CÕI ĐÁ VÀNG (Nguyễn Thị Thanh Sâm): chương 1-20

CHƯƠNG XV

Trên đường đi lên núi, Huỳnh tưởng tượng một Trần xanh xao vàng vọt, với vẻ mặt u uất, giọng nói đắng cay. Nhưng sự thật đã trái ngược hẳn.

Huỳnh đến nơi Trần ở vào lúc mười giờ đêm, trong nhà còn ánh đèn, nhìn về gian nhà bếp anh thấy ánh lửa bập bùng lọt qua khe vách. Huỳnh khẽ đập vào tấm liếp cửa, có tiếng Trần hỏi, giọng dõng dạc.

– Ai đó?

Huỳnh trả lời, dõng dạc không kém:

– Huỳnh đây.

Tức thì, tiếng dép khua động đi đến phía cửa, tấm liếp được kéo qua một bên, và trong ánh sáng của cây đèn dầu tỏa ra khắp gian nhà, hiện ra bóng Trần cao lớn thẳng tắp, tiếng chàng cười vui vẻ ấm áp, giọng chàng đầm ấm mừng rỡ:

– Ồ, tao đang định đi về đồng bằng xem mày sống chết ra sao đấy chứ. Vào đây, thằng này liều thật, vừa mới dở sống dở chết thế mà cũng mò lên được tận đây, ồ thật đấy, cái mặt mày trông thấy mà ghê, may mà hai bé Hiền và Hòa chúng nó đã ngủ hết rồi chứ không thì chúng đã khóc thét lên rồi, mày định dọa trẻ con đấy hả? Vết thương của mày đã lành hẳn chưa? Mày qua quốc lộ lúc mấy giờ? Qua hồi bảy giờ mà giờ này đã đến đây là đi mau đấy chứ. Mày đúng là thằng khùng, việc gì phải bò lên đây, tao sắp xuống gặp mày mà. À, mày tưởng tao sắp chết hả, chưa đâu, người như tao sống dai lắm, tụi vi trùng sốt rét chúng nó chào thua tao rồi, bây giờ tụi tao sống thân thiện lắm. Mày hỏi có tiếp tục tiêm thuốc cho dứt vi trùng không hả? Thôi, xua đuổi chúng nó lắm làm gì, tao bằng lòng cho chúng nó ở trọ trong máu tao đó, bây giờ chúng nó ngoan ngoãn lắm rồi, luân lưu dịu dàng trong mạch máu của tao và bằng lòng để yên tao, thế là được rồi, ở đời mình không nên cư xử quá đáng với ai dù là đối với vi trùng sốt rét. Gặp mày là mừng cái đã. Mày đã ăn uống gì chưa, chưa hả, thế là tốt, chúng ta sắp có một nồi cháo vịt, chị Hiếu đang nấu cháo dưới bếp đó. Quý đâu rồi hả, mày xem ông ấy kia, mới chín giờ đã lăn ra ngủ, ngáy thật đều đặn mày thấy không, nhưng nó không quên dặn hễ cháo chín thì gọi nó dậy, đúng là cái đức ăn và ngủ của ông ấy bằng nhau, tội nghiệp, đáng lẽ đang còn cắp sách đến trường kia đấy.

Trần lại gần Quý, lay nó dậy:

– Quý, Quý dậy đi, anh Huỳnh lên đấy.

Quý đang ngủ say sưa, bỗng nó phóc dậy một cái, mở to mắt ôm lấy Huỳnh reo to:

– Đúng anh Huỳnh đây rồi, em nằm mơ thấy anh, em nghe tiếng anh nói, té ra là anh thiệt.

Huỳnh và Trần cười ha hả, mỗi người cầm một tay, nhắc bổng Quý lên, đặt nó xuống đất, nó la oai oái. Chị Hiếu ở dưới nhà bếp chạy lên:

– Anh Huỳnh, nghe tiếng anh mà tôi bận lỡ tay một chút, anh mạnh rồi chứ?

