Cả Miền Nam Bị Chúc Dữ (Quốc Anh)

Cả Miền Nam Bị Chúc Dữ
image001

Khi thủ đô Sài gòn chính thức thất thủ vào lúc 11h30 sáng ngày 30/4/75, nhiều người Công giáo luận bàn: “Thiên chúa đã dùng bàn tay cộng sản để trừng phạt những kẻ sát hại tôi tớ của Ngài, cũng như khi xưa Ngài đã trừng phạt dân Do Thái gần hai ngàn năm vong quốc, phiêu bạt vì nhạo báng và giết hại con một của Ngài treo trên cây Thập giá…”. Đó có phải là điềm báo ứng nhản tiền tương xứng? Một miền Nam khốn khổ, điêu linh vì những chủ trương: học tập cải tạo, đánh tư sản, kinh tế mới, hợp tác hóa nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp cùng những chính sách: bế quan tỏa cảng, ngăn sông cấm chợ, loại bỏ nền kinh tế quốc gia làm cho kinh tế đất nước kiệt quệ, dân tình khốn khổ. Hủy hoại tư tưởng của nhiều thế hệ bằng việc truyền bá chủ nghĩa Mac-Lenin, tận diệt đời sống tâm linh, phá bỏ nền nếp văn hóa đạo đức truyền thống. Và chủ nghĩa ngoại lai từ mấy mươi năm trước đã biến cả một dân tộc thành những người tù khổ sai, phải sống kiếp nô lệ ngay trên chính quê hương xứ sở của mình? Chế độ ấy ngày nay lại tiến hóa nhanh khi biến luật pháp trở thành công cụ cưỡng đoạt nhà, cướp lấy đất dân thông qua những điều luật hết sức mơ hồ, giả trá: “sở hữu toàn dân, quy hoạch phát triển”. Khi người dân rên xiết, kêu than thì đã có bọn đầy tớ công an côn đồ, cùng lũ xã hội đen ác ôn bóp cổ, bịt miệng. Bọn chúng cấu kết, tập hợp lại với nhau thành một tập đoàn chính trị không những ăn bám trên mồ hôi – công sức, trên bao nỗi oan khiên, oán hờn của người dân dưới hình thức đủ loại thuế, phí; rồi chúng quay trở mặt hành hạ, đánh đập và dồn ép người dân vào bước đường cùng của những nhà tù nhỏ bất lương! Nằm trong hệ thống cai quản của một nhà tù vĩ đại xhcn bất nhân.

Sự thật của cuộc chính biến ngày 01/11/ 1963 chính là sự tranh giành ảnh hưởng của hàng loạt những mâu thuẩn nằm trong một mắc xích: Quốc – cộng, đảng phái, tôn giáo. Chẳng một bằng chứng xác thực nào chứng tỏ rằng: “Tổng thống Ngô Đình Diệm có tham vọng muốn biến đạo Thiên chúa thành quốc giáo ở miền Nam Việt Nam”! Đó là những luận điệu dối trá, ngụy tạo (mà ngày nay ta thường nghe, thấy trong hệ thống công an, tòa án chuyên dùng để bắt bớ, trấn áp và giam cầm những cá nhân hay tập thể đòi hỏi cho dân chủ tự do), là cái bẩy tuyên truyền một trong những phương cách lôi kéo nhằm vào mục tiêu đánh đổ chế độ. Đối phương đã lợi dụng sự mâu thuẩn này càng khoét sâu, càng thực hiện những thủ đoạn gây chia rẽ đặc biệt trên lĩnh vực tôn giáo! Đây là một thủ đoạn then chốt của các đảng phái chính trị, trong đó có các đảng phái thân cộng trá hình sử dụng đã giáng một đòn ly gián trí mạng như lưỡi dao oan nghiệt cắm ngập vào tim của chế độ để giết chết đi một nền Cộng hòa non trẻ. Nói rằng: “Tổng thống Diệm ưu ái Công giáo, ngược đãi Phật giáo” trong khi có hàng ngàn thiền viện, cơ sở Phật học được xây dựng, trùng tu bề thế, tự do phát triển, hành đạo? Đó chính là sự mâu thuẩn áp đặt đi kèm với những mưu đồ gian trá gây chia rẽ tôn giáo, dẫn đến mối họa gây chia rẽ dân tộc, gây bất ổn chính trị do phía miền Bắc và các tập đoàn tay sai đã dàn dựng nên.

