NHỚ LẠI NHỮNG NGÀY Ở CẠNH TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM (Nguyễn Hữu Duệ)

ĐỨC TỪ CUNG HOÀNG THÁI HẬU

Tôi được đọc tác phẩm Mây Tần của nhà văn Linh Bảo, trong đó có bài Chiếc Áo Vua Ban. Chuyện này có nói về Đức Từ Cung, nhưng theo nhận xét qua những lần gặp ngài, tôi có cảm tưởng khác hẳn. Có lẽ những ngày còn nhiều quyền và ít tuổi, khác những ngày hết quyền và nhiều tuổi.

Cách đây mấy năm, nhân ngày giỗ Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm ở Orange County, tôi có gặp ông Tôn Thất Thiết, nguyên là chánh sở nội dịch của Tổng Thống Diệm. Gặp tôi ông mừng lắm, vì từ ngày đảo chính năm 1963, chúng tôi mới gặp lại nhau. Ông nói:

– Trước ngày sang đây, tôi có ra Huế chào Đức Từ Cung, thật ngạc nhiên khi đức Từ dặn: “Ông sang Mỹ, nếu có gặp ông Đại Tá Duệ tỉnh trưởng Thừa Thiên trước đây, cho tôi gửi lời thăm. Ngày làm việc ở đây, ông lo cho tôi nhiều lắm và rất quý mến tôi” .

Rồi ông Thiết tiếp:

– Lạ thật, trước anh có nhiều vị tỉnh trưởng, và nhiều người là hoàng tộc nữa, bà không thăm hỏi ai, mà chỉ nói với tôi về anh. Gặp anh đây tôi mừng quá. Nhân tiện, cũng chuyển lời của đức Từ đã nhờ tôi nói với anh (ông Tôn Thất Thiết hiện ở Orange County).

Ngày mới ra nhận chức ở Huế, tôi nói với ông chánh văn phòng tòa Tỉnh, là tôi muốn dành những ngày nghỉ đi thăm những thân hào nhân sĩ ở đây, để chào hỏi. Ông đã lập cho tôi một danh sách dài, gồm các vị lãnh đạo tôn giáo, và rất nhiều người có tiếng tăm ở Huế. Tôi không thấy tên Đức Từ Cung Hoàng Thái Hậu. Bèn hỏi lại ông:

– Tôi nghe nói ở đây còn có thân mẫu của đức Quốc Trưởng Bảo Đại nữa mà?

Ông trả lời:

– Vâng, đó là Đức Từ Cung Hoàng Thái Hậu. Tôi không để tên trong danh sách, vì các vị tỉnh trưởng trước đây ít người đến thăm ngài một cách chính thức. Có thể các vị đó đến riêng tư mà tôi không biết.

– Tôi muốn đến chào ngài, ông xin cho một cái hẹn vào cuối tuần nào cũng được. Mời ông phó tỉnh trưởng và cả ông nữa cùng đi với tôi.

Tôi còn hỏi thêm:

– Khi gặp bà thì tôi phải xưng hô làm sao?

– Ở đây ai cũng thưa với ngài là “Thưa đức Từ” hoặc “Tâu đức Từ. “

Bà nhận lời tiếp ngay vào cuối tuần sau, và đã được tiếp đón khá long trọng.

Khi chúng tôi đến cửa ngoài, có mấy vị trong hoàng tộc đón, trong đó có một bà vóc dáng mảnh mai, được giới thiệu là công chúa con đức Thành Thái, gọi là Mệ Sen, là bí thư của bà. (Sau này đánh mạc chược với mấy bạn người Trung, ai mó được cây nhị sách, đều gợi là Mệ Sen, vì bà bí thư gầy ốm như cây nhị sách). Khi vào đến cửa trong, thấy bà ngồi ở đầu ghế tràng kỷ đứng dậy. Không muốn bà rời ghế, tôi vội chạy lại, chào:

– Tâu đức Từ, con là Đại Tá Duệ mới được đổi ra làm việc ở đây, xin đến chào đức Từ. Kính chúc đức Từ luôn an mạnh.

Bà tỏ vẻ hài lòng, mời tôi uống trà, và nói chuyện vui vẻ lắm. Tôi thưa với bà là mới ra làm việc ngoài này, công việc còn bỡ ngỡ, nếu có gì không đúng, xin bà chỉ cho. Bà cũng nói là nếu cần liên lạc với tôi, bà sẽ nhờ Mệ Sen. Bà biết tôi còn mẹ già, nên gửi lời thăm.

Ít ngày sau, nhân rằm âm lịch, khi tôi đi làm về, thấy có trái cây để ở bàn, và một giỏ lớn bánh thẻ bài của bà gửi cho, được dặn đó là quà của bà gửi, để biếu cha mẹ tôi.

Bánh thẻ bài giống như bánh khảo ngoài Bắc, có mứt và vừng trộn lẫn, hình chữ nhật, có cắt sẵn từng thẻ, khi ăn thì tách rời ra. Đặc biệt, phong bánh nào cũng đóng ấn riêng của bà. Bánh này tôi gửi cho mẹ tôi, bà thích lắm. Phần vì bánh ngon, phần để khoe với bạn bè là của đức Hoàng Thái Hậu, mẹ vua cho, và cũng không quên chỉ cho họ xem dấu ấn riêng đóng ở giấy bọc ngoài.

