CÕI ĐÁ VÀNG (Nguyễn Thị Thanh Sâm): chương 1-20

CHƯƠNG IV

Quá nửa đêm Trần mới đưa Huỳnh về đến nhà người cô của chàng ở thôn Nhất, một vùng tương đối yên tĩnh. Ở đây căn nhà ngói ba gian còn đứng vững giữa vườn cam và nhãn rộng rãi xanh um. Sau khi thưa chuyện với cô chàng và được bà bằng lòng, Trần đưa Huỳnh vào một căn phòng trên gian nhà thờ lớn.

Với sự phụ giúp của người lão bộc, việc đầu tiên là Trần cởi bỏ lớp vải buộc vết thương của Huỳnh ra, lau rửa bằng thuốc sát trùng, băng bó lại, đoạn chàng lau mình cho Huỳnh bằng nước ấm, chàng gượng nhẹ nâng niu thân thể gầy nhom mòn mỏi của Huỳnh như săn sóc con trẻ.

Huỳnh để mặc cho bạn làm, mắt nhắm nghiền, càu nhàu:

– Giờ này mà không để cho tao ngủ, mai hãy làm mấy cái trò này có được không, mày không thể bắt tao lây cái tật sạch sẽ của mày được đâu.

Trần buồn cười, trêu bạn:

– Lan của mày mà trông thấy mày bây giờ thì phải biết, cứ gọi là phát sốt phát rét lên, trông đẹp trai lắm đấy.

Huỳnh lẩm bẩm: “Lan, Lan mày tưởng thế chứ Lan ở ngay bên tao từ hôm tao bị thương cho đến nay, nhờ Lan mà hôm nay mày mới tìm được tao đấy, nếu không có Lan thì bây giờ chỉ còn nắm đất.”

– Ghê thế kia à.

Trần mặc quần áo sạch cho bạn xong, đỡ bạn nằm xuống:

– Cứ cho là như thế đi, mày sống cũng chỉ nhờ ảo tưởng mà thôi, có phải không, mày muốn nói như thế chứ gì, thằng này hỏng.

Huỳnh nói, giọng chìm dần trong mệt nhọc và ngái ngủ:

– Đó là giấc mơ tuyệt vời, tao chỉ còn chừng ấy, chỉ còn có thế thôi, mày đi ngủ đi, gắng tìm một giấc mơ, không giống của tao, dĩ nhiên là vậy.

Trần cẩn thận đắp chăn kín cổ bạn, chàng cũng đã thấm mệt, chàng lại nằm trên một cái trường kỷ kê gần đó, trước khi đi vào giấc ngủ, chàng nói, không cần biết Huỳnh có nghe thấy hay không:

– Giấc mơ của tao bắt đầu từ lâu lắm, và chỉ tàn cuộc khi nào tao chết đi.

Những ngày sau đó Huỳnh sốt liên miên, yếu đến nỗi không thể chịu đựng nổi một cuộc di chuyển nào khác được nữa. Trần báo cho cơ quan của Huỳnh biết đã tìm thấy Huỳnh. Người ta nhận thấy tình trạng sức khỏe của Huỳnh không thể đưa đến trạm quân y trên núi được nên họ đồng ý để Huỳnh nằm lại nhà người cô của Trần, nhờ trạm y tế của địa phương đến giúp đỡ.

Cũng may vết thương của Huỳnh không bị trúng xương, chỉ bị mất nhiều máu và làm độc cho nên khi được thuốc men băng bó hàng ngày thì dần dần kín miệng trông thấy.

Người cô của Trần trạc năm mươi tuổi, chồng của bà hiện là chủ tịch một đoàn thể kháng chiến, ông ở trên vùng núi, ít khi về. Bà có một người con gái mười tám tuổi đã chết năm ngoái sau một trận đau xoàng, bây giờ bà sống với bé Tâm, đứa con trai lên mười tuổi và một lão bộc. Thỉnh thoảng bà đi vào thành phố Huế để trông nom một vài bất động sản của bà ở đó, trong những dịp ấy bà có thể mua những thuốc men cần thiết để chữa cho Huỳnh cùng những vật dụng để dùng trong ngôi nhà thờ ở miền quê của bà. Người trong vùng vẫn gọi bà là bà Thị, đó không phải là cái tên, mà là do cái hàm thị độc, một phẩm hàm của vua trong triều đình trước cách mạng ban cho chồng bà. Cuộc cách mạng kháng chiến bùng nổ, cáo chung một chế độ quân chủ đã tồn tại từ mấy ngàn năm trên xứ sở này, người chồng tóc đã điểm hoa râm của bà đã mang chiếc hộp bằng gỗ quý sơn son thiếp vàng đựng sắc chỉ phẩm trật vua ban ra đốt sạch.

