VIỆT NAM MÁU LỬA (Nghiêm Kế Tổ): Chương 3a

vietnamkhoilua_bia_xuanthuCHƯƠNG BA

CHÍNH NGHĨA QUỐC GIA

A.- YẾU TỐ TƯỢNG TRƯNG

Từ khi Hoàng Đế Bảo Đại hy sinh ngai vàng mong mưu đồ Tự Do, Dân Chủ cho một Việt Nam Độc Lập mới, quốc dân vui mừng với tư tưởng mới mẻ của vị Anh Quân trẻ tuổi, cảm động sâu xa với hành vi cao cả của Người. Cử động siêu phàm ấy đã phơi bầy ra ánh sáng cái quá khứ u ám, nuốt hận dưới thời Pháp thuộc, quá khứ đã khiến cho một vị Hoàng Đế đầy tâm huyết với non sông bị kìm hãm khó bề vùng vẫy.

Chiếu thoái vị của Hoàng Đế Bảo Đại chỉ có giá trị hình thức. Trong tâm can dân chúng, Hoàng Đế Bảo Đại vẫn còn, hình ảnh vị Hoàng Đế thông minh không dễ mỗi chốc đã nhòa được.

Mặc dầu đã khôn ngoan đặt Cựu Hoàng vào địa vị Cố Vấn Tối Cao, mặc dầu trên địa hạt tuyên truyền, Việt Minh cố tình làm quốc dân lãng quên vì vua cũ để có thể dễ dàng xuy tôn các lãnh tụ của họ, Việt Minh cũng chỉ thành công có mỏng manh và nông cạn.

Nếu như dân chúng đã tỏ ý thỏa thuận sự việc thoái vị của một quân vương, họ cũng vẫn tỏ thật tình tin mến con người Hoàng Thân Vĩnh Thụy. Vì nhiều lẽ:

Người dân Việt muốn tự do, độc lập nhưng trong khuôn khổ trật tự của đạo lý Khổng-Mạnh, một đạo lý đã từng ăn sâu vào tâm não người dân hàng chục thế kỷ. Nếu dân Việt Nam hớn hở, đón mừng Việt Minh năm 1945, cũng chỉ vì dưới sự đau khổ cùng cực của chế độ Pháp thuộc, Nhật thuộc, qua những tai nạn kinh khủng đói lụt v.v…Người dân cần một bầu dưỡng khí mạnh và mới. Nhưng đến khi đã thoáng nhận chế độ ‘’kim thời’’ cũng chỉ mang lại chết chóc, khủng bố trong tinh thần, phân ly trong gia đình, xáo lộn trong xã hội, xảo trá và quỷ quyệt trong hành động, người dân buồn rầu đã quay nhìn lại con người độc nhất tượng trưng lòng yêu nước của toàn dân: Cựu Hoàng Bảo Đại!

Nhưng Cựu Hoàng là Cố Vấn Tối Cao của chính phủ Hồ chí Minh ? Việc ấy người dân không lẩm lẫn. Họ đã sáng suốt nhận chân tình thế của Cựu Hoàng. Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa. Cựu Hoàng đã gặp cảnh ngộ như vậy. Sự thắc mắc của Hoàng Đế đã được quốc dân thông cảm.

Tuy là một nhân viên cao cấp trong chính phủ Hồ chí Minh, Cựu Hoàng đã quá xa với sự kính trọng của các cán bộ cộng sản. Trong thôn xóm yên tĩnh, nghèo nàn, nếu vô tình một bức chân dung cũ kỹ, màng nhện chăng qua, hình ảnh vị quân vương trẻ tuổi khoác áo Hoàng Bào ẩn dưới một nếp tranh lạnh lẽo, bị người khách lạ nhận thấy, sự chẳng lành sẽ xẩy ra tức khắc. Trước hết, người chủ nhân chất phác sẽ bị mời cất ngay bức hình tượng trưng óc đế quốc, lạc hậu, rồi tiếp đến sự ‘’thăm nom’’ vô hồi của các nhân viên trinh sát với tất cả những lời lẽ khôn ngoan như phản đối, như ôn hòa, như gắt gao, như đe dọa, như tuyên truyền. Những việc tương tự tiếp diễn không ngừng trên khắp giải đất Việt Nam dưới muôn ngàn hình thái. Đôi khi may mắn, khổ chủ được giải thích mềm mỏng để hiểu thế nào ‘’sùng vương’’ là một tội, một tội phản động đối với chính thể mới, đôi khi, chẳng may địa phương lại do một hung thần coi sóc, khổ chủ sẽ được ‘’săn sóc’’ hơn, có thể tiến thẳng tới Cải Hối Thất xa xăm, lạnh lẽo của núi rừng. Ở đây, khổ chủ tha hồ mãi mãi suy nghĩ đến việc treo ảnh vô ý thức của mình.

B.- Ý CHÍ QUỐC DÂN

Nếu Cựu Hoàng tượng trưng tinh thần quốc gia thuần túy, cổ truyền thì Cựu Hoàng đã là cái đích để quốc dân tìm tòi, bộc lộ lòng yêu nước. Sự bộc lộ tuy có bị mất mát, lạc lõng, lang bạt trong các xóm quê xanh ngát nhưng không vì thế mà không thể được tập trung, được nung đúc, được tổ chức, được trình bầy, nói một cách khác, được công khai đương đầu với tinh thần quốc tế cộng sản.

Ý chí quốc dân cứ thế bước, từ Bắc chí Nam bằng những hoạt động tuy khác nhau về hình thức, cách nhau về thời gian nhưng cùng một mục đích, một lý tưởng: Ủng hộ Cựu Hoàng, người tượng trưng lý tưởng quốc gia, phản đối chính phủ Việt Nam, tay sai của Kremlin cộng sản.

Ngoài Bắc Việt, sau khi bị thất thế, chậm chân để đến nỗi Việt Minh chiếm đoạt được chính quyền, các đảng phái chính trị quốc gia liền đoàn kết lại thành một khối dưới nhãn hiệu Việt Nam Quốc Dân Đảng, một phần nào dựa vào thế lực quân sự Trung Hoa, thiết lập các trụ sở hoạt động, nhằm hai công tác chính: Chính trị và quân sự.

Về chính trị, từ tháng 6.1945, Việt Nam Quốc Dân Đảng tích cực hoạt động trong nước và đối ngoại có một Hội Nghị giữa Trung Hoa Quốc Dân Đảng với phái đoàn Việt Nam Quốc Dân Đảng do Phan Trâm (Bác Sĩ Nguyễn Tiến Hỷ) lãnh đạo.

Phái đoàn đã được các Bộ Trưởng Trung Hoa như Ngô Thiết Thành, Trần Lập Phu, Trần Thành, Trần Khánh Vân, Trịnh Tiềm, Chu Gia Hoa, Trương Trí Trung, Trương Đạo Phan, Vương Thế Kiệt…niềm nở tiếp đãi tại Trùng Khánh và cho phép phái đoàn Việt Nam đi tham quan mọi nơi như Viện phát hành giấc bạc, trường học, công binh xưởng v.v…

Tháng 9 năm 1945, Việt Nam Quốc Dân Đảng xuất bản báo chí mục đích tố cáo trước dân chúng những Việt Minh, độc tài, vô sản…Sau khi đã vạch rõ cho dân chúng biết sự thật, Việt Nam Quốc Dân Đảng tổ chức, dân chúng biểu tình phản đối Việt Minh. Hà Nội mục kích từng đoàn dân chúng đủ các hạng người vác biểu ngữ, tung truyền đơn, xếp hàng trật tự diễn qua. Bờ hồ Hoàn Kiếm, các phố lớn, tới trụ sở của Cố Vấn chính phủ mới, Cựu Hoàng đích thân lãnh đạo việc nước: Dân chúng ủng hộ Cựu Hoàng.

Trong bí mật Việt Nam Quốc Dân Đảng tổ chức trinh sát đối đầu với các bộ phận do thám Việt Minh. Rồi các vụ bắt cóc lẫn nhau bắt đầu một cách kinh khủng. Những vụ ám sát giữa người quốc gia và người quốc tế thi nhau tiếp diễn trong bóng tối. Khủng bố đối với khủng bố.

Về quân sự, tháng 9 năm 1945, giữa lúc Việt Minh lung lay ở Thủ Đô Hà Nội, cờ đỏ sao vàng đã tung bay khắp trên lãnh thổ Việt Nam, các lãnh tụ phe quốc gia có huy động lực lượng tuy kém thế nhưng kỹ thuật chiến đấu vững chắc từ hải ngoại kéo về chiếm Tỉnh Hà Giang thuộc xứ Thái: Vũ Quang Phẩm và Hoàng Quốc Chính chỉ huy trận đánh.

Nghiêm Kế Tổ tại Côn Minh liên tục phát triển lực lượng quân sự giữa đám quân nhân lưu vong của Pháp. Đám quân khố đỏ được giác ngộ rất nhiều, đồng lòng cộng tác hoạt động. Sau khi lãnh tụ Vũ Hồng Khanh đốc sức các cán bộ chiếm lĩnh Lao Kay. Việt Nam Quốc Dân Đảng tiến chiếm đánh đất Yên Bái và tăng cường căn cứ địa Vĩnh Yên khá vững chắc.

Mặc khác, Đồng Minh Hội với Việt Tam Quân hăng hái loạn đả với quân đội của Đệ Tứ chiến khu tại vùng Đầm Hà, Tiên Yên, Mong Cáy, Việt Minh cũng không yên vị.

Đồng bào Công Giáo cũng chẳng chịu kém, mặc dầu cụ Hồ chí Minh, người hiểu rõ lực lượng Công Giáo Việt Nam hơn ai hết, đã đích thân tiếp đón Đức Cha Lê Hữu Từ, Hồ Ngọc Cẩn, đã khôn khéo tổ chức đoàn thể Công Giáo Cứu Quốc, người Công Giáo yêu nước cũng sớm nhận thấy hai chủ nghĩa vô thần và hữu thần không thể cùng nhau sống, nên đã tích cực thành lập một hệ thống phòng ngữ tự vệ khá mạnh với hàng ngàn thanh niên dũng cảm dưới quyền điều khiển của một số Cha, Cố, hăng hái, trẻ trung. Dân chúng được đọc những khẩu hiệu: Đả đảo cộng sản, Ủng hộ chính phủ liên hiệp, la liệt trên tường với vùng Bùi Chu, Phát Diệm…Hoạt động của những người theo chính nghĩa quốc gia khiến Việt Minh chùn bước:

– Dành 70 ghế nghị sĩ cho phe quốc gia.
– Cải tổ và thành lập chính phủ liên hiệp.
– Các lãnh tụ phe quốc gia kiểm soát Quân Sự Ủy Viên Hội (Vũ Hồng Khanh). Ngoại Giao (Nguyễn Tường Tam, Nghiêm Kế Tổ). Kinh Tế (Chu bá Phượng)…
– Báo chí tương đối được tự do công khai đã kích Việt Minh, tự do tuyên truyền chủ nghĩa, tự do tuyển mộ thanh niên…
– Giáo Đường được kính trọng, bất khả xâm phạm, giáo dân được nể vì…

Những người cộng sản cũng đã hiểu rõ lòng dân chúng. Dưới mắt chính phủ Hà Nội. Chiến khu Vĩnh Yên, căn cứ Tiên Yên và vùng Giáo Hội Bùi Chu, Phát Diệm là ba cái gai quá nhọn.

Trong Nam Việt, những phần tử chống cộng cũng không thưa phần anh dũng.

Ngay từ phút đầu, trước khi Việt Minh tiến bước các nhóm đảng chính trị như Cao Đài, Hòa Hảo, Việt Nam Độc Lập, Phục Quốc đã hợp nhất để tiếp nhận võ khi ở tay Nhật Bản. Sau khi chót bị Việt Minh thuyết phục để nắm giữ chính quyền, các đảng phái bí mật tập hợp các lực lượng thanh niên làm hậu thuẫn. Tình thế Nam Việt lúc đó kém yên ổn.

Ngày 2.9.45 Việt Minh bắt đầu giữ chính quyền địa phương, ngày 23.9.45 quân đội Pháp đã tấn công.

Thời gian quá ngắn khiến sự đấu tranh giữa phe quốc gia và quốc tế không thể phát triển gay go như ngoài Bắc. Công cuộc tranh đấu cho chính nghĩa quốc gia của các Chính Khách miền Nam kiểu cách khác hẳn ngoài Bắc Việt. Khi một số lãnh tụ như Hồ Văn Ngà, Huỳnh Phú Sổ…bị Việt Minh lần lượt thanh toán, các lực lượng còn lại tự phân tán chống lại bộ đội của Trần văn Giầu, riêng lãnh tụ Bình Xuyên đã treo giải thưởng cho ai lấy được đầu chủ tịch Nam Bộ. Một số các nhà trí thức quốc gia như Bác Sĩ Thinh, Đốc Phủ Tâm (nguyên Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm) Bác Sĩ Nguyễn Văn Tùng, tuy có bị cộng sản làm khó dễ nhưng may mắn đã thoát khỏi nanh vuốt sắc nhọn để có thể tiếp tục sự nghiệp chống cộng mà ngày nay quốc dân đã mục kích rõ ràng.

Các chính khách Nam Việt biết trước rằng mối giây liên lạc Việt-Pháp chưa thể nào có thể cắt đứt hẳn. Nhận định khác người được như vậy, các chính khách đã mạnh bạo quả quyết bắt tay người Pháp giữa phong trào chống Pháp đang lên trong dân chúng. Không e dè, sợ sệt một dư luân vô tình và đầy ác ý có thể tổn hại tới uy tín cá nhân, các chính khách miền Nam đã thành thật và đặc biệt sửa soạn con đường giao hảo Việt-Pháp khác hẳn với lối bắt tay của các lãnh tụ Đỏ tại Đà Lạt và Fontainebleau với Pháp, khác hẳn với lối ‘’thân Pháp’’ của Việt Minh cộng sản. Đường lối ấy vô tình chung đã phù hợp phần nào với chính sách của Cựu Hoàng, người chủ trương tranh đấu bằng ngoại giao và chính trị để xây dựng nền độc lập tự do.

C.- ĐỨC QUỐC TRƯỞNG HOẠT ĐỘNG

Bôn Tẩu Trung Hoa

Từ ngày thoái vị, Cựu Hoàng sống một cách giản dị giữa Thủ Đô trong một biệt thự xinh xắn. Cử chỉ thoái vị siêu phàm của một Quân Vương đầy tâm huyết với non sông, Cựu Hoàng đã tỏ cho quốc dân rõ lòng nhiệt thành thân mến quốc dân, trong thái độ ủng hộ chính phủ mới (quan niệm chính phủ một cách đứng đắn), trong lối sống thanh đạm hàng ngày.

Thâm tâm của Người tuy muốn yên vui làm công dân một nước dân chủ, độc lập, nhưng buồn thay, tình trạng đất nước khiến Người phải suy nghĩ: Chính phủ Hồ chí Minh thất bại, các cường quốc xa lánh một chính phủ tượng trưng chủ nghĩa vô sản. Dù Việt Minh có thắng lợi trên trường quốc tế chăng nữa, chẳng lẽ Người lại chịu ngồi im để dân con mất tự do, mất tài sản, mất thuần phong mỹ tục, mất nền văn minh cổ kính, tinh hoa, ngồi im để một lũ vong bản hiện dâng non sông cho đế quốc độc tài. Như thế không những Người có lỗi với giang sơn, tổ quốc, có lỗi với chính bản thân Người và lịch sử sẽ còn phê phán Người sau này nữa.

Cựu Hoàng ở Hà Nội. Người đã mục kích mọi hành động của những người mệnh danh là yêu nước, Người đã quá rõ mặt trái của họ, đã thấy những cảnh tượng xung sát đẫm máu, những huynh đệ thương tàn, những tranh quyền cố vị, đồng thời Người cũng đã rõ lòng dân, ý chí của dân.

Nước nhà muốn được yên ổn cần phải có một người trong được lòng dân, ngoài có uy tín với các cường quốc.

Người đó không ai ngoài Cựu Hoàng Bảo Đại.

Đối với các cường quốc, việc thoái vị của Hoàng Đế không có nghĩa là Người đã rút lui khỏi trường chính trị. Biết Việt Minh là cộng sản, Pháp vẫn mong được trực tiếp nói chuyện với Người. Hoa Kỳ đã cố ý lánh xa chính phủ Việt Minh, người ta không còn thấy các nhân viên, sĩ quan Mỹ tới dự những cuộc họp công cộng, những cuộc mít tinh, biểu tình nữa. Hoa Kỳ đã quay lại phía Cựu Hoàng, chờ đợi. Chỉ cần Cựu Hoàng ưng thuận là Hoa Kỳ sẵn sàng tích cực giúp đỡ, hăng hái giúp đỡ.

Tháng 3 năm 1946, Nghiêm Kế Tổ, Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao trong chính phủ Liên Hiệp Hồ chí Minh, thân dẫn phái đoàn sang Trung Quốc để tỏ ý thân thiện. Buổi tối, trước hôm đi, trong phiên họp riêng tại Dinh Chính Phủ (cụ Hồ chí Minh, Cựu Hoàng Bảo Đại, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Công Truyền, Hà Phú Hương) sau khi đã vạch rõ ý nghĩa cuộc đi và nhiệm vụ phái đoàn, cụ Hồ chí Minh quyết định cả Cựu Hoàng cũng sẽ cùng đi và phái đoàn phải cấp bách sửa soạn, khởi hành ngay ngày hôm sau.

Cựu Hoàng và Nghiêm Kế Tổ không tán thành việc đi vội vàng như vậy và phản đối việc Cựu Hoàng đi Trung Hoa với tư cách một nhân viên trong phái đoàn mà chỉ đi với tư cách một vị Quân Vương đi du lịch. Cụ Hồ chí Minh, thái độ biến đổi bất thường và sau một lát suy nghĩ, chỉ đồng ý Cựu Hoàng ở lại và dục phái đoàn vẫn phải đi ngay, quyết định Nghiêm Kế Tổ lãnh đạo phái đoàn (hai đoàn viên là Nguyễn công Truyền, Hà phú Hương, Việt Minh). Đêm hôm đó, sau cuộc hội nghị, Nghiêm Kế Tổ tới Biệt Thự riêng của Cựu Hoàng, rồi cùng sang nhà bên cạnh gặp Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam. Mọi người đều trình bày lợi hại, khuyên Cựu Hoàng nên xuất ngoại với tư cách một vị Hoàng Đế thoái vị đi du lịch. Cựu Hoàng đồng ý ngay.

