CÕI ĐÁ VÀNG (Nguyễn Thị Thanh Sâm): chương 1-20

CHƯƠNG V

Trong thời kỳ này khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam từ Bắc chí Nam, ngay trên những đô thị mà chủ quyền còn thuộc về người Pháp, lòng người đều hướng về những lớp người đi kháng chiến, gia đình nào cũng có người hoặc trai hoặc gái ra đi.

Riêng vùng đất dọc theo dải núi Trường Sơn là cái lưng eo của nước Việt Nam này cũng vậy, từ thành thị cho đến thôn quê người ta có danh từ “ra khu” hoặc “trên đó” để chỉ nơi chốn của những người thân yêu của họ đã rời bỏ họ mà ra đi.

Đối với những người mẹ, những người vợ, những người yêu thì nơi chốn đó đã trở thành đất thánh mà những cuộc viếng thăm như những chuyến hành hương, đầy đủ lòng sùng mộ bát ngát yêu thương.

Đêm đêm những đoàn quân âm thầm chuyển động xuyên qua những cánh đồng lầy đầy đỉa đói, hay qua những khu rừng thú dữ nổi tiếng, họ vẫn đi mãi, những nét mặt trẻ trung đầy tin tưởng bước đi cho giấc mơ vàng son thấy ở cuối đường, cho một tương lai chào đón, ngày chiến thắng vẻ vang của một dân tộc nhược tiểu, ngày ngoại nhân không còn làm mưa làm gió trên đất nước của họ nữa.

Hiện tại họ chịu đựng một cách anh dũng những gian lao nguy hiểm. những bệnh phù thủng vì thiếu ăn thiếu uống, những cơn sốt rét rút tỉa dần sinh lực của họ, những vết thương không đủ phương tiện thuốc men cứu chữa. Áo quần của họ rách nát vì lăn lóc đường trường, mùa hạ nắng rát, mùa đông không đủ ấm, họ không nề hà những nỗi khổ cực ấy, họ cho đó là chuyện tất nhiên, ai cũng hiểu rằng giá của sự vinh quang rất đắt, cho nên người ta không phàn nàn gì cả.

Mọi tầng lớp, kẻ sang người hèn, người thành thị hoặc dân quê, người trí thức cho đến kẻ thất học đều vui lòng có mặt từ đầu cuộc chiến. Tất cả người Việt Nam, cả những người tham dự trực tiếp hay gián tiếp, hay không tham dự gì cả, đều có quyền hãnh diện vì cuộc kháng chiến này. Tổ quốc không của riêng ai cả. Ngàn năm trước, ngàn năm sau không ai có thể chối bỏ hay tước đoạt tình yêu quê hương với những đau khổ hay vinh quang của nó.

Người ta có thể nói khí thế của những thời bình Nguyên phạt Tống đã trỗi dậy mãnh liệt trong tâm can toàn dân Việt lúc bấy giờ. Nếu mục đích chỉ giản dị là đánh đuổi ngoại bang giành lại chủ quyền cho dân tộc thì với thế nước này lòng dân ấy không bao lâu cuộc chiến sẽ kết thúc và đời sống sẽ trở lại với thời thanh bình tươi đẹp thuở xưa.

Nhưng song song với những khó khăn gian khổ của chiến tranh mà mọi người đều tự hào đã khắc phục được dễ dàng, ai nấy đều lần lượt thấy mình đang đứng trước một thành lũy trùng điệp những chướng ngại vô hình làm tê cóng những tâm hồn sôi bỏng nhất, làm đông đặc mọi ý chí hướng về tương lai.

Đó là sự va chạm về ý thức giữa những người Cộng sản và những người không Cộng sản, mở ra đủ mọi vấn đề tư tưởng và hành động quyết định sự sống còn của đất nước.

Cuộc khởi nghĩa mùa thu năm 1945, trong cái vận may hay rủi nào đó của nước Việt Nam, đảng Cộng sản cuối cùng đã nắm được chính quyền, lãnh tụ của đảng là ông Nguyễn-Ái-Quốc đã trở thành Hồ-Chí-Minh, chủ tịch của chế độ dân chủ cộng hòa đầu tiên trên xứ sở này.

Dù sao đi nữa, đảng Cộng sản đã có cái may mắn được thừa hưởng công lao xương máu của những phong trào chống Pháp, từ phong trào Cần Vương đến Đông

Kinh Nghĩa Thục, từ phong trào Duy Tân đến Quốc Dân Đảng trong suốt tám mươi năm đau khổ của dân tộc Việt Nam.

