CÕI ĐÁ VÀNG (Nguyễn Thị Thanh Sâm): chương 1-20

CHƯƠNG III

Chiến dịch bao giờ cũng mang bộ mặt mới mẻ của nó, những tin tức đi về nóng hổi, những giai thoại về mỗi trận đánh, về mỗi đơn vị, về mỗi cá nhân được truyền đi với cả nhiệt tình nồng nàn, kháng chiến mang một sắc thái đam mê đến cùng độ.

Trong các làng mạc những đoàn quân trẩy về trú đóng, thôn trang rộn ràng trong cơn sốt ngầm. Các em bé mười hai mười ba tuổi được cắt cho việc trèo lên những cây cao canh phòng giặc đến, có một em ở thôn nọ ngồi vắt vẻo trên cành cây ngâm thơ Tố Hữu:

“Riêng phong xa loáng bạc ngất ngây say
Hoa đào bay trước ngõ, hoa đào bay,
Và xuân ấy năm nghìn quân của Mã
Đánh tan quân của Nhật một sư đoàn.”

Hình ảnh oai hùng của người họ Mã đánh tan quân xâm lược giành lại đất đai quê hương là ước mơ mà em bé muốn trở thành ngày mai, em say mê trong mộng tưởng đến nỗi quân Pháp đến gần lúc nào em không hay biết. Khi giặc rút đi sau một trận đụng độ với quân kháng chiến, tiếp theo khủng bố đốt phá tơi bời, người ta tìm thấy thi thể em bé nằm dưới gốc cây, nét mặt bình yên như trong giấc ngủ, vầng trán thanh tĩnh thơ ngây, giấc mơ của em đã thành tựu hoàn toàn.

Cũng một đêm giá lạnh trong mùa chiến dịch, người mẹ già sống cô đơn trên một cồn cát ven sông, nửa đêm bà thức giấc vì tiếng súng nổ từng hồi về phía đồn Tây ở làng dưới. Khi tiếng súng đã dứt hẳn, bà vẫn còn thao thức không ngủ lại được, bỗng bà nghe tiếng đập cửa dồn dập, bà vội trở dậy mở hé tấm liếp, dưới ánh sáng lờ mờ của sao đêm một bóng người lảo đảo ngã gục trên thềm cửa, tâm thần hoảng hốt, bà cúi xuống đỡ người bị nạn, bà nhận ra vóc dáng đứa con trai của bà đã rời bỏ bà ra đi cả năm trường. Lòng bà rộn ràng mừng tủi lo âu, với sức già nua, bà vực đứa con vào nhà đặt nằm lên giường của nó. Đã từ lâu bà lủi thủi một mình, nhớ con quay quắt, nhiều đêm nghe tiếng lau lách bên sông xào xạc, bà ngỡ tiếng con về, vội dậy mở cửa ra sân chỉ thấy bốn bề vắng ngắt, sông nước mênh mang, người mẹ già đứng đó chảy ròng nước mắt, đôi mắt già ngày thêm mờ yếu theo đứa con đi biền biệt.

Bây giờ nó đã về đây, nó đã trở lại trong cánh tay ôm ấp của bà, nó đang mê man, chắc nó bị thương đâu đó trong thân thể, bà run rẩy thắp lên ngọn đèn dầu lù mù, đây rồi, vết thương trên vai máu chảy thấm ướt cả vạt áo này đúng là màu áo con bà mặc ngày ra đi; bà vội đi lấy một nắm thuốc lá, vạch áo rịt lên vết thương, đoạn bà xé một miếng vải buộc lại vết thương đã cầm máu, người con trai đã thở điều hòa. Người mẹ quỳ bên giường con cầu khẩn Trời Phật cho đến khi trời sáng, bà van nài đấng thiêng liêng che chở cho con bà, nó tìm về với bà trong cơn nguy khốn của nó, máu của nó chảy nhiều quá khiến nó kiệt sức, trong giây phút thập tử nhất sinh đứa con nào cũng biết đường nẻo đưa nó về với mẹ, con bà không thể chết, nó đã về được với bà, nó không bao giờ chết nữa.

