CÕI ĐÁ VÀNG (Nguyễn Thị Thanh Sâm): chương 1-20

CHƯƠNG XVI

Tiếng máy bay xa dần rồi im bặt.

Mọi người già trẻ lớn bé nhô ra từ những chỗ ẩn nấp, xôn xao hỏi han tin tức của nhau, tiếng người rộn ràng lao xao khắp mọi phía, tiếng những người đàn bà réo gọi, tiếng reo cười gặp nhau, tiếng than van hốt hoảng. Tất cả những âm thanh đó vang âm cả một góc núi đồi như tiếng của một đàn ong vỡ tổ.

Trần vẫn nằm yên trên một tảng đá lớn dưới lòng một cái khe cạn nước, hai bên tường núi dựng đứng, ở lòng khe nhìn lên thấy như mình đang ở dưới đáy giếng sâu, một chỗ trú ẩn thiên nhiên thật an toàn. Ở đây có thể yên trí làm lơ xem như không biết gì đến những chiếc máy bay của giặc lồng lộn rú rít trên không thả từng loạt bom vang dội núi rừng, sà xuống núi đồi bắn từng tràng đạn xé toang không khí.

Từ buổi sáng, sau khi chia tay Huỳnh, mỗi người đi mỗi ngã lo những công việc riêng, hẹn chiều về nhà, Trần và Quý lên bộ chỉ huy, Quý đợi Trần ở ngoài, Trần vào trong được một lát thì nghe tiếng ầm ầm như sấm động từ xa. Trong nháy mắt, một đoàn sáu chiếc máy bay giặc ào tới, một tràng bom nổ dữ dội rung chuyển cả vùng rừng núi, nhà cửa rung rinh. Mọi người nằm rạp xuống, dán sát vào mặt đất, nín thở, máu như ngưng đọng trong cơ thể. Mỗi lần một chiếc máy bay sà xuống sát những ngọn cây, những nóc nhà, tiếng rồ ngạo nghễ ghê rợn của nó như xoáy vào da thịt con người làm tê lịm nhức buốt. Hai cánh máy bay lướt qua kéo lê dưới đất một bóng rợp kinh khủng như bóng của Tử thần, những loạt đạn bay vèo vèo thành những tiếng rít đặc và xoắn lại, những cành cây kêu răng rắc, gãy đổ ầm ầm, những chiếc lá xanh tả tơi xõa nằm rã rượi trên mặt đất. Chừng mười phút sau chúng ầm ầm bay lên cao, bay xa dần, mọi người chỗi dậy xao xác.

Trần cũng dậy, chạy chồm ra ngoài tìm Quý, nhưng tìm mãi không thấy Quý đâu cả. Chợt chàng nghe một tiếng kêu vo vo trong không khí, chưa kịp nhận ra tiếng gì thì ầm một tiếng, đất dưới chân chàng chao qua chao lại như đưa võng, một ngọn khói trắng đặc bốc lên từ ngọn đồi trước mặt. Có tiếng người xung quanh la lên: “Canh nông giặc tấn công, chạy đi mau.”

Không kịp suy nghĩ, Trần chạy theo mọi người, với bản năng cầu sống. Tiếng đại bác của địch vẫn rót đều đều, mỗi lần nghe tiếng kêu vo vo, mọi người lại nằm rạp xuống, chờ tiếng nổ ầm lên dữ dội xong, họ liền chỗi dậy thấy mình còn đủ tay chân lại tiếp tục chạy. Trần cũng làm y như mọi người, cuối cùng không hiểu bằng cách nào chàng lọt xuống lòng khe này cùng một số đông người khác. Những chiếc máy bay lại trở lại thả bom, bắn phá chừng mười lăm phút lại bay đi và đại bác lại thay phiên giã từng hồi. Cứ như thế cho đến ba giờ rưởi chiều.