Tuần sau đó, tôi đến cám ơn, bà giữ lại khá lâu để chuyện trò. Tôi hỏi thăm về Hoàng Đế Bảo Đại ở Pháp, bà cho biết vẫn được thư của ngài và ngài rất mạnh khỏe, chỉ phải cái ngài thiếu tiền, nên bà phải bán nhiều đồ cổ để gửi tiền cho ngài.

Tôi cũng phàn nàn là bà không có điện thoại, nên nhiều lần muốn đến thăm bà, phải cho người đến thưa trước, và rất sợ làm phiền bà. Bà trả lời:

– Ông tỉnh nghĩ xem (bà thường gọi tôi là ông tỉnh), tôi đâu có dư dả gì, cũng muốn có một cái điện thoại để liên lạc đây đó, nhưng nghe nói khó xin và đặt mắc lắm, ngoài ra còn phải tiền hàng tháng nữa.

Tôi thưa sẽ tìm cách giúp bà.

Khi về, tôi nói với ông phó tỉnh trưởng để cố gắng giúp bà mắc điện thoại. Nếu không có quỹ nào, cứ lấy ở quỹ của phủ Tổng Thống cho các tỉnh trưởng mà dùng. Khi có điện thoại, bà gọi ngay cho tôi và mừng lắm.

Bà vẫn có phụ cấp hàng tháng, tôi nhớ là 25 ngàn, được cấp cho bà từ hồi Tổng Thống Diệm.

Từ đó, bà rất thân thiết với tôi, mặc dầu biết là tôi đã từng làm việc với Tổng Thống Diệm, và được Tổng Thống quý mến. Có lần bà hỏi khéo tôi về Tổng Thống, tôi cũng thành thật thưa là tôi hết sức quý mến và kính trọng Tổng Thống về đức độ và thanh liêm của người. Tôi cũng nói thêm là trong thời gian ở gần Tổng Thống, tôi chưa bao giờ nghe ông nói điều gì bất kính với Hoàng Đế. Tôi còn kể cho bà nghe, một lần có phiếu trình lên Tổng Thống về việc dành một thửa đất cho bà làm lăng, Tổng Thống chấp thuận ngay.

Nhiều khi chính bà, hay Mệ Sen gọi, mời tôi dự những lễ giỗ của hoàng tộc. Ai ở Huế cũng biết việc cúng giỗ rất quan trọng, mà hoàng tộc thì bao nhiêu là giỗ. Riêng giỗ các vị Hoàng Đế cũng đã nhiều rồi. Tôi vì bận việc, nên ít đi dự. Tôi nhớ chỉ dự có ba lần, là giỗ đức Gia Long, đức Tự đức và đức Khải Định.

Có một kỷ niệm khó quên, là hôm giỗ đức Khải Định, tôi đến hơi trễ vì bận công tác. Khi vào đến tư dinh của bà, thấy có nhiều người đã đến trước tôi. Bà đón rất niềm nở, và giới thiệu tôi với mấy vị trong hoàng tộc.

Khi đến gần chỗ mấy bà khách, bà hỏi tôi:

– Chắc ông tỉnh biết bà trung tướng tư lệnh quân đoàn I, và bà thiếu tướng tư lệnh sư đoàn I rồi chứ?

Tôi thưa:

– Tâu đức Từ, con chưa được gặp mấy bà này.

Bà tỏ vẻ ngạc nhiên, đưa tôi lại giới thiệu với bà Trưởng. Tôi vội thưa:

– Thưa bà trung tướng, tôi ra đây đã khá lâu mà chưa có dịp đến chào bà. Khi vừa ra, trung tướng đã đưa ngay tôi ra Huế. Nhiều lần họp ở quân đoàn xong, tôi phải vội về ngay nên chẳng có dịp nào tới thăm bà.

Bà Trưởng đã trả lời hết sức nhã nhặn, khiến tôi không khỏi ngạc nhiên và kính nể:

– Chết, đại tá dạy quá lời. Đại tá làm việc với nhà tôi, chứ chúng tôi là đàn bà thì biết gì. Có điều nếu đại tá có dịp ra Đà Nẵng, mời đại tá đến thăm chúng tôi, thì tôi mừng lắm.

Rồi bà giới thiệu tôi với bà chuẩn tướng Điềm. Từ đó đến ngày mất nước, tôi không được gặp lại bà Trưởng. Cho đến ngày sang Hoa Kỳ, tôi có dịp đến thăm Trung Tướng Trưởng ở Washington D.C, nên mới có dịp gặp lại bà. Nhiều lần trung tướng và bà ghé thăm tôi tại San Diego.

Khi ăn cỗ giỗ, tôi ngồi với các vị trong hoàng tộc. Riêng đức Từ không ngồi ở bàn nào nhất định, mà đi hết bàn này tới bàn nọ mời mọc, tiếp đãi ân cần. Gặp tôi bà ghé tai nói nhỏ: “ông tỉnh tự nhiên nhé, tôi ăn chay nên ăn sau“. Cử chỉ thân mật của bà làm tôi cảm động. Nhìn một bà già ngoài 80 tuổi, người nhỏ bé, đi lại nhẹ nhàng một cách vương giả, tôi chợt nghĩ đến ngày nào bà không còn nữa, chắc hoàng tộc chả ai thay thế được.

Có một lần bà làm tôi bối rối, và khó xử hết sức. Một hôm, đích thân bà gọi điện thoại cho tôi, rủ đi lễ ở điện Hòn Chén vào ngày chúa nhật, để cầu phúc. Bà nhắc đi nhắc lại, ông cố đi với tôi vì tôi không có xe, và muốn cùng đi với ông.

