ Trần nhắn sao?

– Bà Thị, cô ruột Trần vừa đi Huế về, mẹ Trần nhắn Trần cụ sẽ cho hai cô cháu gái về thăm Trần, một cô là cháu ngoại của cụ gọi Trần bằng cậu ruột, còn cô kia là con người chị của anh rể Trần, cha mất sớm, mẹ lấy chồng gởi cô bé cho anh chị của Trần nuôi hộ, vì thế cô ta ở với gia đình Trần từ ngày còn bé. Hiện giờ anh chị Trần đổi vào Sàigòn, để Thương, tên cô bé, ở lại với mẹ Trần đi học với Thể My là cô cháu của Trần. Theo bà Thị kể thì Thương năm nay đã được mười bảy tuổi, rất xinh đẹp nết na, mẹ Trần thương lắm, cô ta quấn quýt mẹ Trần, xem cụ như mẹ ruột, có lẽ vì thiếu tình cha mẹ nên cô bé tìm thấy người mẹ nơi bà cụ của Trần. Vì vậy mà mẹ Trần quyết định nhắm hỏi cưới cho Trần. Bà Thị nhờ tôi nhắn Trần bao giờ về được cho bà biết để bà lên Huế đón hai cô bé về. Số là các cụ muốn đôi trẻ chúng nó gặp nhau, ra cái điều các cụ để toàn quyền cho con cái đấy mà, lắm chuyện thế đấy.

Huỳnh kéo dài giọng pha trò khiến Lương bật cười:

– Trần có biết qua về việc này chưa?

– Rồi, chuyến Trần về thăm tôi vừa rồi bà Thị đã nói cho Trần biết ý mẹ rồi.

– Thế Trần bảo sao?

– Nó coi như chuyện không có gì quan trọng, nó cho đó như một ý nghĩ ngộ nghĩnh hay hay của cụ, nói để mà nghe mà thôi. Phen này mà nó nghe cụ nhắn bảo về gặp cô bé thật sự chắc là nó phải ngã ngửa.

– Xem ý Trần có mến cô ta không?

– Nó bảo nó coi cô bé như cháu của nó là Thể My, con của anh chị của nó vậy, vì cô bé sống với gia đình nó từ hồi còn bé tí, và cũng gọi nó bằng cậu như con bé Thể My, ngày nó đi ra kháng chiến cô bé mới mười bốn tuổi.

Lương chép miệng: “Nếu mẹ Trần nhất quyết muốn thế thì Trần cũng khó mà cưỡng lại được, cụ đã già quá mà Trần lại là con trai một. Kể cũng hay, giữa Trần và cô bé đã có mối giây liên hệ gia đình, đi đến chỗ hòa hợp nhau cũng không có gì khó.”

– Vâng, tôi cũng nghĩ vậy.

– Bao giờ anh đi trên ấy?

– Có lẽ tháng sau.

– Anh bị thương mới về còn yếu mà họ đã cử anh đi công tác ư? Anh liệu trong mình anh đấy, chứ đi đường núi mùa này vất vả lắm, mưa hoài, người còn yếu dầm mưa thật là không nên đâu.

Huỳnh nhếch môi:

– Không sao đâu anh, tôi chỉ e không làm kịp những việc phải làm mà thôi. Việc đi công tác là do tôi muốn đi, vì ngoài công việc và ghé thăm Trần bị đau, tôi còn phải hoàn tất một việc cần thiết. Đó là tôi sẽ xin tỉnh chuyển về trung ương cho tôi bản điều trần của tôi thỉnh cầu sửa đổi việc cải cách ruộng đất.

– Bản điều trần đó như thế nào? – Lương hỏi vẻ chăm chú và trong đôi mắt trầm tĩnh của anh thoáng qua một chút lo âu bất nhất.