Nếu nói ưu ái hãy nghĩ ngay đến việc Ngô Tổng Thống đã ưu ái gần một triệu dân di cư miền Bắc trốn chạy thiên đường cộng sản sau hiệp định Giơ-ne-vơ ngày 20/7/54, mà trong những thành phần này có cả nhóm tình báo, gián điệp được cài cắm, trà trộn vào đoàn di cư để hình thành nên những mạng lưới điệp báo leo sâu, trèo cao vào bộ máy chính quyền trong cả hai nền cộng hòa ở miền Nam. Nhiệm vụ chính của mạng lưới là thu thập tin tức tình báo, gây chia rẽ, xáo trộn và làm phân hóa nội bộ trong đó có việc gây chia rẽ tôn giáo, dân tộc giữa các đảng phái ở miền Nam đã góp phần tạo nên sự kiện lịch sử ngày 30/4/75. Và cũng gần giống như tình hình dòng người di cư từ bắc vào Nam sau ngày ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ, một số lớn lực lượng điệp báo này trà trộn vào số đông người vượt biển trong sự kiện thuyền nhân sau ngày 30/4/75 tiếp tục hoạt đông hiệu quả ngay tại hải ngoại. Vì vậy có thể hiểu vì sao các tổ chức phục quốc sau ngày 30/4/75 đều bị phát hiện và bóp chết từ trong trứng nước và các tổ chức, đảng phái chính trị từ nước ngoài về nước để hổ trợ cho các phong trào dân chủ đều bị bắt hoặc theo dõi khi vừa mới đặt chân xuống sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.

Nhiều điều man trá trong cái gọi là: “sự kiện đàn áp Phật giáo” vào ngày lễ Phật đản 08/5/1963, vì va vấp phải sự nhầm lẫn do cái bẩy tuyên truyền gây ra, tạo nên mối mâu thuẫn, bất hòa, xung đột giữa chính quyền đương nhiệm và các chức sắc Phật giáo? Nguyên nhân khởi phát từ những tin đồn thất thiệt: thiên vị Công giáo, biến đạo Thiên chúa thành quốc giáo, cho treo cờ Vatican tại các nhà thờ nhưng lại cấm treo cờ phật giáo tại các chùa chiền nhân ngày lễ Phật Đản? Hệ thống thông tin, truyền thông thời đó còn hạn chế, nhiều nguồn thông tin chủ yếu lan truyền từ miệng lưỡi thế gian giống như hiện tượng “đồng dao” dưới thời phong kiến xa xưa. Sự thực của việc đàn áp Phật giáo chính là quả lựu đạn được kích nổ ngay giữa đám đông làm bảy Phật tử thương vong. Và dư luận đã được lan truyền nhanh chóng đạn được bắn ra từ một chiếc thiết vận xa đã giết chết nhiều phật tử. Nếu một trong những chiếc thiết vận xa của chính quyền ngày đó khai hỏa nhắm vào đám đông như những thông tin lan truyền thì thiệt hại về nhân mạng không thể dừng lại ở con số là bảy người như nhiều tài liệu đã thổi phồng? Chính người của “Mặt trận phá hoại miền Nam Việt Nam” đã cho người trà trộn, ném lựu đạn vào trong đám đông phật tử đang biểu tình, đã nhanh chóng gây nên làn sóng phẩn nộ trên cả nước, lẫn dư luận quốc tế và sự kiện này là nguyên nhân chính đã nhấn chìm sự nghiệp chính trị của TT Diệm sau chín năm cầm quyền cùng với việc khai tử nền Đệ nhất Cộng hòa vào ngày 01/11/1963.