Sáng hôm sau, Cựu Hoàng cùng Nghiêm Kế Tổ tới Dinh Thủ Tướng từ giã cụ Hồ và đón hai đoàn viên, cụ Hồ chí Minh thấy sự đột ngột thay đổi thái độ của Cựu Hoàng, rất đỗi kinh ngạc, nhưng chẳng biết tính sao, đành lặng lẽ bắt tay tiễn biệt…

Chiếc phi cơ của Trung Quốc Hàng Không Công Ty đã chở Cựu Hoàng và phái đoàn bay thẳng tới Côn Minh, để lại trong lòng những người cộng sản nhiều thắc mắc, lo âu.

Người ra đi không tùy tùng thân thuộc, cô đơn (Nam Phương Hoàng Hậu và các Hoàng Tử, Công Chúa vẫn còn long đong ở miền Trung nước Việt) nhưng chí cương quyết của Người không vì gia đình mà chùn, nản. Bởi vì, cùng với gia quyến của Người, quốc dân Việt Nam cũng đang quằn quại đau thương: Nam Việt trong khói lửa, máu đào, Bắc, Trung với những vụ ám sát, bắt bớ tra tấn, thủ tiêu, dã man, hung ác, cảnh tương tàn buồn thảm…Cựu Hoàng cương quyết ra đi. Người ra đi tìm nguồn sống cho dân tộc.

Đất Trung Hoa tiếp đón người công dân yêu nước số một của dân tộc Việt. Vì cuộc ra đi của phái đoàn Nghiêm Kế Tổ xẩy ra một cách quá đột ngột, không dùng nghi thức ngoại giao thường lệ giữa hai quốc gia, cho nên nhà đương cục ở Côn Minh không hề hay biết. Phái đoàn tới Côn Minh phải tạm trú ở Khách Sạn Commerce.

Ngay buổi chiều, sau khi Nghiêm Kế Tổ trình Ủy Nhiệm Thư ra mắt tiếp xúc, các nhà đương cục Trung Hoa ở Côn Minh vội vàng tiếp đãi một cách vô cùng trịnh trọng. Họ mời phái đoàn ra ở Biệt Thự riêng nhưng Cựu Hoàng từ chối, tránh phiền phức và tạm ra trú ngụ tại Hoa Viên Lữ Điếm. Ở Côn Minh được ít ngày với ý định đợi tin Ngài Nam Phương cùng gia quyến. Nhưng khi được tin gia quyến Người có ủy ban hành chính Trung Bộ gìn giữ. Người đành cùng phái đoàn quyết định đi Trùng Khánh. Cuộc đi không trống, không kèn, khiến chính phủ Tưởng Giới Thạch không hề hay biết.

Đến Trùng Khánh, lặng lẽ phái đoàn vào trọ tại Khách Sạn Victory Hoise, nhà đương cục Trung Hoa ngay lúc đó được biết tin. Các yếu nhân Trung Hoa khi hay Cựu Hoàng tới Trùng Khánh vội vàng tới tiếp kiến và tỏ ý trách phái đoàn không cho biết trước để chính phủ Trung Hoa có thể tổ chức cuộc đón tiếp trọng thể.

Cựu Hoàng được Tưởng Chủ Tịch tiếp đón ân cần, riêng biệt, ngày ngày đàm luận. Trong thời gian ở Trùng Khánh, Cựu Hoàng đã là Thượng Khách của chính phủ Trung Hoa.

Sau một tháng giời, Cựu Hoàng vẫn ở lại Trùng Khánh. Riêng phái đoàn Nghiêm Kế Tổ trở về nước. Vấn đề đó đã mặc nhiên như vậy. Cựu Hoàng sang Trung Hoa với tư cách cá nhân của một Quốc Vương đi du lịch, không liên lạc gì với phái đoàn ngoại giao, mặc dầu Người đã cùng đi với phái đoàn. Thái độ ân cần đặc biệt của Tưởng Chủ Tịch đã chứng minh chân giá trị, của Cựu Hoàng. Tưởng Chủ Tịch đã tiếp Cựu Hoàng trước khi tiếp phái đoàn, đã đàm luận riêng biệt với Người, đã mời Người đi du lịch Nam Kinh, Bắc Kinh, Thượng Hải (Cựu Hoàng từ chối).

Phái đoàn Nghiêm Kế Tổ trở về nước, từ giã vị Quân Vương đầy tâm huyết, một mình ở lại trên đất khách, tạm xa lánh quốc dân, đem tài sức xoay lại sơn hà (lúc đó Nguyễn Tường Tam suy cử, một vài bạn cũng từ Việt Nam tới Trùng Khánh tiếp giúp Cựu Hoàng như Lưu Đức Trung, Phạm Văn Bình, Đinh Xuân Quảng, Bùi Tường Chiểu v.v…

Sau những cuộc tiếp xúc với Tưởng Thống Chế và các yếu nhân trong chính phủ Trung Hoa, tháng 6 năm 1946, Cựu Hoàng tới Hồng Kông, mặt ngoài, Người làm như vẻ một khách du lịch Thành Phố Anh-cát-lợi, dự xem một cuộc vui thể thao…bên trong, Người tích cực suy tính một chương trình hoạt động mặc dầu nền tài chính quá eo hẹp đã khiến Người lắm phen thắc mắc.

Tháng 7 năm 1946, các lãnh tụ quốc gia lục tục bỏ Việt Minh xuất ngoại, hòng tính toán lại nước cờ riêng biệt. Nguyễn Tường Tam, trở lại Nam Kinh, Vũ Hồng Khanh, trở lại Vân Nam, Cụ Nguyễn Hải Thần đi Quảng Tây…

Dưới sự khủng bố ghê gớm của Tướng Nguyễn Bình, Tư lệnh miền Nam nước Việt, phần lớn lãnh tụ của các nhóm chính trị Cao Đài, Hòa Hảo… lần lượt rời bỏ Bưng Biền quay về Thành. Những phong trào quốc gia trong và ngoài nước tự tìm nhau kết hợp, đoạn tuyệt với chính phủ Hồ chí Minh và chịu đặt dưới lãnh đạo của Cựu Hoàng Bảo Đại, thành lập mặt trận quốc gia, chống Việt Minh và tranh đấu với Pháp dành Độc Lập cho Tổ Quốc.

Các đảng phái Đồng Minh Hội, Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Hội, Xã Hội Đảng, Cao Đài, Hòa Hảo…các yếu nhân từ Nam chí Bắc đã yêu cầu Cựu Hoàng Bảo Đại lãnh đạo phong trào quốc gia chống lại cộng sản, giao thiệp với Pháp ngõ hầu thực hiện thống nhất, tự do cho nước nhà.

Đằng sau Cựu Hoàng, một lực lượng quốc gia đang kiến tạo, đầy quả cảm, nhất trí ủng hộ Người. Tương lai Tổ Quốc, toàn thể quốc dân trông chờ Cựu Hoàng Bảo Đại.

Công khai đoạn tuyệt với Việt Minh, Cựu Hoàng đã tuyên bố với báo chí (Union Fracaire): ‘’Nếu tất cả dân chúng Việt Nam đặt tín nhiệm vào tôi, nếu sự hiện diện của tôi có lợi cho cuộc giao thiệp hòa hảo Việt-Pháp, tôi sẽ sung sướng mà trở lại Việt Nam. Tôi không hoạt động cho Việt Minh, không hoạt động cho đảng phái nào cả, tôi chỉ tranh đấu cho Tổ Quốc…’’

Lời tuyên bố của ông Trần Văn Tuyên, Đặc Ủy Viên của Cựu Hoàng tại Sài Gòn sau khi ở Hồng Kông về qua Hà Nội và Huế, đã nêu rõ đức tính cao cả, quãng đại và ý chí cương quyết của Người trong lập trường tranh đấu.

Cựu Hoàng Bảo Đại không phải là Cố Vấn Tối Cao của chính phủ Hồ chí Minh nữa, nhưng không vì thế mà gạt bỏ hẳn Việt Minh. Ngài sẽ ân cần thỏa thuận cho Việt Minh tham gia ý kiến trong cuộc thương thuyết với nước Pháp do Người hướng dẫn miễn là Việt Minh phải thành thật và đừng tự coi mình hơn các đảng phái khác.

Nếu chính phủ Hồ chí Minh từ chối sự ưu đãi do Người dành cho, sau cuộc thương thuyết, thực hiện được thống nhất, độc lập cho nước nhà, chính phủ do Người lãnh đạo sẽ coi Việt Minh là giặc và chính phủ của Người có nhiệm vụ phải dẹp yên.

Tinh thần quốc gia của Người còn được nhấn mạnh bằng câu nói: ‘’Nếu mai đây, nước Pháp thương thuyết với Hồ chí Minh thì tất cả những người quốc gia sẽ nhất tề nổi dậy chống cả Pháp lẫn Hồ chí Minh’’.

Lập trường của Cựu Hoàng đã rất rõ ràng. Lập trường quốc gia sáng tỏ, đúng ước nguyện quốc dân, được các cường quốc nhiệt liệt hoan nghênh ủng hộ.

Ý chí của Người rất cương quyết. Ý chí có dân làm hậu thuẫn, Người đã nói, đã hành động, điều vui cho quốc dân, điều lành cho giang sơn đất nước.

Trong khi chỉ vì chủ nghĩa vô sản, chính sách dĩ đảng trị quốc, dân tộc Việt Nam chịu quằn quại đồng thời dưới gót giầy đinh cứng nhọn của quân đội viễn chinh Pháp, dưới làn mưa bom đạn, với chiến thuật tiêu thổ, vườn không nhà trống của Việt Minh, ngày 9 tháng 9 năm 1947, hàng đoàn đại biểu từ đất nước bay sang Hồng Kông yết kiến Cựu Hoàng. Đại Biểu miền Nam có: Nguyễn Văn Tâm, Nguyễn Văn Sâm (Mặt Trận Liên Hiệp Quốc Gia) Nguyễn Phan Long (viết báo) Trần Quang Vinh (Cao Đài) v.v…Đại Biểu miền Trung: Trần Thanh Đạt (nguyên Thượng Thư Bộ Giáo Dục) Trần Văn Lý (Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Chính Huế) Cao Văn Chiểu v.v…Đại Diện miền Bắc có: Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Long v.v… (thuộc thành phần Hải Ngoại)

Trong khi Cựu Hoàng cùng những Đại Diện các đảng phái, các nhóm chính trị hội họp Hồng Kông tìm đường đi cho xứ sở thì ở nước nhà, khắp chốn, từ nơi núi rừng âm u cho đến nơi đồng chua nước mặn, mầu tang tóc đặc dầy bao phủ, mùi máu, lửa say nồng khét lẹt. Chiến thuật đại khủng bố của Nguyễn Bình miền Nam Việt đối với kế hoạch ‘’cloclo’’ của Tướng Valluy ngoài Bắc (Thu Đông 1947).

Việt Minh khủng bố đại quy mô để ngăn cản nhân dân ủng hộ Cựu Hoàng. Pháp cũng tấn công đại quy mô để tỏ cương quyết đối phó với Việt Minh, ở giữa dân chúng dơ đầu chịu báng.

Dân Việt ép mình dưới hai làn mưa đạn. Sự nguy khốn của quốc dân khiến Cựu Hoàng vô cùng chua xót.

Trong lúc các người con ưu tú của quốc gia bao quanh Cựu Hoàng để định đoạt tương lai cho xứ sở, ở trong nước, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân tích cực triệu tập nhân tài làm hậu thuẫn.

Ngày 6.12.47 cuộc gặp gỡ đầu tiên công khai Việt-Pháp giữa Cựu Hoàng và Cao Ủy Bollaert trên chiến hạm Duguay-Trouin tại Vịnh Hạ Long.

Cuộc gặp gỡ để dò xét lập trường, để mở đầu mối giây liên lạc đã khiến cho đại diện Pháp phải nhìn nhận thấy lòng cương quyết của Cựu Hoàng trên phương diện Thống Nhất và Độc Lập cho tổ quốc.

Không phải vì thiếu sót lực lượng quân sự mà Cựu Hoàng đã phải mềm, nhún với nước Pháp. Trái lại, Người quả quyết hơn bao giờ hết, trong việc đòi hỏi chân chính của Người: Độc Lập và Thống Nhất.

Ý chí cương quyết ấy đã làm cho đại diện Pháp có lúc phải cau mày suy nghĩ: ‘’Cựu Hoàng đòi hỏi hơn Việt Minh. Cứng rắn hơn Việt Minh!’’. Một lần nữa, nước Pháp nhận thấy ý chí người dân Việt mà đại diện của họ là Cựu Hoàng.

Trước thái độ gay go của Đại Diện Pháp, Cựu Hoàng quyết định sang Pháp. Ngày 26.12.47, chiếc phi cơ tối tân Anh-cát-lợi cất cánh rời Hương Cảng đã đem theo vị lãnh tụ thân yêu của dân tộc Việt sang trốn trời Âu. Ngài dừng gót ở Biệt Thự riêng, lâu đài Thorenc tại Cannes. Ở đấy, để chính phủ Pháp trực tiếp hiểu rõ lập trường của dân tộc Việt trong cuộc tranh đấu dành Độc Lập Tự Do. Ở đây, để những người Pháp có nguyên nước Pháp, nhận rõ chân giá trị của người Việt Nam: Người Việt Nam mới trong cục diện Thế Giới mới.

Nước Pháp vì quá tự do nên có lắm chính đảng, nào cộng sản, nào Cộng Hòa Bình Dân, Xã Hội, Cấp Tiến, Độc Lập, Liên Hiệp Quốc Dân…Chính phủ và Quốc Hội Pháp là nơi tập họp các chính đảng, là nơi các đảng phái phân chia phần ảnh hưởng. Lắm chính đảng, lắm chính kiến, lắm chủ trương dị đồng, tư tưởng rách rời mỗi phe một mảnh. Tình trạng ấy vô cùng ảnh hưởng đến công cuộc tranh đấu của dân tộc Việt Nam, một dân tộc chưa dứt khoát với vòng cương tỏa Pháp-lan-tây.

Tháng 2.1948, Cựu Hoàng trực tiếp gặp gỡ các Chính Khách tại Kinh Thành Ba Lê, thăm dò ý kiến họ. Trước thái độ không dứt khoát, mâu thuẫn nhau của các nhóm chính trị lãnh đạo dân chúng Pháp công cuộc tranh đấu bằng ngoại giao và chính trị của Cựu Hoàng vấp phải bao nhiêu gay go, khó nhọc.

Xung khắc nhau về vấn đề Đông Dương, bất đồng ý kiến trong Quốc Hội giữa các đảng phái chính trị, giữa các bộ trưởng, Cựu Hoàng thấy con đường của Người đi còn lắm chông gai, trắc trở.

Tháng 3 cùng năm ấy, Người quyết định quay trở lại Hồng Kông.

Chọn Hồng Kông! Ngay từ khi còn ở Trùng Khánh, Cựu Hoàng đã sáng suốt nhận thấy, muốn lãnh đạo trực tiếp công việc nước nhà, Người không thể trú ngụ tại Trùng Khánh hay Nam Kinh hay trên một lãnh thổ nào khác biệt, mà đích thân Người phải về Hồng Kông, sát ngay biên giới. Sự hiện diện của Người ở sát cạnh nước nhà sẽ đem lại bao nhiêu dễ dàng cho hoạt động của các chính khách quốc gia, do đó, Người dễ dàng theo dõi cặn kẽ tình hình trong nước, dễ dàng đo đắn mỗi bước tiến, nói chung và nói riêng.

Thái độ của Pháp đầu năm 1948 đối với Việt Nam thật chẳng tiến bộ chút nào so với năm 1946. Pháp muốn bóp nghẹt Việt Minh, muốn diệt tan quân ‘’kháng chiến’’, hy vọng thương thuyết hòa bình với Cựu Hoàng Bảo Đại và những phần tử quốc gia nhưng Pháp vẫn khư khư chưa dám hé răng tuyên bố hai chữ Độc Lập. Chắc Pháp quan niệm rằng một khi tuyên bố Độc Lập là Việt Nam sẽ thẳng cánh mời Pháp kiều cư trú trên giải đất Việt Nam phải sách khăn gói ra tài ? Quan niệm như vậy có nghĩa là Việt Nam sẽ mặc nhiên chiếm đồn điền, hầm mỏ và muôn vàn quyền lợi khác, ‘’của mồ hôi’’ của Pháp trong 80 năm ‘’làm ăn lương thiện’’. Quan niệm như vậy có nghĩa là nền văn hóa Pháp sẽ bị tiêu diệt trên lãnh thổ Việt Nam. Bởi vì xét cho đúng và đến cùng, giàng buộc nhau để làm gì nếu không thể hưởng quyền lợi phi vật chất thì tinh thần ? Trái lại, Cựu Hoàng tượng trưng một quan niệm khác hẳn: Phải dứt khoát, Độc Lập nước nhà, nền độc lập mà cha ông đã chót lỡ đánh mất trên 80 năm Thống Nhất lãnh thổ vì non sông bị chia xẻ, xé rách. Quan niệm đó là quan niệm của cả một dân tộc, một quan niệm chính xác và đứng đắn, không thể ai nếu đã có giòng máu Việt Nam chạy trong huyết quản, lương thiện biết yêu nước, vi phạm nó, làm tổn thương nó.

Hai năm đầy chết chóc, tốn của hao người để rồi vẫn đi đến chỗ phải thương thuyết trên nguyên tắc Thống Nhất và Độc Lập, Pháp thật đã rút nhiều kinh nghiệm cũng đau thương.

