CÕI ĐÁ VÀNG (Nguyễn Thị Thanh Sâm): chương 1-20

CHƯƠNG XVIII

Mùa đông dài vô tận trong thời kỳ chiến tranh, mùa đông ở miền quê Thừa Thiên lại còn rét mướt hơn bất cứ nơi nào khác.

Mưa suốt tháng này sang tháng nọ, đất đai cây cối ủng thối, không một loài cây nào trổ trái đâm hoa được trên mặt đất lạnh lẽo này. Các loại côn trùng chui thật sâu vào lòng đất, những cánh đồng ngập nước mênh mông in bóng bầu trời nặng trĩu, mây xám như chì. Có những ngày buốt giá căm căm, cá tôm trên đồng cũng bị chết cóng, nổi lềnh bềnh trên mặt nước.

Sự sống gần như ngưng lại trên mặt đất, thiên nhiên cũng bị đọa đày.

Đối với dân quê miền này, mùa đông là mùa khốn khổ nhất.

Từ vụ mùa tháng bảy, số lương thực dự trữ của họ trong năm không đủ kéo dài cuộc sống lây lất, cho đến tháng mười một, tháng chạp chẳng còn lại bao nhiêu. Trừ một vài nhà giàu có trong làng, còn tất cả đều phải ăn mọi thứ gì họ bòn mót được trên mặt đất lạnh lẽo khô cằn, những củ khoai họa hoằn còn sót lại trên những thửa đất đã được đào xới kỹ lưỡng. Các loại rau dền, rau sam, rau má vị đắng chát vì cằn cỗi, dai cứng như rơm rạ vì thiếu khí ấm của mặt trời, người dân quê ăn những thứ đó thay cơm, nhưng những thức ăn đó cũng không nhiều nhỏi gì, người ta phải tranh giành nhau, chưởi bới đánh đập nhau vì một ven bờ ruộng có mọc những thứ rau ăn được.

Trước chiến tranh tình trạng không đến nỗi nào như thế, trong những tháng giá, người ta có thể đi làm thuê mướn ở các làng lân cận hoặc ở thành phố, chờ đến vụ mùa lại trở về với ruộng đất.

Bây giờ các nẻo miền đều đóng kín. Thảng hoặc một khuôn mặt lạ đi vào trong vùng đất nào để làm ăn, dù có đủ giấy tờ của chính quyền kháng chiến cấp

phát vẫn bị nghi ngờ theo dõi, vô phúc cho kẻ đó nếu trong thời gian ấy có sự trùng hợp một cuộc hành quân của Pháp ngang qua hay một trận máy bay oanh tạc là đời kể như đi đứt.

Lý lẽ của chiến tranh không ngập ngừng ở một sự nghi kỵ nào hết, chém giết và chém giết liên miên, dưới mọi hình thức và phương tiện.

Như vậy, mùa đông đã vây hãm tất cả. Những khuôn mặt người lớn ốm o vàng vọt, những thân hình trẻ con ở truồng bụng ỏng chứa rặt những thứ rau hổ lốn, đứa lớn tha đứa bé lượn lờ trên đường quan, gió thổi heo hút, mặt mũi xanh bủng héo hắt.

Đó là khuôn mặt quê hương Việt Nam vừa qua cơn đói năm Ất Dậu lại rơi ngay vào vòng binh lửa chống xâm lăng. Giờ đây lại tiếp diễn cảnh nồi da xáo thịt bởi ý thức chủ nghĩa, bởi nuôi dưỡng hận thù.

Và bên cạnh tất cả đau đớn quằn quại rách nát đó là những mùa đông vô cùng vô tận, những mùa đông đói rét cơ hàn.

Những người kháng chiến phải hứng chịu sự phũ phàng của mùa đông một cách oanh liệt. Trong những ngày nắng ấm, họ còn có thể cười đùa với hiểm nguy, với mọi thiếu thốn nhưng khó ai có thể giữ mãi được nụ cười trên môi khi phải rong ruổi ngày đêm dưới những cơn mưa và gió rét căm căm quật vào mặt mũi thân thể họ như những ngọn roi da nhức buốt. Không có đủ áo ngự hàn, trên mình họ chỉ có những bộ quần áo mỏng manh chắp vá không đủ che tấm thân gầy gò run rẩy vì lạnh, vì đói. Phải, họ đói lắm, lương thực quá hiếm hoi trong mùa đông nên khẩu phần của họ cũng bị hạn chế. Những người có thể liên lạc được gia đình cũng đỡ khổ phần nào nhờ sự tiếp tế lo lắng của những người thân.

Mùa đông năm nay, một kẻ mất hút liên lạc với gia đình như Huỳnh vẫn có được chiếc áo len mặc ấm, chiếc áo của người mẹ già bên sông dành cho người con trai không thấy trở về đã đem mặc cho Huỳnh khi Trần sắp đưa Huỳnh xuống thuyền đi trên giòng sông đêm tối.

Cũng trong một đêm mùa đông, Huỳnh đã trở về căn nhà nhỏ bên sông để thăm người mẹ.