Huỳnh quay lại, anh ngạc nhiên nhìn thấy Hiếu dưới ánh đèn đêm nay trông có vẻ rực rỡ lạ thường, nàng vẫn mặc cái áo cánh trắng và quần đen như thường lệ, không có gì thay đổi trong cách phục sức bên ngoài của nàng cả nhưng trên khuôn mặt nàng có một cái gì chói lọi, sáng rực, đôi mắt vốn bị lé của nàng lóng lánh rỡ ràng, dường như ánh sáng bừng tỏa ra từ đôi mắt đó, đã khiến cho sự xấu xí của đôi mắt lé không còn nữa, Huỳnh vui vẻ chào:

– Chào chị Hiếu, chị mạnh giỏi đấy chứ; tôi trông chị dạo này có vẻ tươi tắn hơn trước nhiều đấy.

Hiếu mỉm cười:

– Cảm ơn anh. Mấy tháng trước nghe anh bị thương tôi lo quá, sau nghe Quý bảo vết thương không nguy hiểm tôi mới thấy mừng. Anh đã khỏe hẳn chưa ạ?

– Chị xem, tôi bò lên đây được là xem như khỏe lắm rồi còn gì, ấy thế mà thằng Trần nó thấy tôi nó không mừng mà còn la lối om sòm đó chị.

– Dạ, tôi trông anh cũng còn gầy lắm, xin mời anh nghỉ một lát cho khỏe, tôi xuống trông nồi cháo chín để mang lên anh dùng, anh vừa đi xa về chắc đói lắm, lại mới yếu đau xong.

Hiếu đi xuống bếp, Trần trông theo, mỉm cười, hỏi với:

– Cũng như Trần vậy, phải không chị Hiếu?

Hiếu ngoái lại nhìn Trần rồi quay đi, vẻ mặt thoáng âu yếm, đôi mắt nàng ngời sáng, trước khi nàng khuất sau tấm phên tre ngăn nhà trên với nhà bếp.

Khi mọi người ăn cháo xong, Hiếu dọn dẹp rồi lui vào nhà trong với hai con. Huỳnh, Trần và Quý cũng đi nằm nhưng họ còn chuyện vãn mãi tới khuya.

Huỳnh cảm thấy yên lòng khi thấy Trần tươi tỉnh dịu dàng. Sau cơn đau nặng chàng có vẻ xanh xao nhưng thần thái chàng thật bình thản thanh thoát lạ lùng. Trần không nói gì đến lớp chỉnh huấn, chỉ kể cho Huỳnh nghe về những người bạn chung của hai người mà chàng gặp lại ở phân khu cùng những mẩu chuyện lếu láo giữa họ với nhau.

– Mày đã nghe chuyện “khổ qua cô ơi” chưa mày?

– Chưa, chuyện sao?