Trong lòng khe chồng chất rải rác những tảng đá xanh nhẵn thín đủ mọi hình thù kỳ cục, chúng ngoan ngoãn nằm yên, nhẫn nại và say ngủ trong bóng im mát rượi, như những thiêng vật đã có một thời sống động bị hóa đá bởi một cơn thịnh nộ nào đó của Thượng Đế. Những dây leo chằng chịt hai bên bờ đá, len lỏi giữa những kẽ rêu, thỉnh thoảng người ta bắt gặp một cái hoa tím biếc yểu điệu nép mình giữa chốn âm u hoang dã này. Trần và một số nam nữ cán bộ ngồi trên những tảng đá nói chuyện phiếm, cũng cảm thấy đỡ sốt ruột và qua thì giờ. Xế trưa mọi người đều mệt mỏi và đói, Trần tìm một góc khuất kín ngả người nằm trên một phiến đá, trên mặt chàng có một tàu lá chuối rừng nghiêng xuống che những giọt nắng lọt xuống từ vòm cây trên cao. Trần nằm yên, hai tay khoanh trước ngực. Giữa tiếng máy bay và bom đạn vang rền từ vách núi này qua vách núi kia, chàng nghe những tiếng rì rào nói chuyện của mọi người, xa hơn tí nữa tiếng một cây đàn guitar khẽ rung lên theo một điệu hát trầm buồn của người cán bộ trẻ tuổi, một bản nhạc kháng chiến thịnh hành của Phạm Duy. Chàng nghe cả tiếng nước tí tách nhỏ giọt từ trong khe đá.

Trần thiếp đi giữa những âm thanh đó, giấc mơ của chàng thật là quái dị nhưng cũng không kém êm đềm. Chàng thấy mình đang trôi bập bềnh trên mặt biển, mặt trời lên cao chiếu xuống mặt nước muôn ngàn chiếc vương miện chói lòa, bỗng nghe tiếng ầm ầm chuyển động dội lên từ đáy biển sâu, lòng biển sôi sục, những đợt sóng dâng lên trắng xóa uốn cong cao ngất, hùng tráng như những chiếc bờm trắng của những con sư tử. Trần nằm trên đầu một ngọn sóng cao ngất, ngửa mặt nhìn trời, ngọn sóng chạy băng băng về phía một vách núi đá to lớn sừng sững, choán cả một góc trời. Trần nghĩ trong bụng thế nào ngọn sóng cũng đưa mình đập vào ngọn núi đá ấy, ý nghĩ khiến chàng toát mồ hôi, kinh hoàng, ngọn sóng càng đến gần núi đá càng dâng cao, dâng cao mãi rồi đột nhiên hạ xuống, dàn trải ra dưới chân núi đá, đong đưa thân thể chàng một cách êm đềm như trong một cái nôi.

Và vách núi đá bỗng cúi xuống nhìn chàng, dần dần biến thành khuôn mặt của chị Hiếu đầy vẻ dịu dàng thương yêu, đôi mắt lé của chị đăm đăm nhìn chàng, dần dần trở nên to ra, to mãi đến khi nó bao trùm tất cả, không còn thấy gì nữa. Liền đó một đôi mắt đẹp tuyệt vời hiển hiện mênh mông giữa bầu trời xanh thẳm, đôi mắt của người thiếu nữ trên chuyến đò ngang trên giòng sông Hương năm nào. Trần vẫn nằm đong đưa trên mặt sóng, ngửa mặt nhìn lên đôi mắt u uẩn của nàng, chàng cảm thấy một niềm khao khát mãnh liệt muốn tìm tòi một ý nghĩ gì giấu kín trong đôi mắt đó. Đôi mắt lộ vẻ mừng tủi của cố nhân, cảm động như muốn ứa lệ, đôi mắt nói thật nhiều những điều chưa từng ai hay biết khiến lòng Trần tràn ngập một ý niệm tri ân, một nỗi bình yên khôn tả.

Trần tỉnh giấc thật êm đềm kỳ thú, dư ảnh của giấc mơ hùng tráng và diễm ảo vẫn còn quyện lấy người chàng. Chàng nằm yên lắng nghe mọi người lục tục gọi nhau đi về, chàng biết cuộc oanh tạc đã chấm dứt, một cảm giác khoan khoái nhẹ nhõm chiếm lấy thân thể và tâm trí chàng. Chàng nghe những tiếng chân của những người trú ẩn trong lòng khe đã đi xa dần, có tiếng léo nhéo của một đoàn người đi trên bờ khe, ngay phía trên chỗ chàng nằm. Tiếng một người nói: “Cháy rụi mấy gian nhà ở ngọn đồi phía Tây, một đứa bé chết cháy vì cha mẹ đi vắng, có nhiều người bị thương…”

Trần nhỏm dậy, chàng chợt nhớ đến Huỳnh, đến Quý, đến Hiếu và hai đứa bé. Chàng vội vã nhảy qua từng phiến đá tìm đến lối mòn leo lên mặt đường.