Tôi thưa:

– Tâu đức Từ, con xin cố gắng đi cùng đức Từ, nhưng nếu có gì trở ngại bất thường, con sẽ trình lại đức Từ sau. Như đức Từ rõ, việc quân đội nhiều khi không tính trước được.

Bà nói:

– Nếu ông bận thì tuần sau cũng được.

Tuần ấy tôi không bận gì cả, và đến đón bà tại tư dinh. Tôi cũng nhờ ông quận trưởng Nam Hòa đón ở bến đò, để đi cùng đến điện Hòn Chén. Bà tỏ vẻ quen thuộc với phong cảnh trên đường đi, và chỉ cho tôi mọi thứ. Khi đến điện, thật không ngờ điện xây ở chỗ đẹp đẽ như vậy. Phong cảnh ở đây và xung quanh thật hữu tình. Ông quận còn kể cho nghe là vào ngày vía, có hàng trăm thuyền đến lễ, và ngồi đồng ngay trên thuyền, cộng với ngồi đồng nhiều nơi trên điện, sáng rực cả dòng sông, đẹp vô cùng.

Đức Từ vào lễ ở chánh điện, trông nghiêm trang lắm. Sau đó, tôi và ông Quận trưởng vào vái. Đợi tôi lễ xong, bà bước thẳng lên cung điện ở trên, và mang xuống một bọc bằng satin vàng, gói một số đồ vật bên trong.

Lúc đó, tôi không biết bà mang theo những gì, và nghĩ đó là sự thường, nên chẳng để ý đến. Rồi tôi đưa bà về. Bà tó vẻ vui và cảm ơn tôi nhiều.

Sáng thứ Hai, khi vừa đến văn phòng, tôi gặp ngay ông hội trưởng hội Thiên Thánh giáo, và mấy vị thân hào xã sở tại của điện Hòn Chén, ngồi đợi sẵn ở phòng khách. Dáng mặt mọi người có vẻ nghiêm trọng lắm. Chưa kịp ngồi, ông hội trưởng đã vội nói:

– Chúng tôi đến để xin đại tá giải quyết cho một việc hết sức quan trọng. Hôm Chúa nhật vừa qua, đại tá đã đi cùng bà Từ Cung đến điện Hòn Chén, khi về bà ấy đã mang theo ấn và hài của điện. Không ai dám nói gì. Chúng tôi hoang mang vô cùng. Nếu việc này lộ ra ngoài, thì không ai đến lễ ở điện nữa, vì ấn và hài đã bị lấy đi rồi.

Tôi hỏi tại sao không cho tôi rõ ngay lúc ấy? Được trả lời là thấy đại tá đi cùng bà nên không ai dám nói. Tôi hỏi thêm các ông có rõ tại sao đức Từ lại đến lấy ấn và hài đi như vậy? Chắc phải có lý do gì. Một ông trong ban quản trị trả lời. Chả là hôm ngài đến lễ, lúc ấy đông người quá, và lại toàn người tứ xứ nên chen lấn, làm đổ đồ lễ của bà, vì vậy bà giận.

Tôi nói với các ông ấy rằng, cả nước chỉ còn một bà Hoàng Thái Hậu, các ông phải kính trọng ngài. Bà là mẹ của Quốc Trưởng, nếu khi Quốc Trưởng còn tại vị, các ông có dám để như vậy không? Các ông phải rõ, tại các nước, nếu mời được một vị Hoàng Thái Hậu đến lễ như vậy, là cả một vinh dự. Vậy từ nay khi ngài đến lễ ở điện, các ông phải đón tiếp long trọng, và đừng để xẩy ra như vậy nữa. Tôi sẽ đến thưa với ngài để trả ấn và hài cho điện, nhưng các ông phải đến tạ lỗi với ngài.

Cách ngày sau vào buổi chiều, sau giờ làm việc, tôi đến thăm bà. Đến cổng thấy một ông ăn mày, mặt mũi có vẽ bặm trợn, đang ngồi nói lảm nhảm. Sau khi cho mấy cận vệ bảo người ấy đi, tôi chợt nghĩ: chỗ này không ai canh gác, nếu có người đến trộm đồ hoặc gây nguy hiểm cho bà thì thật tai hại. Vì vậy khi gặp bà, tôi hỏi ngay:

– Tâu đức Từ, ở đây có ai lo an ninh cho ngài không?

Bà nói chả có ai cả, chỉ có mấy cháu nhỏ ở đây giúp việc mà thôi. Tôi nói xin đức Từ để con lo việc này, và dùng ngay điện thoại của bà gọi cho ông trưởng ty cảnh sát, yêu cầu lo an ninh, và cử một người cảnh sát gác dinh cho bà.

Tôi cũng hỏi bà:

– Con nghe nói Quốc Trưởng có một chiếc xe để ngài sử dụng, sao đức Từ không dùng để đi cho tiện và an toàn?

– Ông nghĩ xem, tôi làm gì có tài xế. Vả lại, tiền đâu để mua xăng, xe này ăn tốn xăng lắm.

Tôi thưa:

– Nếu vậy để con biệt phái cho ngài một tài xế. Xin đức Từ cho con tên một người nào là bà con của ngài ở Địa Phương Quân, hoặc Nghĩa Quân, mà biết lái xe, con sẽ cho về lái xe cho đức Từ, và cho mang cả súng về để giữ an ninh trong nhà. Ngoài ra, con cũng biếu đức Từ 200 lít xăng hằng tháng, và xe thì tu bổ ở ban công xa tỉnh.