Đã quá nửa đời người, bị choáng ngợp bởi tình yêu Tổ quốc, ông Thị vẫn còn đủ nhiệt tình để lao mình vào một cuộc thử thách mới mẻ.

Bà Thị người đầy đặn, khuôn mặt tròn phúc hậu, nét mặt rất ít vết nhăn, cho thấy một thời tuổi trẻ xuân sắc đằm thắm, cái nhìn hiền từ, tiếng nói rõ ràng thong thả, bà săn sóc Huỳnh với một sự tận tâm hiếm có, dần dần những cơn sốt của Huỳnh cách khoảng rồi dứt hẳn. Với một gia đình quạnh hiu như thế, sự có mặt của một kẻ ốm đau như Huỳnh cũng không đến nỗi thừa, sự bận rộn vì anh cũng là niềm vui cho họ.

Cả bà Thị lẫn người đầy tớ già đều tìm được ở Huỳnh một người bạn thích hợp để giãi bày những phiền muộn lo âu của họ, riêng đối với chú bé Tâm thì Huỳnh là một mẫu người lý tưởng, nó mê man nghe chàng kể chuyện đánh vào đồn giặc, nó chiêm ngưỡng vết thương của chàng như một chiến tích lừng lẫy vô song.

Bà Thị những lúc rảnh rỗi thường lên thăm Huỳnh và nói chuyện với anh, bà thường tỏ vẻ thương tiếc đứa con của bà, bà than thở:

– Nó thuần hậu nhút nhát quá, thế mà Trời không cho sống, có lẽ tại nó đẹp quá, ai cũng trầm trồ khen ngợi, phải chi nó còn sống thì tôi không đến nỗi cô đơn như thế này, có đứa con gái lớn nó bầu bạn với mình, chia sẻ ngọt bùi cay đắng với mình. Anh nghĩ, nó có đau ốm gì đâu, buổi tối nó kêu chóng mặt đi nằm, tôi lấy dầu xoa cho nó, vừa quay lại thì thấy nó mê man rồi đi luôn, người còn mềm dịu nóng hổi, từ hồi đó đến giờ tôi chẳng ra làm sao cả anh ạ, khi cười khi khóc như con mẹ điên, nếu điên hẳn được thì cũng đỡ khốn khổ.

Bà nghẹn ngào một lát, rồi tiếp:

– Nó đậu trung học rồi nhất định ở nhà trông nom ruộng vườn nhà cửa với mẹ, bây giờ thì chỉ một mình tôi lo liệu, ông nhà tôi thì đi như thế, cháu Tâm còn bé quá, nhiều lúc tôi không còn thiết gì nữa.

Huỳnh nói một vài câu an ủi bà Thị, anh nói đến cái vòng tiếp nối của sự sống và sự chết, cho đến một lúc nào đó, trong ý muốn làm dịu đi sự đau khổ của người mẹ mất con, anh bỗng thấy lời nói của anh đượm đầy tính chất tôn giáo, một điều anh không dự trù trước. Anh tự chế diễu mình và ngừng lại. Nhưng anh ngạc nhiên thấy bà Thị cũng tỏ ra thanh thỏa, có lẽ bà đã có người để giãi bày nỗi khổ.

Bà nói qua chuyện ruộng đất: “Vì chỉ có một mình nên mấy chục mẫu ruộng tôi cho làm rẻ hết cả. Thời buổi khó khăn giặc giã nên những vụ mùa người ta chẳng nạp đủ số, thôi thì cũng châm chước đi cho bà con họ nhờ. Trời, Đất này biết ai còn ai mất mà tính chuyện thiệt hơn, có phải không anh, anh nghĩ bao lâu nữa thì có thể yên giặc được?”

