NHỮNG BẬC THẦY CỦA TÔI (Xuân Vũ): Phần III-Chương 18..Hết

Phần III- tiếp theo

xuanvu_1972CHƯƠNG XVIII

CÁ TÁNH CỦA NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN TÀU

Truyện phải có nhân vật. Nhân vật là động cơ đưa câu chuyện đi tới. Đây là vấn đề lớn nhất trong truyện. Nhân vật có ba phần: lai lịch, hình dáng và nội tâm. Tôi không lấy đâu xa, loanh quanh trong cái tủ của tôi… truyện Tàu. Xuyên qua các nhân vật đó, tôi thấy rõ ba vấn đề trên.

Từ truyện Tây Du: Tam Tạng, Hành Giả, Bát Giái, Sa Tăng. Từ truyện Tam Quốc: Lưu Bị, Trương Phi, Quan Công, Tào Tháo, và một số nhân vật của các truyện khác.

Tôi không phải là nhà bình luận, tôi chỉ lấy tư cách độc giả, và thấy hay hay, ngồ ngộ thì viết cho vui vậy thôi, chớ không dám chắc nó là đúng.

Nhân vật Tam Tạng: hình dáng phương phi, khôi ngô lạ thường, ít thấy ở người khác. Vì ông là cốt tu đã chín đời. Đời này nữa là đủ mười kiếp, sắp trở thành Phật, nên mới có dung mạo kỳ vĩ như vậy. Đặc biệt một miếng thịt của ông, ăn vô sống ngàn năm, còn hơn cả linh đơn của Thái Thượng Lão Quân, vì thế mà nữ yêu mê lắm. Con trai còn trinh mười kiếp mà! Nếu dụ dỗ làm chồng không được, thì sẽ hầm ăn, bổ khỏe biết bao nhiêu. Do đó mà tai nạn xảy đến liền liền. Hết yêu tinh đến nữ chúa, đàn bà góa mê mệt. Suýt làm đám cưới hai ba lần . Khi đến Tây Lương Nữ Quốc, thì nữ vương sẵn sàng nhường ngôi để làm hoàng hậu của Ngài.

Đó là về phần hình thể, còn về tâm lý thì: Tuyệt đối trung thành với Phật giáo, nhất quyết đi đến Tây phương thỉnh kinh về Đường bang. Dù bị hăm dọa, mua chuộc cũng không lay chuyển được.

Nhưng ông có tánh ngây thơ, không biết suy xét nhận định Chân và Giả, tưởng ai cũng tốt như mình, cho nên yêu tinh dễ gạt. Chúng hóa kẻ mắc nạn, bày ra cảnh Phật để lừa, là y như rằng ông ta dính bẫy. Đã ngây thơ lại không nghe lời Hành Giả, nên suýt bị hầm tương mấy lần. Nếu không nhờ Hành Giả thì có đâu đi tới nơi về tới chôn.

Tam Tạng tượng trưng cho chính nghĩa và đạo đức.

Nhân vật Hành Giả: cốt là khỉ, tánh tình thẳng thắn, khôn ngoan, trung thành với thầy và đạo, nhưng cũng rất bẳn tính, không chịu rầy rà. Nhiều lần bỏ Tam Tạng về Thủy Liêm động vui thú với bầy con cháu trong rừng. Có 72 phép thần thông. Từng khuấy động Diêm Đình lẫn Thiên Đình. Từng chui vô bụng bà La Sát để mượn quạt Ba Tiêu quạt tắt núi lửa. Lập công đầu trong cuộc thỉnh kinh. Cuối cùng thành Phật.

Hành Giả tượng trưng cho lòng can đảm và chính trực.

Nhân vật Trư Bát Gỉáỉ: Trước đây ở trên nhà trời làm chức Thiên Bồng nguyên soái. Một đêm có tiệc, họ Trư say sưa nên chọc ghẹo Hằng Nga, và bị đầy xuống trần gian, chờ Tam Tạng đi qua xin làm đệ tử để đái công chuộc tội. Dù theo thầy Tam Tạng thỉnh kinh, nhưng lòng trần chưa dứt, chỗ nào hưởng lạc được là họ Trư ló mòi ngay. Có lần thấy các tiên cô (giả) tắm dưới suối, họ Trư bèn nhẩy xuống nước, hóa ra con cá leo chui qua chui lại những cặp đùi ngọc của các nàng. Có lần ăn trộm nhân sâm của nhà chùa, trong khi Hành Giả và Sa Tăng còn đang nhấm nháp, thì họ Trư đã nuốt trộng, nên không biết mùi vị ra sao. Lần nào bị yêu tinh hóa ra gái đẹp nhử họ Trư cũng nhào vô, bị dính bẫy.