Cho đến năm 1947, khi tiếng súng mở màn cuộc chiến tranh với người Pháp bùng nổ trên khắp đất nước, thì đảng Cộng sản đã nghiễm nhiên đóng vai trò lãnh đạo cuộc kháng chiến.

Đối với những người đi kháng chiến, hầu hết họ đi không vì tham vọng cá nhân, không bận tâm đến chính trị, không có ý thức gì về đảng phái với những tranh chấp thủ đoạn xấu xa dơ bẩn của nó. Trong những thời kỳ kháng chiến còn trong vòng bí mật, người ta dành những tình cảm giống nhau đối với người Quốc Dân Đảng cũng như người Cộng sản, người ta ngưỡng mộ những người này vì sứ mạng nguy nan của họ, tựu trung người ta yêu mến và tôn sùng tất cả những ai xả thân cho Tổ quốc.

Do đó, người ta không phiền hà gì khi đến đây bỗng nhiên thấy mình phải ở dưới sự lãnh đạo của người Cộng sản; có những người hăng say gia nhập đảng, coi đó như một vinh dự lớn lao để được sự hỗ trợ cho nhiệm vụ cứu nước của mình. Những người khác và là đa số nghĩ rằng lòng yêu nước đã khiến họ có mặt nơi đây, điều đó biện minh cho tất cả, vấn đề đảng phái không thích hợp với họ, vả chăng quê hương là của tất cả mọi người, tuy nhiên họ vẫn vui lòng chấp nhận sự điều khiển của các cấp lãnh đạo hầu hết là đảng viên Cộng sản.

Nhưng dần dần mọi sự không trôi chảy xuôi giòng như người ta tưởng, khi chính quyền kháng chiến đã có cơ sở ở khắp mọi nơi, khi bộ đội Vệ Quốc đoàn đã lớn mạnh, đã đủ sức mở những chiến dịch làm cho địch quân kinh hồn bạt vía, khi mà mọi người đều có thể thấy ngày chiến thắng không còn bao xa nữa, thì trong đời sống kháng chiến đã phân chia rõ rệt hai giai cấp, giai cấp đảng viên thống trị và giai cấp quần chúng bị trị.

Lịch sử sẽ lãnh phần xét đoán về những sự kiện này, đối với lớp người mà Tổ quốc chỉ là môi trường của tham vọng, đó là điểm đen của lịch sử, đó là đêm tối trùm lấp cả nguồn ánh sáng lẽ ra phải muôn phần rực rỡ uy nghi. Nguồn ánh sáng đó là tấm lòng của hàng triệu người Việt Nam đã hiện diện trong những giây phút này với niềm thanh thản vô tư, là cả một thế hệ đã tưởng được ôm tròn lý tưởng cao cả nhất và cũng giản dị nhất là được sống chết cho quê hương. Người kháng chiến ra đi chỉ mơ ước niềm vui của một dân tộc được phục hồi danh dự. Riêng cho bản thân họ, họ không nghĩ đến những ân sủng hiển hách nào, nỗi vui của họ là niềm rung động thầm lặng của người Á đông; hoài vọng thiết tha một ngày thanh bình được trở về trên quê hương yêu dấu, ở đó có mẹ già, có vợ dại, con thơ và tiếp tục sống cuộc đời êm ả trước kia sau lũy tre xanh. Có một bài hát đương thời rất được yêu chuộng nói lên ước vọng đơn sơ của người Việt Nam đi kháng chiến chống thực dân, hình ảnh ngày trở về của họ sau chiến tranh:

“Ngày trở về, anh bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre, nắng vàng hoe, vườn dâu trước hè chờ đón người về. Mẹ lần mò ra trước sân, nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ, tiếc rằng ta đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ…”

Không có kèn trống rộn ràng, không có huy chương sáng chói, không có đón rước tưng bừng. Chỉ có một đường đê, một lũy tre, một vườn dâu, một mẹ già đã mù lòa vì mòn mỏi trông con.

Đó là ngày về của người kháng chiến Việt Nam, một thoáng hiu hắt ngậm ngùi, hình ảnh đơn sơ như nét chấm phá của bức tranh thủy mạc, lòng người Việt vẫn ôn nhu thâm trầm từ ngàn xưa cho đến ngàn sau.