Bà tỏ vẻ cảm động vô cùng, đột nhiên cầm lấy tay tôi, và nói:

– Ông lo cho tôi chu đáo quá, làm tôi cảm động. Thật từ ngày Quốc Trưởng bị truất phế đến nay, các tỉnh trưởng, kể cả các tỉnh trưởng người hoàng tộc nữa, chả ai lo cho tôi bằng ông. Thật ra, tôi quý ông như con cháu của tôi vậy.

Tôi cũng thành thật thưa:

– Con cũng quý đức Từ như bà nội con vậy.

Bà cầm tay tôi lâu lắm, nước mắt rung rưng. Tôi cũng cảm động, không cầm được nước mắt. Tôi thương bà, nghĩ bà đã quá già mà còn phải lo đủ mọi chuyện của hoàng tộc, không biết bà sẽ còn sống được bao lâu nửa.

Trước khi về tôi mới thưa chuyện với bà về việc xảy ra ở điện Hòn Chén. Bà nói:

– Thật tụi nó vô phép với tôi quá. Điện này là của nhà Nguyễn lập ra, mà tôi đến lễ, họ để mọi người chen lấn làm đổ cả lễ của tôi, vì vậy tôi mới lấy ấn và hài mang về, đó là đồ của tôi cúng cho điện. Hiện tôi còn để kia. Bà chỉ lên án thờ cho tôi thấy.

Tôi thưa:

– Con đã bảo họ đến tạ lỗi với đức Từ, xin đức Từ bỏ qua cho họ. Con cũng dặn họ từ nay, mỗi khi đức Từ đến, phải đón tiếp long trọng, không được để xẩy ra những sự việc đáng tiếc nữa.

Bà bằng lòng làm theo ý tôi. Lần này khi ra về, bà đích thân dắt tay tôi, còn vỗ vai như đối với con cháu khi tôi từ biệt bà.

Từ đó, mỗi lần bà đi đâu, đều có xe đưa đi.

Có một lần, bà làm tôi ngỡ ngàng và quá cảm động. Buổi tối hôm ấy, tôi được điện thoại của bà mời, sau giờ làm việc ngày mai, đến chơi với bà. Rủi là chiều hôm sau trời mưa lớn, tôi gọi lại cho bà, hẹn chiều hôm sau sẽ lại. Bà không bằng lòng, nói ông chịu khó đến chơi, tôi đợi ông lâu rồi. Vì vậy tôi phải đến.

Đến cổng thấy hạ sĩ tài xế, là cháu của bà mà tôi đã biệt phái để lái xe, cầm dù đợi sẵn. Bà đón tôi một cách vui vẻ lắm, mời uống trà ướp sen, ăn bánh thẻ bài và mứt sen. Tại đây, tôi gặp ông giám đốc viện Bảo tàng Huế, cũng là người hoàng tộc (tôi quên tên). Ông nói với tôi:

– Đức Từ vời tôi đến để tiếp đại tá.

Lúc sau, bà gọi người nhà và hai người tớ gái khênh ra mấy cái rương sơn son thiếp vàng, chạm trổ rất đẹp. Mở ra, thấy có mũ hoàng hậu của bà. Mũ có chín con phượng bằng vàng, và hầu như cả cái mũ đều trạm vàng, trông rất cổ kính, và lộng lẫy vô cùng. Mở một cái rương khác, có áo hoàng hậu bằng gấm. Cũng thêu những con phượng bằng vàng lộng lẫy, trông nặng nề lắm. Ngoài ra, còn cái ấn bằng vàng nữa – lâu rồi, tôi không nhớ rõ chi tiết – cũng chạm phượng, to bằng cái ấm tích, chắc nặng cỡ 5-6 kí lô.

Ông giám đốc viện bảo tàng xuýt xoa nói:

– Trời ơi! Tôi không ngờ được cái diễm phúc này, thật là nhờ có đại tá. Tôi là con cháu mà chưa từng được xem những thứ này, chắc đức Từ chưa cho ai xem bao giờ. Thật không hiểu tại sao người lại quý đại tá đến như vậy. Thật là may cho tôi. (Tôi hy vọng ông giám đốc viện Bảo tàng Huế cũng chạy sang đây được)

Nhìn bộ mũ áo to lớn nặng nề, trong khi bà rất nhỏ nhắn, tôi tự nghĩ không hiểu bà làm cách nào để mang phẩm phục này. Tôi thưa với bà:

– Giá hôm nào đức Từ mặc áo đội mũ này, cho con được đứng hầu, để chụp một tấm hình kỷ niệm thì quý quá, và là điều hãnh diện cho con.

– Bộ mũ áo này có từ hồi tôi còn trẻ, và cũng ít khi dùng đến. Mỗi lần mặc, phải có nhiều người giúp đỡ. Bây giờ tôi mang sao nổi, nặng nề lắm. Có điều quý ông lắm, tôi mới cho ông xem. Các ông tỉnh trước tôi có cho ai xem đâu.

Bà khiến tôi cảm động quá. Nhìn bà, tôi có cảm tưởng như nhìn bà nội tôi vậy. Thật là một kỷ niệm khó quên trong đời. Trên đường về, tôi cứ suy nghĩ mãi, tại sao bà mời tôi đến trong cơn mưa gió, để cho xem những đồ quý như vậy. Có lẽ trong những lần gặp trước, bà đã kể cho nghe cuộc đời gian truân của bà khi còn trẻ, bây giờ bà muốn cho tôi xem những ấn, mũ, áo hoàng hậu, coi như những chứng tích cụ thể trong sự đổi thay của cuộc đời.