Ra khỏi khe núi, đi được một quãng chàng gặp Huỳnh từ xa đi tới, thấy Trần, Huỳnh mừng rỡ:

– Đây rồi, mày làm cả nhà lo muốn chết.

Trần ngơ ngác hỏi:

– Lo cái gì?

– Thì máy bay hết bắn phá, mọi người đều tìm về nhà đủ cả chỉ thiếu có mặt mày thôi chứ còn gì nữa. Chị Hiếu lo cho mày lắm, tao và Quý chia nhau hai ngã đi tìm mày đây.

– Thì tao cũng lo nên vội về nhà tìm xem có đủ mọi người không đây.

Huỳnh ngao ngán:

– Mày vội đi về như thế này đấy hả, ai nấy trở về cả tiếng đồng hồ rồi, mày có biết mấy giờ chiều rồi không?

– Mấy giờ rồi?

– Hơn bốn giờ rồi ông tướng, ồ, thằng này làm sao thế này, Huỳnh quay lại nhìn sát vào mặt Trần, mặt mũi thế này thì vừa ngủ dậy xong phải không? Bom đạn ầm ầm suốt ngày như thế mà mày chui vào đâu ngủ được vậy mày?

– Tao ngủ dưới lòng khe từ xế trưa đến giờ. Đói bụng quá không ngủ thì làm gì được.

– Chịu mày rồi đấy. Chiến tranh đối với mày chỉ là một giấc ngủ dài thôi đấy hả?

Trần cười vẻ bí mật:

– Còn nhiều thứ nữa chứ mày, nói sao cho xiết.

Hai người rảo bước về đến nhà, Quý cũng vừa về tới, Trần hỏi Quý:

– Khi sáng bom vừa nổ xong loạt đầu, anh chạy ra tìm em ngay mà chả thấy em đâu cả. Em biến đi đâu thế?

– Thì bom vừa nổ xong là em lao ngay vào bộ chỉ huy tìm anh cũng chả thấy anh đâu cả.

Hai bé Hiền, Hòa chạy đến với Trần, Trần cúi xuống bế cả hai đứa vào lòng:

– Máy bay bắn cả ngày các cháu có sợ không?

– Sợ lắm chú ạ.

– Hòa không sợ đâu, hễ mẹ mua cho Hòa cái súng là Hòa bắn đùng đùng, như máy bay địch vậy đó.

– Nó nói dóc đấy chú ạ. Khi bom nổ cái ầm nó khóc ré lên mà bảo không sợ.

– Tại nó làm đau cái lỗ tai của Hòa chớ bộ.

– Tao cũng đau lỗ tai mà tao đâu có khóc. Ê, thế là con trai bét nhè, lêu lêu.

– Thôi thôi, đừng cãi nhau nữa, cho chú xin. Thế trưa có đói bụng không nào?

– Không, không chú ạ, mẹ vào nhà lấy cơm với khoai ra ăn.

– Máy bay bắn cả ngày thế mà mẹ làm sao chạy từ ngoài hầm vào nhà?

– Khi máy bay đi thì mẹ chạy vào, vừa trở ra hầm thì máy bay trở lại.

– Ngồi dưới hầm cả ngày các cháu có mệt không?

– Không chú ạ, chỉ buồn ngủ thôi, không có gì chơi cả.

Bé Hòa nói chả chớt:

– Hòa ngủ mà cứ nổ ầm làm Hòa giật mình hoài.

– Hừ, cái thằng Tây tệ thật, nó cứ nổ ầm làm Hòa ngủ phải giật mình, nó không biết điều chi cả, để rồi chú mắng cho nó biết ngượng.

– Nó ở đâu mà chú mắng nó được thế? Chú cho Hòa đi xem nó với.

– Ờ, ờ, – Trần lúng túng ngước mặt lên lim dim mắt, gãi gãi cái cằm.