Do đó, họ không sá chi những chuyện hơn thua giữa những người cùng chiến tuyến, cùng có một kẻ thù chung.

Do đó, họ xiết bao kinh ngạc và cảm thấy bị hụt hẫng khi thấy chính quyền kháng chiến do người Cộng sản lãnh đạo có thái độ lãnh đạm loại bỏ hay hững hờ với sự cộng tác nhiệt thành của lớp người bị họ phân loại là thành phần tiểu tư sản, địa chủ hoặc phú nông, đó là lớp người đông đảo đã góp khả năng đáng kể về tinh thần lẫn vật chất để đưa cuộc kháng chiến đến mức trưởng thành như ngày nay.

Vì vậy sự đè nặng của giai cấp đảng viên trên giai cấp quần chúng ngày một ngột ngạt khó thở. Nhưng người Việt vốn đã nhẫn nại, trong những bước gieo neo này họ lại càng thêm nhẫn nại. Người ta quay lưng với họ, họ thì không thể quay lưng với Tổ quốc được.

Ngày nào gót giày đinh của quân Pháp còn giày xéo qua xóm làng của họ, đốt phá nhà cửa, bắn giết người vô tội, hãm hiếp đàn bà con gái của họ, thì chỗ của họ chỉ có thể là ở góc rừng này, bụi chuối kia, đầm lầy nọ, cho dù hiện giờ họ còn phải còng lưng mang thêm gánh nặng nhục nhằn của sự bạc đãi, hắt hủi, rẻ rúng, bỏ rơi một cách phũ phàng.

Tâm trạng này được thể hiện trong hai câu thơ của Huỳnh:

“Con chim nào dại bay về tổ,
Khi cả rừng xanh loạn chiến trường…”

Tâm trạng đó tạo nên sự điềm tĩnh của Huỳnh khi anh bị thương, bị thất lạc trong trận đánh đồn làng Hạ, cấp chỉ huy của anh đã bỏ rơi không thèm tìm kiếm lại còn quyết đoán là anh đã đi theo giặc. Huỳnh đã nói với Trần:

– Chuyện đó tao không lạ, mày đừng gây sự với nó làm chi, nó là đảng viên, cũng như mày vậy, tao chỉ là một kẻ ở ngoài, một quần chúng, không nên rắc rối với nó vì tao, yên lặng là hơn hết.

Trần là đảng viên, Huỳnh là một quần chúng, điều lạ lùng là họ trở thành bạn thân, họ gần gũi nhau trước hết trong địa hạt văn nghệ mà hai người đều là thi sĩ, họ mến phục thi văn của nhau, giữa họ có những điểm tương đồng về tâm hồn, về đời sống, vì vậy mặc những dị biệt chắn ngang đời sống của họ, họ vẫn yêu mến và cảm phục lẫn nhau vô cùng.

Hơn nửa tháng sau ngày đưa Huỳnh đến gởi gắm ở nhà bà Thị, Trần mới trở lại thăm Huỳnh.

Lúc đó vào khoảng tám giờ tối, Huỳnh đang nằm xem bộ Đông Chu Liệt Quốc tìm được trong tủ sách của gia đình này, Trần bước vào như một cơn gió.

– Tao gắng thu xếp để về với mày ít nhất là một ngày, vậy mà sáng mai tao phải đi thật sớm. Vết thương mày ra sao?

Huỳnh ngồi dậy, ánh mắt anh tỏ rõ sự hài lòng được trông thấy bạn:

– Tao sắp trở về đơn vị rồi mày ạ, xem đây. Huỳnh vạch áo để lộ cho Trần thấy những vết thương đã đâm da non.

Trần lắc đầu cương quyết:

– Mày chưa đi đâu được, mày đã mất rất nhiều máu, còn lâu lắm mày mới lại sức nổi, tao đã dàn xếp với cơ quan cho mày rồi, mày phải tịnh dưỡng ít ra là hai tháng.

– Không cần thiết như thế đâu, tao cần phải trở lại công việc, những ngày phải nằm tao cảm thấy tù hãm! Còn mày, mày đã làm gì lâu nay? Có việc gì gấp mà mai phải đi sớm vậy?