Khi lên đến Tây phương, Phật tổ phong chức Bồ Tát cho Tam Tạng và Hành Giả thì họ Trư kỳ kèo trả giá. Phật tổ bảo: Cái chức Kim Thiền La Hán của ngươi coi vậy mà ngon. Ai đem của cúng tới chùa, ngươi đều hưởng hết cả! Thế là họ Trư quạt tai, thích chí, không kèo nài nữa.

Trư Bát Giái cốt heo, tượng trưng cho sự ham mê vật chất và suy xét nông cạn.

– Nhân vật Sa Tăng: cốt là thủy quái, không rõ con gì. Cổ đeo chín cái sọ người, tượng trưng cho ba phải. Bát Giái nói cũng nghe, mà Hành Giả bảo cũng gật. Có công gánh hành lý mười ba năm trường. Và cũng được phong chức ngang họ Trư, nhưng y không kèo nài gì.

Cá tánh đẻ ra ngôn ngữ và hành động. Cùng trong một hoàn cảnh, nhưng mỗi nhân vật có phản ứng về hành động và ngôn ngữ khác nhau.

Thí dụ: Khi Phật tổ phong chức La Hán cho Bát Giái thì y kèo nài:

Đệ tử có công lớn trong việc thỉnh kinh. Đệ tử đã thay thế con khỉ ốm ba lần, trong lúc nó bỏ thầy mà đi du hí. Đệ tử ủi 800 dặm đường Thất tuyệt. Nếu không có đệ tử, thì cả đoàn không qua ngọn núi đó được. (Đây là đoạn đường kỳ lạ: cả dãy núi bị lá cây và trái rừng rụng phủ kín, lội vào thì ngập đến đầu. Bát Giái phải hiện nguyên hình là họ Trư, cao lớn như núi, ăn một lúc 800 gánh cơm. Ăn xong, kê mõm ủi thành con đường dài cho Tam Tạng cưỡi ngựa đi qua. Do đó, Bát Giái kể công với Phật tổ, và đòi chức cao hơn).

Khi nghe Phật tổ nói đến sự hưởng thụ của cúng thì họ Trư im ngay. Đó là cá tánh của nhân vật. Tác giả thể hiện Tất tài tình qua suốt câu chuyện. Đặc biệt là việc kèo nài với Phật tổ. Sa Tăng cũng nhận được chức ấy, mà không so bì chi cả.

Cũng trong vấn đề cá tính nhân vật, để cho rõ hơn tôi xin thêm Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi: Đây là bộ ba Đào viên kết nghĩa. Ai đã từng xem Tam Quốc Chí cũng đều say mê ba nhân vật này. Thậm chí, có nhiều người không hề đọc trang nào mà cũng biết cá tánh của ba ông. Thí dụ: Để chỉ một người có tính nóng, bà con ta thường bảo:

– Cái thằng đó như Trương Phi! – Hoặc gọi hẳn anh A anh B bằng cái tên Trương Phi.

Còn con nít khóc hoài, dỗ không nín, bà mẹ đổ quạu nói:

– Cái thằng… sao mà khóc như Lưu Bị v.v…

Riêng về Quan Công thì đã trở thành thần tượng trong đời sống của dân Trung Hoa lẫn dân Việt Nam. Người dân tôn thờ Ngài như một vị thánh, gọi Ngài bằng “Ông” chớ không dám gọi tên. Những gánh hát có diễn tuồng về “Ông”, đều thờ cúng trang nghiêm. Người kép nào đóng vai “Ông”, trước khi ra tuồng phải đến vái trước tượng thờ “Ông”.

La Quán Trung, tác giả bộ Tam Quốc Chí đã mô tả cá tính của hàng trăm nhân vật trong truyện một cách tài tình. Khi viết được ít lâu, tôi mới thấy vấn đề cá tính. Và bây giờ càng thây rõ hơn nữa.

Những câu nói và sự việc tôi vừa kể trên đây, chứng tỏ nhân vật của La Quán Trung không chỉ có tên, mà còn có cả con người, hoạt động và suy nghĩ mỗi người một cách, không nhân vật nào giống nhân vật nào về diện mạo cũng như về nội tâm.

Hãy xem lại từng nhân vật một: Trương Phi.

Ông Trương nóng nẩy lạ lùng, trong các truyện Tàu không có một ông tướng nào nóng đến như ông. Ra trận không cần mặc giáp bào chi cả, và cũng không đội mũ mão gì hết. Chức tước được phong, ông cũng không biết đó là chức tước gì, cứ xưng là “Trương mỗ”!