Huỳnh phì cười:

– Bí rồi đấy nhé, nào bé Hòa bảo chú Trần dắt đi mắng thằng Tây đi.

Trần chợt nghĩ ra, mừng rỡ:

– Ừ phải, cháu yên trí, chú cháu mình không phải đi đâu hết, chú sẽ dắt thằng Tây đến đây bắt nó xin lỗi cháu, được không?

Hiền, Hòa sung sướng, bốn con mắt tròn xoe, sáng rực:

– Bây giờ hả chú?

– Ngay ngày mai.

Huỳnh hiểu ý Trần, cười ngất:

– Tao hiểu rồi, thằng này khôn thật, mày định bê thằng hàng binh Đức, thằng Koch đến đây chứ gì? Này các cháu, chú Trần sẽ mang đến cho các cháu một thằng Tây to bằng cái nhà thế này này.

Trần vẫn nghiêm trang, bảo hai đứa bé:

– Bây giờ các cháu hãy nghĩ trước những câu mắng để mai gặp thằng Tây mà trách mắng chúng nó một trận, và nếu thấy nó có vẻ dễ thương, biết lỗi thì chú cháu mình hãy tha cho nó, và nếu có thể cho nó ăn cơm với chúng mình nữa, đồng ý chứ?

Hai đứa bé gật đầu lia lịa, hai đôi mắt trong veo, lóng lánh; Trần buông hai đứa xuống đất, vỗ vào lưng Hòa một cái:

– Thôi, ra kia chơi, đừng có nghịch bẩn.

Ngồi trong bếp Hiếu lắng tai theo dõi câu chuyện ở nhà trên. Từ khi Trần trở về, lòng nàng dạt dào một nguồn hạnh phúc chứa chan. Hiếu ngồi đứng không yên từ khi Huỳnh và Quý chia nhau đi tìm Trần, nàng lo buổi cơm chiều, vừa làm việc vừa bồn chồn lo lắng, thỉnh thoảng một ý nghĩ ghê sợ thoáng qua trong đầu, nàng vội lắc đầu như để xua đuổi ý tưởng đó đi. Có tiếng một đoàn người xôn xao đi lại, đột nhiên tay chân nàng bủn rủn, trí tưởng tượng của nàng hiện ra hình ảnh người ta mang Trần về nhà trên một cái cáng, mình đẫm máu, mắt nhắm nghiền, ý nghĩ đó làm Hiếu điếng người, nỗi đau đớn khiến nàng nghẹt thở. Máy bay và đại bác im tiếng gần cả tiếng đồng hồ, mọi người đều về đủ cả. Vậy mà chờ mãi không thấy Trần. Biết làm sao với sự chậm trễ này. Lòng Hiếu như lửa đốt, quặn đau từng hồi.

Thình lình, nàng nghe tiếng cười nói vui vẻ, tiếng của Trần trầm ấm xen lẫn tiếng cười nói vang vang của Huỳnh và Quý, Hiếu buông thõng tay, sửng sờ, tim nàng nhói lên, nàng cúi xuống để mặc giòng nước mắt sướng thỏa chảy dài trên mặt.

Bây giờ thì nàng yên tâm lắm rồi, nàng tiếp tục lo cơm chiều, chắc Trần đói lắm. Cách một tấm phên tre, Hiếu yên lặng ngồi cời thanh củi trong lò, nàng theo dõi câu chuyện giữa hai con và Trần, lối nói chuyện với trẻ con của Trần làm Hiếu mỉm cười, tâm trí nàng âu yếm tưởng tượng bộ mặt quan trọng của Trần khi nói chuyện với trẻ con thật đáng yêu biết bao. Người con trai trong cơn sốt đêm trường hôm nào đã ôm nàng trong vòng tay, đã làm xáo trộn cả tâm hồn bình thản an phận của nàng, từ nay đã làm đảo lộn cuộc đời của nàng.