Trần lôi trong xắc ra một lô những hộp thuốc bổ:

– Tao gởi chị Hiếu đi Huế mua cho mày mấy hộp thuốc bổ máu với lại bổ đủ thứ nữa đây, chị Hiếu gởi cho mày bịch thuốc lá, mấy hộp sữa, khăn mặt, với lại bàn chải, thuốc đánh răng. Chả là mấy lúc mày lên trên tao, chị ấy thấy mày ở bẩn

quá mà gì, còn đây là gói kẹo chanh Quý nó gởi cho mày, mẹ nó vừa mới lên thăm mang lên cho nó.

Huỳnh sực nhớ: “Quý đâu, Quý ở đâu, sao nó không đi với mày?”

– Nó buồn lắm vì không được đi theo tao về thăm mày, nó phải ở lại cơ quan, lần này tao có đi công tác đâu mà nó đi theo. – Trần mỉm cười chua chát – Mai sớm tao phải về phân khu, có lệnh ở Mặt trận bộ gọi tao về vì Đảng thấy có một cái gì trục trặc trong bộ óc tao cần phải chỉnh đốn lại, cái đó đang ở trong này đây này.

Trần chĩa ngón tay trỏ làm một cử chỉ ngoáy vào thái dương, nhìn bạn, đôi mắt sáng ngời một vẻ kỳ quái. Lúc bấy giờ Huỳnh mới kịp nhìn kỹ nét mặt của Trần. Mới có hơn nửa tháng mà gặp lại trông Trần gầy tóp hẳn đi, lưỡng quyền nhô lên trông thấy, da mặt Trần vốn trắng trẻo bây giờ xanh xao và hơi tái, miệng chàng thường ngày tươi, môi đỏ và mướt như môi con gái giờ đây nhợt nhạt phảng phất một nét chua cay nơi khoé miệng. Đôi mắt đen láy của chàng thường rất trong sáng vui vẻ dưới ánh nến, đêm nay ánh lên một tia lửa khác thường, như bị nung nấu bởi một ý nghĩ gì thật ghê gớm, thật khích động.

Trần đứng trước mặt Huỳnh, thân hình gầy và cao lớn thẳng tắp, đôi mắt quắc lên nhìn Huỳnh chằm chặp.

Huỳnh điềm đạm đưa tay kéo Trần ngồi xuống:

– Có chuyện gì đó? Hãy ngồi xuống đây đã; được rồi, như thế đó; khoan, hãy gượm, còn cả đêm dài để mày kể cho tao nghe. Tao nghĩ mày chưa ăn uống gì cả, trông mặt mũi bơ phờ thế kia, mày lại cũng chưa chào hỏi bác Thị gì cả. Chúng mình đi xuống nhà ngang cho mày chào bác và kiếm cái gì cho mày ăn. Bác ấy nhắc mày luôn đấy, bác thật tốt, tao chóng lành mạnh là nhờ bác ấy, à có tiếng guốc của bác ấy đi lên, chắc bác ấy nghe tiếng mày rồi, đấy tao nói có sai đâu.

Thưa bác, Trần nó mới về đó bác ạ, gớm trông ông ấy mệt dài người ra chắc ông ấy đói lắm đó bác.

Bà Thị tỏ vẻ mừng vui, bà hỏi han Trần:

– Con đi đường yên ổn chứ? Nghỉ tí cho khỏe rồi bảo dọn cơm ăn, đường sá có dễ đi không con?

– Thưa cô cũng vậy thôi, con phải chờ chạng vạng tối mới đi được qua các đồn bót, nên mới đến nhà vào giờ này đấy chứ, vì sáng mai sáu giờ con đã phải đi cho đến trạm liên lạc.

Bà Thị than thở: “Chả biết đi làm nên vương nên tướng gì mà bao giờ cũng thấy vất vả, mới về ngồi chưa ấm chỗ đã nói chuyện đi, ông Thị nhà này cũng vậy, lâu lắm mới thoáng về, về đến nhà là y như rằng một chân bước vào, hai chân bước ra, rồi lại đi biền biệt.”

Trần đứng dậy đến soạn đồ trong xắc vừa nói:

– Con vừa gặp dượng hôm nọ bên tỉnh, dượng vẫn mạnh, có lẽ dượng cũng sắp về thăm nhà đấy. Con về thấy Huỳnh đã khá con mừng lắm. Cô lo cho nó quá như thế này đến khi lành mạnh nó cũng dông mất mặt, cả năm chưa chắc nó đã trở lại thăm cô được lấy một lần, thì cũng như dượng và cháu ấy thôi, đàn ông con trai chúng cháu bây giờ bạc bẽo như nhau cả cô ạ.