– Trong những ngày nằm chờ vết thương kín miệng, tôi đã làm việc ngày đêm để hoàn thành bản điều trần đó. Tôi thấy thời gian quá gấp rút. Chắc anh cũng đã nghe nói đến vấn đề cải cách ruộng đất do trung ương chính phủ đề ra. Cán bộ ta ở các cấp đã học tập lâu nay, những ngày sắp tới sẽ có những đoàn cán bộ đi đến các địa phương sống chung với đồng bào để phát động phong trào này. Hẳn anh đã đọc qua những tài liệu về cuộc cách mạng về cải cách ruộng đất của Trung Hoa cùng những cảnh đầu rơi máu chảy kinh hồn của nó. Theo nguyên tắc thì cách mạng là phải có đầu rơi máu chảy, cấp lãnh đạo kháng chiến của ta đã đi theo công thức đó. Dù sao nhân dân Trung Hoa đã nếm trải kinh nghiệm ấy trước chúng ta, theo chỉ thị của Bắc Kinh, trung ương lãnh đạo kháng chiến của chúng ta đã bắt đầu thi hành chính sách ruộng đất rập theo khuôn mẫu của cách mạng Trung Hoa. Trong bản điều trần tôi muốn trình bày quan điểm của tôi về vấn đề này, tôi nghĩ rằng dù nó có không đi đến đâu nhưng tôi cũng đã gióng lên một tiếng vang nhỏ nhoi nào đó cho hết phận làm người của mình.

– Xin anh tóm tắt nội dung cho tôi nghe.

– Tôi muốn nói rằng vấn đề cải cách ruộng đất đã đề ra quá sớm đối với hiện tình đất nước của chúng ta. Ở Trung Hoa, người ta thực hiện cuộc cải cách ruộng đất trong khi xứ sở của họ đã có chủ quyền, chính phủ và nhân dân họ không phải lo việc chiến tranh chống ngoại bang. Họ rảnh tay đối phó với bên ngoài và dồn hết tiềm lực để thanh toán bên trong. Vì thế cho nên với một nước Trung Hoa rộng lớn và một dân số khổng lồ, cuộc cải cách ruộng đất của Trung Hoa tuy mang lại bao cảnh sinh linh đồ thán, nhưng không bị ảnh hưởng đến sự mất còn của Tổ quốc họ. Hiện trạng đất nước ta trái lại, chúng ta là một dân tộc nhược tiểu đang lâm vào một cuộc chiến tranh chống xâm lăng, chúng ta phải đánh nhau với một ngoại bang thuộc vào hàng cường quốc trên thế giới. Dân tộc ta đang trải qua một cuộc thử thách hiểm nghèo một còn một mất với kẻ thù bên ngoài. Dĩ nhiên mọi tiềm lực của nhân dân đều phải dồn về trọng tâm chống Pháp. Như vậy cuộc cải cách ruộng đất được đề ra trong giai đoạn này sẽ không tránh khỏi làm cho nhân tâm phân tán, tài sản của dân sẽ bị lụn bại trong cơn khủng hoảng của sự thay cũ đổi mới. Song song với cảnh tàn phá chết chóc của chiến tranh, cảnh đấu tố tiêu diệt giai cấp sẽ xảy ra và chúng ta phải mang thêm gánh nặng xương máu của cuộc đấu tranh tương tàn nồi da xáo thịt sẽ còn khủng khiếp gấp ngàn lần tai họa chiến tranh.

Sự diệt vong có thể thấy trước mắt vì đó. Một khi nhân tâm đã bị phân tán chia rẽ bởi giai cấp này giai cấp nọ tiêu diệt lẫn nhau, tình trạng đó gieo rắc khắp nơi sự nghi kỵ vu khống, thù ghét, oán hận do đó sự nhất tâm chống giặc cứu nước sẽ bị tan rã mau chóng. Ngoại bang sẽ nắm lấy cơ hội mà xâm nhập và chi phối nội tình của ta. Những bằng chứng trước mắt về sự rập khuôn theo những chính sách của Trung Hoa và Nga Sô để áp dụng trên mảnh đất nhỏ bé lầm than này cho ta thấy trước một hình thức đô hộ mới mẻ hơn, tân kỳ hơn, và cũng tàn khốc hơn nữa. Đó là sự đô hộ về tinh thần và ý thức hệ, ngàn lần kinh khủng hơn những hình thức đô hộ từ xưa đến nay nhiều. Nó tương tự như một cuộc bán linh hồn cho quỷ Satan.

Huỳnh đã ngừng nói, Lương vẫn còn nín lặng, anh nhíu mày, nhìn theo đàn kiến đen bò lên tường, làm thành một vệt đen dài ngoằn ngoèo xao động, làm như nhìn đàn kiến di động anh có thể tìm hiểu được đích xác cái gì mà anh linh cảm được trong khi nghe bạn nói. Huỳnh nhìn Lương, bắt gặp vẻ mặt tư lự suy nghĩ của bạn.