Nàng hiểu rằng một định mệnh lạ lùng và ngang trái đã dựng lên trước mặt nàng, không còn ngờ gì nữa, tình thương yêu này là hạnh phúc tuyệt đỉnh của bây giờ và là đắng cay đau khổ của mai hậu. Nhưng nàng không mong gì hơn. Từ trước nàng đã biết rõ những gì mà cuộc đời có thể dành cho một người đàn bà cô đơn và xấu xí như nàng. Đó chỉ là sự đau khổ đơn độc, lăn lóc với thực tế cuộc đời để kiếm sự sống cho nàng và hai con, một mình chống chỏi với tất cả bất trắc của cuộc đời, và không mong được ai che chở. Nói chi tới một tình yêu thương, một vòng tay ôm ấp nâng niu, một đôi mắt thiết tha trìu mến.

Thế mà phép lạ đã hiện ra với tất cả khoan hồng mầu nhiệm của nó. Bây giờ nàng đón nhận từng giờ từng ngày ân sủng được trông thấy Trần, được nghe tiếng nói cười của chàng, được săn sóc cho chàng. Chừng đó quá đủ cho cuộc đời còn lại của nàng, bởi vì nàng biết rằng một ngày nào đó, Trần sẽ không còn bên nàng nữa, chàng sẽ mất hút trong cuộc đời đầy ngăn cách éo le này. Nàng sẽ không than van, oán hận, sẽ không để cho Trần phải khổ sở bận tâm gì đến nàng. Với Trần, Hiếu tự xóa đi thân phận của mình. Chẳng phải trước kia, nàng chỉ biết an phận thủ thường, sống chỉ là để đưa đẩy cho hai con nên người mà thôi. Hồi tưởng lại bao nhiêu ngày tháng trước đây cùng sống dưới một mái nhà, thế mà Hiếu có nghĩ ngợi gì đâu, đời sống khó khăn với hoài bão tương lai của hai đứa con thơ không cho nàng được nghĩ viển vông. Thế mà đột nhiên mối tình đã hiện ra với tất cả vẻ cảm động thiêng liêng cũng như sự say đắm phàm trần của nó.

Cho đến nay Hiếu vẫn chưa hết bàng hoàng kinh ngạc. Nàng không hiểu ra sao nữa, mỗi khi nhớ đến đôi mắt đằm thắm của Trần, đôi môi đỏ thắm khát khao của chàng tìm kiếm đôi môi của nàng, lòng nàng rung động một cách êm đềm như những cơm mưa đầu mùa tan vào lòng đất khô héo của những ngày hanh hao nắng hạn.

Nàng cũng thấy mình yếu đuối, bé bỏng vô cùng, dại khờ biết bao, tình yêu ngang trái này mở ra cho nàng bao nhiêu điều lạ lùng mà nàng khó thể tin là có thật.

Đời Hiếu, Hiếu những tưởng không còn có gì khiến cho nàng ngạc nhiên nữa. Cuộc đời tối tăm từ buổi còn thơ, nàng là con thứ trong một gia đình trung lưu, từ bé nàng sống như một cái bóng bên cạnh người cha bất đắc chí trong cuộc đời, lạnh lùng thờ ơ với con cái, một người mẹ bị tê liệt nằm một chỗ năm này qua năm khác. Hiếu được học hết bậc tiểu học rồi ở nhà. Khi vừa lớn lên nàng đã biết nếm trải đau đớn tủi thân vì biết mình bị tật mắt lé, xấu xí không ai muốn nhìn nên nàng thường trốn tránh mọi người, tìm những nơi hiu quạnh ngồi đọc sách và thả hồn tưởng tượng theo những nhân vật mà tùy từng lúc vui buồn nàng nghĩ mình là họ. Nàng lấy chồng do lời giao ước giữa cha nàng với một người bạn từ khi nàng còn ở trong bụng mẹ. Trong những buổi trà dư tửu hậu hai người bạn cao hứng hứa gả con cho nhau và sau này họ quyết thực hành lời hứa đó.

Việc lấy chồng của nàng giản dị như thế, không ai buồn hỏi đến ý kiến của nàng, người ta lo liệu mọi lễ nghi theo tục lệ, một bà cô được vời tới để chỉ dẫn cho Hiếu phải may mặc ra sao, phải đi đứng lễ bái thế nào.