Chàng cầm một cái khăn tắm đi đến bên cô, ôm vài bà, giọng mơn trớn:

– Chỉ tội cho cô ngồi ở nhà mãi thương và lo cho những kẻ vô tích sự như chúng cháu mà thôi, cô nhỉ?

Bà Thị cố giấu cảm động, cười mắng yêu cháu:

– Thôi đừng nịnh, bây giờ con đi tắm đấy à?

– Vâng, con đi tắm một lát, người con đầy bụi, cô bảo sắp cơm để sẵn đấy cho con nhé.

Trần quay sang Huỳnh: “Tao đi tắm cái đã, chờ tao một tí, đừng ngủ quên, tao cần nói chuyện với mày đêm nay.” Huỳnh mỉm cười yên lặng. Trần xách khăn đi thẳng ra ngoài, bà Thị nói vói theo:

– Mới đi về mệt không nên tắm lâu con nhé, liệu phiên phiến mà vào ăn cơm.

Bà quay lại Huỳnh lắc đầu:

– Trong tất cả các cháu của tôi, nó là đứa có tình nhất đấy anh ạ, tôi thương nó nhất. Bà chị dâu của tôi là mẹ nó ở trong Huế cứ mỗi lần tôi vào là hỏi nó rồi khóc, chị ấy già yếu lắm rồi, không đi ra ngoài này mà thăm nó được, cụ cứ lo chết không thấy lại mặt nó. Tôi an ủi cụ mãi, bảo là có tôi trông chừng nó ở ngoài này, không sao đâu. Chị ấy cứ than thở không biết bây giờ con ra sao, có cực khổ lắm không, có đau ốm không, rằng có sao đi nữa thì cũng chỉ một mình, không thể có cụ một bên. Mà cũng thật vậy anh ạ, đó với đây ngó thì không xa mà trắc trở nhiều bề. E phải chờ đến khi nước nhà độc lập mọi người mới thấy được mặt nhau anh Huỳnh nhỉ?

Huỳnh khẽ gật đầu:

– Vâng, có lẽ rồi cũng phải vậy chứ sao thưa bác.

Bà Thị kể lể: “Anh chị tôi chỉ có nó là con trai, chị nó đã đi lấy chồng, cũng nên danh phận với người ta. Anh tôi mất lâu rồi, chị ấy xin mấy đứa cháu ngoại lớn về ở với chị cho vui nhà, cho đỡ vắng vẻ, anh tính, cả tòa nhà rộng mênh mông bà cụ vô ra có một mình, cụ ước ao cưới vợ cho con trai, để có cháu nội cho đầy nhà đầy sân, mà nó thì đi như vậy biết bao giờ về, ấy thế mà cụ đã lo chọn con dâu rồi đấy.”

Chợt nhớ ra, bà quay đi, vội vàng: “Ấy quên, tôi đi lo cơm cho nó chứ.”

Còn lại một mình, Huỳnh ngả người xuống giường, anh nghe tiếng giội nước ào ạt của Trần từ ngoài giếng, nhớ lại nét mặt xanh xao, giọng nói cay đắng của bạn khi nãy, có một cái gì như một cơn gió lạnh lướt qua, một điều gì bất ổn như tiếng giông nổi dậy xa xa sau giấc ngủ buổi chiều, khiến anh cảm thấy tâm trí bàng hoàng.

Cho đến bây giờ Trần đã được cuộc đời đãi ngộ xứng đáng, chàng đi vào đời sống kháng chiến này như một đứa con cưng, mọi cánh tay đều đưa ra chào đón nồng nhiệt, con đường chàng đi thênh thang, tuổi trẻ làm cho chàng dễ dàng vui sướng, nắng mưa dãi dầu gian lao nguy hiểm là men say của cuộc đời dậy lên mùi mật ong ngây ngất.

Những nơi chàng bước chân qua, tất cả mọi thứ, đời sống, con người, loài vật, côn trùng, cỏ cây, cho chí những sự việc nhỏ nhoi tầm thường nhất cũng gây cho Trần những khích động không lường được, tất cả mọi thứ dưới mắt Trần đều mang một sắc thái riêng biệt, lạ lùng, mới mẻ, đáng say mê.