Dư luận Pháp rêu rao rằng điều kiện của Cựu Hoàng nêu ra nhiều nhất hơn điều kiện của Việt Minh.

Năm 1946, Việt Minh đã đồng ý thỏa thuận hai chữ Tự Do, lồng Việt Nam trong hai khung: Liên Bang Đông Dương và Liên Hiệp Pháp. Đến nay phe Quốc Gia đòi hơn nữa…Họ đòi Độc Lập!…

Dư luận Pháp khó chịu với những câu Độc Lập, Thống Nhất của Cựu Hoàng, khi đã kém thiện chí không chịu nhìn nhận đến vấn đề thời gian: Đã gần hai năm, nhà cửa Việt Nam đã tan nát, gia đình Việt Nam đã bơ vơ, bao cô nhi quả phụ, bao chết chóc đau thương. Sự thể ấy phải đánh giá bằng Thống Nhất và Độc Lập. Cựu Hoàng chỉ chủ trương một việc dĩ nhiên của lịch sử, không đòi hỏi gì quá quắt.

Nếu Pháp bảo Pháp cũng tốn tiền, thiệt máu ở trận giặc Đông Dương, việc đó đúng, nhưng người Pháp phải nhận rằng: Trong hàng ngũ kháng chiến, đại đa số không cộng sản vẫn sẵn lòng nghe theo tiếng gọi của Cựu Hoàng khi nước nhà đã được độc lập, lãnh thổ đã được thống nhất. Quân đội Pháp đã bắn vào đầu cái ‘’đại đa số’’ quốc gia kháng chiến ấy, thì việc tốn máu của quân viễn chinh Pháp kiều thuộc địa có nghĩa lý gì đâu.

Lập trường ‘’nhất định’’ của Pháp và nguyên tắc ‘’cứng cõi’’ của Việt Nam chẳng lẽ không có biện pháp nào dung hòa được. Trên thế giới còn biết bao nhiêu rắc rối tơ vò hơn nữa người ta vẩn gỡ được thường huống chi vấn đề Việt-Pháp, vấn đề gia đình và ‘’nội bộ’’, chỉ cần có thiện chí xây dựng, có tin tưởng lẫn nhau.

Giải quyết được Thống Nhất và Độc Lập của Việt Nam tức là Việt-Pháp có thể vui vẻ đề huề trong tình bang giao hữu nghị. Ngược lại, hai dân tộc đã hao người tốn của sẽ hao người tốn của nhiều hơn nữa để rồi cũng phải đi đến một giải pháp thích hợp với trào lưu tiến hóa của nhân loại. Giải pháp thứ hai ai cũng có thể biết rõ sẽ chẳng có lợi gì thêm cho Pháp.

Cuối tháng 4.1948, vài chính khách Nam Việt bay sang Hồng Kông. Việc giải quyết vấn đề thống nhất bắt đầu thành tựu. Trên thực tế, chính phủ Lâm Thời Nam Phần Việt Nam giải tán (chính phủ có tính chất địa phương này thành lập tháng 10.1947 do Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân làm Chủ Tịch gồm toàn nhân vật miền Nam)

Giải tán chính phủ Nam Phần để tiến tới thành lập một chính phủ trung ương toàn quốc. Cựu Hoàng đã thành công một phần trong sự nghiệp tranh đấu của Người giữa những lời than vãn la ó vô duyên của một số người Pháp thuộc địa chưa thức thời và một số ít phần tử có óc phân ly. Nhưng mặc la ó, mặc than vãn, một chính phủ toàn quốc, nghiễm nhiên ra đời. Cuối tháng 5.1948, tại Hồng Kông, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân đệ trình lên Cựu Hoàng danh sách của chính phủ Trung Ương Lâm Thời Việt Nam:

  • Thủ Tướng: Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân.
  • Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trấn Nam Việt: Trần Văn Hữu
  • Quốc Vụ Khanh kiêm Tổng Trấn Bắc Việt: Nghiêm Xuân Thiện
  • Quốc Vụ Khanh kiêm Tổng Trấn Trung Việt: Phan Văn Giáo
  • Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp: Nguyễn Khắc Vệ
  • Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục: Nguyễn Khoa Toàn
  • Bộ Trưởng Bộ Kinh Tài: Nguyễn Văn Vinh
  • Bộ Trưởng Bộ Thông Tin Tuyên Truyền: Phan Huy Đán
  • Bộ Trưởng Bộ Canh Nông: Trần Thiện Vàng
  • Bộ Trưởng Bộ Y Tế: Đặng Hữu Chí
  • Bộ Trưởng Bộ Công Chính: Nguyễn Văn Ty
  • Thứ Trưởng Dinh Thủ Tướng: Đinh Xuân Quảng
  • Thứ Trưởng Bộ Nội Vụ: Đỗ Quang Giai
  • Thứ Trưởng Bộ Lao Động: Ngô Quốc Côn
  • Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng: Trần Quang Vinh

Thủ Tướng chính phủ mới tuyên bố sẵn sàng ủng hộ và tuân theo Cựu Hoàng để phụng sự xứ sở Việt Nam, đồng thời bên Pháp chính phủ Schuman cũng tỏ ý hoan nghênh việc thành lập chính phủ Trung Ương Lâm Thời Việt Nam. Hành động hòa nhịp đã báo hiệu một tương lai tốt đẹp cho đất nước.

Trong lúc non sông Việt còn đang mịt mùng trong khói lửa, Cựu Hoàng đã đem tia sáng cho tương lai mặc dầu ánh sáng còn yếu ớt.

Ngày 5 tháng 6 năm 1948, trên chiến hạm Duguay Trouin ngoài Vịnh Hạ Long, Cựu Hoàng chứng kiến Cao Ủy Bollaert và Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân ký Thỏa Hiệp, một cái ‘’bắt tay xây dựng’’ đầu tiên của hai dân tộc.

Chữ Độc Lập tôn kính và trìu mến đã mất ngót một thế kỷ, dân việt ngày nay lại được nghe, được đọc, được công khai ấp ủ trong lòng.

Theo Thỏa Hiệp, Pháp công nhận nền Độc Lập của Việt Nam, Việt Nam sẽ tuyên bố gia nhập Liên Hiệp Pháp.

Việt Nam sẽ phải bảo đảm quyền lợi của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam và dành cho các kỹ thuật gia Pháp quyền ưu tiên công tác trong công cuộc kiến thiết xứ sở.

Các Đại Diện của chính phủ Trung Ương Lâm Thời Việt Nam và các Đại Diện của chính phủ Cộng Hòa Pháp sẽ được triệu tập để thương thuyết, bàn soạn về vấn đề văn hóa, ngoại giao, quân sự, kinh tài, kỹ thuật.

Trên giấy tờ, nền Độc Lập đã được tạm thời công nhận. Muốn xóa hẳn hai chữ tạm thời, hay nói một cách khác, muốn Độc Lập thực sự, Độc Lập mà từ chính phủ cho đến dân ‘’bạch đinh’’, mọi người đều trông thấy, nhận thực là thấy, Cựu Hoàng và các người con yêu đất nước còn phải tranh đấu nhiều, tranh đấu nữa.

Sau khi chứng kiến việc ký kết Thỏa Hiệp Hạ Long Cựu Hoàng lại rời sang Âu Châu. Người sang đó để đặt thêm viên đá xây dựng cho nước Việt Nam độc lập vững chắc hơn, hoàn hảo hơn.

Thỏa Hiệp Hạ Long, bước đầu thành công của Cựu Hoàng, là niềm vui cho dân tộc, điềm lành cho những người dân chất phác dầy lòng yêu nước thì nó lại là nỗi thắc mắc cho hai phái người:

Phái Thực Dân Và Phái Cộng Sản.

1.- Thiểu số thực dân Pháp làm quyền lợi ở Việt Nam bao giờ cũng chỉ muốn dân Việt Nam làm nô lệ để họ có quyền quật chết trong hầm mỏ, trong đồn điền cao xu, cà phê bao la rộng rãi, đầy muỗi khổng lồ và ‘’ghẻ hùm’’. Quật chết mới ra tiền, đó là phương châm không thay đổi của lý thuyết thực dân địa. Họ la ó, dóng trống, khua chiêng, quát tháo, đập bàn, đập ghế, đổ tội cho Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân là người nguy hiểm vì đã yêu nước Việt Nam, là người ‘’quốc gia, đáng sợ’’, để cảnh cáo chính quốc. Họ phản đối cả Cao Ủy Bollaert là người đã thay mặt chính phủ họ, Họ phản đối Thỏa hiệp Hạ Long đổ tội Thượng Sứ Pháp để vứt bỏ ‘’quyền lợi tối thiêng liêng’’ của những người Pháp ở Việt Nam.

Tóm lại, họ muốn cái túi tiền của riêng họ càng ngày càng dầy ra bằng đề nghị cũ cắt Nam Việt ra khỏi lãnh thổ Việt Nam với chế độ thuộc địa, cứ lập lại nền Bảo Hộ Bắc, Trung như trước khi có chiến tranh thế giới, dẹp tan bọn ‘’phiến loạn’’ bằng chiến thuật đánh mau, đánh mạnh…Và lập luận đi lập luận lại, các ông ấy đã chót quên, coi như không ai phải đổ máu trong trận giặc và giá trị của cuộc đổ máu do cần phải được đánh cân bằng. Người dân Việt chết, không chú ý, thanh niên Pháp bị hy sinh cũng thây kệ, tới thiểu số người Pháp không biết điều, chỉ nghĩ đến phệ bụng, tây riêng. Tiếng kêu của các ông ấy, như tiếng vo vo của loài muỗi mắc trước ngọn gió mát trong bầu trời trong đẹp.

2.- Người cộng sản Việt Nam đã đoạt được chính quyền mùa Thu năm 1945. Đã ngót hai năm, họ lãnh đạo cuộc kháng chiến. Quần chúng theo họ rất nhiều, vì quần chúng yêu nước mà cộng sản đã dựng bình phong ái quốc che đậy lý tưởng của họ. Quần chúng chưa trưởng thành về chính trị nhưng quần chúng có tinh thần yêu nước rạt rào. Họ đập tan những cái gì là chướng ngại vật trên con đường dành độc lập. Nếu như Phong Trào Cần Vương, phong trào khởi nghĩa, những vụ bạo động…trong 80 năm là những gợn sóng lăn tăn, bé bỏng trong quá trình tiềm tiến của cuộc đấu tranh dành độc lập, thì phong trào theo Việt Minh năm 1945 đã là một bộc phát tất nhiên không thể nào kìm hãm được. Lúc sơ khởi công cuộc hoạt động của Cựu Hoàng không khỏi vấp phải phẩm bình của đa số quần chúng nhất là số quần chúng trong ảnh hưởng Việt Minh, nói một cách ‘’địa dư’’ hơn, nghĩa là số quần chúng ở bên kia ‘’lằn mức’’. Đấy là một thực trạng không thể nào không công nhận và cũng không thể nào lên án quần chúng khi họ không bao giờ được biết sự thực, không bao giờ có dịp nghe đích ngôn của vị Quốc Trưởng lưu vong đã xa họ trong thời gian, trong không gian và nhất là qua bầu không khí dầy đặc của một phương pháp tuyên truyền ghê gớm. Lợi dụng những kết cấu tự nhiên đó, Việt Minh chỉ việc bịt thêm cho kín ‘’lỗ thông hơi’’ để nung thêm sức kháng chiến của dân tộc, với mục đích quyết thành lập chính quyền vô sản ở Đông Dương.

Từ khi Cựu Hoàng bôn tẩu Trung Hoa, Việt Minh mặc sức tung hoành trong nước không lo sợ một cản trở tinh thần nào. Cụ Hồ gửi điện cho phái đoàn Nghiêm Kế Tổ bảo cứ việc ở Trùng Khánh muốn bao giờ về nước thì về. Giá nói một cách ‘’trắng trợn’’ thì nghĩa là cụ Hồ bảo những người đã ra đi đừng nên trở lại.

Từ khi Hoàng siêu Hải, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn Thủ Đô, kéo bộ đội rời khỏi Hà Nội, Việt Minh đã áp dụng chiến thuật rút lui để bảo tồn lực lượng. Lực lượng đây, vật chất thì ít nhưng tinh thần thì nhiều. Việt Minh tránh những vụ bị tiêu diệt để quần chúng khỏi hoang mang, để quân đội khỏi mất tinh thần chiến đấu. Sau vụ Hà Nội, hầu hết những tỉnh thành lớn, những trục giao thông quan trọng lần lần lọt vào tay quân đội Pháp. Quân viễn chính Pháp lập các đồn ải để canh giữ những vùng chiếm được. Từ đồn ải, các chỉ huy Pháp tung quân tảo thanh từng khu vực lẻ, áp dụng chiến thuật ‘’vết dầu loang’’ hòng tiêu diệt địch, song song với chính sách ‘’tam quang’’ muốn dân tâm khiếp đảm để bỏ hàng ngũ Việt Minh quay về quy thuận quân đội Pháp. Trận đánh ra Đồng Tháp Mười miền Nam, trận bình định Cao Nguyên Ban Mê Thuột, hay cuộc hành binh LEA chiếm Cao Bằng Bắc Kạn là những tiếng vang lớn làm vững lòng về phía Pháp. Pháp hành quân chớp nhoáng, về phương diện chiến thuật, Pháp thắng thế hoàn toàn, làm chủ động trên chiến trường toàn quốc. Kế hoạch của Pháp dựa vào kỹ thuật, dựa vào khí cụ nặng nề, dựa vào hỏa lực ào ạt và rầm rộ’’.

Trái lại, quan niệm của Việt Minh ngược hẳn, Việt Minh dùng nhu chống cương, dùng thủ chống công, áp dụng chiến thuật du kích. Đối với thắng lớn của quân đội Pháp, Việt Minh trả đũa trận La Ngà, trận Tầm Vu, trận Sông Lô…Việt Minh tận dụng khả năng tuyên truyền để phát triển tinh thần nhân dân.

Trường Chinh đã vạch rõ 3 giai đoạn phỏng theo 3 giai đoạn của cuộc Trường Kỳ Kháng Chiến của Mao Trạch Đông, đã áp dụng trong cuộc chiến đấu của Hồng Quân Trung Hoa với Quân Đội của Tưởng Thống Chế:

1.- Bảo tồn lực lượng.
2.- Cầm cự.
3.- Tổng phản công.

Cộng sản Việt Nam tuyên truyền cuộc Trường Kỳ Kháng Chiến và huấn luyện chiến lược ấy cho quân đội, cho cán bộ, cho quần chúng chất phác.

Về phương diện quân sự, từ 19 tháng 12 năm 46 đến trận Lô Giang cuối năm 1947, Việt Minh tuyên bố chấm dứt giai đoạn Bảo tồn chủ lực. Trong giai đoạn ấy, Việt Minh đã cố gắng huấn luyện cán bộ, tuyển mộ tân binh, thành lập căn cứ địa.

Biết tin Cựu Hoàng hiện đang hoạt động ở Hương Cảng, tiếp xúc với những lãnh tụ của các nhóm chính trị quốc gia, mưu việc tranh đấu giành lại Thống Nhất và Độc Lập cho đất nước bằng ngoại giao. Chính phủ Việt Minh vô cùng lo ngại.

Nếu để Cựu Hoàng thành công trong việc điều đình với Pháp, nhất định toàn dân sẽ rời bỏ hàng ngũ kháng chiến quay về với Cựu Hoàng và như vậy, những cố gắng của các lãnh tụ Việt Minh mưu đồ vô sản hóa Việt Nam sẽ bị tiêu ma như công dã tràng.

Với hy vọng làm hành động của Cựu Hoàng trở thành bất hợp pháp, các người lãnh đạo Việt Minh tuyên bố luôn rằng Cựu Hoàng vẫn còn là Cố Vấn Tối Cao của chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa, để nhấn mạnh vai trò ‘’độc quyền điều đình’’ của chính phủ họ với Pháp.

Một mặt bộ máy tuyên truyền của Việt Minh nào khẩu hiệu, biểu ngữ, truyền đơn, nào hội họp, mít tinh, biểu tình, rầm rộ phản đối, đả đảo bộ ba Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Văn Sâm, những người mà Việt Minh tưởng rằng sẽ đứng ra thành lập một chính phủ quốc gia đương đầu với họ. Việt Minh đã đặt những chuyện xấu xa gán cho các nhà cách mệnh quốc gia, thêm bớt phóng đại ra để gây công phẫn trong dân chúng, hướng dẫn tâm lý họ, hòng làm tê liệt hoạt động của Cựu Hoàng, làm giảm thanh danh, uy tín của các lãnh tụ phe đối lập.

Mặt khác, chính phủ Việt Minh cải tổ. Tác dụng của sự cải tổ này là để đánh lạc hướng nhận định của các chính khách Pháp, để vờ tỏ thái độ khuynh hữu của chính phủ mình, để nước Pháp ngừng dự định thương thuyết với Cựu Hoàng. Sự cải tổ còn có dụng ý làm cho đa số dân chúng chất phác nông cạn lầm tưởng đó là một chính phủ dân chủ tự do, một chính phủ liên hiệp rộng rãi, tượng trưng tinh thần đoàn kết toàn dân.

Người ta thấy:

  • Võ nguyên Giáp tách khỏi địa vị một bộ trưởng để nắm giữ chức vụ mới: Tổng tư lệnh quân đội chính quy và dân quân du kích.
  • Tạ Quang Bửu, không đảng phái (!) giữ ghế bộ trưởng bộ quốc phòng.
  • Phan Kế Toại (Cựu Khâm Sai Bắc Kỳ thời Nhật) giữ ghế bộ trưởng bộ nội vụ (ba tháng sau mới nhận việc).
  • Phan Anh giữ bộ kinh tế.
  • Hoàng Minh Giám giữ bộ ngoại giao.

Chịu nhẫn nại. Chính phủ Pháp phái ông Paul Mus gặp gỡ Hoàng minh Giám nhưng quan điểm trái ngược của hai bên đã khiến cuộc hội kiến Giám-Mus hoàn toàn vô ích, không đem lại một kết quả nào.