… Khi Lưu Bị cầu hiền, tam cố thảo lư, ba lần đến Ngọa Long Cang, lần nào cũng không gặp. Lần chót gặp được thì Khổng Minh đang ngủ, tiểu đồng ra bảo Lưu Bị đứng chờ. Lưu Bị kiên nhẫn chờ mãi, nhưng Khổng Minh cũng không chịu thức dậy cho. Trương Phi bèn gầm lên: “Cái thằng cha gàn đó tài cán gì mà làm cao vậy? Để đệ lấy sợi dây thừng buộc trâu trói quách nó xách về cho đại ca!”

… Khi đánh nhau với quân Tào Tháo, quân Lưu Bị lâm nguy, bị đuổi tới Đương Dương Trường Bản kiều, Trương Phi được giao cho giữ mặt trận này, thấy bị bao vây, bèn giở cẩm nang của Khồng Minh ra xem quân sư mách bảo kế gì. Mở tờ giấy ra thấy trắng toát, chẳng có mưu kế gì cả. Phi tức giận, hét lên một tiếng như trời gầm. Cây cầu bỗng nhiên rung rinh rồi sập tan đổ xuống sông. Đó là do sự chỗi dậy của con rồng dưới đáy sông. Nó tưởng sấm sét nhà trời rước nó, nên bay lên làm sập cầu. Quân Tào đang trên cầu rơi xuống sông chết hết, còn đám đang đi tới thì sợ hãi, hoặc không có đường qua sông, nên.ử. tháo lui. Từ đó, trận nào nghe Trương Phi hét, quân Tào đều chạy vỡ mật.

Tính nóng của Trương Phi thể hiện cả trong giấc ngủ và cái chết. Trương Phi ngủ ngồi chớ không nằm như người thường. Đặc biệt là đôi mắt mở trừng trừng rnà ngáy như sấm. Ai không biết, tưởng ông đang thức.

Lần nọ, Quan Công bị quân Ngô gài bẫy, sụp hầm và bắt giết, Trương Phi nóng lòng trả thù cho anh. Chư tướng khuyên can “dục tốc bất đạt”, nhưng ông không nghe. Giữa mùa đông rét mướt ông vẫn ra lệnh tiến quân. Binh sĩ cần đồ ấm, ông ra lệnh cho thợ phải may xong trong bẩy ngày, nếu không xong, ông sẽ chém đầu. Làm thế nào may xong cả vạn bộ đồ trong mấy ngày? Hai anh thợ bèn bàn nhau: “May không xong thì phải chêt! vậy ta chỉ có cách là giết hắn, họa may sống được chăng?” Thế là hai anh thợ vác kéo dao, ban đêm chui vào dinh Trương Phi, giết chết ông tướng nhà ta.

Một vị tướng đã từng làm cho quân thù vỡ mật, lại chết về tay anh thợ may, lãng nhách! Không có ông tướng nào chết vì tính nóng như Trương Phi.

Lưu Bị thì hoàn toàn ngược lại, trầm tĩnh, nguội lạnh, lấy nhơn đức đãi người. Khóc và khóc. Nhưng cái khóc của Lưu là cái khóc nhân nghĩa, cái khóc được nhà lợi nước, cái khóc của một trang hào kiệt.

Cá tính của Quan Công thì khác hẳn.

Ông là người nghĩa khí, trung trực, một đấng trượng phu, không thấy có nhân vật nào sánh bằng.

Ông dùng cây Thanh Long đao, có miếng “đà đao” rất ác hiểm. Khi ra trận, muốn giết nhanh tướng giặc, ông đánh chơi vài hiệp, rồi quay Xích Thố bỏ chạy. Tướng giặc đuổi theo, ông kéo sệt cây đao dưới đất, rồi bất thần vung trái lại, đầu giặc rơi liền.

Ông có tánh rộng lượng, “Hạ mã bất sát”, nghĩa là tướng giặc nào biết mình thua tài xuống ngựa là ông không giết.

Về việc tiền tài và nữ sắc, thì ông càng tỏ ra thanh khiết. Khi thất thủ thành Hạ-bì, quân ta tán loạn, ông phò hai người chị dâu chạy trốn sang đất Tào Tháo. Tháo biêt ông là nhân tài, nên đối xử rất trọng hậu, tâu lên vua phong cho tước hầu (Hán Thọ Đình Hầu). Bẩy ngày đại tiệc, ba ngày tiểu tiệc. Gió bấc sợ râu ông rụng, Tào may túi gấm cho ông bao râu. Vàng bạc chu cấp vô số kể. Nhưng ông vẫn khăng khăng một dạ thủa Đào-viên kết nghĩa: “Khi nào nghe tin anh tôi (Lưu Bị) ở đâu, tôi sẽ trở về” .