Người chồng, trong lễ cưới mới thấy mặt cô dâu, vô cùng thất vọng vì đôi mắt lé xấu xí buồn nản của nàng, bỏ nhà ra đi biền biệt. Mặc, cha mẹ chồng vẫn tiến hành lễ cưới và tuyên bố chỉ biết có nàng là con dâu mà thôi. Hiếu sống trong niềm tủi nhục của một cô dâu bị bỏ rơi, nhưng cuộc đời đã lãng quên nàng từ ngày thơ ấu nên rồi nàng chịu đựng cũng quen đi, nàng tập thích nghi với đời sống của gia đình chồng. Hiếu tự nghĩ mình chỉ là một người con gái bất hạnh thì dù sống dưới một mái nhà này hay dưới một mái nhà khác, với danh vị rồi cũng thế thôi. Tuy nhiên sự cam chịu của nàng, cùng tính nết hiền hậu dịu dàng của nàng đã gây được cảm tình của gia đình chồng đối với nàng. Cha mẹ chồng thương mến nàng như con đẻ, nhờ đó nàng đã sống lặng lẽ dễ chịu trong cảnh làm dâu hờ đó.

Người chồng bỏ đi ba năm lại trở về nhà, anh ta làm ra vẻ không biết đến sự có mặt của Hiếu trong nhà, lạnh lùng xa cách, nhưng dần dần nghe lời cha mẹ khuyên nhủ, người mẹ khóc lóc van lơn, viện lẽ đã cưới người ta về làm dâu, dù sao cũng mang tiếng là gái có chồng, nếu anh ta không bằng lòng thì cha mẹ sẽ mang tội bất nhân vì đã làm lỡ đời con gái của người ta.

Sau cùng vì hiếu với cha mẹ, và sống gần gũi trong gia đình, anh ta cũng có dịp để tâm đến sự yên lặng xa xôi của nàng, vẻ nhu thuận đáng quý của nàng, nên anh đành lòng mà nghĩ âu cũng là duyên số. Hiếu cũng biết chồng đã vì cha mẹ mà bằng lòng ăn ở với nàng, nhưng từ bao nhiêu năm bị đời bỏ quên, nàng hầu như thỏa hiệp với cuộc đời mà để mặc cho số phận run rủi.

Ít năm sau hai bé Hiền Hòa kế tiếp nhau ra chào đời, nhờ trời chúng rất xinh xắn dễ thương nên càng thắt chặt tình nghĩa vợ chồng của nàng. Vợ chồng Hiếu đã đến lúc gần gũi, quý mến nhau, nàng những tưởng đời nàng đến lúc yên vui. Nhưng sự tan vỡ đã đột ngột xảy ra cùng với bộ mặt ghê tởm của chiến tranh, người chồng đã ngã gục ngay trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến, chồng chết đi mang theo chút hy vọng nương tựa cuối cùng của đời Hiếu. Tai biến dồn dập, cha mẹ chồng cũng lần lượt từ giã cõi đời vì buồn phiền, vì mất con, vì già yếu quá.

Hiếu thành ra tứ cố vô thân, bồng hai con dại tản cư từ làng này sang làng khác, cuối cùng nàng trôi dạt đến vùng rừng núi chiến khu này. Nàng đặt hết tâm hồn vào hai đứa con thơ, cuộc sống khó khăn xuôi ngược nhưng lòng nàng thanh thản bình yên. Hiếu có ngờ đâu cuộc đời trôi nổi của mình lại có ngày bắt gặp khuôn mặt tình yêu chói lòa diễm phúc.

Giờ đây nàng mang một tâm trạng ngổn ngang rối bời cảm xúc, dĩ vãng u buồn dằng dặc sau lưng nàng hầu như biến dạng. Nàng như một con sùng bằn bặt nằm yên trong lòng đất sâu đen tối, bỗng một ngày phép lạ hiện ra, con sâu trắng nõn tự nhiên thấy mình trồi lên mặt đất, trên lưng mọc ra đôi cánh kỳ diệu, khẽ động cánh, tức thì thấy mình bay cao trên bầu trời xanh nguy nga lồng lộng, ánh sáng tinh khôi choáng ngợp. Thời gian bây giờ đối với nàng vô thủy vô chung. Tình yêu mang lại cho nàng nỗi bất tuyệt của kiếp sống, hạnh phúc và khổ đau đều có đủ quyền lực làm tan hoang tất cả. Nàng lờ mờ hiểu rằng phải như thế, rồi sẽ phải như thế, nhưng bằng cách nào thì nàng không thể biết. Có điều nàng biết rõ là nàng sẽ vui lòng đón nhận, và sẽ vui lòng mãi mãi.