Cuối năm 1947, Cao Ủy Bollaert đọc một bài diễn văn đặc biệt ở Hà Đông, vạch rõ đường lối cương quyết không chịu ‘’lép vế’’ của chính phủ Pháp.

Hiểu như vậy, chính phủ Việt Minh, tuyệt vọng về biển pháp ngoại giao, đổ dồn vào chỉnh bị lực lượng quân sự.

Với khẩu hiệu ‘’ủng hộ bộ đội’’, Việt Minh mạnh mẽ tuyên truyền hấp dẫn dân chúng. Tất cả các cơ quan quân, dân, chính phải triệt để áp dụng ‘’cần kiệm liêm chính’’ mục đích dự trữ tiềm lực trong cuộc chiến tranh lâu dài. Bộ trưởng tài chính Lê văn Hiến phát hành thêm giấy bạc để đủ chi dùng cho quân sự. Công tác tăng gia sản xuất được thi hành với kế hoạch cụ thể.

Dưới bàn tay họ Võ, bộ máy quân sự được cải tổ vĩ đại. Thiết lập các cơ quan đầu não cầu yếu như:

  • Cục chính trị dưới quyền Thiếu Tướng Văn tiến Dũng.
  • Cục tham mưu dưới quyền Thiếu Tướng Hoàng văn Thái.
  • Cục tình báo dưới quyền Đại Tá Trần Hiệu.

Các khu quân sự trong toàn quốc đều do các tướng lĩnh cộng sản chỉ huy.

  • Tướng Nguyễn Bình, Tư lệnh miền Nam Việt.
  • Tướng Nguyễn Sơn, Tư lệnh miền Trung Việt
  • Tướng Chu văn Tấn, Tư lệnh miền rừng núi Đông Việt Bắc.
  • Tướng Hoàng Sâm, Tư lệnh miền đồng bằng Bắc Việt.
  • Đại Tá Bằng Giang, Tư lệnh miền rừng núi Tây Việt Bắc.

Tổ chức không chiến tiến đến có quy củ, phương tiện quân sự được tận dụng để củng cố đường lối chính trị.

Đầu năm 1948, hình thái chiến tranh đã cắt xẻ lãnh thổ Việt Nam rã rời ra từng mảnh, quân đội hai bên đi sát vào hậu tuyến của nhau hình dung một mặt trận xen kẽ sâu và rộng.

Cuộc chiến tranh vô phòng tuyến đã làm nhân dân vô cùng đau khổ. Trong khi hai quân đội rình lẫn nhau để tiêu diệt nhau thì dân chúng bị mắc nghẹt ở giữa hai luồng súng đạn. Người dân lành luôn luôn bị mất trâu bò, sản nghiệp khi xóm làng của họ bỗng chốc biến thành bãi chiến trường.

Việt Minh thúc đẩy những đứa con yêu của đất nước nằm gai nếm mật, ngày uống nước suối, tối phơi sương làm mồi cho muỗi độc, thiếu cơm gạo, thiếu cả thuốc men và cũng tương tự như vậy, những thanh niên ưu tú của nước Pháp Dân Chủ, Văn Minh, ngày ngày ngụp lội trong bùn lầy, len lõi trong rừng hoang, phơi mưa phơi nắng.

Hai bên quân đội luôn tìm nhau để đưa một bên xuống suối vàng và bên còn lại cũng không kém phần ngoắc ngoải.

Vì Tự Do, Dân Chủ ?

Vì đấu tranh giai cấp

NGƯỜI DÂN TRONG CƠN GIÔNG TỐ

Việt Minh lãnh đạo người dân kháng chiến, tiêu thổ kháng chiến. Chiến thuật Bảo tồn lực lượng được tích cực thi hành bên cạnh chính sách Vườn không, Nhà trống.

Nhà cửa san bằng, đô thị tàn phá, đường xá bị cắt xẻ, cầu cống bị phá hủy, của cải nếu chưa kịp mang đi phải đốt cháy.

Dân pháp nhà dân, dân quăng vứt đồ đạc của mình ra đường phố làm chướng ngại vật, dân vót gậy tre, sắm mắc nhọn, dùng kiếm gỗ ra đối phó với súng ống đạn dược.

Già, trẻ, trai, gái vác bị gậy tản cư của ủy ban. Người dân đã tỏ rõ lòng yêu nước vô bờ bến, quyết theo một chính phủ mà họ chắc rằng ‘’quốc gia chân chính’’. Họ quyết trung thành với ‘’Già Hồ’’ mà họ đinh ninh rằng đó là ‘’Người cha yêu độc nhất của dân tộc Việt Nam’’.

‘’Ở lại là Việt Gian’’

Vậy thì không thể ở lại được, người dân Việt không muốn có tư tưởng ‘’ở lại’’. Và rồi, như những chiếc lá lìa cành bị trận cuồng phong thổi liên tiếp, người dân ra đi, bên tai văng vẳng tiếng loa gọi tản cư liên miên trên quãng đường vô định.

Trong đầu óc họ, hình ảnh cụ Hồ và lời thề ái quốc tại vườn hoa Ba Đình vẫn phảng phất: Thề không đi lính cho Pháp! Thề không đưa đường chỉ lối cho Pháp! Thề không tiếp tế cho Pháp!…

Người dân chỉ biết thế. Họ có nghĩ đâu đến sự thật trong sân khấu chính trị, hiểu đâu đến tâm tư và bước đường bôn tẩu của Cựu Hoàng, biết đâu đến manh tâm của những người định dẫn dắt họ theo một lý tưởng ngoại lai. Người dân Việt chỉ biết cần phải tản cư để giữ trọn lời thề với non sông.

Chiến tranh xẩy ra mau lẹ, quá đến nỗi cụ Hồ cũng chẳng đủ thời giờ nghĩ đến dân con. Thôi thì mạnh ai người ấy chạy, gia đình ai người ấy lo. Ngay đến binh sĩ của họ Võ, nhân viên của Hoàng hữu Nam cũng còn lúng ta lúng túng với súng ống đạn dược, máy chữ, tài liệu, sổ cách để ‘’bảo tồn chủ lực’’ còn nói chi đến những người dân chất phác.

Tất cả đều cố gắng lẩn tránh làn đạn nóng của quân đội Pháp. Tất cả đều thất tán, tung khăn sô áo trước những tiếng gầm kinh khủng của đủ loại khí giới giết người.

Trong cơn hỗn loạn tơi bời, đoàn cơ giới tối tân, từng chiến thắng Berlin còn phân biệt ai là Việt Minh, ai là dân chúng nữa mà chẳng ngang tàng tung ngói bụi trùm khắp đô thị của Việt Nam bé bỏng, ngày đêm nghiền nát xương thịt trong máu lửa đầy chết chóc hoang tàn.

Chiến tranh phô bầy một hình thái đặc biệt. Ở miền Nam nước Việt, dân chúng chẳng kịp tản cư và bộ đội Việt Minh tan vỡ ngay trong chớp nhoáng. Việt Minh lẫn vào dân chúng. Từ thành thị đến thôn quê, dân chúng, vẫn bám lấy đất sống của mình.

Chìm đắm giữa biển người, quân đội Pháp bỗng nhiên biến thành một loại ‘’lính sen đầm’’ đi tầm nã ‘’quân phiến loạn’’. Dưới mắt người lính Pháp, Việt Minh thành ra vô hình vô ảnh, Việt Minh dễ dàng hành động, dễ dàng ám sát, bắt cóc. Hành động ấy đem lại sự tức giận cho người lính Tây phương và thường khi những giận dữ đó được trút thẳng lên đầu đám dân vô tội.

Người Pháp chiếm gần hết Nam Bộ nhưng bí mật, đất đai vẫn chia rõ ràng hai khu vực ảnh hưởng.

Người dân ở vùng ‘’tạm chiếm’’ có cả thẻ căn cước lẫn thẻ công dân. Chỉ lên xe hơi ra cách tỉnh thành ít cây số là có công an Việt Minh hoặc dân quân đón đường hỏi giấy và rồi muốn đi đâu túy ý. Tiền Đông Dương của người dân mang ra khỏi Sài Gòn qua một trạm gác Việt Minh sẽ được ngay cơ quan đóng dấu ‘’Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Độc Lập-Tự Do-Hạnh Phúc’’ lên trên rồi lại trả cho người dân.

Ở Nam Bộ, chiến tranh gần như một trò đùa nếu không có những sự tàn sát trong các xóm bị tình nghi.

Trên đất Bắc, chiến tranh có đủ mọi hình mọi vẻ.

Nơi đây, người dân chịu hy sinh tuyệt đối, tất cả chiến công của những đơn vị anh hùng, tất cả hành vi chính trị, khôn khéo của mọi chính khách hợp lại cũng không thể sánh nổi tinh thần hy sinh của người dân.

Trong khi một số người thức thời đã bay đi ngoại quốc, trong khi quân đội Việt Minh còn non yếu đang tản mác cố gắng tránh làn mưa đạn của quân đội Pháp thì riêng người dân, tuy đau khổ, tuy hỗn loạn, tuy vô tổ chức, đã phải đứng mũi chịu sào trước đoàn cơ giới hung hăng. Từng đợt Spitfire, King Cobra khạc đạn 20 ly ròn hơn pháo Tết, bom lửa bay vù vù, trái phá nổ mù mịt đại liên nhả đạn xuốt tối ngày, và lưỡi lê tuốt trần, nhọn hoắt đẫm máu đào.

Chẳng lẽ chịu chết một cách hèn mọn, người dân vùng dậy ngăn bước tiến của những bánh xe xúc xích, cản bước tiến của những gót giầy đinh để được đủ thì giờ cho những người thân yêu chạy loạn.

Thanh niên vùng dậy với mác nhọn với cung tên, với gậy gộc, với dao mòn kiếm rỉ để che trở cho cha mẹ, vợ con đang trào trạt như sóng ngoài đồng lúa giữa cơn bão quẩn của khói lửa.

Người dân hy sinh hết cả để tản cư. Đằng sau bỏ lại sản nghiệp của cha ông, và xa dần, xa mãi, xa vĩnh viễn những đứa con thân yêu đang cương quyết và lạnh lùng dang hai tay chắn mũi súng đuổi theo cha mẹ chúng.

Những người con yêu quý của dân tộc, những người dân thuần túy giòng máu Việt Nam hoặc chưa chạy kịp hoặc chưa muốn chạy vì mọi lẽ, vô tình đã hứng tất cả những hung bạo của đòn thù. Đấy là một sự bỉ ổi nhất trong lịch sử: Trả thù.

Sự trả thù hoàn toàn có tính cách cá nhân và địa phương. Tất cả những kẻ đã từng bị quân đội Phù Tang làm nhục, tất cả những kẻ từng bị Việt Minh làm nhục, giờ đây được thể trút oán hờn lên đầu đám dân vô tội. Bắn từng xâu, đâm chết từng xâu, hiếp hàng dàn con gái…và để rồi mãi mãi, toàn thế giới cũng như dân tộc Việt Nam phải ngậm ngùi trầm lặng trước những nấm mồ ‘’nạn nhân chiến tranh’’ cao ngất giữa Thủ Đô Hà Nội.

Tất cả đã ra đi, tung tóe tản mạn bốn phương. Những người tản cư bắt đầu tập hợp thành muôn vàn tổ sống. Hoặc trên khoảng đất rộng ngã ba đường, hoặc tại những phủ huyện lỵ xưa, hoặc trên các sườn đồi thơ mộng, dân chúng dừng chân, trát vách lợp dăm ba quán hàng tìm kế sinh nhai.

Sự sống trở lại yên tĩnh trong một thời gian ngắn ngủi.

Những ‘’thị trấn’’ mọc lên như nấm, nho nhỏ, xinh xinh. Người tản cư lại bình tâm, quên chết chóc, sống hồn nhiên với cuộc đời hy vọng, mặc dầu ngày ngày máy bay vẫn đến thám vài ba lượt…đạn dội từng tràng.

Cuộc chiến đấu ngày càng gay go. Những trái bom trút xuống ngày thêm ròn rã.

Lúc đầu, dân chúng còn kinh hoảng vì những loại bom lợn con rơi từ lưng trời, nhưng lâu dần cũng đâm quen. Bom! Đã có hầm trú ẩn. Những kẻ chân yếu tay mềm, muôn thuở tưởng chừng trói gà không nổi mà nay cũng cuốc, cũng xẻng để đào hố dấu mình. Những kẻ nhát gan, sợ ma sợ quỷ nhất đã thành những kẻ đi đêm mạnh dạn nhất vì họ không sợ ma quỷ bằng sợ những viên đạn hung dữ ban ngày.

Đại đa số dân chúng miền quê xa tiền tuyến đã đủ thời giờ để chuẩn bị, ruộng vẫn cầy, mạ vẫn reo. Họ sống ung dung và niềm nở đón tiếp đồng bào tản cư. Thỉnh thoảng một vài mâu thuẫn về phong tục đã đẩy ra nhưng cũng không đáng kể. Người dân thành thị đã mang đến cho người dân đồng quê những cải cách mới lạ về sinh hoạt và ngược lại họ cũng nhận được của đồng bào thôn dã đức tính chuyên cần, giản dị.

Rồi đến làng mạc thôn xóm cũng lần lượt bốc cháy vì bom đạn. Người dân đã chung lưng góp sức dựng lại nhà cửa, băng bó lại vết thương. Toàn dân Việt đã biết đoàn kết để an ủi nhau trong hoạn nạn.

Số dân tản cư ngày mỗi nhiều. Quân đội Pháp càng ngày càng mở rộng mặt trận.

Những người tản cư cũ lại xê dịch đi chút nữa và những người tản cư mới bắt đầu rời bỏ quê hương, cứ như thế mãi. Dân chúng với cuộc đời vô định đã làm mồi dần cho muỗi độc, cho lam sơn chướng khí, cho bon đạn, cho các trận càn quét…

Hoàn cảnh vật chất đã thay đổi hẳn tâm tình con người. Những cô tiểu thư trước cao quý kiêu ngạo bao nhiêu nay dễ tính, chăm làm bấy nhiêu, bằng lòng gánh nước đỡ mẹ, bằng lòng đeo bị bán hàng rong và đôi khi bằng lòng lấy các anh chàng ‘’mán-xá’’.

Những bà đài các ở thành thị vui vẻ khi đặt quang gánh lên vai kĩu kịt thúng xôi chè hay trầm tĩnh bên gia tài chỉ còn vẻn vẹn một quán nước con con.

Nhưng, tất cả sản nghiệp mất đi, chưa đủ, ngày ngày dơ đầu hứng bom và đạn, chưa đủ, ngày ngày lên cơn sốt rét chưa đủ, người dân còn phải hứng một điều đau khổ về tinh thần trên sức chịu đựng: Những vụ bắt bớ liên tiếp với lời xỉ vả ‘’Việt gian’’.

Nếu quân đội Pháp có bắt được dân tưởng lầm là Việt Minh mà giết đi chăng nữa, sự chết đó cũng không đau lòng lắm bằng theo chính phủ mà chính phủ lại xử bắn vì tội…Việt gian.

Thật là cay đắng, mỉa mai và chua xót!!

Những người bắt ‘’Việt gian’’ thường khi chẳng phải là công an mà cũng chỉ là dân như những người tản cư. Đấy là những dân quê giữ nhiệm vụ canh gác làng mạc và nếu mặt trận tràn tới, họ cũng sẽ lại tản cư để rồi cũng có thể bị những người dân vùng khác tình nghi và bắt bớ.

Những cớ để bị bắt trên bước đường tản cư vô định của dân chúng thật là thiên hình vạn trạng.

Cô tiểu thư vô tình cầm gương soi trong khi có tiếng động cơ máy bay tận phía chơn trời: Đúng là Việt gian báo hiệu cho không quân Pháp đến bắn phá. Một cái mũ trắng đội trên đầu, một chiếc nón phe phẩy cho mát trên cánh đồng mênh mông, thậm chí một kẻ ngồi ‘’đại tiện’’ trên góc quả đồi trơ trọi cũng bị nghi là Việt gian báo hiệu cho địch. Rồi một vài nén hương châm cắm vô tình trên phần mộ, rồi tờ giấy bạc của bao thuốc lá thơm ném bâng quơ trên bãi cỏ, Việt gian, Việt gian tất…Một học sinh đem theo trong người chiếc bút chì nhiều mầu hay một cụ già mặc chiếc áo sa-tanh cũ trong có mép vải viền tam tài: Đấy là cờ của Pháp, đấy là những dấu hiệu để Việt gian nhận nhau cho dễ. Một cán bộ tình báo cao cấp của Việt Minh chỉ vì đi chiếc xe đạp sơn xanh trắng đỏ đã đến nỗi bị dân quân địa phương giam 6 ngày trong lô cốt trong khi đang ‘’vi hành’’ một miền gần trận địa.

Kinh hoàng của người dân trước việc bắt bớ vì lý do ‘’Việt gian’’ lên đến tột bực. Hơn thế nữa, người dân còn luôn luôn bị hoảng hốt, tưởng tượng xung quanh mình ai cũng thể là Việt gian, có thể bất cứ lúc nào máy bay Pháp cũng nhờ được Việt gian chỉ dẫn bắn phá nơi mình trú ngụ.

Số nạn nhân ‘’Việt gian’’ lên đến hàng ngàn, hàng vạn. Giam cầm, đầy ải hoặc thủ tiêu ? Chẳng ai biết, chẳng ai hay. Được thế, dân quân du kích, công an hay ủy ban kháng chiến cứ việc bắt bớ thẳng tay, không thương tiếc.

Tâm lý bắt Việt gian và tâm lý sợ Việt gian trong vùng Việt Minh kéo dài từ 1946 mãi đến cuối năm 1948 mới tạm dịu sau khi xẩy ra một vụ bắt Việt gian kinh thiên động địa tại Việt Bắc.