Từ sau cuộc đảo chánh vô nhân năm ấy, cái gọi là hội đồng quân nhân cách mạng đã được phía Mỹ hậu thuẫn lại chia thành năm phe, bảy phái triệt hạ lẫn nhau chỉ để tranh giành quyền lực. Tình hình chính trị miền Nam ngày ấy vô cùng rối ren vì những cuộc chỉnh lý, đảo chính liên miên ngay chính trong “hội đồng tướng lĩnh đã đem đến cơ hội cho phía đối phương có thời gian huy động và củng cố lực lượng. Tuyến đường 559 huyết mạch nhanh chóng được xây dựng hoàn chỉnh để vận chuyển khí tài, quân dụng và lương thực, thực phẩm cùng những đoàn quân vượt Trường Sơn tiến vào Nam. Suốt một thời gian dài hơn năm mươi năm, dư luận trong ngoài nước vẫn còn nhiều ngộ nhận: chính sách gia đình trị họ Ngô tự gây chia rẻ, phân hóa, làm suy yếu cả hệ thống chính quyền quốc gia? Đó là một nhận xét vô trách nhiệm, không khách quan từ các phe đảng chọc gậy bánh xe, từ giới trí thức mắc bẩy tuyên truyền, từ phong trào phật giáo xuống đường do cộng sản giật dây dẫn đến cao trào chống đối chính quyền. Thực tế lịch sử đã rõ ràng, Thích Trí Quang chính là kẻ cầm đầu mạng lưới các nhà sư nằm vùng. Sự kiện tổng tấn công tết Mậu Thân năm 1968 nhiều chùa chiền là trạm giao liên, là nơi cất giấu vũ khí, truyền đơn, chứa chấp, che giấu những cán binh cộng sản. Nhiều sư sãi, tăng lữ đã có công lớn trong việc cung cấp lương thực, thuốc men và chỉ dẫn đường. Có những nhân vật nỗi tiếng được viết thành sách, được dựng thành phim điển hình là ni sư Huyền Trang một đặc công thành viên của đội biệt động thành tham gia nhiều vụ khủng bố gây nhiều thiệt hại cho chính quyền VNCH….

Trích dẫn bài tham luận tại Hội thảo Khoa học 50 năm Phong trào Phật giáo miền Nam 1963-2013 tại Bình Dương ngày 11/06/2013 của ông PGS. TS. Nguyễn Hồng Dương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam như sau: “Qua cuộc pháp nạn, Phật giáo miền Nam càng nhận ra đường lối tôn trọng tự do tôn giáo sáng ngời của Đảng Cộng sản Việt Nam, ủng hộ cách mạng miền Nam tiến tới đấu tranh thống nhất nước nhà. Hàng triệu Phật tử tham gia vào cuộc kháng chiến, hàng trăm ngàn Tăng, Ni, trong đó có những bậc cao tăng ra bưng biền, làm chiến khu tham gia kháng chiến chống Mỹ của Tăng Ni, Phật tử miền Nam và tinh thần đoàn kết dân tộc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam toàn thắng, đất nước thống nhất, có vai trò đóng góp to lớn của Tăng Ni, Phật tử miền Nam…”. Dẫn chứng như trên để cho thấy việc nghi ngại của Tổng thống Ngô Đình Diệm không phải là vô căn cứ nhưng chỉ đáng tiếc một điều là vợ chồng ông cố vấn Ngô Đình Nhu có cách hành xử không đúng mực đã nhanh chóng làm liên lụy đến cả dòng họ Ngô. Giáo hội Phật giáo ngày nay đã được trả công bội hậu nhờ góp nhiều công trạng như bài tham luận trích dẫn như trên. Hiện nay dư luận Phật tử cho biết, có rất nhiều ngôi chùa giống như một vương quốc thu nhỏ mà ở trong đó những vị sư trụ trì tu hành có lối sống không khác chi đời sống trần tục của những bậc vương giả: “Khi ngồi chánh điện có hai hàng chầu hai bên, ăn uống, ngủ nghỉ có kẻ hầu, người quạt”. Tôi nhớ lại một nhân vật nằm vùng trước đây là thượng tọa Thích Thiện Hào từ sau ngày 30/4/75 ông trụ trì chùa Xá Lợi ( 1975 – 1990), nhiều tăng ni phật tử cho biết ông nghiện thuốc lá, ban đêm nhắm đồ mặn, uống rượu tây. Ông có hai đời vợ, các con bà vợ nhỏ không nhìn mặt cha, bà vợ lớn có người con trai công tác tại Ban tôn giáo Thành phố (1985-1995), con gái hợp tác lao động ở Tiệp Khắc. Nhà nước cấp cho ông ngôi biệt thự hai mặt tiền đường Phùng Khắc Khoan – Trần Cao Vân, số 11B, 11D. Ông để cho hai người con vợ lớn sở hữu nhà và hai đứa đã bán đi chia mỗi người được hơn hai ngàn lượng vàng.