Tào Tháo ác ý, cho ông ở chung nhà với hai chị dâu, để gây tiếng xấu, làm tan vỡ cái nghĩa Đào Viên. Nhưng đêm đêm ông đứng ngoài thềm, tay cầm bó đuốc. Đứng cho đến sáng, mới vào vấn an hai chị.

Về việc cầm đuốc để tỏ lòng trang chính, tôi nhớ chỉ có hai người được sử sách ghi: Đó là Quan Vân Trường đời Hán Liễu Hạ Huệ đời Châu.

Khi được tin Lưu Bị, ông lập tức vào thưa với Tào Tháo xin đi. Tào Tháo ngăn cản, năn nỉ thế nào cũng không được, nên đành phải để ông đi. Trước khi dời dinh, ông niêm phong tất cả vàng bạc, đem trả lại cho Tào.

Ngày còn thơ, tôi cũng có đọc Tam Quốc cho Ông Cụ tôi nghe, nhưng tôi không mê lắm, vì nó không có đánh phép. Nhưng sau này, nhất là bây giờ, tôi đọc lại Tam Quốc thì yêu các nhân vật trong truyện bao nhiêu, tôi càng phục tài La Quán Trung bấy nhiêu.

Tôi không có đọc nhiều sách dịch Tây, Mỹ. Tôi cũng không hiểu tại sao. Tôi cho rằng truyện Tàu là truyện hay nhất trong văn học thế giới.

Cái niềng kim cô của Hành Giả có kém chi gót chân thần thoại của Achille, Khổng Minh Tọa Lầu không thể sánh với con ngựa thành Troie hay sao?

Khi ra miền Bắc, được gặp gỡ các nhà văn tiền bối tôi thường nghe cách bàn luận về cá tính của nhân vật thường thường là lấy các nhân vật trong tiểu thuyết lớn hiện đại, như Sông Đông Êm Đềm, Bão Tố, Paris Thất Thủ v.v… Tôi rất lấy làm thích. Đó là những bài học rất sống, giúp ích cho nghề mình. Một hôm tôi đi ăn ở một tiệm người Tàu ở Hàng Buồm, bước vào tiệm, trong cái không khí âm u, tôi chợt thấy bức tranh treo trên ngưỡng cửa buồng. Qua làn khói hương nghi ngút, mờ hiện bức tượng Quan Ngài.

Ông ngồi giữa, bên phải của ông là Quan Bình, bên trái là Châu Xương tay cầm cây Thanh Long đao dựng đứng. Đó là hình ảnh quen thuộc của tôi thủa bé.

Từ hôm đó tôi nhớ lại những “hồi” trong truyện Tam Quốc, rồi nhớ đến cá tính của nhân vật trong truyện. Cá tánh tức là tánh tình của một con người… Những nhân vật kể trên không thể lẫn với ai khác.

Xây dựng một nhân vật có cá tánh như đã kể trên là một việc khó khăn. Tác giả phải có bản lãnh cao. Tôi vừa đọc lại bộ truyện Tam Quốc tám quyển, tôi càng thấy La Quán Trung quả là một tiểu thuyết gia vĩ đại nhất hoàn cầu. Theo sự hiểu biết của tôi, không có truyện nào sánh được với Tam Quốc Chí. Tôi có cảm giác đứng bên cạnh La Quán Trung, hầu như tất cả nhà văn đều trở thành những chàng lùn.

Nếu bạn chưa từng gọi ai là: Cái thằng nóng như Trương Phi, thì cũng như từng nghe: cái thằng đa nghi như Tào Tháo. Nhân vật Tào Tháo, nói về mặt nghệ thuật, cũng hay như bộ ba Lưu Quan Trương. Tào Tháo cũng bước từ trang sách ra ngoài đời như Lưu Quan Trương, nhờ cái cá tánh đa nghi.

Đây tôi xin chép ra cái tánh ấy của họ Tào:

Khi đánh nước Ngô không thành, ba quân hao hớt, lòng dân bất phục, họ Tào tiến thối lưỡng nan. Một buổi chiều, anh nấu bếp dâng lên bát bún thang, trong đó có cái gân gà. Vừa gặm, Tháo vừa ngẫm nghĩ: ‘Tại sao hắn lại cho ta ăn gân gà?”