Vụ tổng kiểm soát, hay nói bằng một danh từ mới và thích hợp hơn: Vụ ‘’ráp’’ vĩ đại cả Bắc Việt lẫn Liên Khu IV (nửa nước Việt Nam) đã làm cho hàng ngàn dân chúng chết oan uổng và hờn giận. Không phải riêng dân chúng bị bắt, bị tra tấn, bị thủ tiêu, ngay đến cả trong quân đội, trong đoàn thể trong hàng ngũ cộng sản, số sĩ quan, nhân viên và đảng viên chịu cực hình cũng nhiều không kém…Bắt bớ và giết tróc liên miên mãi đến khi cụ Hồ chí Minh phải trực tiếp phái đại diện xuống kiểm tra tại các trại giam mới chấm dứt. Nhưng than ôi! Cũng đã hàng ngàn nhân mạng oan khuất xuống suối vàng…

Sự ấu trĩ trong công tác phản gián của Việt Minh, tâm lý giao động và tâm thần hoảng hốt của người dân trước nạn máy bay bắn phá, thả bom đã đem đến sự kiện đẫm máu đào năm 1948.

Người dân Việt Nam đau khổ trước cảnh tiêu thổ kháng chiến hoang tàn, làm bia đỡ đạn trước chính sách Tam Quang của quân đội Pháp, thác oan trong lưỡi sắt trinh sát của Việt Minh, đã tự phân làm hai tâm trạng. Một, nhất quyết hy sinh, nhất quyết theo Việt Minh đến cùng, đã theo thì theo cho chót… Hai chặc lưỡi sách khăn gói quay về. Về để sống trong vùng quân đội Pháp kiểm soát, về để tránh bom đạn, về để tìm lại nhà cửa gia đình, về để sống.

Trong giờ phút mà giá trị người lính là trên cả, trong giờ phút mà những viên đạn vô tình luôn luôn quyết định sống còn của con người, bước đường hồi cư của dân chúng đã phô bầy bao thảm cảnh.

Đô thành còn trong tình trạng thiết quân luật, đêm ngày tiếng đạn còn nổ ròn rã.

Kéo nhau quay về, người dân hồi cư phải qua cả chặng gác của Việt Minh lẫn đồn kiểm soát của quân đội Pháp. Nếu Việt Minh bắt được, thanh niên sẽ bị tình nghi là về hàng Pháp. Nếu thanh niên bị gay go ở chặng thứ nhất thì đàn bà con gái cũng khó lòng giữ mình ở những ‘’bốt’’ kiểm soát chặng hai. Khác một điều là ở đây, thanh niên bị kết tội ‘’Việt Minh’’.

Dân hồi cư lũ lượt kéo nhau về Hà Nội. Cũng có nhiều người chẳng phải dân Hà Nội nhưng vì chỉ có Hà Nội là tương đối yên ổn hơn các nơi khác nên họ đua nhau kéo về.

Hà Nội có gì đâu, ảm đạm nặng nề mùi tử khí. Những phố xá sầm uất xưa, nay chỉ còn tro tàn, gạch vụn. Hà Nội tiêu điều tang tóc, hoang tàn, lạnh lẽo đón đám người hồi cư lếch thếch hãy còn bàng hoàng ngơ ngác vì bom đạn.

Trong cơn ly loạn, Hà Nội đã sản sinh ra một loại người mới ‘’Thổ Phỉ’’

Nạn Thổ Phỉ!…Người ta thổ phỉ lẫn của nhau, họ đến những ngôi nhà vắng chủ khiêng tủ chè, sập gụ, tháo quạt máy, lấy mang về xếp đầy nhà, nào hàng hóa, nào két bạc…đôi khi có những kẻ táo tợn nhận chằng cả nhà cả cửa của kẻ khác…(Ngày nay một số thổ phỉ ấy đã biến thành phú ông nghênh ngang ngoài vòng pháp luật)

Người ta chỉ cần cái ăn để sống đã, mọi vấn đề khác hãy xếp lại…Có những bác sĩ, có những giáo sư, có những tiểu thư khuê các đi bán phở, bán cháo, bán sôi…kiếm sống qua ngày đoạn tháng.

Dân số đô thị mỗi ngày một tăng, đồng thời vùng quân Pháp kiểm soát ngày một rộng. Chung quanh đô thị, các hội ‘’Tề’’ được thành lập thay cho những ủy ban Việt Minh cũ.

Vùng kiểm soát đã có một bề rộng tương đối được tổ chức quy củ.

Ngoài Bắc, Hội Đồng An Dân của Bác Sĩ Trương Đình Tri ra đời. Ở Huế, Hội Đồng Chấp Chánh được thành lập do sáng kiến của Cụ Trần Thanh Đạt, nguyên Lễ Bộ Thượng Thư Triều Đình Huế. Tại Nam Việt, một chính phủ Nam Kỳ Tự Trị đã có từ năm 1946.

Tình hình Nam Việt khác hẳn Bắc và Trung Việt. Từ mùa Xuân năm 1946, chiến dịch ‘’Caur’’ của Đại Tướng Lelerc đã đem lại an ninh cho phần lớn miền Nam nước Việt. Nền hành chính được chỉnh bị ngay bằng một tổ chức: Hội Đồng Tư Vấn.

Hội Đồng Tư Vấn đẻ ra chính phủ nước Cộng Hòa Nam Kỳ. Từ Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh qua tay Bác Sĩ Lê Văn Hoạch, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân. Chính phủ Nam Kỳ đã ký một bản Modus Vivendi với Pháp để mong tiến tới một Nam Kỳ tách ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Một Nam Kỳ tự do, có quân đội, có ngân quỹ, có Nội Các…

Ở miền Trung, Việt Minh còn kiểm soát nhiều Tỉnh trừ Thành Phố Huế, Tourane…Quân đội Việt Minh rút lui theo chiến lược. Không ngại lẽ thiếu người và hẹp đất. Khối Quốc Gia Liên Hiệp do Cụ Trần Thanh Đạt lãnh đạo đã tích cực hoạt động và tổ chức một Hội Đồng Tham Nghị ra mắt đồng bào Huế. Sau một thời gian ngắn, Hội Đồng Chấp Chánh được thành lập do ông Trần Văn Lý phụ trách để giúp đỡ dân chúng trong tình trạng giao thời khó khăn.

Ngoài Bắc Việt, Bác Sĩ Trương Đình Tri, nguyên bộ trưởng bộ y tế hồi chính phủ Việt Minh còn ở Hà Nội được Pháp mời ra để thành lập một tổ chức hành chính lấy tên là Hội Đồng An Dân Bắc Kỳ với nhiệm vụ thu hẹp trong việc ‘’an dân’’, giải quyết cho dân chúng mọi vấn đề sinh hoạt hàng ngày.

Trên hành động, các cơ quan địa phương Trung-Nam-Bắc cùng làm một nhiệm vụ an dân, nhưng trên địa hạt tư tưởng, cả ba đã có những điểm dị đồng rõ rệt.

Hội Đồng An Dân miền Bắc có một mong mỏi: Thống nhất ba Kỳ, Việt Nam độc lập tự do trong Liên Hiệp Pháp. Thành lập một chính phủ Trung Ương có một khả năng lái con thuyền quốc gia trong giờ phút gay go nguy hiểm. Đấy là một tấm lòng thành thực của những người quốc gia miền Bắc. Chịu sự hướng dẫn của Pháp nhưng tự do và thống nhất, chính sách ấy đã được chính quyền địa phương miền Bắc lẻ loi nhấn mạnh. Chủ trương đứng đắn và hợp thời, tiếc thay đất Bắc là nơi ly loạn nhiều nhất cho nên khó bề tập hợp được lực lượng để chủ động bước tiến. Điều thứ hai là người ta thường có thành kiến với dân chúng Bắc Việt, hóm hỉnh, xáo động, nhiều mưu lắm kế. Tất cả những chủ trương thành thực của Bắc Việt đều bị theo dõi bằng cặp mắt đa nghi và phòng bị. Dưới sự nhìn thiên lệch ấy, các chiến sĩ quốc gia ngoài Bắc chỉ còn biết hết sức nhũn nhặn và mềm dẻo về mọi đề nghị của mình thuộc phạm vi chính trị.

Trong khi các nhà đương cục Pháp còn tỏ vẻ dè dặt với các người quốc gia miền Bắc thì Việt Minh đã hiểu rõ hơn ai hết hiểu tư tưởng nhất quyết đối lập của các nhân sĩ quốc gia rõ tiềm lực của các đảng phái quốc gia, Việt Minh đã thi hành một chánh sách khủng bố tàn ác, hung bạo.

Mùa Thu năm 1947, Bác Sĩ Trương Đình Tri bị Việt Minh hạ sát giữa phố hè Hà Nội và tiếp theo đó là vô vàn các cuộc bắt cóc, ám sát bằng tạc đạn, súng lục, dao găm, những vụ bạo động, phá hoại, đốt nhà, phá chợ…Đa số những người bị tình nghi làm việc cho Pháp hoặc đã có thành tích hoạt động trong đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt…đều bị ghi vào sổ đen. Dân các thành phố thuôc vùng ‘’kiểm soát’’ run lên trong mọi hành động của các ban ám sát Việt Minh chuyên môn thiện nghệ. Ám sát càng nhiều người Pháp càng ra công bắt bớ. Giữa tình trạng khổ cực ấy, các nhà chức trách lâm thời của Bắc Việt vẫn một lòng một dạ trung thành với đường lối chủ thuyết của mình: Ủng hộ một người có uy tín nhấn trong dân chúng để đưa Việt Nam đến Độc Lập và Thống Nhất trong khuôn khổ dân chủ và tự do. Người đó là Cựu Hoàng Bảo Đại.

Khác hơn một chút, những lãnh tụ miền Trung nhìn thẳng vào vị Quân Vương đang phiêu lưu nơi hải ngoại để đặt hoài vọng thiết tha một nền Quân Chủ Lập Hiến cho đất nước tương lai.

Những lãnh tụ này hy vọng với chính thể Quân Chủ Lập Hiến, nước nhà sẽ dễ tiến bước trên đường ngoại giao quốc tế và đối nội để gây uy tín và chóng thu phục lại nhân tâm.

Hoạt động của Hội Đồng Chấp Chính đã gặp nhiều trở lực cũng vì đất đai quá hẹp, dân chúng tản cư chưa về nhiều. Từ Quảng Nam, Quảng Ngãi trở vào thuộc kiểm soát của Việt Minh, riêng phần lớn miền Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên lại là một khu chiến trường dữ dội bực nhất nước Việt Nam. Do đó các lãnh tụ miền Trung khó bề phát triển tư tưởng của mình đi sâu vào dân chúng.

Khác biệt tư tưởng miền Trung và Bắc, một số các lãnh tụ miền Nam lại chủ trương: Nam Kỳ của Nam Kỳ

Từ mồng 3 tháng 6 năm 1946, chính phủ của Nam Kỳ Quốc đầu tiên đã thành lập:

  • Nguyễn Văn Thinh: Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Nội Vụ.
  • Nguyễn Văn Xuân: Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng
  • Trần Văn Tỷ: Tổng Trưởng Tư Pháp
  • Lương Văn Mỹ: Ngoại Giao-Giao Thông Công chính và Viễn Thông.
  • Nguyễn Thành Lập: Tổng Trưởng Tài Chính
  • Ưng Bảo Toàn: Canh Nông, Thương Mại Kỹ Nghệ.
  • Nguyễn Thành Giang: Tổng Trưởng Quốc Gia Giáo Dục
  • Khương Hữu Long: Y Tế, Xã Lao
  • Nguyễn Văn Tâm: Thứ Trưởng Công An (Toàn Quốc)
  • Nguyễn Tấn Cường: Thứ Trưởng Công An Thủ Đô (Sài Gòn)

Đứng về phương diện lịch sử, các vị này đã làm một việc khá trái ngược. Tất cả mọi người Việt Nam, có giòng máu Việt Nam đều phải công nhận dân tộc Việt Nam lập Quốc từ khu vực hạ lưu sông Nhị Hà và theo dòng thời gian, dân tộc đã phát triển đến tận miền cát trắng mõm Cà Mâu. Đồng ngôn ngữ, đồng văn hóa, đồng tập quán, mặc dầu phong tục hơi so le một chút do khí hậu và đất đai của hai miền cách biệt, người Việt miền Nam và người Việt miền Bắc vẫn cảm thông với nhau từ hàng thế kỷ. Chỉ vì lý do ở thế kỷ thứ 20 đã đẻ ra một Nam Kỳ thuộc địa khác với Bắc Kỳ và Trung Kỳ Bảo Hộ cho nên hoàn cảnh thuộc địa đã sinh ra tư tưởng lìa chia và phản thống nhất.

Dù sao chính phủ Nguyễn Văn Thinh cũng đã đem lại niềm an ủi cho dân chúng địa phương Nam Việt. Bởi vì ‘’ủy ban nhân dân Nam Bộ’’ chạy rồi, dân chúng thà chịu ‘’tự trị’’ con hơn là bị đô hộ lại. Đó là một lý do tư tưởng đã khiến dân chúng Nam Việt hồi cư sống dưới chính thể Nam Kỳ Quốc. Nhưng thành lập để mà thành lập, tâm lý của dân chúng còn luôn luôn tơ tưởng đến Việt Minh, và cũng bởi vì thái độ của Pháp không rõ rệt ngã ngũ cho nên chính phủ Nguyễn Văn Thinh cũng chẳng thi thố được việc gì để có thể củng cố hệ thống Tự Trị khiến cho đến ngày 10 tháng 11 năm 1946, Thủ Tướng Thinh đã phải tự kết liễu cuộc đời đền ơn Nam Kỳ Quốc.

Dân chúng miền Nam bất mãn trước cái chết đáng thương của một người đầy thiện chí như Bác Sĩ Thinh, đa số chán nản trước lòng ‘’thành thật’’ của người Pháp nên không ai chịu đứng ra lập Nội Các thay thế. Mãi đến ngày 4 tháng 12 năm 1946, một tân chính phủ mới được ra đời:

  • Lê Văn Hoạch: Thủ Tướng
  • Trần Văn Mỹ: Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Nội Vụ
  • Huỳnh Văn Chính: Tổng Trưởng Tư Pháp
  • Trần Văn Hữu: Tài Chính
  • Nguyễn Văn Tâm: Quốc Phòng
  • Lê Văn Định: Canh Nông
  • Trần Quang Nhứt: Thương Mại Kỹ Nghệ
  • Nguyễn Phú Khai: Thông Tin
  • Phan Văn Tiếng: Y Tế
  • Trương Vĩnh Khanh: Giáo Dục
  • Lương Văn Mỹ: Giao Thương Công Chính
  • Võ Đồng Phát: Xã Lao
  • Diệp Quang Đồng: Thứ Trưởng tại Dinh Thủ Tướng
  • Trần Văn Kiệt: Thứ Trưởng Xã Lao
  • Nguyễn Tấn Cường: Thanh Niên Thể Thao

Trong khi ở Bắc và Trung đang bị khó khăn về vấn đề tập hợp lực lượng quốc gia thì vô hình chung, chủ trương thiết lập một Nam Kỳ Quốc đã phù hợp với đường lối ‘’chia để trị’’ của một nhóm người Pháp chưa thức thời. Theo gương ‘’nước’’ Nam Kỳ, các ‘’Thái quốc’’, ‘’Nùng quốc’’, Tây Kỳ quốc’’ được mọc lên như nấm.

Mặc dầu chỗ đó là một chiến thuật đấu tranh của một số lãnh tụ Nam Việt chỉ nhằm mục tiêu diệt cộng, hoặc cho đó là sơ xuất thuộc về tư tưởng đi chăng nữa, chủ trương không hợp thời ấy đã đem lại công phẫm trong toàn dân. Họ đã đồng thanh phản đối sự kiện đó chứng tỏ toàn dân đều sốt sắn mong mỏi Độc Lập, Thống Nhất quốc gia, chán ghét cảnh chia rẽ, thương tàn.

Việt Minh càng dễ bề lợi dụng, nhắm những kẽ hở chính trị đó để tăng cường uy tín cho chính phủ họ và Cựu Hoàng Bảo Đại đã có dịp bộc lộ lòng yêu nước của Người khi Người tỏ thái độ cương quyết đòi phải thủ tiêu chính phủ Nam Kỳ để thành lập một chính phủ trung ương thống nhất.

Nhưng dù có khác biệt nhau trong phạm vi chính trị, cả ba chính quyền địa phương Trung, Nam, Bắc, ra đời giữa một thời gian gay go nhất, đã bình tĩnh hy sinh chịu đựng búa rìu dư luận do đường lối tuyên truyền của Việt Minh hướng dẫn xuyên tạc.

CHÍNH PHỦ TRUNG ƯƠNG LÂM THỜI VIỆT NAM

Tháng 10 năm 1947, Hội Nghị Nam Kỳ đồng thanh cử Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân đứng ra lập một chính phủ Lâm Thời Nam Phần Việt Nam.

Nội Các Nguyễn Văn Xuân gồm các ông:

  • Nguyễn Văn Xuân: Thủ Tướng.
  • Trần Văn Hữu: Phó Thủ Tướng

Các Bộ Trưởng:

  • Nguyễn Khắc Vệ
  • Trần Thiện Vàng
  • Trần Văn Ân
  •  Phạm Văn Hải
  • Phan Văn Tiếng
  • Trần Cửu Chấn
  • Trần Văn Huê
  • Nguyễn Văn Tư
  • Trần
    Văn Kiệt
  • Lê Tấn Nẫm

Chủ trương của chính phủ Lâm Thời Nam Phần rất đơn giản:

1.- Xin gia nhập Liên Hiệp Pháp.
2.- Việt Nam sẽ có quân đội
3.- Việt Nam sẽ có ngân sách.

Từ cái thế ‘’chân vạc’’ quân bình giữa bộ ba hành chính địa phương: Hội Đồng An Dân miền Bắc, Hội Đồng Chấp Chánh miền Trung và Nam Kỳ tự trị, riêng miền Nam đã đủ khả năng nhào nặn cái cốt đầu tiên và căn bản cho chính phủ sau này.