Lạ một điều là, bà thường chỉ ở nhà, ít đi đó đây mà biết rất nhiều chuyện. Việc gì xẩy ra ở Thừa Thiên bà cũng biết. Chắc có nhiều người đến thăm, kể cho bà nghe.

Có lần tôi đi thăm quận Phú Thứ, gặp các hội đồng xã, có ông lãnh sự Mỹ đi theo. Khi về, có hai ông già trên dưới 70 tuổi chạy ra nói với tôi:

– Xin quan đừng chấp, chúng tôi chưa được đi máy bay bao giờ, giá quan cho chúng tôi được lên bay một vòng, thì chết cũng thỏa dạ.

Tôi cười trả lời:

– Được, máy bay của tôi chở thêm được 5 người. Vậy ông quận trưởng cử thêm 3 người nữa, tôi chở về tận xã.

Tôi phải tạm để mấy người cận vệ ở lại, chở 5 cụ già về tận xã. Ngồi trên máy bay, các cụ sướng quá. Tôi bảo phi công bay thấp với tốc độ chậm, cho các cụ nhìn xuống, chỉ trỏ lung tung. Các cụ nhận ra từng xã, từng con kênh, cười nói ồn ào. Đến xã lại bay một vòng cho các cụ nhìn thấy nhà mình, thật là vui mừng.

Trở lại quận, tôi hỏi ông lãnh sự Mỹ có cách nào cho tôi mượn trực thăng của ông một ngày vào tuần tới không, ông nhận lời.

Tôi nói với trung tá quận trưởng:

– Tuần tới, tôi cho anh mượn trực thăng một ngày, để anh mời tất cả các cụ trên dưới 70 tuổi đến quận, rồi trực thăng sẽ đưa về từng xã. Anh làm xôi và thịt mời các cụ xơi.

Thế là tuần sau các cụ ở Phú Thứ được đi máy bay hết. Nhiều cụ về đến nhà rồi vẫn không chịu xuống, xin trở lại quận để đi bộ về. Thế mà thái hậu cũng biết, bà bảo tôi:

– Hôm nào ông đưa tôi về quê ở Vĩnh Lộc cho tôi thăm nhà.

-Đức Từ muốn đi lúc nào cũng được. Chỉ cần cho con biết trước một ngày, và trời tốt, chứ đi vào ngày mưa sợ đức Từ mệt.

Lần ba tôi ra thăm, bà cũng biết, và gọi cho tôi, mời ông cụ dùng cơm. Ba tôi mừng lắm vì được đức Hoàng Thái Hậu mời ăn. Cha con tôi được bốn vị trong hoàng tộc tiếp đón rất vui vẻ. Bà cũng nói chuyện với cha tôi thân mật như nói với tôi.

– Cụ cứ tự nhiên nhé, tôi ăn chay nên ăn sau.

Khi ra về, bà vỗ vai tôi và nói với ba tôi:

– Cái ông này ở đây lo cho tôi nhiều lắm, và tử tế với mọi người. Cụ thật có phúc được người con như vậy.

Nhiều người ngoại quốc, nhất là những nhà ngoại giao được Bộ Ngoại Giao giới thiệu ra thăm Huế, ai cũng nhờ tôi để được yết kiến thái hậu. Nhưng phần nhiều tôi thấy họ là cấp thấp, nên không muốn phiền bà. Tôi chỉ xin bà tiếp một ông lãnh sự Ý, do tôi hướng dẫn mà thôi. Ngoài ra, nhân ngày giỗ đức Tự Đức, tôi cũng xin bà cho tôi được mời thêm hai ông bà mục sư Jonhson Glen, làm ở hội Hoàn Cầu Khải Tượng, là người đã giúp tổng cục Chiến Tranh Chính Trị rất nhiều về quà cho chiến sĩ. Ông được mời ra Thừa Thiên để giúp cho dân nghèo miền biển. Ông nói tiếng Việt rất sõi. Khi gặp bà, ông thưa:

– Tâu đức Từ, con là mục sư Johnson Glen, rất hân hạnh được đức Từ cho tiếp kiến. Con xin chúc đức Từ vạn thọ.

Bà mục sư cũng bái nhún, trang trọng theo cung cách đối với vua chúa Tây phương, và thưa gởi rất lễ phép. Bà cười vui vẻ, hỏi thăm gia đình, và ngồi để hai ông bà mục sư đứng hai bên chụp hình kỷ niệm. Sau khi ăn, ông bà mục sư được mấy vị trong hoàng tộc dẫn đi thăm lăng. Tôi ngồi lại hầu chuyện bà. Tôi hỏi:

– Đức Từ cho con biết, lăng của đức Từ đã sửa soạn đến đâu rồi?

Bà đập vai tôi, nói:

– Thật lạ là tôi cũng định nói với ông về chuyện này, sao đúng ý tôi quá. Ông biết đấy, Ông Diệm có cho tôi một thửa đất để làm lăng, nhưng lâu nay bị tụi trẻ chăn trâu, chăn bò vào phá quá, làm nát cả, mà tôi đâu có giữ được.

– Để con lo cho đức Từ.