Huỳnh gật đầu tán thành: “Bác nghĩ vậy là phải lắm. Có lẽ chuyện giặc giã này không lâu đâu thưa bác; vả chăng khi chiến tranh chấm dứt nước mình độc lập rồi, thì sẽ có những phương pháp canh tân xứ sở, công việc đồng áng sẽ được cải tiến giản tiện hơn, đời sống sẽ thanh bình, chủ quyền người Pháp không còn đè nặng lên số phận chúng ta nữa, xin bác hãy tin rằng mọi khó khăn sẽ qua mau.”

Một lần nữa Huỳnh lại ngừng lại vì buồn cười thấy mình đã nói như một cán bộ tuyên truyền, nhưng chàng cũng yên tâm thấy bà Thị có vẻ tin tưởng một cách nghiêm trang vô cùng.

Hai hôm sau khi đưa Huỳnh về gởi gắm ở nhà bà Thị, Trần phải trở lại với công việc của chàng, chàng phải trở lên núi và hẹn sẽ trở lại rất chóng. Trong thời gian này, thỉnh thoảng các bạn hữu nghe tin Huỳnh bị thương tìm đến thăm, do đó anh được biết những tin tức bên ngoài.

Chiến dịch Đông Xuân đã hạ màn, kháng chiến đã thu được những thắng lợi đáng kể, tinh thần bộ đội cũng như của dân chúng lên rất cao, các đơn vị được lệnh rút về những khu an toàn để chấn chỉnh và học tập chuẩn bị cho những chiến dịch sắp tới.

Người ta áp dẫn về từng đoàn tù binh Pháp, người lính kháng chiến Việt Nam đi bên cạnh tù binh Pháp trông như người tí hon đi bên cạnh ông khổng lồ; ông khổng lồ hồng hào khỏe mạnh no đủ, còn người tí hon gầy guộc xanh xao mét máu thiếu ăn thiếu uống, vậy mà trong một kích quang nào đó của lịch sử, người tí hon đã chế ngự được ông khổng lồ phải cúi đầu đi theo mệnh lệnh của mình.

Người ta kể chuyện trong một trận đánh dài cả ngày đêm ở một vùng đầm lầy, quân kháng chiến bắt được một sĩ quan cao cấp của địch, khi bị bắt tên sĩ quan này rất hung hăng mạt sát quân kháng chiến không tiếc lời và tỏ vẻ khinh bỉ không thèm trả lời những câu hỏi của họ. Vì trận chiến đang tiếp diễn quá gần nên người ta giao viên sĩ quan địch cho một người lính giải về bộ chỉ huy ở cách một ngày đường đi xuyên qua một khu rừng nhỏ. Người lính Việt vẻ người lam lũ cực khổ, áo quần xốc xếch, tồi tàn. Viên tù binh sĩ quan địch lặng yên để người lính giải đi, trên đường đi thỉnh thoảng viên sĩ quan tù binh hỏi người lính một câu, người lính mỉm cười hiền từ lắc đầu tỏ vẻ không hiểu, ra dấu bảo hãy tiếp tục đi. Quá trưa, người lính ra hiệu cho viên sĩ quan tù binh dừng lại để ăn trưa, họ ngồi ở hai gốc cây đối diện nhau, người lính lấy trong bọc ra một nắm cơm gạo đỏ được vắt lại thật cứng, và một gói nhỏ muối vừng. Anh bẻ đôi cho người tù binh một nửa, viên sĩ quan tù binh nhận lấy nửa vắt cơm cho vào miệng nhai ngon lành mặc dầu miếng cơm nhạt nhẽo và muối vừng thì mặn chát khó nuốt trôi. Y nhìn người lính mỉm cười, tỏ dấu thân thiện. Người lính cũng cười lại dễ dãi. Y rút trong túi ra một cái đồng hồ quả quýt bằng vàng đưa cao lên cho người lính thấy, y cầm chiếc giây cũng bằng vàng đu đưa chiếc đồng hồ quý giá xinh đẹp lấp lánh dưới ánh nắng, y ra hiệu hỏi người lính có thích không, người lính cười gật đầu, nét mặt y bỗng rạng rỡ, y vội rút cái ví sau túi quần ra, y lôi ra một xấp bạc dầy cộm, y giơ lên cùng với chiếc đồng hồ ra hiệu cho người lính rằng của anh ta đấy, nếu anh muốn. Người lính cười thông cảm, ra dấu bảo người tù binh hãy ăn cho hết vắt cơm đi đã. Viên sĩ quan tù binh vui vẻ nghe theo, y mang để chiếc đồng hồ vàng và xấp bạc trước mặt người lính, rồi tiếp tục cầm miếng cơm đưa lên miệng nhai lòng đầy hy vọng. Ăn xong, người lính rót nước trong chiếc bi-đông mang theo bên người cho người tù binh uống, xong anh tự rót cho mình uống. Đoạn, anh đứng dậy, cúi nhặt chiếc đồng hồ và xấp bạc, anh quấn hai cái lại với nhau bằng chiếc dây vàng của chiếc đồng hồ. Anh nhìn người tù binh, khẽ hất hàm ra hiệu, rồi bằng một cử chỉ thật nhanh và bất ngờ anh tung hai vật đó về phía viên sĩ quan địch, với phản ứng tự nhiên y đưa tay lên đón bắt, vẻ mặt ngơ ngác không hiểu. Người lính vẻ mặt nghiêm trang, hất mũi súng về phía trước, ra hiệu bảo y đi. Viên sĩ quan tù binh chợt hiểu, y cúi gầm mặt, thất thểu bước đi theo mệnh lệnh của người lính Việt, y không còn dám coi thường những con người nhỏ bé nghèo nàn này nữa. Ở họ, có một hào quang rực rỡ gấp triệu lần chiếc đồng hồ quý giá của y. Từ khi y đến xứ sở này, lần đầu tiên hôm nay y có ý tưởng tự hào đã được đối đầu với một kẻ địch như vậy.