Nhiều người cho rằng chế độ do tổng thống Ngô Đình Diệm cầm quyền là một chế độ gia đình trị kể cả các sử gia? Điều đó chỉ đúng một, nhưng sai đến mười vì cụ Ngô Đình Khả thân sinh của TT Diệm và Cố vấn Nhu vốn là quan lại nhà Nguyễn, bản thân cụ Diệm cũng đã từng là một vị quan lại đầu triều dưới thời Vua Bảo Đại nhưng đã từ quan vì bất đồng với cách đối xử không mấy thân thiện của người Pháp đối với người dân bản xứ. Xuất thân từ một gia đình nho gia thế tộc có quyền thế, nhưng lại chối bỏ địa vị, danh vọng không phải ai cũng làm được? Giữa thời thế tao loạn, ông đi tìm chân lý cho độc lập dân tộc theo cách riêng của mình! Ông dám đứng ra gánh vác trọng trách trước quốc dân, đồng bào bằng con đường chủ nghĩa quốc gia đầy gian nan, thác ghềnh. Một nhân vật dù chưa có tầm ảnh hưởng lớn về chính trị nhưng nếu có thừa khả năng dẫn dắt dân tộc hướng đến một tương lai tươi sáng và ấm no, thịnh vượng có gì là sai trái? Còn hơn một nhân vật tài ba, xuất chúng nhưng lại dẫn dắt dân tộc đi trên con đường đầy chông gai, thử thách và đẩy cả dân tộc đi vào hoang mạc của sự đói nghèo, lạc hậu thì tài ba, xuất chúng cũng trở thành vô nghĩa. Trong lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới đã từng có những nhân vật như thế: Vua Lý Thái Tổ, vua Lê Thánh Tông suốt cả quảng đời niên thiếu tu, học ở chùa đâu cần đánh nam dẹp bắc hoặc thân chinh giết giặc? Nhưng khi được tôn làm Vua trở thành những vị Vua anh minh, sáng suốt làm cho quốc gia thịnh trị, thiên hạ thái bình, chỉ dùng ngoại giao không cần động đến binh đao cũng yên được giặc giả, con cháu nối dõi mười mấy đời? Tần Thủy Hoàng đánh đông, dẹp bắc sau trở thành bạo chúa, chưa hết đời con đã tuyệt diệt; thời cận đại có Adolf Hitlle một nhân vật xuất chúng đi gây kinh hoàng cho cả thế giới đó sao?