Sau đó, tôi nhờ ông quận trưởng Hương Thủy, cũng là người hoàng tộc (Thiếu Tá Tôn Thất Biên), lo cho bà. Ông nói cần kẽm gai để rào lại, và sẽ yết bảng cấm xung quanh. Tôi phải lấy kẽm gai ở tư thất của tôi cho ông. Độ hai tuần sau, ông báo cáo đã làm xong. Tôi gọi cho bà rõ, bà trả lời là đã biết rồi:

– Vừa định cảm ơn ông, thì ông gọi. Ông tốt với tôi quá.

Trong thời gian ở Huế, bà là người tôi lui tới nhiều nhất, để được nghe kể chuyện đời xưa, và về các bà Hoàng Thái Hậu trước. Bà cũng kể về Hoàng Đế Bảo Đại và các hoàng tử, Công chúa ngày còn nhỏ. Có lần bà nói với tôi là bà mong tôi ở đây mãi. Tôi cũng nói đùa với bà:

– Con cũng vậy, mong được ở đây đến khi đức Từ trăm tuổi, để con được đi đưa đám đức Từ.

Tình hình ở Quân khu I ngày một nặng nề. Các nhà giầu có ở Thừa Thiên đều lo lắng để di chuyển vào Đà Nẵng, hay Sài Gòn, khi thấy Quảng Trị di tản; dân về Huế ngày càng đông.

Tôi nhận được nhiều đơn xin chuyển tiền, vàng, đồ cổ về Đà Nẵng hay Sài Gòn, bằng xe hay ghe, thuyền. Thật không ngờ có nhiều nhà giàu thế. Không phải chỉ ở Huế, có nhiều người ở vùng quê cũng xin chuyển cả mấy trăm lạng vàng, và đồ cổ nữa. Tôi chợt nhớ đến đức Từ, và những đồ cổ của bà, nhất là những bộ đồ và ấn của hoàng hậu mà bà đã cho tôi xem. Tôi cũng sợ là đồ của Hoàng Đế và nhiều đồ cổ của hoàng gia do bà giữ, sẽ có thể bị hủy hoại hoặc thất lạc.

Tôi đến gặp bà, thấy trong nhà không có gì thay đổi, và bà vẫn bình tĩnh. Chứng tỏ bà không lo lắng gì, và chưa chuyển đồ đạc đi. Gặp bà tôi mừng quá. Bà hỏi tôi ngay:

– Ông Tỉnh! Tình hình thế nào? Tôi nghe nói dân Quảng Trị chạy về đây đông lắm, và nghe nói ông Thiệu định bỏ Huế và Quảng Trị cho Việt Cộng, chỉ giữ từ đèo Hải Vân về Đà Nẵng mà thôi?

Tôi thưa:

– Dạ, không có đâu đức Từ. Con còn đây, và Thừa Thiên vẫn còn yên lắm, hôm qua con còn đi Phong Điền bằng xe mà. Con đến để thưa đức Từ rõ, là cần xem lại hầm tránh pháo kích, và cũng xin chuyển những đồ quí giá của hoàng tộc vào Sài Gòn, để tránh pháo kích bị hư hỏng.

Bà đồng ý liền, và mượn tôi một chiếc G.M.C. để chuyển đồ về nhà một vị hoàng tộc ở Đà Nẵng.

Tôi cũng gọi dây nói cho cụ Mai Thọ Truyền, quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, để xin ngân khoản thuê Air Việt Nam, chuyển những đồ cổ của Huế vào Sài Gòn. Cụ đồng ý ngay. Tôi lập một ủy ban gồm ông phó thị trưởng Huế, mấy vị nghị viên và ông giám đốc viện Bảo tàng Huế, lo chuyển về Sài Gòn những đồ giá trị.

Sau này, tôi được một người bạn ở Sài Gòn viết thư sang kể lại, có một tờ báo tố cáo mấy ông lớn Việt Cộng đã đánh tráo, và lấy cắp mất khá nhiều.

Ít tuần sau, đại tướng Thủ Tướng ra họp ở Đà Nẵng, để lo cho dân ty nạn, và cũng lo phương tiện chở một số dân vào trong Nam. Thấy tình hình nghiêm trọng quá, tôi xin với Trung Tướng Trưởng để mời đức Tăng Thống, đức Tổng Giám Mục và đức Hoàng Thái Hậu di tản trước. Trung tướng đồng ý ngay. Riêng cụ Thứ, chánh nhất tòa thượng thẩm, về bằng Air Việt Nam.

Với đức Tăng Thống, tôi cũng đã có dịp gặp nhiều lần. Lần đầu tiên là khi mới ra Huế, tôi đến chào ngài. Ông đã già lắm, tai to như tai Phật, hình như đã 98 tuổi. Ngài sống gần một thế kỷ mà còn mạnh khỏe và sáng suốt lắm, chỉ phải hơi nghễnh ngãng một chút. Tôi nói giọng Bắc, nên phải có một đại đức đứng cạnh ngài, để ghé tai nhắc. Tôi được mời uống nước nụ vối pha gừng, và ăn bánh in. Tôi khen nước uống ngon quá, ông nói là uống nước này tiêu hóa tốt, và ăn ngon. Nụ vối phải để lâu, gừng thì phải đợi đúng nửa đêm ngày 5 tháng 5, ra vườn nhổ mấy gốc già mang về thái ra, đem phơi sương đủ 15 ngày, rồi ủ với nụ vối, và cho vào keo đậy thật chặt. Ngài hay cười, nói chuyện giọng nghe sang sảng. Có một con chim bay ra bay vào, có khi đậu cả vào vai ông.