Câu chuyện xoay quanh về thời cuộc như thế trong buổi chiều tháng tư năm 1950 trong vườn nhà bà Thị.

Huỳnh nằm trên chiếc ghế dựa đặt ngoài vườn, dưới những tàng cây xanh tốt, những chùm nhãn được người ta bọc kín trong những bẹ cau, đong đưa như những cái đầu trong những ngày hội giả trang. Một số bạn hữu ngồi rải rác quanh anh, vết thương của anh đã rất khả quan, anh đang trong thời kỳ chờ đợi bình phục; những người đến thăm anh chiều nay có Lương, người bạn văn của anh; Lương ở làng Đại, bên kia sông về miền dưới, đã có vợ con. Trước kháng chiến Lương đã đậu tú tài, xong anh bỏ về làng cất một cái chòi ngoài bờ lác nuôi vịt, trong khi các bạn đồng khoa với anh mãi lặn lội với công danh, anh về làng ở lì trên chòi nuôi vịt nghiên cứu một số sách vở tư tưởng Đông Tây, và biên khảo một số khảo luận về triết học. Kháng chiến bùng nổ, trước sự lạnh nhạt của lớp người lãnh đạo kháng chiến địa phương, người ta kết luận một cách giản dị rằng một người trí thức, một điền chủ trẻ tuổi không thể thích hợp với cuộc sống đấu tranh gian khổ được. Không để tâm đến vẻ miệt thị của những người có uy quyền kháng chiến địa phương, Lương vẫn ở lại quê làng, nhận một trách nhiệm nhỏ nhoi là trông coi trường tiểu học của xã. Lương đặt hết tâm hồn vào việc dạy dỗ như một thầy giáo làng tận tâm nhất, anh hiền lành cần mẫn, không bận tâm đến chính trị. Anh không trở lại thành phố là vì nơi đó còn có chủ quyền của người Pháp, hiện đang là kẻ thù cướp nước của dân tộc anh, anh ở lại miền kháng chiến là để được thấy mình thênh thang trên quê hương, như trước kia anh đã từng thênh thang không chịu bận bịu với lợi danh, vui thú làm một người chăn vịt.