Chàng gia nhập đảng Cộng sản với tất cả tấm lòng nhiệt thành đam mê lý tưởng, một lý tưởng chân xác vươn đến sự toàn bích của loài người. Lý tưởng đó mở ra cho chàng thấy một tương lai huy hoàng, ở đó con người không còn đói khổ, không còn những kiếp sống đọa đầy. Ở đó con người thảnh thơi cả tâm hồn lẫn thể xác, tự do như gió bay khắp đất trời, ở đó mọi người thương yêu nhau, tôn trọng lẫn nhau. Trí tưởng tượng phong phú của Trần với tâm hồn nghệ sĩ thoát thai từ đất trời của một kinh đô hoang tàn nếp cũ, vẫn còn đầy ắp trong hồn chàng, điệu ca Nam Ai não nuột trên giòng sông thắp nến nửa khuya, vẫn còn phảng phất trong hơi thu, bóng người xưa trên tòa thành cổ, mùi xạ hương xống áo giai nhân quấn quýt trong bóng rồng bay nếp hoàng bào của đấng quân vương thi sĩ.

Kinh thành Huế mà ở đó Trần đã được sinh ra và lớn lên đầy rẫy những truyền tích hoang đường lãng mạn kiêu sa, đầy những bóng ma vương giả, dĩ vãng vất vưởng trên đầu mỗi ngọn cây, mỗi bức tường xám sậm, trong những đền đài lăng miếu rêu phong.

Khi Trần ra đi chàng mang theo tất cả những hình ảnh đó, chàng ôm đồm một cách tham lam gắn chặt trong tim trong máu. Trong cuộc đuổi bắt tương lai hiện giờ, chàng những toan tính nối liền tình xưa, khơi thông nguồn lưu luyến tình sau, cũng bởi hồn chàng quá trẻ trung thuần khiết, tình yêu con người trên quê hương chàng sau trước khôn cùng. Tuy bề ngoài Huỳnh đối với bạn thật trầm tĩnh, lối cư xử mạnh mẽ cứng cỏi của tình bạn trai nhưng trong thâm tâm Huỳnh vẫn dành cho Trần một tình cảm nâng niu gìn giữ, Huỳnh muốn cho những ảo tưởng tuyệt vời của tuổi trẻ giữ cho bạn anh nghị lực cần thiết để vượt qua bước khó khăn này. Anh càng thương yêu lo lắng cho bạn nhiều hơn nữa khi anh nhìn lại tâm trạng rách nát của mình. Còn có gì nữa đâu, đến đây anh đã trắng tay rồi, nào chí bình sinh, nào tiền đồ dân tộc, giơ tay lên mà đếm, biết khóc cười chưa được ba mươi năm, cuộc sống này anh trót nhìn quá rõ, trót biết quá nhiều, biết để ê chề đau đớn, thấy mình vô duyên như một gái điếm về chiều. Anh còn có mặt nơi đây chỉ do chút lòng kiêu hãnh với chính mình, những cuộc xông pha nguy hiểm không còn mang ý nghĩa tốt đẹp của phụng sự, dâng hiến nữa, mà là một chứng tỏ với chính mình để thấy mình hiện hữu, để xoa dịu đau thương chất ngất.

Và còn có một tình yêu, một khuôn mặt đằm đằm ân sủng vẫn hiện về trong những giấc mơ như một loài hoa quý, loài hoa mang tên của nàng, loài hoa mang tên Lan. Lan đó, Lan từ thuở nào xa lắc, mới đó mà như đã ngàn năm, Lan mà đôi mắt mở rộng đăm đăm nhìn Huỳnh, đôi mắt dõi theo Huỳnh trong những năm tháng phiêu bồng, mải miết đi tìm những cái hư phù ảo ảnh, nước mắt nào xưa như những giọt sương mai, tưới lên tâm hồn dày dạn đắng cay này. Giờ đây, giữa cuộc đời đen bạc, giữa cơn sốt đêm trường chỉ còn vị mặn chát của nước mắt người yêu lần hẹn gặp cuối cùng. Gần hai năm nay Huỳnh không được tin tức gì về nàng nữa, chỉ nghe phong phanh nàng đã theo gia đình đi về miền Bắc xa xôi. Khoảng không gian vọng tưởng càng thêm rộng lớn mơ hồ, có lúc anh tưởng như đã quên mất nàng; thời gian trôi qua với những chán chường ghê tởm lũ mặt người giả nhân giả nghĩa chia chác quyền lợi đảng phái, cá nhân trên xác mỏi mòn của người mẹ quê hương, nỗi quằn quại đớn đau không lối thoát trước thực tại phũ phàng.