Tổng thống Diệm với tinh thần của một nhà nho, từng là vị quan đầu triều dưới thời vua Bảo Đại kết hợp với tính kỷ luật của những năm tháng học trong trường dòng ít nhiều ảnh hưởng đến tâm tính làm cho ông trở nên nghiêm khắc, thưởng phạt phân minh đã làm cho lủ người thường quen với nếp sống hải hồ cảm thấy khó chịu và oán hận bởi sự gò bó trong trật tự, kỷ cương phép nước? Việc TT Diệm sử dụng hai người em làm cố vấn cũng không có gì sai trái, vì dẫu sau các ông cũng đều là những nhà khoa bảng, trí thức chứ không phải thuộc những loại người đá cá lăn dưa ở chợ hay ở trong rừng rú, bưng biền gặp phải thời vận rồi dạy khôn thiên hạ bằng một thứ chủ nghĩa Mác-Le sáo rỗng, lừa mị. Sau ngày 30/4/75, thiên hạ mong mỏi, trông chờ một chế độ – xã hội mới tốt đẹp, đàng hoàng và tử tế, một xã hội văn minh, phát triển và thịnh vượng. Thế nhưng, một đất nước Việt Nam gần bốn mươi năm trôi qua chỉ là một xã hội tạp nham nhìn đâu cũng thấy toàn một màu xám xịt, u tối. Gán ghép cho chế độ TT Diệm là gia đình trị độc tài, tuy nhiên ông cùng một vài thành viên trong gia đình đã bị chính những kẻ bề tôi phản phúc lật đổ, giết hại? Nhưng gia đình trị của CNXH là cả một hệ thống độc tài, toàn trị: tham nhũng, mua quan, bán chức, cướp nhà, cướp đất, đánh đập, hành hạ dân; ngoài xã hội tràn lan đủ mọi loại tệ nạn: ma túy, mại dâm, lừa gạt, buôn người, giật dọc ở chốn đông người, cướp của giữa thanh thiên bạch nhật, giết người vô cớ, giết người man rợ…chế độ ấy vẫn tồn tại lâu dài?

Từ khi còn là một trong những vị quan đầu triều Nguyễn, cụ Diệm đã nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, chính trực và cho đến khi dấn thân vào hoạt động chính trị, trở về nước chấp chánh nắm vận mệnh quốc gia trong chín năm Tổng thống Diệm không hề để lại điều tiếng gì có dáng dáng đến của cải, vật chất và Cụ cũng không liên quan đến bất kỳ một phụ nữ nào. (Vì vậy sau khi ông bị sát hại, con chó điên phản chủ Dương văn Minh rất mực tò mò muốn tìm hiểu xem ông có phải là đàn ông hay không). Tổng Thống Diệm ra đi với hai bàn tay trắng, bọn hội đồng tướng lĩnh phản phúc không thể tìm thấy tại nơi làm việc và chỗ ở của ông có thứ báu vật, gia sản nào có giá trị, ông không xây cất bất cứ một tư dinh, biệt thự nào cho cá nhân để an hưởng tuổi già khi không còn nắm giữ quyền lực. Ông chỉ có một mong muốn: “sau khi rời chính trường, ông sẽ lui về tu ẩn ở một tu viện ở xa Sài Gòn ít người biết đến…”. Đúng năm mươi năm trôi qua, những thứ tài sản và dinh thự duy nhất của ông chính là mảnh đất nhỏ chưa đầy hai mét vuông với một ngôi mộ đá mài đơn sơ nằm cạnh bào đệ của mình. Người đã chết có bao giờ còn cất lên tiếng nói biện hộ cho những lý lẽ chính đáng của mình, vì vậy lịch sử đời sau sẽ phân xử việc đúng sai một cách công minh và một ngày nào đó, sự thật của lịch sử sẽ phán xét để trả lại công bằng, lẽ phải cho TT Diệm và gia tộc họ Ngô, sẽ phân xử xem chế độ nhà nước nào mới thực sự vì nước, vì dân; vì quốc gia, dân tộc? Chế độ nhà nước nào phản dân, hại nước, bán nước cầu vinh?