– Tôi biết anh nghĩ gì, có phải anh nghĩ rằng liệu người ta có cứu xét ý kiến của tôi không chứ gì?

Lương gật đầu, Huỳnh định nói nhưng Lương đưa tay ngăn lại:

– Không phải tôi chỉ nghĩ có thế mà thôi đâu. Tôi còn nghĩ rằng liệu anh có lường được hậu quả của việc làm này hay không? Anh có nghĩ đến thái độ của những cán bộ chính trị lãnh đạo cơ quan đối với anh từ lâu nay ra sao không? Chắc anh còn nhớ mới đây anh bị thương trong trận đánh họ đã không tìm kiếm anh và phao đồn là anh đã theo giặc. Tôi nghĩ rằng trung ương thì xa mà những kẻ đó thì gần. Anh là người ngoài Đảng, dù anh đang phục vụ trong bộ đội, dù anh xả thân cho cuộc chiến đấu này, nhưng trên bình diện tư tưởng và thành phần, người ta đã xếp anh vào loại giống như tôi hiện tại mà thôi. Anh có nghĩ đến tất cả mọi điều đó chưa? Dĩ nhiên tôi mong rằng anh hãy suy xét kỹ trước khi làm việc này.

Huỳnh gật đầu, trầm giọng:

– Tôi có nghĩ đến tất cả rồi anh ạ. Nhưng tôi không thể lùi bước được. Khi chúng ta đã đặt số phận của chúng ta vào cuộc kháng chiến này, khi chúng ta tìm đến để có mặt nơi đây, điều trước tiên chúng ta nghĩ đến và chấp nhận, đó là cái chết. Điều chúng ta không chấp nhận là sự thối lui chứ không phải là sự bước tới. Tôi đã thấy những gì trong cuộc kháng chiến này? Tôi đã thấy hàng ngàn người lính đã ngã xuống, tôi đã thấy họ sống dở chết dở trong những trạm cứu thương, tôi đã thấy những làng mạc bị san bằng, hàng ngàn thây thường dân vô tội, đàn bà trẻ con chồng chất lên nhau. Tất cả những cái đó không thể phút chốc biến thành vô nghĩa. Những hình ảnh đó mãi mãi nung nấu lòng tôi, lòng anh, và triệu triệu lòng người Việt Nam, nó biến sự đau khổ lên xương lên da khiến người ta không thể phản bội những người đã chết.

Huỳnh ngừng lại nhìn Lương, cái nhìn thâm trầm cảm mến:

– Có lẽ tôi cũng được như anh. Cái gì đã giữ anh ở lại đây, cái gì đã khiến anh rứt ruột xa lìa vợ con anh? Hẳn là không phải ở đây người ta ân cần tử tế với anh, anh với cái mác tiểu tư sản trí thức mà người ta đã xếp loại, còn hơn nữa, anh lại còn là địa chủ phú hào. Anh thừa biết tác dụng nguy hiểm của những danh từ đó ra sao. Chúng ta đang ở giữa một thời kỳ mà những danh từ đều có công dụng như những thanh mã tấu. Thế mà anh vẫn lưu lại đây, lạc loài, cô đơn, bất lực. Há rằng tôi không được bằng nửa tấm lòng dũng cảm đó của anh sao.

Những lời nói của Huỳnh xuyên vào tận tâm can Lương khiến anh xúc động vô cùng, mặt anh tái ngắt, anh run run siết chặt lấy tay Huỳnh:

– Huỳnh, thế là đủ, tôi không còn biết nói sao với anh nữa, chỉ mong sao khi cuộc nước này đi qua, anh em chúng mình, xin cho được sống xứng đáng, và chết không hổ thẹn.

Trong bóng chiều buông xuống đầu con đường làng băng qua cánh đồng rộng, hai anh em Lương và Huyên dừng lại dưới bóng tre, nhìn theo Huỳnh và Hoàng, Bửu, Hồ, Phong cho đến khi bóng họ nhỏ dần lẩn khuất trong sương chiều. Hai anh em quay gót, không ai nói với ai, nhưng trong buổi chiều quê lặng lẽ này, có rất nhiều tiếng nói thầm đi vào cõi miên man vô cùng tận.

—->Chương 15

This entry was posted in Nguyễn Thị Thanh Sâm, Truyện dài - Tiểu thuyết and tagged , . Bookmark the permalink.