Trời đã sáng, người mẹ già ngừng cầu nguyện, nhìn đứa con đang mê man trên giường, bà cố tự trấn tĩnh mình: “Rồi con tôi sẽ tỉnh dậy, máu đã hết chảy rồi, nó đã đi qua bao nhiêu đường đất trong khi máu chảy mãi từ vết thương quái ác, nó mệt quá đấy mà, nó cần phải ngủ. Nhưng các bạn đồng đội của nó đâu, sao bỏ con tôi một mình về đây với vết thương như thế này, sao áo quần con bẩn thỉu quá đi thôi, ừ mà con lê lết suốt đêm còn gì, cái đó không sao, mẹ đã may hai bộ đồ mới cho con, luôn cả áo ngự hàn, mẹ không biết con ở đâu mà gởi, ồ sao con để râu tóc ra nhiều quá vậy, che lấp cả mặt mày, mà mặt mũi con lem luốc quá chừng, để mẹ đi lấy khăn lau cho con.”

Người mẹ đứng dậy, đi giặt một tấm khăn ướt đem lại lau mặt cho con trai; bà nâng niu nhẹ nhàng lau sạch những vết bùn đất lẫn vết máu bết trên mặt con. Bây giờ mặt người con trai đã sáng sủa sạch sẽ hơn, bỗng người mẹ dừng tay, hai mắt kém cỏi của bà chú mục nhìn kỹ, những tia nắng mai rực rỡ bên ngoài tỏa ánh sáng trong trẻo khắp gian nhà nhỏ chiếu sáng rõ ràng khuôn mặt người con trai, người mẹ lùi lại, nét mặt già nua hằn lên đau khổ và tức giận, ánh sáng ban ngày cho bà thấy người nằm trên giường không phải là con trai của bà. Đó chỉ là một người lạ, một người lạ hoắc, thế mà cả đêm bà phải nhọc nhằn cực khổ vì y, thế mà cả đêm bà mừng tưởng con bà đã trở về, bà đã tưởng được ôm trong tay đứa con của bà sau bao nhiêu tháng ngày mong nhớ, bao nhiêu đêm khắc khoải cô đơn. Thế mà chỉ đến với bà một người lạ, rõ ràng y đã lừa bà, y đã làm cho bà lo lắng thức trắng đêm; như thế này thật quá lắm rồi, phải gọi y dậy mới được, phải tống y ra khỏi nhà ngay, y đang bị thương ư, đâu phải lỗi tại bà, đâu phải chuyện của bà, y phải biết rõ nơi nào y có thể tìm đến khi y bị thương chứ, tại sao y lại đến đây, tại sao y làm bà tưởng con bà trở lại?

Suốt cả đêm bà vất vả cực nhọc, bà mừng vui và đau khổ, bà đã khóc và đã cười, bà đã hôn y biết bao nhiêu bận bất kể người y hôi hám bẩn thỉu, và bây giờ đây trước mặt bà chỉ là một kẻ lạ hoắc vô duyên. Bà giận dữ bước tới, phải lôi y dậy bảo y ra khỏi nhà.

Người lạ bỗng cựa mình, một thoáng nhăn đau đớn trên gương mặt xanh xao; mắt vẫn nhắm nghiền, y cất tiếng gọi:

– Mẹ ơi!

Tiếng gọi làm người mẹ già đứng sững, nét mặt bà dịu lại. Mẹ ơi, đó chính là âm thanh quen thuộc của con bà, sao người này cũng có thể gọi tiếng đó với đủ vẻ yêu dấu thiết tha như vậy, tiếng gọi mẹ làm đôi má nhăn nheo của bà hồng lại, làm dậy lên nguồn sữa trong đôi vú khô héo già nua. Người lạ liếm đôi môi khô khốc, giọng yếu hơn:

– Mẹ ơi!

Bất giác người mẹ nghiêng mình cúi xuống, bằng một giọng nhẹ nhàng bà khẽ đáp:

– Mẹ đây, con đã tỉnh đấy à?