Ngoài Lương ra còn có Hoàng, Bửu, Hồ, Phong, những người này ở cùng đơn vị với Huỳnh, họ vừa rời bỏ ghế nhà trường, bỏ thành phố Huế thơ mộng và bình yên của họ để gia nhập cuộc sống gian nan lửa đạn này. Họ còn quá trẻ, tuổi chừng mười tám hai mươi. Chiều nay họ lãnh phận sự đến thôn này gánh số gạo dự trữ ở đây về cho cơ quan, nhân đó họ tạt vào đây thăm Huỳnh, kể cho anh nghe tin tức cơ quan, những câu chuyện về chiến dịch. Họ đặt những gánh gạo trước hàng ba, ra sau vườn với Huỳnh. Ở đơn vị, họ chuyên về những công tác nghiên cứu huấn luyện và văn nghệ. Trong những đêm liên hoan trước ngày xuất quân, để kích động tinh thần bộ đội, họ hợp lại thành ban nhạc bộ bốn rất xôm trò. Tuy nhiên hàng ngày người ta vẫn giao cho họ đủ mọi việc nặng nhọc, đi gánh gạo, đi vác đạn, làm những công việc tạp dịch như những lao công. Người ta nói cho họ biết rằng ngoài nhiệm vụ chống Pháp họ còn phải học tập làm những công tác lao công để có thể hòa mình với giai cấp nông dân vì xã hội ngày mai sẽ được lãnh đạo bởi giai cấp nông dân. Hoàng, Bửu, Hồ, Phong còn rất trẻ, dễ vui đời, họ rời bỏ gia đình êm ấm của họ để ra đi với lòng hiếu đời mãnh liệt, họ không cần biết những cách nói đó mang một ý nghĩa thực tiễn nào trong đời sống. Họ đã đến đây và họ vui lòng làm tất cả những gì người ta bảo họ làm.

Vậy, cho nên chiều nay những thư sinh mặt trắng đó sẽ gánh gạo qua đây và ghé lại ngồi trong khu vườn này với Huỳnh và Lương.

Người lão bộc từ hiên trước đi ra sau, ngang qua bọn họ, lão hếch mũi đánh hơi bốn phía, mặt mũi nhăn nhó:

– Quái lạ, không biết mùi phân người ở đâu mà thối quá, cả nhà đều thối, bà bảo tôi đi tìm xem thối ở đâu mà chả thấy gì hết.

Cả bọn bốn người Hoàng, Bửu, Hồ, Phong, nhìn nhau tinh quái, đoạn cười ầm cả lên, Hoàng nín cười gọi lão bộc:

– Không phải phân người đâu bác ơi, mùi hôi thối là từ nơi mấy gánh gạo của tụi cháu để trước nhà xông ra đó. Chả là lúa người ta phải đem chôn xuống đất sợ giặc đi lùng đốt phá hay bắt dân khuân vác mang đi cho chăng. Lúa chôn lâu ngày bị ẩm, đào lên nó có mùi nặng nề như vậy đó, xay ra thành gạo nó bị bở nát, nấu ra cơm nó cứ nhoèn nhoẹt lạt nhách, thế mà tụi cháu ăn gạo đó tháng này sang tháng khác đó, bác ạ.

Người tớ già lắc đầu: “Cầm hèn chi tôi đi tìm mãi chẳng thấy gì cả, đời thủa nhà ai đến bạc đầu tôi mới thấy gạo mà hôi thối như phân người lần này là một đấy, tội nghiệp, như vậy thì ăn làm sao, nấu ra cơm cũng thối như vậy rồi làm sao ăn?”

– Cũng quen đi bác ạ, được cái nấu ra khi còn nóng thì nó thối kinh khủng, nhưng để nguội cho bay hơi đi thì cũng nuốt được vậy.

Hồ xen vào: “Ăn riết cũng thấy ngon bác ạ, bây giờ miệng lưỡi chúng cháu quen rồi, chừ ai cho ăn gạo tám thơm, gạo nhe vàng cũng không biết ăn nữa.”

Cả bọn cười vang, Huỳnh cũng cười theo, một nét rạng rỡ vui tươi trên khuôn mặt xanh lướt của anh. Người tớ già ngồi xổm trên hàng hiên, đưa tay lấy điếu thuốc lá giắt trên mang tai xuống, vê lại:

– Thời buổi chi khổ thiệt, cả đời tui theo hầu ông Thị đi khắp cả, có lần đi vào trong xứ Mán xứ Mường mà chưa khi mô phải ăn thứ gì hôi thối cả. Tội cho mấy cậu thiệt.

Lão lại lắc đầu, quẹt diêm châm điếu thuốc.

Bửu trẻ nhất trong bọn, làm bộ xịu mặt:

– Tội thiệt đó bác ạ, hôm nọ mẹ cháu ở trong Huế ra thăm cháu, bà bới ra nào là bồ câu tiềm hột sen, nào bánh nậm chả tôm, nào gà quay nào bánh hạnh nhân, bà bày la liệt, tụi cháu mấy thằng cứ đứng nhìn ngẩn tò te, mẹ cháu thúc giục bảo ăn đi, tụi cháu lắc đầu đi thụt lùi…

Lão bộc trợn mắt: “Sao vậy?”