Giờ đây Huỳnh chỉ còn cưu mang một thân thế phù du đâm đầu vào lửa bỏng rát, thấy rõ hố sâu dưới chân mình ngàn vạn xác thiêu thân mà không thể nào lùi bước, còn mong gì gặp lại một đôi mắt, một khung trời. Dần dần hình ảnh nàng chỉ còn thoáng hiện trong những cơn mê héo úa của tâm hồn, chỉ còn đôi mắt chong chong phủ mấy tầng sương khói, chắp cho hồn anh đôi cánh mỏng manh, một thoáng quên đời. Anh đâm ra tin rằng Lan không hề có thật. Những ngày êm đềm xưa kia cũng không hề có thật.

Tất cả chỉ là giấc mơ. Những gì đẹp đẽ trong đời chỉ có thể có trong giấc mơ mà thôi.

Cả mẹ già mà ba năm nay anh bỏ quên trong nhà nhỏ ở khu xóm ngoại ô của một thành phố miền biển cũng vậy. Người mẹ suốt đời chiu chắt cho bầy con không hề biết sướng vui là gì.

Anh lớn lên mang thân thể trẻ trung rời bỏ căn nhà của mẹ, một mình đuổi theo những đám mây ngũ sắc cuối trời, đi qua những đoạn đường giông bão, cuộc đời cho anh vị đam mê hung hãn cũng như rứt đi của anh từng miếng tim gan, cho tới khi gót rỗ phong trần, những đêm mưa nằm ở góc rừng heo hút đưa tay lên vuốt mặt cày lõm nếp đau thương, mái tóc chưa quá ba mươi đã điểm nhiều sợi trắng, mẹ bây giờ gặp lại con nào biết là ai.

Đứa con đã trở thành kẻ lạ, lạ với chính mình, lạ với quê hương xứ sở, lạ với người mẹ thân yêu.

Bây giờ chỉ còn lại cơn mơ, Huỳnh đã tìm về mẹ trong cơn mơ để thấy lại:

“Hỡi mẹ mà đi học.
Con tỉ tê áo lành
Giọt tủi thầm rơi trên bậc cửa,
Mẹ cười vui vẻ hẹn sang năm…”

Nghĩ đến mẹ Huỳnh bỗng cảm thấy bứt rứt xốn xang. Mẹ, hỡi mẹ yêu dấu, nơi xa kia mẹ nghĩ gì về con trai mẹ? Mẹ hãnh diện vì có con ra đi cứu nước ư? Con biết nói sao cùng mẹ, biết nói sao cho mẹ hiểu.

Huỳnh nhổm dậy, anh quơ tay như gạt đi một vật gì vô hình trước mặt, anh châm một điếu thuốc, rít một hơi dài, thở khói ra cuồn cuộn, mắt anh đỏ ngầu dữ tợn, anh vụt quăng điếu thuốc xuống đất, đứng dậy lấy chân dí lên một cách hằn học.

Có tiếng guốc mộc của Trần đi lên, nét mặt Huỳnh dịu lại, anh vẫn đứng yên, quay về phía cửa chờ đợi.

Trần bước vào, tươi sáng trẻ trung:

– Hương hoa cau ngoài giếng thật tuyệt vời mày ạ, nhất là vào giờ này, không hiểu tại sao chỉ bên bờ giếng hương hoa cau mới thật thanh khiết dịu dàng, có lúc như có, có lúc như không, khiến mình phải khát khao tìm kiếm, tao tưởng như đang được tắm nước giếng có tẩm hương hoa vậy. Khi nào tao chết chỉ mong được người ta tắm rửa xác mình bằng nước giếng có mùi thơm hoa cau mà thôi.

Huỳnh vẫn đứng yên chỗ cũ:

– Ý kiến hay đấy.

Trần lấy trong xắc ra chiếc lược chải sợi tóc ướt xõa xuống trán:

– Tao chắc linh hồn mình khi ấy sẽ nhẹ lâng lâng.

Huỳnh mỉm cười nghĩ đến bọn Hoàng, Bửu, Hồ, Phong nghịch ngợm cãi vã nhau về chuyện linh hồn hôm nọ.

Anh giục Trần: “Thôi đi ăn đi kẻo bác Thị đợi mày dưới nhà.”

—->Chương 6

This entry was posted in Nguyễn Thị Thanh Sâm, Truyện dài - Tiểu thuyết and tagged , . Bookmark the permalink.