Trần đã tìm ra Huỳnh trong căn nhà nhỏ ven sông đó một ngày mùa xuân, một tuần sau cái đêm mà Huỳnh ngã quỵ trước thềm cửa của người mẹ già. Lúc ấy Huỳnh đang lên cơn sốt vì vết thương bị làm độc, bà cụ không thể đi vào trong làng tìm thầy thuốc được vì người ta đang đánh nhau về phía đó; tuy bà chăm sóc cho Huỳnh rất tận tâm nhưng vết thương không được chữa trị, không có thuốc men nên càng ngày càng loét ra, sưng tấy làm cho anh đau đớn vô cùng. Cơn sốt hành hạ anh suốt ngày đêm, tuy nhiên người mẹ thấy anh không bao giờ rên rỉ hay than vãn điều gì. Anh đón nhận những cử chỉ săn sóc của bà với một vẻ cảm kích sâu xa. Những lúc tỉnh táo, anh nằm lắng tai nghe bà nói chuyện, nét mặt điềm tĩnh thoải mái, nhưng càng ngày bà nhận thấy anh càng yếu dần đi.

Buổi chiều bà ra sông giặt áo cho Huỳnh bỗng thấy một chiếc thuyền nhỏ trên có ba người đàn ông trai trẻ tạt lại gần, họ cập vào bờ, nhảy lên bãi cát. Người cao gầy mặc bộ áo quần màu nâu dặn dò một chú bé trạc mười lăm tuổi:

– Anh đợi em ở đây, em vào làng cố tìm cho kỹ, hỏi dò xem có ai biết tin gì về anh ấy không, phải thận trong khi đến những xóm sát đồn đấy nhé.

Chú bé vâng dạ rồi đi thẳng lên con đường băng qua cánh đồng vào làng. Người mặc áo nâu đứng nhìn theo, tư lự một lát. Bà cụ giặt xong rũ áo vắt kiệt nước rồi thong thả đi lên. Người áo nâu đến gần bà lễ phép:

– Xin cụ cho chúng cháu vào ngồi nghỉ trong nhà một chốc được không? Chúng cháu đợi em bé đi vào làng trở ra.

Bà cụ gật đầu: “Được, các cậu cứ vào.” Bà đi trước hai người theo sau, chiều xuống nhá nhem, căn nhà tranh tối tranh sáng, bà cụ mời hai người ngồi nơi chiếc phản kê giữa nhà, rồi đi xuống bếp đun nước mời khách. Hai người cám ơn, họ ngồi xuống tấm phản, nói với nhau một vài câu bâng quơ. Có tiếng người hỏi từ chiếc giường kê ở chái bên làm người áo nâu quay phắt lại:

– Trần đó phải không?

Trần, vì người áo nâu là Trần, trông thấy một người nằm trên giường râu tóc che gần kín mặt. Vô cùng xúc động, Trần bước tới:

– Huỳnh, tao đi tìm mày, tao đang đi tìm mày.

Trần chụp lấy bạn, vết thương bị động khiến Huỳnh khẽ nhăn mặt, đau đớn. Trần kêu lên:

– Mày bị thương ở đâu?

Huỳnh yên lặng chỉ vết thương, hai người bạn nhìn nhau, cố nén cảm xúc.

– Tao tưởng không còn gặp mày nữa, Huỳnh nói.

Trần lắc đầu: “Tao thì chắc chắn là gặp lại mày, tao nhất quyết đi tìm mày. Từ ba hôm nay tao đi quanh hết vùng này, chiều nay tao ghé vào bờ cát này để cho Quý vào làng hỏi thăm tin tức của mày, không ngờ mày lại nằm ngay đây. Chắc chặp tối Quý nó mới trở lại, cũng còn kịp chán, lát tối mình đi thì vừa.”

Trần quay lại nói với người kia nãy giờ vui vẻ đứng nhìn hai người mừng gặp nhau:

– Đây là người mà tôi nhờ chú đưa đi tìm mấy hôm nay, chú xuống thuyền sắp đặt cho tôi một chỗ nằm cho êm để chốc đưa anh ấy về.

Người kia vâng dạ rồi đi ra ngoài. Bà cụ bưng hai bát nước chè lên trông thấy Trần và Huỳnh đang trò chuyện, Huỳnh nói với bà:

– Mẹ, đây là Trần bạn con đi tìm con mấy hôm nay đấy mẹ ạ.