Có tiếng chân nên mạnh xuống nền nhà đi về phía bếp, nàng biết đó là tiếng chân của Trần, nàng đâm ra luống cuống, tim nàng rộn rã. Nàng ngẩng lên, Trần đứng đó, choán hết cả khuôn cửa vào bếp, nét mặt chàng tươi cười rạng rỡ, đôi mắt đen láy sáng rực trìu mến nhìn nàng. Chàng nhận thấy ngấn nước mắt còn đọng trên má nàng, chàng tiến lại gần, nụ cười vẫn đằm thắm trên môi, Trần hạ giọng khẽ hỏi:

– Sao Hiếu khóc?

Nàng lúng túng, ngượng ngập, đưa tay lên dụi mắt, tuy cố gắng lắm mà giọng nói vẫn run, nàng chỉ vào bếp lửa:

– Tại củi tươi khói nhiều quá, nên mắt bị cay đấy chứ.

Trần bật cười, chàng thấy sự bối rối che giấu xúc động một cách vụng về của Hiếu có vẻ trẻ thơ tội nghiệp lạ, lòng rạt rào thương cảm, chàng cúi xuống, ghé gần nàng hơn nữa, giọng trêu chọc âu yếm:

– Làm gì có chuyện củi tươi, Hiếu khóc tại Trần về chậm, sợ Trần chết rồi phải không?

Hai tiếng “Trần chết” làm mặt Hiếu tái xanh, nàng hoảng hốt nhìn Trần, nàng đưa tay lên như muốn bịt miệng Trần nhưng lại bỏ thõng tay xuống, nàng nhìn Trần, vẻ trách móc:

– Đừng nói bậy như thế, không nên.

Vẻ sợ hãi kiêng kỵ của Hiếu khiến Trần thích thú, chàng sung sướng cười to, vang động cả nhà khiến Hiếu càng thêm cuống quýt, nàng khẩn khoản nhìn Trần:

– Đừng cười to vậy, cả nhà đều nghe đấy.

– Thì đã sao? – Trần lại hạ giọng – vậy thì Hiếu đừng khóc nữa kia, Hiếu thì cái gì cũng lo, cái gì cũng sợ. Trần không chết được đâu, có Hiếu mà làm sao Trần chết được. Bao giờ chết cùng chết, phải không nào?

Trần ra vẻ diễu cợt, nhưng đôi mắt vui vẻ của chàng chứa đựng một niềm ấm áp cảm động. Chàng đưa tay vén mớ tóc xõa rối trên trán Hiếu, đùa nghịch hỏi lại:

– Có phải không nào?

Hiếu gật gật đầu, nàng vội cúi nghiêng xuống, vờ chăm chú trông bếp lửa, tránh cho Trần khỏi trông thấy đôi mắt lại ẩm ướt của nàng.

Tiếng Quý gọi Trần ở nhà trên giúp nàng tránh được nỗi ngượng ngùng khó khăn đó. Trần đứng dậy đi lên nhà, còn nói to vói lại:

– Trần đói bụng lắm rồi đó chị Hiếu.

Hiếu ngửa mặt, thoáng cười một mình, nàng nhìn lửa nhảy múa trong lò, một vệt lửa lòe ra, cười lên lảnh lót, thần trí Hiếu chơi vơi, chợt chùng xuống trong một cảm giác êm ái dịu dàng.

Lần đầu tiên trong đời, nàng có những giây phút mơ mộng, tâm hồn nàng như cơn gió buổi chiều nổi lên ngoài kia, bay lướt thướt qua những ngọn đồi im bóng mây che, cuốn lại rối rắm trong những vùng u tịch hỗn mang, gây nên muôn ngàn tiếng xào xạc vu vơ, đoạn thở dài suốt qua bóng chiều huyền hoặc.

—->Chương 17

Advertisements
This entry was posted in Nguyễn Thị Thanh Sâm, Truyện dài - Tiểu thuyết and tagged , . Bookmark the permalink.