– Chuyện như thế này, có một tiểu thư con nhà giàu, một ngày đẹp trời bỗng hứng lên đòi đi kháng chiến. Cô nàng làm cán bộ phụ nữ, người ta cử cô nàng đi họp phụ nữ tận ngoài Liên khu Tư. Phải đi đường núi hàng tháng trời nên cô nàng thuê một chú mọi cõng mình đi. Chú mọi vừa phải cõng cô ả vừa phải mang bọc quần áo, thức ăn, gạo cơm. Được cái nàng cán bộ thì vóc hạc xương mai mà chú mọi nhà ta thì cũng to con nên không nặng nhọc gì cho lắm. Chú mọi cõng cái sự đời trên lưng đủng đỉnh đi trên núi ngày này qua ngày khác, biết bao phong cảnh sơn thủy hữu tình nên cái cõi lòng đen kịt của thằng người núi cũng phải xốn xang. Một ngày nọ, nó cõng cô ả đi chậm lại, tụt ra sau, bỏ xa đoàn cán bộ cùng đi. Cuối cùng khi nó biết rằng đoàn người đi trước đã cách xa độ vài cây số đường rừng, nó mới đặt cô ả xuống, rồi đứng ỳ ra, không chịu đi nữa. Cô ả thấy trời đã về chiều mà chú mọi lại bỏ mình xuống không chịu đi nữa, lấy làm lạ, giục nó đi, nó cứ đứng ỳ ra, mặt mũi ngờ nghệch khổ sở nhìn cô ả có vẻ van xin, cô ả nổi dóa, quát mắng ầm ĩ, thì chú mọi ra vẻ sợ hãi úp mặt vào gốc cây, nói hoài không dứt một câu: “khô qua cô ơi,” là sao mày biết không? Là “khổ quá cô ơi” đó. Thế là cô ả chợt hiểu, cô ả khiếp đảm, mắng chưởi, đe dọa rồi cuối cùng khóc lóc van lơn nó. Phần chú mọi thì chỉ úp mặt vào gốc cây mà nói đi nói lại liền miệng như đọc thần chú: “khô qua cô ơi, khô qua cô ơi.” Trời gần tối, giữa rừng một mình, có muốn đi cũng không dám, cô cán bộ mệt mỏi, tuyệt vọng gọi chú mọi: “Thôi đến đây, – rồi nàng quát – mau lên.” Chú mọi rời gốc cây, đến gần nàng. Xong đâu đó, nó xốc hành lý lên vai, cõng nàng cán bộ lên lưng, hớn hở nhẹ nhàng chạy như bay. Cả hai đến trạm nghỉ sau đoàn cán bộ có vài phút. Câu chuyện nếu chỉ có thế thì không ai biết được. Nhưng cuộc đời lắm nỗi trớ trêu, tối hôm đó khi cùng mọi người mang lương thực ra ăn, cô ả tìm mãi không thấy con dao cắt cơm và thịt, đã sẵn đau đớn hậm hực trong lòng, nàng hét lên hỏi chú mọi con dao ở đâu, nó nhìn nàng với bộ mặt khốn khổ ngờ nghệch khiến nàng càng điên tiết, hét tướng lên, quýnh quá nó đành nói: “Con dao tôi để rớt ở chỗ cô cho tôi…đó.” Mọi người chưng hửng, rồi mọi người hiểu ra, ai nấy được một mẻ cười đau bụng. Chuyện truyền đi rất nhanh, bây giờ tụi cán bộ từ Ba Lòng ra đến Liên khu Tư đều thuộc nằm lòng, hở một tí là tụi nó kêu đong đỏng “khô qua cô ơi.”

Huỳnh và Quý cười lăn lóc, Quý hỏi:

– Chuyện có thật như vậy không anh? Hay họ bày đặt ra để có chuyện mà cười. Làm gì đến nỗi phải thuê mọi cõng đi.

– Có lẽ có thật đấy em ạ, vì hiện giờ ở Quảng Bình trẻ con nó có hát câu đồng dao:

“Ai coi lên núi mà coi,
Coi bà cán bộ cưỡi voi không bành.”

Căn cứ vào đó, có thể cho là câu chuyện khó tin nhưng có thật.

Huỳnh chắc lưỡi:

– Chuyện tếu thật, ông cố tổ, sao nó không thuê mình cõng có phải hơn không, thằng mọi thế mà có phúc.

Cả ba lại được dịp cười vang.

– Mày có gặp thằng Hào không?

– Có, tao có gặp, nó học cùng khóa chỉnh huấn với tao.

– Nó có cô chị đẹp lắm, nét mặt đẹp như Đức Mẹ ấy, không biết bây giờ cô ấy ở đâu.

– Cô ấy chết rồi.

Huỳnh kêu lên:

– Chết, sao thế?

– Ừ, chết một cách tội nghiệp lắm mày ạ. Hào nó kể chị nó lấy thằng Mưu, trung đoàn phó, lấy nhau xong thằng kia đi vào đơn vị ở Thừa Thiên, chị nó ở lại

Quảng Bình, đi làm việc đoàn thể phụ nữ. Được ít lâu, chị nó biết mình có thai, khi gần sanh cô ta viết thư cho chồng xin gởi một ít tiền để sống qua thời kỳ sinh đẻ vì nghỉ làm việc thì đoàn thể không cấp sinh hoạt phí cho nữa, dù là sinh hoạt phí một tháng là ba chục ký lô gạo mà thôi. Thằng chồng không trả lời thư cho vợ mà lại viết thẳng cho đoàn thể phụ nữ chỉnh rằng các đồng chí không giáo dục vợ tôi để vợ tôi có hành động ỷ lại, hèn yếu, mang nặng tính chất tiểu tư sản là đòi hỏi mè nheo chồng, làm bận tâm chồng trong khi thi hành nhiệm vụ của một chiến sĩ cần đặt hết tâm trí vào việc giết giặc và phục vụ cho nhân dân.

– Hừm, hừm, – Huỳnh nhổ nước miếng xuống đất – lại có cái trò như thế nữa à?