– Ấy mẹ cháu cũng ngạc nhiên hỏi tụi cháu làm sao vậy, tụi cháu phải nói thiệt là tụi cháu quên mất, lâu ngày quá không nhớ phải ăn mấy thứ đó như thế nào, nên không dám ăn sợ đau bụng. Mẹ cháu mới hỏi thế thì các con ăn được những gì, cháu bèn kể ra, cơm gạo thối này, muối vừng thật mặn này, nước ruốc này, thế là mẹ cháu ôm mặt khóc ròng, chả hiểu tại sao cả.

Cả bọn lại phá lên cười, ông lão trách móc:

– Thế mà cũng cười được, các cậu thật vô tình, đó là bà mẹ cậu thương các cậu ăn uống cực khổ quá nên bà khóc đấy, có thế mà không hiểu lại cứ vui cười, rõ thật khổ.

Tất cả lại cười to hơn, ông lão cũng dễ dãi cười theo, lão đứng dậy: “Bà có nấu bắp ở trong nhà, bắp non vừa hái sau nương, bà dặn coi chín thì đem mời các cậu xơi, để tôi đi xem đã.”

Ông lão dợm bước đi, bỗng ngập ngừng dừng lại, phân vân nhìn bọn Hoàng:

– Thế, thế các cậu có xơi bắp được không?

Hoàng vẫy tay ra hiệu cho cả bọn không được cười nhiều, chàng cố nín, làm mặt nghiêm trang, trả lời:

– Chúng cháu chưa chắc lắm, nhưng xin bác cứ mang ra. Chúng cháu sẽ cố gắng làm vui lòng bà nhà và bác.

Lão bộc vừa đi khuất sau tường nhà là cả bọn cười ồn ào, sảng khoái.

Huỳnh lắc đầu nhìn Lương:

– Có mấy ông tướng này trong cơ quan cũng đỡ ngột ngạt lắm anh ạ, cái gì mấy tướng ấy cũng thấy vui được, đùa cả ngày, mình chỉ mong được như thế, mà không được, đành vậy chứ sao.

Lương vui vẻ nhìn bọn Hoàng:

– Chủ nhật các cậu gắng qua nhà tôi chơi, có lứa gà tơ tốt lắm, nếu các cậu thấy cần phải tập lại thói quen, còn không thì nhà cũng có khoai lang trắng ngon lắm, lại có cả nước ruốc nữa.

Cả bọn nhao nhao:

– Thôi, thôi, anh cứ cho tụi em ăn gà đi cũng được, còn nước ruốc anh để bao giờ tụi em chết thì nấu cúng cho tụi em, như vậy linh hồn tụi em sẽ linh thiêng hơn.

– Nó nói phét đó anh, làm gì có linh hồn mà linh thiêng với chả linh thiêng, nhất là cái mặt thịt của nó nữa.

– Còn cái mặt sữa của mày thì sau chết linh thiêng lắm chắc.

– Mày duy tâm rồi đấy nhé, tối nay tao họp kiểm thảo đừng có cãi, học tập tư tưởng Mác-Lê lão Trương có dạy chúng ta rằng thì là không có linh hồn, không có thánh thần gì ráo trọi, rằng chủ nghĩa chúng ta là duy vật, nói nôm na là con người chúng ta ví như cái đèn dầu, thân xác là cái đèn, tinh thần là ngọn lửa, dầu là món ăn, hễ dầu cạn thì ngọn lửa cũng tắt, do đó sau đời sống không còn có gì nữa, đứa nào tin tưởng có linh hồn là đứa ấy theo chủ nghĩa duy tâm, là chủ nghĩa của bọn phong kiến đế quốc, bọn thầy tu phản động, là lũ ăn hại đái nát, là gì nữa nhỉ, là Việt gian phản quốc, là…

Hồ năn nỉ Bửu:

– Thôi cho tao xin, mày khép cái mồm mày lại cho tao nhờ, khổ lỗ tai quá, bắp sắp mang ra rồi đó kìa, hãy để cái mồm cho sạch sẽ mà ăn bắp chứ.