Đối với ‘’người kháng chiến’’, chính phủ Lâm Thời Nam Phần sẵn sàng thân thiện. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân kêu gọi:

‘’Tôi muốn nói với anh em một cách thành tâm như vầy: Đồng bào thân yêu, anh em chiến đấu vì một nghĩa vụ rất đáng kính trọng, vì một lý tưởng ái quốc và độc lập Quốc Gia. Trí quả quyết, lòng dũng cảm và tinh thần hy sinh của anh em làm cho người ta phải yêu mến và khâm phục. Nhưng mà cuộc chiến đấu kéo dài với bao nhiêu tàn phá liên miên, bao nhiêu khổ sở tang chế.

Chính ở chỗ các anh em, các anh em cũng nghe kia mà, và nghe rõ hơn, những lời rên than bốc lên từ đồng bãi, sông rạch, những tiếng kêu nói nỗi ão não và thương sót hiện đang lan tràn khắp xứ. Phải chăng nó đưa anh em đến chỗ suy nghĩ lại mà xem xét lại tình thế ? Cử chỉ của anh em đã ghi rồi trong trang sử nước nhà. Anh em có thể ngừng bắn…’’

Không muốn cuộc kháng chiến tai hại kéo dài, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân kêu gọi anh em ‘’ngưng bắn’’, nhưng…dưới sự nhìn một chiều của những người bên kia, ‘’làn mức’’, vấn đề lại…đi ngược lại.

Đã không đáp tiếng gọi của chính phủ miền Nam. Việt Minh lại còn nhắm ngay một vài nhược điểm của chính phủ để gây thêm lòng phấn kích, làm chiến tranh tăng lên một mực dữ dội hơn.

Sở dĩ một số lớn những người kháng chiến chưa chịu quay về vùng ‘’kiểm soát’’ là vì cá nhân Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân chưa đủ tượng trưng lý tưởng quốc gia, và bản thân của chính phủ Lâm Thời Nam Phần còn bộc lộ một ý nệm chưa được thống nhất.

Biết như vậy, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân lẳng lặng qua yết kiến Cựu Hoàng Bảo Đại ở Hồng Kông.

Thực tế đã cho biết rằng dân tộc Việt Nam muốn Hòa Bình nhưng Hòa Bình không thể trả giá bằng chia rẽ. Cần phải có một chính phủ thống nhất đầy đủ cả ba Phần, đó là điều mong muốn của toàn thể nhân dân.

Hội Nghị đầu tiên triệu tập nhân sĩ ba Kỳ để thống nhất lực lượng họp tại Sài Gòn mùa Xuân năm 1948, lực lượng gây hậu thuẫn cho Cựu Hoàng Bảo Đại.

Sự thành tâm và cố gắng của các người quốc gia đưa đến một kết quả cụ thể: Cựu Hoàng giao cho Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân nhiệm vụ thành lập một chính phủ Trung Ương Lâm Thời Việt Nam. Tháng 5 năm 1948. Chính phủ Trung Ương thành lập xong.

Thượng Sứ Bollaert đã nhấn mạnh: ‘’Chính phủ Trung Ương Lâm Thời Việt Nam có bổn phận tán trợ và khuếch trương một bầu không khí thuận tiện cho công cuộc phục hồi hòa bình’’.

Lời tuyên bố của Thượng Sứ Pháp đã nhận rõ chủ trương và ý định của chính phủ Trung Ương Lâm Thời Việt Nam và đã tỏ rõ sự hỗn loạn đang diễn ra trên giải đất Việt Nam, một sự hỗn loạn mà tất cả mọi người đều mong mỏi sớm chấm dứt.

Cần phải có ngay hòa bình trên giải đất đã quá đau khổ này, đó là thiện chí xây dựng của tân chính phủ.

Nhà quân sự Nguyễn Văn Xuân đứng ra lĩnh một sứ mạng khó khăn và cao cả, thương thuyết để cứu vãn hòa bình, tổ chức một nền hành chính và chuẩn bị sắp đặt một cuộc tuyển cử nghị sĩ.

Chính phủ Trung Ương Lâm Thời Việt Nam là một tiến bộ của cả hai bên Việt-Pháp.

Bản Tuyên Ngôn ngày 5 tháng 6.1946 của Thiếu Tướng đã nhấn mạnh:

‘’Muốn cho hai bên trở lại bắt tay Công Sứ Pháp và Việt cần phải tương thân, tương tín, tương thành cũng như cần phải nhìn nhận một cách thành thực những điều kiện mới của sự công tác ấy!…’’

Lời tuyên bố đã tỏ rõ cuộc xung đột Việt-Pháp đẻ trong sự thiếu tương thân, tương tín và sự thiếu nhìn nhận một cách thành thực những sự kiện lịch sử đã xẩy ra…

Tìm được lý do vì sao sự giao thiệp Pháp-Việt tan vỡ. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân cố gắng đặt lại vấn đề, chỉ có thành thực với nhau, tin cẩn lẫn nhau mới mong tồn tại sợi giây liên lạc.

Trong khi Cựu Hoàng còn vắng mặt, chính phủ Trung Ương Lâm Thời đã thi hành một chế độ hành chính phân quyền tại ba Phần:

Ngoài Bắc có Tổng Trấn Nghiêm Xuân Thiện.

Ở Trung có Tổng Trấn Phan Văn Giáo.

Ở Nam có Tổng Trấn Trần Văn Hữu.

Để có thể củng cố và giữ vững chính quyền, Thủ Tưởng Nguyễn Văn Xuân đã không quên chú trọng đến vấn đề quân sự.

Từ mùa Đông khói lửa 1946, sau khi Việt Nam rút lui khỏi các đô thị trên toàn lãnh thổ thì ở mỗi địa phương Trung, Nam, Bắc các người sẵn, có tư tưởng diệt cộng đã tự xây dựng ngay những tổ chức quân sự hợp tác gián tiếp với Pháp chống lại du kích Việt Minh.

Ngoài Bắc, phải nói đến quân lực của vùng đạo giáo Bùi Chu, Phát Diệm. Thoạt tiên, Giáo Khu Bùi Chu còn nằm giữa vùng Việt Minh kiểm soát nhưng các tu sĩ cũng cố gắng thiết lập một hệ thống tự vệ độc lập. Trên hành động, thẳng hoặc có cuộc xung đột nhỏ với quân đội Việt Minh nhưng cả hai bên đều cố gắng nhũn nhặn để chờ thời cơ thuận tiện tiêu diệt nhau. Về phía Việt Minh, họ còn đang mải miết ‘’đoàn kết’’ theo một chiến lược rộng lớn về chính trị cho nên dù thù ghét Đội Nghĩa Dũng vùng giáo khu, các tiểu đoàn Việt Minh vẫn không dám làm to chuyện, còn về phía các giáo sĩ cũng phải tránh gây gổ với quân lực Việt Minh vì biết thế của mình chưa phải lúc.

Ngoài lực lượng quân sự tiếm tàng của đạo giới Việt Nam, ở Bắc Việt, đến khi thành lập Tồng, Trấn, Phủ, vấn đề quân lực của địa phương mới có cơ hội chính thức bàn đến. Những đại đội Vệ Binh bắt đầu được thành lập. Đúng với danh nghĩa của nó, các đội Vệ Binh Bắc Việt chỉ làm có nhiệm vụ canh gác, bảo vệ các cơ quan chính quyền mà chưa được tham gia chiến đấu vì lẽ giản dị là chưa đủ lực bản thân về mọi phương diện trang bị, kỹ thuật, tài chính, hơn nữa, việc hợp tác với Pháp trên phạm vi chiến trường chưa được đặt thành vấn đề.

Ở Trung Việt, khá hơn một chút, ngay từ lúc Hội Đồng Chấp Chánh ra đời, các lãnh tụ miền Trung đã có phương tiện để tổ chức Bảo Vệ Quân dù nhiệm vụ nhũn nhặn của tổ chức này chỉ hướng về chuyên lo việc an ninh trong một phạm vi nhỏ hẹp. Tính đến đầu Xuân 1948, số quân đã tăng dần đến khoảng 2000 nhưng đại đa số hoặc là cựu binh sĩ già hoặc mới nhập ngũ nên chưa thể nào tính đến chuyện bình định hoặc hợp tác với quân đội Pháp được.

Rất chú ý đến vấn đề quân sự, Tổng Trấn Trung Việt Phan Văn Giáo đã cố gắng chỉnh bị bộ đội địa phương, do đó Việt Binh Đoàn xuất hiện. Tư tưởng được ổn định thì mọi tổ chức đều có đà để tiến mạnh. Ở Trung Việt, tư tưởng Bảo Hoàng được cố kết và vững chãi, nhờ đó Việt Binh Đoàn đã có ngay một chính nghĩa rõ rệt để phụng sự và do đó Việt Binh Đoàn càng ngày càng phát triển với năm câu nhật tụng.

– Cương quyết đem an ninh và trật tự cho dân.
– Quyết hy sinh để giữ danh dự cho Vệ Binh Đoàn
– Vì Tổ Quốc, không vì đảng phái
– Trung thành ủng hộ Đức Quốc Trưởng Bảo Đại.

Trong khi Bắc Việt mới chỉ có được loại bộ đội dùng để bảo vệ cơ quan hành chánh địa phương và Trung Việt đang có một bộ đội rất có tương lai tiến triển thì tại Nam Việt đã có những lực lượng quân sự khá mạnh.

Lực lượng quân sự miền Nam mạnh nhưng kém phần thống nhất. Không kể Vệ Binh Cộng Hòa Nam Việt, mấy nhóm Cao Đài, Hòa Hảo và Bình xuyên mỗi nhóm đều có một tổ chức quân sự rất lợi hại cả về phẩm lẫn lượng không những các đơn vị võ trang của các nhóm chính trị ấy đã thiện chiến, họ còn có ngân quỹ riêng để có thể vượt mọi nỗi khó khăn trong vấn đề trang bị. Đủ sức mạnh, sẵn đường lối chống cộng rõ ràng, họ đã thực tế và trực tiếp chiến đấu bên cạnh quân đội Pháp trên khắp chiến trường Nam Việt.

Ngoài các tổ chức quân sự có tính chất địa phương vả riêng lẻ ở khắp lãnh thổ Việt Nam như trên đã nói, chính phủ Trung Ương Lâm Thời đã bỏ ra một số tiền là 2.000.000 đồng để thành lập ngay một Đại Đội chính quy, đó là đơn vị đầu tiên của Quân Đội Quốc gia Việt Nam. Tiến thêm một bước nữa, Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân đã mở trường đào tạo sĩ quan chỉ huy để chuẩn bị nhân tài về mặt quân sự.

Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân còn có định kiến quy hợp hết thẩy các binh lực Trung, Nam, Bắc như Vệ Binh Bắc Việt, Vệ Binh Cộng Hòa Nam Việt và Vệ Binh Đoàn thành một khối duy nhất lấy tên là Vệ Binh Việt Nam nhưng thật là buồn khi chủ trương thống nhất đó đã gặp nhiều trợ lực đáng tiếc.

Ngoài quân sự, vấn đề xã hội đòi hỏi những biện pháp cấp bách. Nào là dân ở thành thị hồi cư bị mất hết sản nghiệp, chỉ còn hai bàn tay trắng, nào là nông dân ở khắp miền quê, nhà cháy, phương tiện sản xuất không còn, tất cả đều đang vất vưởng với Thần Đói, Thần Rét, lại còn nạn bão lụt, trôi nhà trôi cửa, ngập ruộng ngập nương.

Chính phủ đã phải bỏ ra hàng ngàn hàng vạn để trợ cấp cho dân chúng:

– Mua tặng phẩm cho những người cần lao vào dịp Tết
– Trợ cấp cho dân chúng Thừa Thiên, nạn nhân của chiến tranh
– Trợ cấp cho các miền bị bão lụt ở Bắc Việt
– Trợ cấp cho các giáo sĩ để xây dựng Cô Nhi Viện.

Hoạt động của chính phủ mỗi ngày mỗi tăng tiến. Để đủ tiền bù đắp cho các công tác xã hội, chính phủ đã định lại một vài thứ thuế. Đặt ra thế xa xỉ, đặt ra thuế điền thổ, thuế thổ trạch. Bác bỏ thuế cư trú, một thứ thuế ‘’phản độc lập’’ đối với dân chúng Việt Nam.

Đánh thuế, chính phủ thật đã làm một việc rất khổ tâm trong thời gian mà toàn thể dân chúng đã mất hết cả sản nghiệp cơ đồ. Vì vậy nên các thứ thuế đặt ra chỉ nhằm vào những túi tiền có thể chịu đựng được.

Ở địa hạt thanh niên, chính phủ cũng rất chú ý. Biết rõ thanh niên là rường cột của quốc gia, biết rõ tiềm lực của đất nước nằm trong giới thanh niên, chính phủ Trung Ương Lâm Thời đã gây mầm bằng cách khuyến khích học sinh luyện tập thể dục, thành lập Trường Quốc Gia Thanh Niên Thể Dục. Phần lớn thanh niên còn bị phân tán ở vùng Việt Minh, một phần nữa đã xung vào Quân Đội Quốc Gia của các địa phương Trung, Nam, Bắc số còn lại toàn là những học sinh còn ít tuổi vì vậy chính phủ chú trọng đặc biệt đến học sinh còn ít tuổi vì vậy chính phủ chú trọng đặc biệt đến học sinh trong lúc tình thế chưa cho phép một sự tập hợp rộng rãi.

Để đối phó với nạn mù chữ, chính phủ mở mang công tác Bình Dân Học Vụ. Mở Trường Công Nghệ cao cấp và riêng các học sinh những Trường Công, Kỹ Nghệ được đặc hưởng phụ cấp lương thực trong thời gian theo học. Cử chỉ ấy tỏ ra chính phủ đã săn sóc đến giai cấp công nhân.

Việt ngữ từ lâu bị quên lãng, ngày nay đã được đề cao. Các trường trung học đều đặt khoa Việt Ngữ lên hàng đầu. Học sinh tiến tới dùng Việt Ngữ để chau dồi văn chương, tư tưởng, toán học, khoa học. Khoa thi đầu tiên cấp bằng Tú Tài Việt Nam được mở tại Huế, Hà Nội, Sài Gòn.

Chính phủ Nguyễn Văn Xuân đã ấn định công việc tổ chức ngành tư pháp mới. Tuy buổi sơ khai chưa được toàn thiện, toàn mỹ nhưng từ đấy, ngành Tư Pháp đã tiến bước song song với tình hình mỗi ngày mỗi sáng sủa.

Trong tất cả các vấn đề lớn, riêng việc xây dựng một hệ thống hành chính đã được chính phủ Lâm Thời hết sức chú trọng và đã chi những món tiền khá lớn. Mỗi địa phương Trung, Nam, Bắc đều nhận được hàng chục triệu để sử dụng.

Những ưu điểm về hoạt động của chính phủ Trung Ương Lâm Thời có nhiều thì những khuyết điểm cũng lại rất đáng phàn nàn.

Trong lúc cần gây thanh thế và hậu thuẫn cho Cựu Hoàng Bào Đại, gây uy tính cho Chánh Nghĩa Quốc Gia, trong lúc cần giành dật lại lòng dân chúng đang sôi nổi ở vùng Việt Minh thì ở vùng quốc gia lại mọc lên nhiều việc đáng phê bình.

Một là Thuyết Phân Ly của một nhóm người miền Nam, đó là nọc độc dư rớt lại của một nguồn tư tưởng lạc hậu trong tổ chức Nam Kỳ Quốc cũ kỹ. Giữa cao trào thống nhất đang lên mạnh trong dân chúng, Thuyết Phân Ly đã là một luồng gió lạc hậu, tượng trưng một tư tưởng phản dân tộc, phản thống nhất, phải tiến hóa.

Hai là việc xây dựng Trại An Trí ở Trung Việt. Đang lúc chính phủ cần phải tỏ ra khoan hồng, bao dung và tha thứ những sai lầm của đa số chiến sĩ quốc gia theo kháng chiến thì chính quyền Trung Việt đã coi ‘’cá mè một lứa’’ để xử đối với tất cả những người đã chót theo Việt Minh. Họ chỉ là những người yêu nước, nặng lòng với dân tộc. Họ không phải là cộng sản. Do đó việc mở mang Trại An Trí đã làm lòng dân công phẫm và hoang mang, nghi ngờ. Tình trạng tinh thần ấy khiến Việt Minh dễ lợi dụng làm yếu lực lượng quốc gia mới tập hợp được.

Ngoài Bắc cũng xẩy ra vài việc đáng chê trách như việc chính quyền cho phép mở sòng bạc lớn, việc tiền nong không đứng đắn ở ngành kinh tế…

Giữa lúc sự giao thiệp với Pháp còn gay go giữa lúc Cựu Hoàng, người tượng trưng nền Độc Lập và Thống Nhất quốc gia còn phiêu lưu nơi hải ngoại, giữa lúc chính phủ Lâm Thời còn chập chững trước luận điệu phản tuyên truyền của Việt Minh, các chính quyền địa phương đã vô tình để sơ hở ít nhiều trong khi thi hành nhiệm vụ.

Gạt bỏ hết khuyết điểm nhỏ mọn, chính phủ Trung Ương Lâm Thời Nguyễn Văn Xuân đã thành công phần nào trong việc tập hợp tư tưởng quốc gia đang bị lạc lõng trong khói lửa. Nếu còn nhiều chiến sĩ chưa chịu trở về tham gia hoạt động nhưng chính họ cũng đã lắng tai nghe và đang chăm chú theo dõi, đó là dấu hiệu báo trước của sự thống nhất tư tưởng quốc gia.

Sự thành lập chính phủ Trung Ương Lâm Thời Nguyễn Văn Xuân đã thành công phần nào trong việc tập hợp tư tưởng quốc gia đang bị lạc lõng trong khói lửa. Nếu còn nhiều chiến sĩ chưa chịu trở về tham gia hoạt động nhưng chính họ cũng đã lắng tai nghe và đang chăm chú theo dõi cử chỉ hành động của chính quyền quốc gia. Lắng nghe và theo dõi, đó là dấu hiệu báo trước của sự thống nhất tư tưởng quốc gia.

Sự thành lập chính phủ Trung Ương Lâm Thời là một tiến bộ của phe Quốc Gia Dân Tộc đồng thời cũng là một điềm thất bại thứ nhất chính phủ cụ Hồ trên phương diện đấu tranh chính trị.