Những kẻ gây nên cuộc binh biến tang thương cho gia đình Ngô Tổng Thống vào ngày 01/11/63, đã không thể biến miền Nam trở lại như xưa mà trái ngược những cuộc chỉnh lý, đảo chính liên miên làm cho tình hình chính trị càng rối ren, bi đát hơn và trước làn sóng cộng sản của sự kiện lịch sử ngày 30/4/75. Nhóm hội đồng tướng lĩnh bất tài, cùng lũ chính khách xôi thịt đã ngụy tạo lên những màn kịch dối trá, bịp bợm: đàn áp tôn giáo, độc tài, gia đình trị, thông đồng với cộng sản…nhằm trút đổ hết mọi trách nhiệm, tội lỗi lên cho TT Diệm và gia đình của ông. Thực chất, đây là những hành động phản chủ của một bầy chó điên xông vào cắn xé chủ, vì loài chó chúng thường trung thành không bao giờ dám cắn chủ chỉ có loại chó điên, chó hoang mới dám quay đầu cắn chủ và lủ chó điên ấy đã vội vả trốn chạy bỏ lại người dân miền Nam trong bần hàn, khốn khổ, trong vòng kiềm tỏa của “thiên đường xhcn” và ngay tại nghĩa trang Lái Thiêu ngày nay có hai ngôi mộ nhỏ khói tàn, hương lạnh nằm cạnh bên nhau ít người biết đến, nơi đó là hai ngôi mộ của vị Tổng thống quốc gia dân cử, cùng ông em Cố vấn những người đã có công thiết lập nền Cộng hòa đầu tiên trên quê hương xứ sở, trên đất nước Việt Nam.

Có những nhân vật lịch sử đến mấy đời sau mới được xã hội chấp nhận, tôn vinh: Thời Tiền Lê, Lê Hoàn lên ngôi bằng một sự sắp xếp chuyển giao quyền lực từ chính tay bà Thái hậu Dương Vân Nga nhưng nhờ đánh thắng quân Tống nên được tôn vinh. Tương tự, Thái sư Trần Thủ Độ đoạt ngôi nhà Lý bằng việc ép buộc Công chúa Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Thái Tông và truy sát tận gốc rễ con cháu nhà Lý, nhưng nhà Trần đã ba lần đẩy lùi các cuộc xâm lăng của giặc nguyên Mông, lịch sử đã ghi danh một triều đại làm rạng rỡ nước nhà, Vua Quang Trung Nguyễn Huệ nhà Tây Sơn đánh dấu một trang sử hào hùng của dân tộc khi đánh tan hơn hai mươi vạn quân Thanh khi đương thời cũng bị các cựu thần nhà Lê-Trịnh-Nguyễn dèm pha là kẻ chiếm ngôi dù quyền hành nhà Lê chỉ còn trên danh nghĩa. Một nhân vật lịch sử khác là ông Hồ Quý Ly đã bị sử sách thời đó lên án là kẻ cướp ngôi dù cuối đời Trần đã bạc nhược, suy yếu. Nhưng vì những chính sách cải cách mạnh tay của ông đã đụng chạm đến quyền lợi của giới quý tộc và quan lại là các cựu thần dưới thời Trần, đây là nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của ông khi không có sự đoàn kết nhất trí một lòng để cùng nhau chống giặc như dưới thời Trần chống quân Nguyên Mông. Vì vậy khi quân Minh lấy danh nghĩa: “phù Trần diệt Hồ” thì tinh thần chống ngoại xâm của nhà Hồ nhanh chóng thất bại, đi đến diệt vong. Giả sử ngày ấy, Quân tướng nhà Hồ đoàn kết một lòng đánh bại ý đồ xâm lược của nhà Minh thì chắc chắn ông Hồ Quý Ly đã được sử sách tôn vinh, chúc tụng.