Bà cụ chép miệng: “Hèn chi khi nãy thấy cậu ấy dặn dò em bé đi vào làng tôi đã hơi ngờ ngợ.”

Trần lại gần bà: “Thật là may cho Huỳnh được cụ cứu mạng che chở cho trong cơn hoạn nạn như thế này, chúng cháu không biết lấy gì đền đáp công ơn ấy, Huỳnh và cháu chỉ xin ghi lòng tạc dạ mà thôi. Hiện giờ Huỳnh yếu quá, cháu xin phép cụ cho cháu đưa Huỳnh đi ngay tối nay cho kịp chữa chạy vết thương, Huỳnh lành mạnh rồi anh em cháu sẽ xin trở lại đây thăm cụ.”

Bà cụ chợt thấy lòng nhói đau: “Vâng, thì cũng phải vậy chứ biết sao, anh ấy càng ngày càng yếu làm tôi lo lắm, mà trong kia còn đánh nhau rộn ràng quá, tôi không biết cầu cứu vào đâu cả. Thế đi ngay tối nay à?”

– Vâng, thưa cụ, chúng cháu còn chờ em bé vào trong kia ra là đi ngay cho kịp kẻo khuya.

– Thế để tôi đi thổi cơm ăn đã rồi hãy đi.

Bà cụ nói xong tất tả đi xuống bếp ngay không để cho Trần kịp nói gì cả. Đến bếp bà đứng yên một lát để mặc hai giòng nước mắt chảy dài trên đôi má nhăn nheo, bà cố nén tiếng nấc trong khi lấy gạo vào rá đem vo: “Nó cũng lại đi nữa rồi.”

Trần nói với Huỳnh: “Bà cụ nom tội quá, làm sao mày lết được từ đồn làng Hạ đến tận đây vậy?”

– Tao đi theo quan sát trận đánh đồn đêm ấy, súng đang nổ thì tao thấy nhói một cái bên vai trái, tao ngất đi, đến khi tỉnh lại thì tiếng súng đã im, chung quanh vắng ngắt không còn thấy ai nữa, tao độ chừng bộ đội mình đã rút đi, tao gắng đứng dậy đi, tao chả biết đi đâu nữa, máu chảy mãi ướt lạnh một bên ngực áo, thỉnh thoảng tao bị té vì bước hụt xuống ruộng, tao lại ngất đi rồi lại tỉnh rồi lại đi, cho đến lần ngất đi sau cùng, tỉnh dậy mở mắt ra thì thấy nằm ở đây, tao trông thấy bà cụ cúi xuống nhìn tao và nói: “Mẹ đây, con đã tỉnh đấy ư?” Tao gọi luôn cụ bằng mẹ từ khi đó. Bà cụ sống ở đây một mình, có bà con trong làng mời cụ vào tá túc trong đó mà cụ từ chối, sợ thằng con trở về bất ngờ không gặp cụ. Thằng con một của cụ đi cũng hơn một năm rồi. Ai ngờ cái đứa tìm đến lại là tao, sống dở chết dở, chán thật. Làm sao mày biết tin tao mất tích mà đi tìm?

– Tao về dưới này được hai ngày, tao đến đơn vị tìm mày mới biết mày bị coi như mất tích trong trận đánh đồn ở làng Hạ. Tao suýt đánh thằng Trương trưởng phòng chính trị một trận. Khi tao hỏi có cho đi tìm kiếm mày không thì nó bảo rằng tìm kiếm làm gì vô ích, rằng mày không bị thương hay chết chóc gì đâu, nó bảo mày nhân lộn xộn theo giặc luôn rồi. Tao bảo nó nếu tao đi tìm ra được mày thì sao, nó nhún vai bỏ đi, tao giận tràn hông, muốn đánh cho nó bể mặt, nhưng tao đi tìm mày trước đã, tao biết mày đang lâm nguy, chuyến này về nó biết tay tao.

Huỳnh nhếch mép cười: “Chuyện đó tao không lạ, mày đừng gây sự với nó làm chi, nó là đảng viên, cũng như mày vậy, tao chỉ là một kẻ ở ngoài, một quần chúng, không nên rắc rối với nó vì tao, nên yên lặng là hơn hết.”