– Thế là các cán bộ phụ nữ được lệnh phái đến giáo dục cô ta. Gần ngày sinh, cô ta phải nghỉ việc vì đoàn thể nhận xét năng suất làm việc bị sút kém. Cô phải chịu đói rách ngồi nghe cán bộ giải thích và dạy dỗ. Đến ngày sinh cô ta bị kiệt sức, cả mẹ lẫn con đều bị sốt rét, hai mẹ con run đây đẩy trên giường sinh, mẹ con nối tiếp nhau chết ngay sau đó. Thằng Hào nó kể cho tao nghe nước mắt nó nhễ nhại, tao buồn quá, chẳng thiết an ủi nó làm gì. Chúng nó bỏ nhà ra kháng chiến có hai chị em, bây giờ còn lại một mình nó.

Huỳnh ngậm ngùi:

– Thôi chết thế mà lại yên thân. Tao nhớ ngày tao gặp nàng xuống lấy nước dưới bến sông Ô Lâu đi với thằng Hào. Hôm ấy tao sửng sờ trước vẻ đẹp thanh tao, trong suốt, đôi mắt trầm tĩnh, dáng dấp đài các trang nghiêm. Ngay khi gặp nàng tao cảm thấy một điều gì lạ lắm, sự hiện diện của nàng như một thoáng mong manh; quả thật, tao đang nói chuyện với thằng Hào, quay lại thì nàng biến mất. Sau đó không có dịp nào gặp lại. Thỉnh thoảng nhớ lại cảnh tượng siêu phàm trên bến sông Ô Lâu hôm ấy, tao cứ nghĩ không biết nàng có thật hay không. Bây giờ thì tao chắc chắn rồi, nàng không hề có thật, nàng là thần tiên hiện xuống gánh bớt khổ đau cho những con người khốn nạn trên đất nước này đó thôi.

– Mày biết chuyện cụ Ưng Úy, thân sinh ra nhà bác học Bửu Hội, lên chiến khu chứ hả?

– Biết, rồi sao?

– Cả cụ ông lẫn cụ bà được võng ra Liên khu Tư. Bửu Tiến, nhà viết kịch nổi tiếng ở Khu Tư dựng ngay một vở kịch nhan đề “Trên Nớ,” diễn lại cảnh cụ Ưng Úy lên chiến khu. Mày tính, một vị đại thần của triều đình cũ, một hoàng thân lão thành đã tự rời bỏ đời sống vương giả để đi lên núi tìm hơi hướng của Tổ quốc, cứ kể thì cảm động thật đấy, nhưng thằng Quyền nó xem vở kịch, nó vào kể lại có một màn, cụ Ưng Úy chia vàng cho cô hầu thiếp son trẻ trước khi đi, có nhiều câu nói tầm thường kỳ cục lắm. Bửu Tiến đóng vai cụ Ưng Úy, lột tả hết những phong thái quan dạng kiểu cách của vua quan phong kiến, nhiều cái rất lố bịch. Trong khi đó cụ Ưng Úy và cụ bà được mời đến xem người ta diễn tả mình, ngay trước mặt mình không cần hỏi ý kiến trước, do một người huyết tộc diễn tả con người mình. Bửu Tiến gọi cụ Ưng Úy bằng chú. Tuy nhiên, thằng Quỳnh nó bảo vở kịch quả thành công về phương diện bố cục chặt chẽ, diễn viên xuất sắc, rất hấp dẫn nhờ những màn cô hầu thiếp trẻ đẹp của vị đại thần ngâm thơ và gảy đàn tỳ bà do Trúc Quỳnh, nữ kịch sĩ có tiếng đóng.

– Chuyện cười ra nước mắt được đấy chứ. Mày có nghe những hoạt động văn nghệ của anh em ngoài đó dạo này ra sao không?