Lịch sử luôn khách quan sẽ trả lại công bằng vốn có! Các sử gia và con cháu ngày nay đã không còn khắt khe với cụ Hồ Quý Ly rằng ông là một nghịch thần soán ngôi, đoạt vị mà ông là một nhà chính trị có tinh thần cải cách. Ông đã đưa ra nhiều biệp pháp cải tổ như thực hiện phép “Hạn điền” nhằm hạn chế chiếm hữu lớn về đất đai của quý tộc phong kiến, phép “Hạn nô” để hạn chế số lượng gia nô mà giới phong kiến quý tộc được sở hữu, bổ sung số gia nô dư thừa vào việc củng cố quân đội. Dưới triều Hồ, tiền giấy đã được đưa vào sử dụng lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Ở đây ta nhận thấy có quan điểm tương đồng trong chính sách cải cách mạnh tay giữa cụ Hồ Quý Ly và cụ Ngô Đình Diệm lấy pháp trị làm nền tảng để vãn hồi lập lại trật tự, kỷ cương, thu hồi những của cải do tham nhũng, lấy lại đất đai dư thừa phân bổ lại cho dân nghèo, khiến cho những tầng lớp thuộc danh gia thế tộc, bọn địa chủ, phú hộ, cường hào, ác bá bị tước mất quyền lợi, quay ngược chống đối và báng bổ chế độ. Suy cho cùng, mầm móng đổ vỡ suy tàn dưới thời phong kiến nhà Hồ và chế độ Cộng Hòa của TT Diệm mới chóm nở đã vội suy vong chỉ vì không biết cách dối trá, mị dân theo kiểu: “sở hữu toàn dân, quy hoạch phát triển” và không để bọn công thần tác oai, tác oái thao túng quyền lực, không để bọn cơ hội tha hồ tham nhũng, kiếm chác, vơ vét (dưới dạng những Tập đoàn kinh tế nhà nước làm chủ đạo như hiện nay, trong đó là những PMU 18, VINASHIN, VINALINE, EVN, các công trình thủy điện lớn nhỏ trên cả nước….)

Tác giả viết bài này luận bàn theo quan điểm cá nhân không nhằm việc báng bổ tôn giáo, cũng không ủng hộ việc gây chia rẻ mất đoàn kết giữa hai tôn giáo lớn là Phật giáo và Công giáo, cũng không kêu gọi lật đổ chế độ! Chế độ nào thực sự vì nước, vì dân đem lại cơm no, áo ấm và thịnh vượng cho dân sẽ được tồn tại lâu bền còn ngược lại sẽ có sự đào thải, hủy diệt đó là quy luật của xã hội. Cuộc binh biến xảy ra ngày 01/11/1963 là một bài học sâu sắc về nạn bè phái chia rẻ tôn giáo, chia rẻ dân tộc. Xã hội Việt Nam có lẽ còn lâu lắm mới nhìn thấy được dân chủ tự do trừ phi những kẻ trực tiếp, gián tiếp hoặc những kẻ cười nhạo, báng bổ chế độ ngày ấy biết ăn năn, hối lỗi nhìn nhận sự thật, cầu nguyện cho hai cụ và khẩn thiết van xin rằng: “xin hai cụ tha thứ vì chúng con không biết việc chúng con làm”. Dân chủ, tự do và thái bình, thịnh trị mới thực sự đến với dãy đất hình chữ S này. Để kỷ nhớ năm mươi năm ngày mất của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ là Cố vấn Ngô Đình Nhu vào ngày 02/11/1963 sau cuộc chính biến 01 /11/1963, xin thắp lên bàn thờ một bát hương tưởng nhớ hương hồn của hai cụ.

Tưởng niệm hương hồn Cụ Diệm, Cụ Nhu, Cụ Cẩn
(02/11/63 – 02/11/13)

This entry was posted in Bình-luận - Quan-điểm, Một thời để nhớ, Nền Đệ I Cộng Hoà. Bookmark the permalink.