Bụng sinh nghi, bèn cho đòi mưu sĩ là Âu Dương Tu lên hỏi ý. Tu thưa rằng: Đó là hắn ta có ý nói, đất Ngô như cái gân gà, ăn không dô mà bỏ thì uổng. Tháo thấy Tu nói đúng tim đen mình, nên giật mình. Còn Tu hơi tự cao, về đến trại đồn om lên là ngày mai sẽ rút quân. Tháo cho người kiểm soát quân lính, thấy ai cũng chuẩn bị cuốn gói. Sợ Âu Dương Tu mưu phản, nên hạ lệnh chém ngay, với tội làm rối loạn lòng quân.

Tháo mắc bịnh nhức đầu, cho mời danh y Hoa Đà tới để chữa trị. Hoa Đà là người đã từng chữa bịnh cho Chu Thái là tướng nhà Ngô, và Quan Công là tướng nhà Thục. Hoa Đà chẩn mạch xong, thưa rằng Tào Tháo có cái u trong óc, phải bổ sọ ra, mổ óc cắt cái u đi mới khỏi, còn uống thuốc, không hiệu quả gì!

Tháo nghe xong nghĩ rằng Ngô lẫn Thục thuê Hoa Đà tới giết mình, bèn hạ lệnh bỏ ngục Hoa Đà cho tới chết. Do đó sách thuốc của Hoa Đà cũng mất luôn. Mà rồi sau Tháo không có thầy chữa cho, cũng chết vì bịnh nhức đầu.

Tháo nghi tất cả, không trừ ai. Triết lý sống của Tháo là: Thà ta phụ người, chớ không để người phụ ta! Do cái triết lý đó, Tháo đã giết nhiều tướng tá vô tội của mình.

Nói về cá tính của nhân vật, tôi nghĩ rằng khó có ai sánh bằng La Quán Trung và Ngô Thừa Ân.

Anh Tô Hoài bảo: Thường thường chúng ta dựng nhân vật chỉ có một nửa, nói rõ hơn, chỉ có cái xác, chứ không có cái hồn, hoặc có hồn xác mà không có cá tánh. Một nhân vật có ba phần, lai lịch, hình dáng và tâm lý: “Anh A ở đợ từ bé, khi chăn trâu anh ngã, bị trâu đạp nên hỏng một chân, phải đi khập khiễng. Anh ta mồ côi từ bé, nên ít ai gần gũi, thành ra có tánh cô độc.” Như thế là cậu đã cho một nhân vật ra đời. Nếu có nhân vật thứ hai, thứ ba thì các anh này phải khác đi, hoặc điếc hoặc nói ngọng chớ không nên đi khập khiễng nữa. Khi đưa lai lịch cá tính nhân vật thì cũng phải tùy hoàn cảnh cho nó xuất hiện, chớ không phải anh nào cũng đưa ra như chủ quán bày hàng, thứ tự cái này đến cái khác, và bày vào lúc sáng tinh mơ v.v. và v.v..

Về những điều dạy này, tôi đem soi ngay vào các nhân vật Tam Quốc, Tây Du kể trên, thì thấy rõ lắm. Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến một nhân vật có đời sống rất ngắn trong Tam Quốc, đó là Ngụy Diên. Đây là một dũng tướng của Tào Tháo về đầu nhà Thục. Khổng Minh nhận và phong cho làm Đại tướng ngay.

Nhưng dù trọng dụng, Người cũng để lại một cẩm nang về Ngụy Diên. Sau khi Khổng Minh qua đời, Ngụy Diên không phục ai hết và muốn đứng ra thống lãnh toàn quân nhà Thục. Các tướng không biết đối phó cách nào, bèn mở cẩm nang ra coi, thì Khổng Minh bảo Ngụy Diên có cái xương “phản cốt” sau gáy, sớm muộn gì hắn cũng phản Thục. Muốn giết hắn, phải làm thế này, thế này…

Nhân vật Ngụy Diên chỉ có một nét đó thôi, nhưng đã ưở thành một nhân vật khó quên cũng như Tôn Quyền: cậu bé râu tía. Chỉ một nét.

Hứa Chử hai tay cầm hai tên lính làm vũ khí, tả xông hữu đục. Cũng chỉ một nét.

Ngô Quận chúa trong phòng treo toàn binh khí, không có đồ trang sức. Nhân vật chính như Lưu Quan Trương, La Quán Trung tô vẽ rất công phu, nhân vật phụ chỉ cần chấm phá.

—>Chương 19

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Xuân Vũ. Bookmark the permalink.