CỰU HOÀNG VỚI THỎA HIỆP ÉLYSÉE

Ngày chứng kiến việc ký kết Bản Tuyên Ngôn chung tại Vịnh Hạ Long đã qua. Ngày ấy mới chỉ nêu lên những khởi điểm của mối bang giao Việt-Pháp. Còn cần phải nhiều chặng nữa để có thể phát triển, cụ thể hóa và hợp pháp hóa những hứa hẹn buổi đầu.

Pháp đã kêu gọi dân tộc Việt Nam hãy tin ở lòng thành thực của chính phủ Pháp.

Trong khi ở nước nhà, chính phủ Nguyễn Văn Xuân được thành lập phụ lực vào sứ mạng thương thuyết với nước Pháp, Cựu Hoàng rời bỏ Hồng Kông đi Pháp để đích thân điều đình.

Từ tháng Giêng năm 1949, những cuộc thương thuyết giữa Cựu Hoàng với Hezog trong Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại và Cao Ủy mới Pignon luôn luôn tiếp diễn. Sau hai tháng trời họp mặt, nền móng một cuộc gặp gỡ Vincent Auriol-Bảo Đại đã được nặn hình.

Đúng 12 giờ ngày 8 tháng 3 năm 1949, cuộc gặp gỡ được tổ chức tại Điện Élysée.

Một bên là Cựu Hoàng Bảo Đại, có mặt các ông Trần Văn Hữu, Bửu Lộc, Vĩnh Cẩn, Trần Thanh Đạt, Phạm Văn Bình, Đinh Xuân Quảng, Hoàng Văn Cơ, Nguyễn Hữu Long, Trần Văn Quế, Trần Văn Đôn, Huỳnh Thiện Tính và một bên là Tổng Thống Vincent Auriol có mặt các ông Queille, Lecourt, Coste Floret, Léon Pignon, Parodi, Jean Porgest.

Hai vị đại diện Việt-Pháp: Bảo Đại và Vincent Auriol long trọng thỏa thuận ký kết một Thỏa Hiệp:

THỎA HIỆP ÉLYSÉE

Hạ bút ký sự mất còn cho Quốc Gia Việt Nam, Cựu Hoàng Bảo Đại đã vinh dự tượng trưng dân tộc Việt trong chuỗi ngày gay gắt.

Thỏa hiệp Auriol-Bảo Đại gồm những mục như sau:

– Thống Nhất Việt Nam
– Ngoại giao
– Quân sự
– Tư pháp
– Kinh tài
– Văn hóa

Công điện 8.3.1949 long trọng tuyên bố sẽ không cản trở việc Nam Việt sát nhập vào Việt Nam. nước Việt Nam gồm một khối Bắc Việt, Trung Việt và Nam Việt.

Ngày 23 tháng 4, một Nghị Án đuợc đề xuất với Pháp: Bác bỏ 2 Pháp Chế Nam Việt.

Một theo Điều Ước 5.3.1862 dưới triều Vua Tự Đức, đã nhường Biên Hòa, Gia Định, Mỹ Tho và Đảo Côn Lôn cho Pháp sau và đó lại nhường nốt Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên.

Một theo Điều Ước 15.3.1874 cũng dưới triều Vua Tự Đức xác nhận cho Pháp làm chủ Lục Tỉnh.

Nhưng còn một biện pháp đề phòng tương lai của Pháp là ‘’sự sát nhập Nam Việt vào Việt Nam sẽ coi như vô giá trị nếu Quốc Gia Việt Nam thay đổi pháp chế trong Liên Hiệp Pháp. (Do đó sau này tại Quốc Hội Pháp, tháng 10 năm 1953, Tướng Aumeran có nêu lại vấn đề Nam Việt).

Ngoài vấn đề sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Việt Nam, ba Tỉnh Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng cũng được chính phủ Pháp trao trả và hủy bỏ pháp chế theo Sắc Lệnh 1888, một Sắc Lệnh dưới triều Vua Đồng Khánh nhường mấy Tỉnh trên cho Pháp.

Với những dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Pháp muốn những dân tộc ấy có pháp chế riêng về phương diện hành chính.

Tóm lại, về phương diện thống nhất nước Việt Nam. Thỏa Hiệp Élysée đã có một tiến bộ.

Về Ngoại giao chính phủ Việt Nam có thể thỏa thuận với chính phủ Pháp đề cử Đại Sứ Việt Nam đi ngoại quốc. Theo Công Điệp giải thích của chính phủ Pháp, Việt Nam có thể có Đại Biểu ở Tòa Thánh La Mã, ở Trung Hoa và Thái Lan. Nếu Trung Hoa chưa có hoàn cảnh thì có thể thay Trung Hoa bằng Ấn Độ.

Muốn đặt Lãnh Sự tại nước nào để bảo vệ quyền lợi của mình, Việt Nam sẽ yêu cầu chính phủ Pháp can thiệp dùm.

Muốn thương nghị và ký kết những điều ước quốc tế quan hệ đến quyền lợi riêng của Việt Nam. chính phủ Việt Nam được tự do, nhưng trước khi thương nghị, phải thông báo chính phủ Pháp để đem vấn đề ra khảo xét tại Tham Chính Hội Tối Cao Liên Hiệp Pháp. Ngoài ra Việt Nam còn luôn luôn liên lạc với Pháp trong lúc đang thương nghị để Pháp có thể phù trợ đại biểu Việt Nam nếu cần.

Chính phủ Pháp còn cam kết sẽ ủng hộ Việt Nam xin gia nhập Liên Hiệp Quốc khi nào Việt Nam có đủ điều kiện là một nước hội viên.

Điều kiện làm hội viên Liên Hiệp Quốc đã được định rõ trong Điều 4 của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc:

‘’Có thể là hội viên Liên Hiệp Quốc tất cả những quốc gia khác (ngoài những nước sáng lập) ưa chuộng hòa bình và thừa nhận những nghĩa vụ nói trong Hiến Chương này, và Liên Hiệp Quốc xét ra đủ tư cách và sẵn sàng làm tròn nghĩa vụ ấy’’.

Tóm tắt về ngoại giao, Việt Nam sẽ có đủ quyền hành thường lệ, nền ngoại giao riêng, quyền tiếp nhận và phái đại sứ, quyền thương nghị và ký điều ước, quyền xin gia nhập Liên Hiệp Quốc. Nhưng nội dung các quyền hành thường lệ còn chứa đựng ít nhiều rắc rối thuộc phạm vi kỹ thuật và chính trị. Muốn thập phần hoàn hảo, còn phải đợi điều kiện thời gian giúp sức.

Về Quân Sự: Thỏa Hiệp định rằng Việt Nam sẽ có một quân đội quốc gia với nhiệm vụ:

– Giữ gìn trật tự an ninh trong nước
– Bảo vệ lãnh thổ Việt Nam, có quân đội Liên Hiệp Pháp giúp sức
– Dự vào phòng thủ cương giới toàn khối Liên Hiệp Pháp chống ngoại xâm.

Quân Đội Quốc Gia Việt Nam sẽ có binh lính và sĩ quan Việt Nam (không được tổ chức quân đội Lê Dương như Pháp).

Sĩ Quan Việt Nam sẽ do các Trường Võ Bị Việt Nam đào tạo.

Quân Đội Việt Nam sẽ tổ chức giống quân chế quân đội Pháp. Chiến cụ sẽ đặt mua của Pháp và quân phí Việt Nam sẽ do Quốc Gia Việt Nam chịu.

Sẽ có quân đội Liên Hiệp Pháp đồn trú ở Việt Nam để làm tròn nhiệm vụ phòng thủ Liên Hiệp Pháp. Được tự do đi lại trên lãnh thổ Việt Nam, quân đội Liên Hiệp Pháp sẽ có thể tuyển mộ người Việt Nam vào cơ ngũ.

Thời bình sẽ có một Ủy Ban Quân Sự làm cơ quan thường trực liên lạc giữa hai quân đội Việt Nam và Liên Hiệp Pháp, chung kế hoạch phòng thủ và hợp tác. Ủy ban này sẽ do võ quan tham mưu của cả hai quân đội dự.

Khi có chiến tranh, Ủy Ban sẽ làm cơ sở phát triển và thành lập Bộ Tham Mưu Việt-Pháp dưới quyền điều khiển trực tiếp của một sĩ quan hàng Tướng của Pháp, có Tham Mưu Trưởng người Việt Nam phụ lực. Toàn thể các lực lượng có thể dùng để phòng thủ sẽ hợp chúng lại trong thời kỳ chiến tranh.

Về Tư Pháp, Thỏa Hiệp định cho Việt Nam hai hạng Tòa Án: Tòa Án Việt Nam và Tòa Án Hỗn Hợp.

Tòa Án Hỗn Hợp Việt-Pháp xử:

1.- Những vụ kiện về dân sự và thường sự của hai bên nguyên, bị (hoặc một bên, còn bên kia là người Việt Nam) dân Liên Hiệp Pháp, có nghĩa là Pháp và các dân trong Liên Hiệp Pháp ngoài Việt Nam. Ngoại kiều được hưởng đặc quyền tài phán do những điều ước Pháp đã ký kết từ trước.

2.- Những vụ truy tố về hình sự, người bị thiệt là hạng người nói trên (bất luận là dân nước nào).

3.- Những tội phạm đối với nước Pháp (mặc dầu bị cáo là người Việt hay người nước nào).

Thỏa Hiệp còn theo nguyên tắc ‘’Hỗ Tương’’, định cho người Việt Nam có quyền kiện quốc gia Pháp và trái lại, người Pháp cũng có quyền kiện quốc gia Việt Nam. Việc sẽ xử tại Tòa Cai Trị Pháp-Việt và theo luật nước Pháp.

Về Văn Hóa: Trên lãnh thổ Việt Nam sẽ có hai nền giáo dục: Pháp và Việt. Một Học Viện sẽ chung cho hai bên.

Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam sẽ tổ chức một nền giáo dục từ Tiểu đến Đại Học. Tiếng Pháp được ưu đãi và sẽ là tiếng công dụng ngoại giao ở Việt Nam, được dậy ở bậc Tiểu Học và bắt buộc dậy từ Trung Học trở lên.

Pháp sẽ được tự do mở mang các trường công và tư thục có đủ các bậc Tiểu, Trung và Đại Học kể các trường dậy chuyên môn và thực nghiệp. Phải theo luật lệ học chính của Việt Nam nhưng điều kiện tuyển giáo viên Trường Pháp sẽ theo luật Pháp. Học sinh các Trường Pháp học theo chương trình của Pháp và học thêm môn Sử Ký và Văn Hóa Việt Nam.

Người Việt Nam được tự do xin học Trường Pháp và những học sinh ấy bắt buộc phải học thêm môn Việt Ngữ.

Về Đại Học Vụ: Hiện nay vì đang ở hoàn cảnh khó khăn cho nên chỉ có dự định lập một Đại Học Viện chung Pháp-Việt (Mên, Lào có thể tham dự).

Văn bằng cấp Trung Học, sẽ được đem đối chiếu hai chương trình giáo khoa Việt-Pháp để định mức tương đương. Văn bằng cấp Đại Học sẽ được cả hai chính phủ Pháp-Việt coi là công thức.

Trường Viễn Đông Bác Cổ thuộc quyền sở hữu của Việt, Pháp, Mên, Lào và không thể chuyển mại được.

Viện Pasteur ở Sài Gòn, Đà Lạt và Nha Trang cũng là của chung của 4 nước nói trên. Riêng ở Hà Nội, Viện Pasteur là của Việt Nam nhưng chính phủ Việt Nam sẽ ký kết hợp đồng với Viện ở Hà Nội giống như hợp đồng đã ký kết với các Viện khác.

Hai chính phủ Pháp-Việt đều có quyền sở hữu, lưu trữ công văn của mình. Các Thư Viện, Cục Túc Mễ, Sở Thiên Văn, Hải Học Viện Nha Trang v.v…sẽ được ấn định bằng khoán thư riêng.

Về Kinh Tài: Dân Liên Hiệp Pháp ở Việt Nam cũng như người Việt Nam ở các xứ trong Liên Hiệp Pháp được tự do doanh nghiệp như người bản quốc theo luật lệ bản quốc.

Người Pháp, người các xứ Liên Hiệp Pháp tại Việt Nam cũng như người Việt Nam ở các xứ Liên Hiệp Pháp và các xứ Liên Hiệp Pháp cũng được hưởng những lợi ích như nhau trong phạm vi tài sản và doanh sở.

Người Pháp sẽ được tự do đầu tư ở Việt Nam trừ những doanh sở liệt vào ngành có quan hệ về Quốc Phòng thì phải có sự thỏa thuận của chính phủ Việt Nam mới được phép mở.

Thỏa Hiệp để Việt Nam có toàn quyền quản trị nền Tài Chính trong nước. Ba quốc gia Việt-Mên-Lào họp thành một liên hiệp tiền tệ lấy đồng bạc làm đồng tiền duy nhất do một Viện Phát Hành chung cho cả ba nước phát hành.

Đồng bạc sẽ thuộc khối đồng Franc (tiền Pháp) Giá Đồng Bạc và giá đồng Franc không nhất định phải có quan hệ nhưng mỗi khi có sự thay đổi giá đồng bạc hoặc giá đồng Franc thì Pháp phải hỏi ý kiến trước ba nước Việt- Miên-Lào.

Một hối đoái cục được thành lập để quy định cách thức đổi chác tiền bạc nói chung.

Ba nước Việt-Miên-Lào còn hợp thành một Liên Hiệp Quan Thuế. Hàng hóa được chuyên chở tự do qua biên giới của ba nước. Hàng xuất nhập khẩu đều cùng chung một thuế xuất.

Kết luận, ngày 14 tháng 6 ở Sài Gòn, Quốc Trưởng Bảo Đại đã nhận Bản Thỏa Hiệp như giấy khai sinh nước Việt Nam Độc Lập. Thật vậy, ‘’khai sinh’’ nghĩa là còn non yếu và thiếu thốn. Quốc Trưởng cũng như quốc dân còn phải tận lực nuôi dưỡng nhiều nữa nước Việt Nam mới có thể trưởng thành, cứng mạnh.

Dĩ nhiên, Thỏa Hiệp Élysée chưa làm thỏa hẳn được lòng dân Việt Nam mong muốn, chưa mang lại tất cả quyền hành mà một nước Độc Lập phải có, nhưng dù sao trong đó cũng đã chứng tỏ được phần nào thiện trí xây dựng của Pháp và đánh dấu một bước tiến trên đường đi tới Độc Lập thật sự của Việt Nam.

Thỏa Hiệp Élysée đã làm một số chính khách thụ động ở Việt Nam tỏ thái độ nguây nguẩy và bắt bẻ. Nhưng muốn nhìn rõ giá trị của Thỏa Hiệp Auriol-Bảo Đại, không nên đặt nó lên bàn mổ xẻ theo một quan niệm cố định mà phải nhìn qua hoàn cảnh không gian và thời gian, qua các yếu tố chính trị đã cấu tạo ra nó. Theo quan niệm đơn thuần và cứng nhắc để nhận xét Thỏa Hiệp chỉ đi đến hậu quả gây hoang mang trong lúc cần phải bình tĩnh tập hợp mọi sự tư tưởng đứng đắn và chính đáng để hoàn bị nền Độc Lập của Tổ Quốc.

Công cuộc tranh đấu giành Độc Lập chẳng phải là một vấn đề dễ dàng và không thể đòi hỏi ở tài năng của riêng một cá nhân nào đặc biệt.

Thỏa Hiệp Élysée được thành tựu không phải cho riêng khả năng chính trị của các người theo chính nghĩa quốc gia và đã đo lường sức kết hợp của những tư tưởng quốc gia trên đất Việt.

Thỏa Hiệp 8 tháng 3 năm 1949 là một tia lửa trong bóng tối âm thầm. Căn cứ ở điểm sáng đó, quốc dân chân chính sẽ cùng sát cánh để phụ lục với Quốc Trưởng tiếp tục xây dựng sự nghiệp tương lai.

NGÀY VỀ

Công cuộc tranh đấu của Cựu Hoàng nơi hải ngoại kết thúc đã đem lại những giác thư ngày 8.3.1949 những giác thư xác định nguyên tắc Thống Nhất và Độc Lập của Việt Nam.

Đã giành dật lại chủ quyền trên giấy tờ, nay đến lúc cần phải bắt tay vào việc thực hiện những nguyên tắc đã ký kết.

Cựu Hoàng quyết định trở về lãnh đạo việc phục hồi lãnh thổ, xây dựng lại non sông.

Ở nước nhà chính phủ Trung Ương Lâm Thời rộn dịp sửa soạn cuộc đón tiếp vị lãnh tụ thân yêu đã bao năm xa vắng.

Truyền đơn, biểu ngữ ‘’Nghênh giá hồi loan’’ tung bay khắp phố.

Toàn dân hồi hộp mong mỏi, đợi chờ một mới lạ, một thay đổi để chấm dứt tình trạng lơ lửng, nửa trắng, nửa đen.

Tháng 4 năm 1949, Hội Nghị Nam Kỳ Biểu Quyết bãi bỏ quy chế của Nam Phần lập nên do hai Hiệp Ước 1862 và 1874. Nền Thống Nhất đã gần hoàn bị.

Cựu Hoàng phái Hoàng Thân Bửu Lộc về nước để giải thích cho toàn thể quốc dân hiểu rõ ràng ý nghĩa của Thỏa Hiệp Élysée. Ngày về của Cựu Hoàng được quy định: 28.4.1949.

Từ ngày cùng phái đoàn Nghiêm Kế Tổ ra đi, cuối Xuân 1946, đến nay ngày về đầu Hạ 1949, tròn ba năm, Cựu Hoàng đã xa đất nước. Ba năm đầy khói lửa hoang tàn, Việt Nam đã thay bộ mặt.