Lần thứ hai tôi gặp ông, vì lúc ấy các chùa ở Huế đều treo đầy biểu ngữ “Xin đừng bắn giết đồng bào ruột thịt của chúng ta”, ý muốn khuyên binh sĩ không nên chiến đấu. Tôi xin ông ra lệnh cho các chùa không nên treo biểu ngữ đó. Ông trả lời:

– Ông tỉnh thấy không, chùa tôi có treo gì đâu. Các thầy ấy bây giờ còn trẻ và hăng hái lắm.

Rồi ông thở dài, mặt có vẻ buồn, ngồi lặng thinh. Tôi thưa:

– Đức Tăng Thống nghĩ xem, ai cũng mong dân Huế mình được bình yên để làm ăn, nếu cứ gây xáo trộn mãi chỉ dân là khổ.

Ông lại thở dài, và trả lời xuôi:

– Thôi ông tỉnh để tôi xem có lo gì được không.

Hai ngày sau, có một đại đức còn trẻ đến thăm tôi vào buổi tối, nói là bí thư của đức Tăng Thống, cho tôi biết ngài sai ông vào Sài Gòn, để đưa một thư riêng cho hòa thượng Trí Thủ. Tôi nhờ ông cảm ơn ngài. Sau đó một số chùa vẫn để biểu ngữ, và một số chùa tháo biểu ngữ đi.

Khi tôi gặp đức Tăng Thống, trình bày với ngài về việc di tản vào Sàigòn, ngài đồng ý ngay. Tôi đã lo trực thăng để ngài đi Đà Nẵng, và từ đây vào Sàigòn, ngài đi bằng hàng không Việt Nam.

Tôi cũng đến gặp Đức Cha Điền, ngài trả lời một cách dứt khoát sau khi cám ơn tôi:

– Tôi là chủ chiên ở địa phận này thì chiên của tôi ở đâu, tôi ở đó. Cám ơn đại tá có lòng, nhưng tôi dứt khoát không đi được.

Tôi biết ngài đang chữa bệnh ở Sài Gòn, mà phải về Huế gấp, vì nghe tình hình ngoài này lộn xộn.

Riêng về Đức Từ Cung, Bà trả lời một cách khôn ngoan:

– Ông để tôi họp hoàng tộc, rồi trả lời ông sau.

Tôi hỏi lại:

– Nếu đức Từ về Sài Gòn, thì đã có chỗ ở chưa? Nếu chưa, con sẽ trình về, để chính phủ lo cho đức Từ.

Bà nói:

– Ở đâu cũng có người của Hoàng tộc, và ai cũng hết lòng lo cho tôi.

Ngay hôm sau, bà gọi dây nói cho tôi biết, bà không muốn di tản. Lý do là, nếu ra đi rồi ông Thiệu bỏ Huế cho Cộng Sản, làm sao bà có thể về lại Huế, để lo lăng miếu của nhà Nguyễn. Còn nếu giữ được Huế, thì bà cần gì phải di tản. Bà nói đùa với tôi:

– Nếu có đánh nhau ở Huế, ông đón tôi về cùng chiến đấu với ông, ông đã nhận tôi là bà nội mà. Tôi cũng nhờ ông nhắn với ông Thiệu, nếu ông ấy bỏ Huế, là có tội với lịch sử.

Ở Hoa Kỳ, ngày nghe tin bà mất, tôi nhớ thương vô cùng. Có lẽ bà là người tôi gần gũi nhất ở Huế, vì ngoài đó, tôi không quen biết nhiều. Địa bàn hoạt động phần lớn đời binh nghiệp của tôi, hầu như hoàn toàn ở trong Nam. Tôi nghe nói khi bà mất, Việt Cộng cũng để hoàng tộc lo đám tang cho bà long trọng lắm. Chỉ tiếc là con cháu của bà ở xa không về đưa đám bà được

Nhắc đến bà Từ Cung, tôi không khỏi nhớ tới bà thân mẫu của Tổng Thống Diệm. Mặc dầu khi cụ mất ở Sài Gòn, cũng được bà con lo cho chu đáo, nhưng những con trai của cụ chẳng ai được gặp. Tôi không được dự đám tang của cụ, vì lúc đó đang bị giam ở An Ninh Quân Đội. Nghe Đại Úy Minh là bạn thân của tôi kể, có Trung Tướng Đôn và Trung Tướng Đính cho người đem vòng hoa đến, nhưng hai ông không đến. Tôi nghĩ bụng, nếu mấy ông này còn chút liêm sỉ và lương tâm, thì chả làm cái trò hề như vậy. Tay đã nhúng vào máu của người đã gắn lon cho mình. Nếu cảm thấy hối hận, thì tự mình mang hoa tới chia buồn, như một cử chỉ tạ lỗi. Nếu coi gia đình Tổng Thống như kẻ thù cần loại bỏ, tại sao lại gửi hoa? Nhất là lúc ấy, các ông có quyền thế lớn trong tay, trong khi người con duy nhất của cụ ở Việt Nam là ông Ngô Đình Cẩn bị giam ở Chí Hòa, người mà hai ông đã từng đến chầu hầu, nịnh hót, cũng không được giúp cho ra để nhìn mẹ lần cuối. Tôi chưa được biết mặt Cụ Cố, nhưng tất cả những người ở Huế mà tôi được gặp, ai cũng khen cụ là một người đàn bà hiền đức, tử tế và nhân ái với mọi người, nhất là hết lòng mộ đạo.