Huỳnh cập thuyền vào bãi cát, anh nhảy xuống, một món quà nhỏ trong tay, lòng bồi hồi cảm động, Huỳnh đã đi ngược lên cái dốc dẫn đến căn nhà.

Chợt Huỳnh đứng dừng lại, đưa tay lên dụi mắt, anh tưởng anh đang mơ. Căn nhà không còn ở đó nữa. Huỳnh không tin rằng đêm tối đã huyền hoặc đôi mắt của anh. Huỳnh bước vội vào cái sân nhỏ, bốn bề trống vắng, chỉ còn trơ lại cái nền đất, dấu hiệu chứng tỏ trước đây đã có một mái nhà, nước mưa đọng từng vũng loáng ướt dưới bầu trời đêm.

Huỳnh đứng lặng, không biết mình đang nghĩ gì, nơi đây không còn dấu vết của người tưởng như đã lâu lắm rồi, hàng bao nhiêu năm. Lau lách bên sông xào xạc, đồng không mông quạnh trải dài đến tận những xóm làng mù khơi trong sương.

Tất cả đều lặng lẽ, câm nín. Một con cá quẫy táp bóng ở ngoài sông, mặt nước xao động một thoáng rồi loang ra thành vòng tròn tỏa rộng, mặt nước lại khép kín, lặng lờ mênh mang, cảnh trí có một vẻ gì như không thật.

Huỳnh đi lại thơ thẩn trên nền nhà, hồi tưởng đến bếp lửa vẫn lập lòe đêm đêm mới cách đây vài tháng, nghe vẳng tiếng nói nghẹn ngào của người mẹ dặn dò anh trở lại.

“Một đứa kia nó đã bỏ mẹ mà đi biệt rồi.” Còn đứa này, đứa con trai xa lạ dở sống dở chết ngã quỵ trên bậc thềm của mẹ ngày nào. Mẹ đã nâng giấc che chở thương yêu nó, với tất cả tấm lòng người mẹ. Đứa con này đã có ngày trở lại, nhưng mẹ không còn ở đây để chờ đợi đêm đêm nữa. Mẹ bây giờ ở đâu? Về tá túc dưới mái nhà họ hàng nào đó hay đã đi mãi vào lòng đất yên nghỉ ngàn năm? Hay chính cả mẹ cũng không bao giờ có thật? Người mẹ một đêm mùa xuân đã dang tay đón Huỳnh trên bậc thềm này chỉ là linh hồn của người mẹ Việt Nam lang thang suốt đầu ghềnh cuối bãi nhặt nhạnh từng đứa con thân yêu của quê hương chiến tranh đau khổ này.

Một cơn gió từ ngoài sông thổi tạt vào, lướt êm như tiếng thở dài nhẹ trôi qua cánh đồng mênh mông hiu quạnh, có đám mây trắng nõn bỗng nhiên sà xuống, lơ lửng trên mặt sông mang hình thù một chiếc thuyền giương buồm trắng bọc gió đang bay lên. Huỳnh sẽ không lấy làm lạ nếu hốt nhiên thấy hình ảnh người mẹ hiện ra trên chiếc buồm mây đang tản mạn dần thành từng dải trắng quấn quýt trôi đi.

Nỗi buồn hoang lạnh chiếm lấy tâm hồn anh, anh ngậm ngùi cúi xuống gói quà trong tay, đó là một chiếc khăn quàng bằng nhiễu màu lục mà Huỳnh ước ao được tự tay phủ lên vai gầy của mẹ. Huỳnh chậm chạp bước xuống sân, bên chiếc vại nước đã vỡ làm đôi, có gốc mai già trụi lá nghiêng xuống, dáng mảnh khảnh trơ trọi. Huỳnh đứng dừng lại đó, mơ màng.

Huỳnh tháo gói quà trên tay, mở rộng chiếc khăn nhiễu màu lục, bằng cử chỉ âm thầm và cẩn trọng, anh khoác chiếc khăn lên cành mai thấp nhất, bàn tay Huỳnh khẽ vuốt ve trên mình chiếc khăn mềm và mịn; đoạn Huỳnh thong thả bước xuống bãi cát, nước sông rào rạt xô dồn vào bãi, chiếc thuyền nhỏ chờ anh tròng trành đu đưa trên mặt sóng. Người chèo thuyền vẫn yên lặng như từ lúc đưa anh tới.

Huỳnh bước lên thuyền, ra hiệu bảo chèo đi. Chiếc thuyền từ từ rời xa bãi cát.

Căn nhà nhỏ bên sông kể từ nay không còn nữa, nó biến đi lúc nào không ai hay biết.

Nhưng người mẹ già đơn côi đứng trên chiếc sân nhỏ trông vời sông nước mong ngóng con về vẫn còn hình tượng cây mai già yếu trơ trụi nghiêng mình bên chiếc vại nước vỡ làm đôi.