– Tao gặp mấy thằng làm văn nghệ ngoài đó vào cho biết tình trạng bi quan lắm mày ạ. Từ khi Nguyễn Sơn hết làm khu trưởng, bị trả về Tàu, đưa đi Triều Tiên thì anh em ngoài đó lâm vào tình trạng bơ vơ nếu không muốn nói là đen tối. Nguyễn Sơn là một vị tướng lỗi lạc, am hiểu sâu rộng tất cả mọi vấn đề, quân sự, chính trị, văn hóa và cả những vấn đề chuyên môn. Nhưng dù xuất thân là một tướng lãnh của Trung Hoa Cộng sản, đã từng tham dự cuộc Vạn Lý Trường Chinh, khi về nước Nguyễn Sơn đã tỏ tấm lòng nhiệt thành yêu nước quá đến nỗi xao lãng việc bành trướng của đảng, hơn nữa lại có vài thái độ không hưởng ứng đường lối chung, cho nên ông ta đã bị gạt ra khỏi bằng cách bị đưa trở lại Trung Hoa. Thật đáng tiếc, đất nước này cần những người như vậy biết bao.

Huỳnh chua chát:

– Ô hô, kẻ sĩ không thể nào sống nổi trên nước non này.

Trần gật đầu:

– Nguyễn Sơn chiêu hiền đãi sĩ, đã giúp đỡ nuôi dưỡng anh em văn nghệ sĩ để sáng tác, biết dùng người một cách rộng rãi hiểu biết, như việc dùng Nguyễn Tiến Lãng, một tù nhân chính trị quan trọng vào chức vụ giám đốc trường Thiếu Sinh Quân. Nghe đâu sau khi Nguyễn Sơn đi Triều Tiên, Nguyễn Tiến Lãng cũng tìm cách rời khỏi Khu Tư luôn. Anh em văn nghệ sĩ cũng vậy, mỗi người tản mác mỗi nơi. Cái thời hăng say sáng tác không còn nữa.

Huỳnh thở ra:

– Tưởng họ may mắn hơn mình trong này nhiều chứ, té ra đâu rồi cũng vậy. Mày có biết trong khi mày đi chỉnh huấn, trong khi tao còn nằm dưỡng thương, ty Thông tin tỉnh nó mở một cuộc bình thơ, chúng nó tấn công tao ráo riết. Bài “Quay về thương” của tao có một đoạn nói đến ngày mai khi tàn cuộc chiến tranh này, những người yêu thương nhau biết có còn tìm lại được nhau không. Chúng nó mắng mỏ tao kịch liệt vì hai câu:

“Ngày mai tôi đi tìm mẹ tôi
Giữa đám trần gian thưa thớt vui…”

Chúng nó nói rằng: “Ngày mai đó là ngày mai thanh bình, ngày mai chiến thắng, một trời hoan ca, một ngày hồng thắm, một rừng người xao xuyến, một rừng cờ đỏ tung bay, đó là một ngày mai huy hoàng lộng lẫy, tại sao Huỳnh lại bảo là “ngày mai tôi đi tìm mẹ tôi giữa đám trần gian thưa thớt vui?” Tại sao lại thưa thớt vui? Điều này chứng tỏ tác giả không hòa mình với niềm vui dân tộc, tác giả đã xa rời quần chúng, người nghệ sĩ cách mạng phải ý thức được rằng khi cầm cây bút mình viết cho ai, viết để phục vụ cái gì.”

– Mày thấy không? – Huỳnh cười lạt – Đó là món quà tặng của người ta để dành cho tao sau khi thoát chết trở về đơn vị. Được cái hồi này tao đâm ra hiền như cục đất, cho nên tao im lặng. Tao nghĩ còn nhiều việc phải làm, hơi đâu mà cãi vã nhau hoài.

Quý đã ngủ say, Huỳnh và Trần nằm lặng yên, họ không nói chuyện nữa, nhưng họ biết nhau đang thao thức. Có tiếng gà rừng gáy ở xa xa, hai người thiếp đi trong khi bên ngoài trời chuyển rạng đông, ánh sáng mờ nhạt đuổi dần những bóng tối ẩn núp trong từng kẽ lá, dưới những ngọn cỏ trĩu nặng sương mai.

Ngày lại bắt đầu với tất cả sự rạng rỡ tinh quái của nó, buộc con người phải chạy đuổi theo đến mệt nhoài, in hằn nét ưu tư trên bao vầng trán; và những thành công, những thất bại, và tuổi già, và cái chết không làm nên được sự yên nghỉ nào cả.

—->Chương 16

Advertisements
This entry was posted in Nguyễn Thị Thanh Sâm, Truyện dài - Tiểu thuyết and tagged , . Bookmark the permalink.