Trần đi đi lại lại, đầu hơi cúi, đôi mày nhíu lại, bực tức:

– Ở trong và ở ngoài, hừ, lúc này tao khổ tâm vì nhiều thứ quá, có nhiều điều tao cần nói với mày, vì thế tao đi tìm mày mới biết mày lâm nạn, thế mà lũ chó chết nó cứ bình chân như vại, đánh giặc đâu chưa thấy đã thấy hủy hoại nhau từ trong da trong thịt. Thôi bây giờ lo về vết thương của mày cái đã, mày thấy trong người ra sao?

– Yếu lắm, nhưng chắc không đến nỗi nào.

– Hãy cứ về bên kia sông cái đã, rồi liệu sau, mày yếu quá như thế này chắc không thể đưa về trạm cứu thương ngay được, tao có nhà người cô ở thôn Nhất, sẽ đưa mày về đó gởi tạm mày lại đó đêm nay đã. Mai sẽ đi gọi y sĩ đến xem cho mày.

Quý đã trở lại, từ ngoài sông nó đã nghe người kia cho biết đã tìm được Huỳnh, nó chạy vào, sung sướng la to lên:

– Anh Huỳnh, thế mà em đi tìm anh muốn chết, em đi tuốt xuống mấy nhà gần sát đồn, các chị trong làng cũng đi hỏi hộ em mà không ai thấy cái ông râu ria thật nhiều đâu cả. Có một chị nghịch ngợm lắm, hỏi em rằng ông ấy để râu làm gì mà lắm thế, và đi đánh giặc chứ có phải đi cút bắt đâu mà lại để người ta đi tìm, lại còn hỏi anh trẻ hay già nữa.

Trần và Huỳnh cùng cười, trong chốc lát họ vui lây tiếng nói trẻ thơ, Trần hỏi:

– Thế em bảo sao?

– Em bảo rằng anh để râu nhiều cho dễ nhận trong những trường hợp cần phải đi tìm như thế này, và rằng đi đánh giặc cũng giống như chơi trò cút bắt cho nên phải đi tìm, sau hết em bảo anh trẻ và đẹp trai lắm cho nên không dám trốn vào cái làng có con gái đông và nghịch như thế này, vậy em xin chào các chị để đi tìm nơi khác vậy. Các bà ấy la lên và nhét cho em một túi đầy nhóc đồ ăn đây này.

Quý đến gần Huỳnh đưa tay sờ lên mặt anh:

– Anh bị thương có đau lắm không anh, nom anh hốc hác quá.

– Không, anh không sao cả, gặp lại em là mừng rồi.

Bà cụ đã dọn cơm lên chiếc phản giữa nhà, bà bảo ba người Trần, Quý, và người đưa thuyền cứ ăn rồi còn đi, còn bà mang cháo đến cho Huỳnh, bà múc từng thìa cháo đổ cho Huỳnh, Huỳnh ăn vài thìa rồi bảo:

– Thôi con ăn vừa rồi, mẹ dẹp đi, rồi đến đây với con, con sắp đi rồi.

Người mẹ già mếu máo: “Anh nhớ nhắn tin về cho tôi biết nhé, một đứa kia nó chẳng tin tức gì rồi.”

Huỳnh vỗ về bà cụ, anh cố giấu nỗi xa xót trong lòng:

– Xin mẹ đừng buồn, con sẽ về thăm mẹ, con sẽ hỏi tin tức anh ấy cho mẹ.

Chiếc thuyền nhỏ rời bờ cát trôi đi xa dần. Người mẹ già đứng lại trơ trọi bên sông, gió thổi bốn bề không đủ khô giòng nước mắt đơn côi. Từ đó, đêm đêm nghe tiếng súng nổ vu vơ là bà hồi hộp, thức trắng đêm nghe ngóng, đợi chờ.

—->Chương 4

Advertisements
This entry was posted in Nguyễn Thị Thanh Sâm, Truyện dài - Tiểu thuyết and tagged , . Bookmark the permalink.