Nghe theo lời Trần, Huỳnh đã hoãn lại việc gởi về trung ương bản điều trần về việc cải cách ruộng đất. Theo Trần thì đề cập đến việc đó bây giờ chưa phải lúc. Riêng Đảng đã phát động chính sách này ở những vùng an toàn ngoài miền Bắc, hiện người ta đang rút tỉa dần dần những kinh nghiệm để nghiên cứu, soạn thảo, hoàn thành một chính sách chung. Ở những vùng có giặc chiếm người ta chưa thể nghĩ đến việc kiện toàn những biện pháp cải cách đó. Cho nên, cũng theo ý Trần, cần phải có thời gian theo dõi mọi diễn tiến về những sự việc này ở miền Bắc để nhận định những điều cần thiết cho bản điều trần được thêm phần chân xác, tránh những ngộ nhận đáng tiếc về sau.

Như vậy, cái việc đáng kể mà Huỳnh mong làm cho mảnh đất quê hương này vẫn chưa thực hiện, trong khi đó, càng ngày những người kháng chiến càng đi sâu vào tình trạng không lối thoát.

Do sự thanh lọc thành phần giai cấp, Đảng đã đặt ra phong trào biên chế. Những người bị xem như giai cấp tiểu tư sản, có tinh thần kháng chiến thuần túy chứ không thích hợp với không khí đảng phái đều thực sự bị loại trừ khỏi hàng ngũ kháng chiến, viện lẽ cần có người về tăng gia sản xuất ở hậu phương.

Hàng trăm người bị dồn vào đường cùng. Họ bỏ nhà ra đi những mong đem lại một ngày vẻ vang cho đất nước, vậy mà nay, quân giặc vẫn còn nghinh ngang trên xứ sở, mặt mũi nào họ trở về với gia đình để nói rằng Tổ quốc không còn cần đến tôi nữa. Chưa nói đến những thành tích chiến công của họ đã dứt hẳn lối về với gia đình của họ, phần đông đều ở quanh vùng địch chiếm. Có biết bao nhiêu người bơ vơ lạc lõng đi lang thang suốt miền nọ đến miền kia để cuối cùng đi vào những cái chết vô nghĩa đầy rẫy trong chiến tranh hoặc chấp nhận những cuộc sống thừa tàn tạ chứa chất uất nghẹn và đau thương của những chí trai không thỏa.

Cũng trong mùa đông này số người đi kháng chiến bỏ súng trở về vùng giặc chiếm càng ngày càng tăng thêm. Huỳnh chứng kiến biết bao bạn bè đã tìm đường trở về thành phố Huế, trong đó có những con người trước đây tràn đầy kiêu căng khí phách. Do đâu mà họ đã chấp nhận sự ô nhục của một cuộc đầu hàng? Tuy Huỳnh hiểu rõ hơn ai hết, rằng phần đông không phải là họ đầu hàng giặc, mà là đầu hàng số phận, số phận đau đớn mỉa mai của đất nước, mà cũng chính là bản thân của họ. Thế nhưng lòng Huỳnh vẫn không khỏi tê tái khi sớm mai thức dậy được tin một đồng đội đã từng nằm sương gối đất với mình, cùng chia nhau từng nắm cơm gạo hẩm, cùng vui cười bên nhau giữa mưa nắng đường trường, đã rời bỏ hàng ngũ để trở về bên kia vùng địch chiếm. Con chim đã lìa bỏ bầy, bỏ bạn để bay đến một nơi không còn lẽ sống, cánh chim buông xuôi cho một kiếp lưu đày. Họ bị lưu đày chính trên quê hương của họ.

Kể từ nay, họ trở thành kẻ bơ vơ, không còn lý tưởng, không có niềm tin. Họ bị kể như những kẻ phản bội, những tên Việt gian khốn nạn dưới cái nhìn thông thường của người đời.

Huỳnh buồn rầu nghĩ đến những thân phận đen tối ràng buộc với vận mệnh không may của xứ sở này. Có lúc anh bàng hoàng tự hỏi tại sao mình lại ở đây để làm gì, có ích gì cho ai đâu, nhưng cuối cùng rồi Huỳnh cũng chọn lựa sự ở lại, ở lại cho đến cùng, dù ở lại chỉ để nhìn quê hương dần dần biến dạng, dù ở lại cũng không hơn gì những kẻ đã ra đi về bên kia, cam chịu một cuộc đầu hàng.

Mùa đông năm 1950 mang theo nỗi tàn phai một mùa lý tưởng của những người Việt Nam yêu nước. Mọi sự đều trở nên vô nghĩa, những nỗi niềm phấn khởi đam mê, những gian lao cơ cực, hết thảy đều bị phụ phàng.

Những kẻ còn say mê hay đã tỉnh cơn mê đều soi rõ khuôn mặt mình trên chiếc gương định mệnh, một định mệnh chỉ còn in dấu của tang thương.

—->Chương 19

Advertisements
This entry was posted in Nguyễn Thị Thanh Sâm, Truyện dài - Tiểu thuyết and tagged , . Bookmark the permalink.