Bửu vẫn thao thao nói, mặt mũi tỉnh bơ:

– Duy vật biện chứng cho ta thấy rằng chỉ có thân xác là đáng kể, ngoài ra là đồ rác rưới, là đồ bỏ đi, đồ không ra gì vân vân, do đó chúng ta phải có bổn phận giữ gìn thân xác để phục vụ cho nhân dân cho kháng chiến, cho Tổ quốc. Đảng ta đã dạy thế, lão Trương thay mặt Đảng dạy dỗ anh em ta phải nghe theo như thế. Ví dụ như bây giờ chúng ta ăn bắp, không phải là chúng ta ăn bắp cho chúng ta, đó là cách nói của tụi ngu si tham ăn tục uống như thằng Hồ chẳng hạn, mà là chúng ta sắp phải làm một nhiệm vụ thiêng liêng để phục vụ cho thân xác chúng ta, không phải là chúng ta ăn bắp cho thích khẩu chúng ta mà chúng ta phải đổ dầu cho cái đèn, cho nó khỏi cạn, vì dầu cạn thì ngọn lửa tắt, ngọn lửa tắt tức là chúng ta chết, chúng ta chết thì lấy ai phục vụ cho nhân dân, cho vô sản, lấy ai gánh gạo, vác đồ, lấy ai lo cho Tổ quốc. Vì thế cho nên chốc nữa đây chúng ta phải buộc lòng ăn bắp, chúng ta phải hy sinh vậy, phải nhai những hạt bắp non mềm như sữa, phải chịu khó hít cái chất nước béo bùi trong cái cùi của nó trôi êm đềm qua cuống họng để làm tròn bổn phận của chúng ta đối với thân xác, tức là đối với nhân dân, đối với thế giới vô sản cộng đồng vĩ đại ngày mai, còn về chuyện linh hồn thì…

Lão bộc mang rổ bắp ra, khói bốc lên nghi ngút, mùi thơm nồng ngọt tỏa ra trong vườn chiều, Phong càu nhàu:

– Cái thằng nói dai như giẻ rách, mày còn chán thì giờ để nghe lão Trương dạy mày, cái thằng mặt chuột ấy, hôm nay hứng gì mà mày đọc kỹ thế.

– Ôi nhân dân nuôi ta ngày hai bữa cơm gạo thối chỉ để dạy cho ta thấm nhuần lý thuyết của chủ nghĩa Mác-xít mà thôi, nếu ta không thuộc nằm lòng thì chẳng hóa ra ta bất nghĩa lắm sao!

Mọi người cười vang thích thú.

Khi bọn Hoàng ra về, họ mang theo không khí vui vẻ nhộn nhịp, tiếng cười nói của họ xa dần để lại Lương và Huỳnh ngồi yên lặng trong bóng chiều. Huỳnh ngả đầu trên lưng ghế dựa, nhắm mắt lại, buổi chiều thật đầy đủ và êm ái. Trong đời anh rất hiếm khi anh được sống những giây phút như thế này. Anh nghe mùi khói nấu cơm chiều lan tỏa trong không gian, vị nồng ngọt của mùi khói rơm rạ thấm vào cổ họng. Có tiếng đàn bà hò ru con vời vợi bên hàng xóm cách khoảng vườn bên kia, tiếng trâu nghé ngọ lẫn tiếng người gọi nhau ơi ới vang vọng từ cánh đồng xa, tiếng gà eo éo ở thôn trên, tất cả âm thanh uể oải, quyến rũ của chiều quê đi dần vào tâm hồn anh, anh nhắm mắt, thấy rõ hơn bao giờ hết bên mình có Lương, người bạn có một tấm lòng rất quý báu, đơn sơ, trung hậu, buổi chiều đẹp và người bạn hiền hợp lại thành một niềm an ủi vuốt ve như khuôn mặt của mẹ hiền cúi xuống làm lòng anh rưng rưng. Có tiếng Lương nói:

– Bọn Hoàng trẻ quá, nhưng họ không vô tư đâu.

Huỳnh gật đầu:

– Làm sao mà vô tư cho được với thực trạng này; nhưng họ vẫn vui được, đó là điều mới đáng kể.

—->Chương 5

Advertisements
This entry was posted in Nguyễn Thị Thanh Sâm, Truyện dài - Tiểu thuyết and tagged , . Bookmark the permalink.