Tôi còn được nghe nói về bà cụ thân sinh ra Tổng Thống Thiệu nữa. Ngày tôi theo học tại trường chỉ huy và tham mưu Fort Levenworth ở Hoa Kỳ, bạn cùng khóa với tôi là Đại Tá Ngô Hán Đồng, nguyên tỉnh trưởng Phan Rang, là quê của Tổng Thống Thiệu. Chúng tôi ở hai phòng liền nhau, chung một phòng tắm, có cửa thông sang nhau. Tối nào tụi tôi cũng nói chuyện đến khuya, nhiều khi cùng nhau ăn miến gà hay cơm nguội (tiếc rằng anh đã mất về một tai nạn trực thăng trên hạm đội 7 của Hoa Kỳ). Có lần tôi hỏi anh:

– Chắc hồi mày làm tỉnh trưởng Phan Rang, cũng khổ với bà con gia đình ông Thiệu lắm phải không?

– Lạ lắm mày ạ! Ngày đổi ra ngoài ấy, tao cũng lo lắm, nhưng sự thật thì trái hẳn. Ra ngoài đó, việc đầu tiên là tao và ông phó tỉnh trưởng đến chào bà cụ thân sinh ra ông Thiệu. Khi tụi tao đến, bà đứng ở cửa đón, mặc áo dài cẩn thận, mời vào nhà uống trà tử tế. Tao đứng dậy định thưa đôi điều. Thấy tao đứng dậy, bà cũng đứng dậy. Tao nói: Thưa cụ, con được Tổng Thống bổ nhậm ra làm việc ngoài này. Hôm nay con đến chào cụ, xin cụ chỉ dạy và giúp đỡ để con làm tròn nhiệm vụ Tổng Thống giao phó. Bà mời tao ngồi xuống và nói nhỏ nhẹ:

– Đại tá cũng rõ Tổng Thống tuy là con tôi thật, nhưng tôi là đàn bà đã già, quê mùa, chỉ biết cầu nguyện cho Tổng Thống được sáng suốt mà lo việc nước. Ông là đại diện Tổng Thống ở đây, và bà con Tổng Thống nội ngoại biết bao nhiêu người. Nếu ai dùng danh nghĩa là bà con của Tổng Thống xin xỏ ông điều gì, xin ông đừng giúp đỡ để khỏi mang tiếng. Nếu ông lo cho dân, là ông đã giúp đỡ Tổng Thống đấy. Khi tao về, bà tiễn ra tận cửa. Mày nghĩ thế có lạ không? Nhà cửa của bà cũng như đồ đạc đều giản dị. Thật ra, Phan Rang là tỉnh nghèo, và bà con gần của ông Thiệu đều ở Sài Gòn cả, nên tao chả gặp khó khăn gì.

– Thế sao mày lại bị đổi khỏi Phan Rang?

– Thì cũng một phần tại tao, mình khôn quá hóa dại. Ngày đó, dựa vào tình hình an ninh, các tỉnh phải phân loại có bao nhiêu xã loại A, B, C v.v… Khởi đầu, tao để rất ít loại A, vì mình đâu có tin được nơi nào là an ninh 100%. Hơn nữa, tao định cứ từ từ nâng loại B lên A, C lên B v.v… như vậy chứng tỏ mình một ngày một khá hơn. Rủi cho tao, thằng cha lo việc này, nghe lệnh tao nên nó vẽ thế nào mà khu vực ngay chung quanh nhà ông Thiệu đều xếp hạng B hết. Một hôm, ông Trung Tướng Nguyễn Đức Thắng là tổng trưởng Xây Dựng Nông Thôn ra thanh tra, chính tao thuyết trình, ông quay tao và hỏi: Ngay chính quê của Tổng Thống và gần tỉnh lỵ mà còn hạng B, thì anh ăn nói với Tổng Thống thế nào? Tao đớ người, trả lời là nơi đó cũng an ninh. Ban ngày thì hoàn toàn an ninh, nhưng về đêm không bảo đảm lắm.

Anh nói thêm:

– Mày biết tao và ông Thắng cũng là dân Pháo Binh cả, từ ngày hai thằng còn là thiếu úy. Chắc ông có gì ghét tao. Hôm ông ra thanh tra, tao làm cơm mời ông và phái đoàn ăn, nhưng ông không ăn, ra gốc cây ngồi nhai bánh mì, khiến cả phái đoàn có ai dám ăn đâu. Thế là ít lâu sau tao bị đổi. Chắc ông chơi tao.

Tôi ghi lại đây chuyện về ba bà mẹ của ba vị Quốc Trưởng Việt Nam. Các bà đều là người hiền đức xứng đáng. Câu Phúc đức tại mẫu thật đúng lắm. Nhờ phúc của mẹ mà con đã đạt được địa vị nguyên thủ quốc gia. Nhưng khi ở ngôi cao, mỗi người con tự tạo cho mình một hướng đi riêng, đưa tới kết thúc riêng:

– Một người cương trực, trọng tiết tháo, thà chết không chịu nhục. Chết thảm nhưng còn lại tiếng thơm.

– Một người ham thú vui vật chất hơn quyền lợi quốc gia, thà lưu vong hơn dấn thân. Sống lặng lẽ, chết cũng lặng lẽ.

– Một người láu lỉnh, làm bất cứ điều gì, thỏa mãn bất cứ ai để tiến thân, trọng địa vị hơn chữ hiếu. Trước khi chết thật, đã kéo dài những ngày tháng lưu vong, sống cũng như chết.

—>ÁI NỮ VÀ THANH GƯƠM CỦA QUAN ĐỀ THÁM

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà. Bookmark the permalink.