Ở Pháp về, Cựu Hoàng đến ngay dinh thự đặt tại Cao Nguyên Lang Bian và lặng lẽ bắt đầu công việc thăm dò dân ý. Một số lớn các nhân sĩ từ Nam chí Bắc được mời đến để trình bầy quan điểm về thời cuộc, trình bày mong muốn của mọi từng lớp dân chúng, nguyện vọng của các nhóm, đảng chính trị.

Hai tháng sau, ngày 14 tháng 6, lễ trao đổi Văn Kiện Pháp-Việt cử hành long trọng tại Thủ Đô Nam Việt giữa một bên: Cựu Hoàng Bảo Đại và một bên là Thượng Sứ Léon Pignon.

Buổi lễ đã mang nặng những lời tuyên bố đầy tâm huyết:

‘’Quốc Dân Việt Nam!

Hôm nay đặt chân lên đất Nam Phần, tôi không thể nén nỗi lòng cảm động chứa chan hòa với vui mừng vô hạn.

Lãnh thổ này, giòng Hồng Việt đã dầy công khai thác từ bao thế kỷ. Minh Vương, Ninh Vương và Võ Vương đều kế nghiệp tại đây. Và từ đây, Đức Gia Long cùng biết bao anh hùng hiền sĩ xứ Đồng Nai, Gia Định đã khởi nghĩa Cần Vương hưng nghiệp cả, tô vẽ lại non sông từ Sài Gòn qua Thuận Hóa ra Thăng Long rồi tới biên thùy Trung Quốc.

Bầu nhiệt huyết của tiền nhân vẫn còn sôi chảy trong can trường nòi giống. Trong rừng rậm, nơi bùn lầy, biết bao chiến sĩ quyết hy sinh để phấn đấu cho chính nghĩa.

Lãnh thổ của tổ tiên ngày nay đã quy về một khối. Được như vậy là nhờ chí anh dũng của toàn dân và đồng bào các giới, nhờ tình hữu nghị của dân tộc Pháp. Sau bao năm sống riêng biệt, đồng bào Nam Phần đã tỏ ra là người Việt Nam không bao giờ quên nguồn gốc giống nòi. Trong công cuộc xây dựng lại Quốc Gia. Nam Phần đã đặt viên đá đầu tiên và ghi một công nghiệp vẻ vang trong lịch sử.

Công nghiệp ấy chỉ có thể tồn tại và phát triển được nếu dân tộc ta tiến triển trong kỷ luật, trật tự và an ninh. Nhưng ròng rã từ 4 năm nay, chỉ vì nguyện vọng quốc dân chưa đạt được nên nạn chiến tranh kéo dài, tàn phá đất nước.

Còn cảnh nào thê thảm bằng cảnh hai dân tộc Việt-Pháp xưa nay vẫn tha thiết với hòa bình, yêu chuộng tự do và công lý, mà ngày nay phải dùng đến võ lực, bạo tàn đối phó với nhau.

Để chấm dứt thảm trạng ấy tôi không ngần ngại đảm nhận trách nhiệm tìm phương pháp hòa bình để giải quyết sự xung đột và làm thỏa mãn những nguyện vọng thiết tha của dân tộc.

Vì cần phải có một lập trường ở Pháp nên tôi phải tạm nhận địa vị xưa nhưng đối với quốc dân, ý định tôi vẫn không thay đổi. Một lần nữa, tôi trịnh trọng tuyên bố chính thể nước Việt Nam sau này sẽ do quốc dân định đoạt. Quốc dân đã dũng cảm phấn đấu cho nền Độc Lập Tổ Quốc, lẽ dĩ nhiên quốc dân phải là nguồn gốc mọi sự hoạt động của quốc gia, nhưng vì tình hình quốc tế nghiêm trọng và tình thế chính trị hiện tại chưa thuận tiện để đồng bào có thể phát biểu ý kiến rõ ràng sau một cuộc Tổng Tuyển Cử nên tới ngày hôm nay, tôi nhận đứng điều khiển bộ máy quốc gia.

Trước đây nửa giờ đã cử hành lễ trao đổi Văn Kiện với Đại Diện Tối Cao nước Pháp. Như quốc dân đã biết: Cuộc thương thuyết giữa chính phủ Pháp và tôi đã đi tới Thỏa Hiệp ngày 8 tháng 3, Thỏa Hiệp này chỉ là phác họa những nguyên tắc căn bản cho nền bang giao Việt-Pháp trên lập trường Thống Nhất và Độc Lập nước Việt Nam. Thỏa Hiệp ấy đã đánh dấu và là kết quả của tình thế chính trị trong giai đoạn hiện thời. Cũng như các Hiệp Định khác sẽ ký, Thỏa Hiệp 8.3 sẽ do quốc hội Việt Nam sau này chuẩn y.

Quốc Dân Việt Nam!

Theo đúng nguyên tắc Thỏa Hiệp nói trên, sự Thống Nhất lãnh thổ Việt Nam ngày nay đã được thực hiện. Ngày mùng 6 tháng 6 vừa rồi, Quốc Hội Pháp cũng đã biểu quyết long trọng thừa nhận sự sát nhập Nam Phần vào lãnh thổ Việt Nam.

Như vậy thể chế thuộc địa do các Hòa Ước 1862, 1874 tạo nên, đã hoàn toàn thủ tiêu. Nền Độc Lập nước nhà hiện tại và từ nay, nước Việt Nam sẽ tự điều khiển công việc mình trên đường quốc tế cũng như về mặt nội bộ.

Về phương diện quốc tế, nước ta đã có đủ quyền năng của một nước độc lập, quyền ngoại giao riêng, quyền đặt Sứ Quán tại ngoại quốc, quyền tiếp nhận các Sứ Quán ngoại giao, quyền gửi Lãnh Sự đi các nước, quyền điều đình và ký kết những hiệp ước quốc tế cùng là quyền gia nhập tổ chức Liên Hiệp Quốc.

Để thực hiện các quyền ấy, chính phủ thành lập ngày mai có nhiệm vụ phải hoạt động giành cho nước nhà có một địa vị xứng đáng trong khu vực Đông Nam Á Châu. Các việc cần thực hiện ngay là việc đặt các Lãnh Sự tại ngoại quốc và việc cử các Đại Sứ Việt Nam đến các nước định rõ trong Thỏa Hiệp ngày 8.3.

Chúng ta lại thành tâm mong đợi các nước bạn sớm có đại biểu đến nước ta và mau chóng đến ngày nước Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc.

Sở dĩ chúng ta cố gắng hành động để có một địa vị xứng đáng trên đường quốc tế là vì chúng ta tin tưởng rằng nước Việt Nam có sứ mệnh phải cộng tác với các nước khác để bảo vệ tất cả những phong thể cho loài người, căn cứ vào lòng yêu chuộng hòa bình, tự do cá nhân cũng là sự tôn trọng tinh thần dân chủ.

Về phương diện nội bộ, sự tổ chức quốc gia hợp ý dân là một vấn đề cực kỳ quan trọng. Danh dự dân tộc thúc giục chúng ta phải hành động sao cho thế giới thấy rõ hình ảnh nước Việt Nam tân tiến, biết trọng kỷ luật, biết yêu công lý.

Trước hết, về mặt hành chính, các cơ quan đặt ra là để làm việc cho dân. Một tổ chức đi ngược nguyên tắc căn bản ấy không thể nào tồn tại được. Vậy cần phải định ngay một quy chế cho công chức toàn quốc. Quy chế ấy sẽ phải tôn trọng những quan niệm thiết yếu và liêm chính, về năng lực cá nhân cũng là việc sử dụng các năng lực ấy cho hợp lý và công bằng.

Một chương trình cải tạo xã hội sẽ được ấn định và thực hiện. Chúng ta phải theo đuổi công cuộc chống nạn mù chữ, mở mang nền giáo dục phổ thông, nâng cao dân trí.

Giới cần lao là gốc của mọi việc canh tân sẽ được chính phủ săn sóc tới, mục đích nâng cao mức sống đồng bào. Những quyền chính trị tốt đẹp đến đâu mặc lòng cũng sẽ mất hết ý nghĩa và không còn ảnh hưởng gì nếu trong nước người dân ăn không đủ no, mặc không đủ ấm.

Bởi thế nên tôi thấy cần gấp phải mở mang kỹ nghệ, khuếch trương thương mại, chấn chỉnh nông nghiệp, để trên nước Việt Nam mới, mỗi người thợ có một ngôi nhà, mỗi dân cầy có một khu trại. Tôi ước mong những nhà chuyên môn các nước có cảm tình với ta góp sức cùng chúng ta dể chóng thực hiện chương trình kiến thiết mà tôi vừa phá họa.

Lẽ dĩ nhiên, những quyền lợi chính đáng của ngoại kiều được bảo vệ và tôn trọng.

Trong phạm vi Đại Gia Đình Việt Nam mới, Nam Phần với tài nguyên trù mật, sáng kiến khả năng với những tập quán cố hữu cần được tôn trọng, sẽ đóng một vai quan hệ trên đường tiến triển sau này.

Nam Kỳ là quê hương của chúng ta, nhưng trước kia đối với tôi thường chỉ được coi như nơi tạm nghỉ cho người khách lạ. Nam Phần ngày nay là máu thịt Việt Nam, là gốc nguồn của sinh lực mới, trung tâm ngành hoạt động quốc gia.

Từ nay tôi mong toàn thể quốc dân cùng tôi cố gắng mỗi người sẽ đem hết tâm trí tài năng ra gánh vác một phần nhiệm vụ, lấy việc thịnh suy nước nhà làm trọng, gác bỏ tư lợi và óc đảng phái chia rẽ.

Dưới mái nhà quốc gia phục hưng duy nhất, dưới mái từ đường Tổ Quốc trùng tu, tôi tha thiết nhắn nhủ toàn thể quốc dân hãy trở về nới an ninh và hòa mục, để cùng nhau xây dựng một Tổ Quốc xứng đáng mà phụng sự. Bao năm hy sinh của đồng bào là một bảo đảm chắc chắn cho sự thành công.

Tin tưởng vào tương lai nòi giống, cùng nhau chúng ta hợp sức và bắt đầu viết trang sử mới của Tân Quốc Gia Việt Nam.’’

Bằng những lời lẽ giản dị, cảm động, Cựu Hoàng nhấn mạnh để quốc dân hiểu rõ từ nay giang sơn đã thu vào một mối, đồng thời nêu những thắng lợi thu được trong cuộc thương thuyết với nước Pháp, vạch rõ chương trình cải tạo hành chính, xã hội, kinh tế, văn hóa và kêu gọi toàn dân đoàn kết, hợp sức lại xây dựng nước nhà

Sau buổi lễ trao Văn Kiện tại Sài Gòn, Cựu Hoàng trở lại Đà Lạt nối tiếp công việc thăm dò ý kiến, thành lập Tân Nội Các thay thế cho chính phủ Trung Ương Lâm Thời.

Cựu Hoàng âm thầm hoạt động, không để ý tới những lời dèm pha, xuyên tạc của bao kẻ đứng ngoài. Một số báo chí Pháp tượng trưng phản ứng của phe thực dân, của phe cộng sản, chê trách Cựu Hoàng đã lợi dụng tình thế, tham lam đòi hỏi quá nhiều, chỉ trích Cựu Hoàng là gàn bướng, cố chấp, đặt điều nói xấu cố ý để Cựu Hoàng mất ảnh hưởng trước quốc dân. Rồi tuyên truyền của Việt Minh, với luận điều xảo trá quen thuộc, thêu dệt và phóng đại những chuyện tưởng tượng quanh Cựu Hoàng mục đích cũng để làm giảm uy tín và thanh danh của Người.

Nhưng Cựu Hoàng vẫn lặng lẽ làm việc, chỉ trả lời dư luận bằng những kết quả công việc đã đạt được và sự tiến triển rõ rệt của mọi ngành hoạt động.

Hành động của Cựu Hoàng đã gây được lòng tin tưởng, mến phục trong dân chúng và khiến cho những đối thủ cũng phải ngạc nhiên, vì nể.

Ngày 2 tháng 7 năm 1949, Cựu Hoàng thành lập xong Tân Nội Các và giải tán chính phủ Trung Ương Lâm Thời.

Nội Các mới gồm những vị sau đây:

  • Cựu Hoàng Bảo Đại: Quốc Trưởng kiêm Thủ Tướng chính phủ.
  • Nguyễn Văn Xuân: Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng (Hồi này Thiếu Tướng Xuân đã được chính phủ Pháp thăng lên Trung Tướng).
  • Nguyễn Khắc Vệ: Tổng Trưởng Bộ Tư Pháp.
  • Nguyễn Phan Long: Tổng Trưởng Ngoại Giao.
  • Trần Văn Ân: Tổng Trưởng Kinh Tế Kế Hoạch.
  • Trần Văn Ty: Quốc Vụ Khanh.
  • Vũ Ngọc Trản: Thứ Trưởng Nội Vụ.
  • Phan Huy Đán: Thứ Trưởng Nội Vụ (ở Pháp, không về nhận)
  • Dương Tấn Tài: Thứ Trưởng Tài Chính.
  • Hoàng Cung: Thứ Trưởng Can Nông, Cứu Tế Xã Hội Lao Động.
  • Trần Quang Vinh: Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng.
  • Lê Thăng: Thứ Trưởng Ngoại Giao.
  • Phan Huy Quát: Thứ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục.
  • Trần Văn Của: Thứ Trưởng Giao Thông Công Chính.
  • Nguyễn Tôn Hoàn: Thứ Trưởng Bộ Thanh Niên.
  • Nguyễn Hữu Phiếm: Thứ Trưởng Bộ Y Tế.
  • Trần Văn Tuyên: Tổng Giám Đốc Thông Tin.
  • Đặng Trinh Kỳ: Tổng Thư Ký Chính Phủ.

Ngày 12 tháng 7, Quốc Trưởng ra thăm Huế Kinh Thành cũ, mới ngày nào nhỏ lệ tiễn Quân Vương hôm nay đã nghẹn ngào tiếp đón cố nhân. Bốn năm về trước, sông Hương, núi Ngự đã lặng nghe Bản Chiếu Thoái Vị những tưởng rồi đây ngôi báu phải được đền bù bằng sự thịnh vượng của Tổ Quốc, nhưng 4 năm khói lửa và tang tóc qua, vị Vương trẻ tuổi lại phải trở về để ‘’tạm nhận địa vị xưa’’. Tuy nhiên ý định của Người vẫn không thay đổi. Chính thể của nước Việt Nam sau này sẽ do quốc dân định đoạt.

Ngày 16 tháng 7, trước dân chúng sơ xác của Hà Thành, trước hoang tàn của đất ngàn năm văn vật, Quốc Trưởng tuyên bố những nét đại cương của Chương Trình kiến thiết quốc gia.

Quốc Trưởng đã nói đến cơm áo, đến nhà cửa, đến tất cả những thiếu thốn mà quốc dân đang phải khổ cực chịu đựng. Quốc Trưởng nhấn mạnh:

Chính phủ mà tôi trực tiếp lãnh đạo sẽ gắng công ‘’thực hiện một chương trình cải cách xã hội để kiến thiết một chế độ ‘’hợp lý, công bằng và nhân đạo.’’

Muốn cho quốc dân có thể tham gia việc nước bằng cách phát biểu ý kiến rộng rãi, Quốc Trưởng quyết định thiết lập một Hội Đồng Tư Vấn Quốc Gia, một tổ chức gồm các đại biểu dân chúng tham dự.

Mặc dầu vùng quốc gia còn nhỏ bé so với vùng Việt Minh kiểm soát, Quốc Trưởng đã tổ chức lại quy chế các công sở, điều chỉnh lại các cơ quan công quyền.

Dưới Nội Các Bảo Đại, thanh niên được đặc biệt chú trọng. Nào lớp Tu Nghiệp, nào những cơ sở huấn luyện thanh niên, thể thao, thể dục. Một vài tổ chức thể thao cố gắng hoạt động như túc cầu, xe đạp, quần vợt và nhất là bóng bàn, Việt Nam đã có tuyển thủ đi dự ở ngại quốc.

Chính phủ mở một Huấn Luyện Hành Chính để đào tạo một loạt cán bộ chính quyền mới thích ứng với hoàn cảnh, nhu cầu và đủ năng lực duy trì chính nghĩa quốc gia tại khắp các địa phương.

Về giáo dục, chính phủ ban hành Chương Trình Trung Học mới, giúp đỡ và trợ cấp các sinh viên nghèo, hiếu học và tăng cường công tác chống nạn mù chữ.

Về việc giao thiệp với quốc tế, lần đầu tiên một vị Bộ Trưởng Việt Nam Ngoại Trưởng Nguyễn Phan Long được cử làm Trưởng Đoàn Đại Biểu Việt Nam đi dự Hội Nghị Kinh Tế Đông Nam Á và Viễn Đông (Singapore). Hoàng Thân Bửu Lộc và ông Nguyễn Đắc Khê đi Pháp.

Nội các Bảo Đại đã hết sức hoạt động tuy rằng đó mới chỉ là một Nội Các tượng trưng trong buổi giao thời.

Cả về phương diện quốc gia và quốc tế, Quốc Trưởng còn phải giải quyết những công việc cần thiết khác:

– Quốc Hội Pháp chưa duyệt ý Thỏa Hiệp 8.3.49
– Quyền nội trị của Việt Nam chưa được Pháp hoàn toàn trao trả.

Và nhất là Việt Minh đang cố gắng tăng cường hoạt động trên chiến trường toàn quốc.

Để rảnh tay chú trọng đến các công việc trên, Quốc Trưởng đã chuyển quyền cho Tổng Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Phan Long.

Ngày 18 tháng 1 năm 1950, ông Nguyễn Phan Long nhận chức Thủ Tướng để thành lập nội các như sau:

  • Nguyễn Phan Long: Thủ Tướng kiêm Ngoại Giao, Nội Vụ.
  • Nguyễn Khắc Vệ: Bộ Trưởng Tư Pháp.
  • Phan Huy Quát: Bộ Trưởng Quốc Phòng.
  • Dương Tấn Tài: Bộ Trưởng Tài Chính.
  • Vương Quang Nhường: Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục.
  • Lê Quang Huy: Bộ Trưởng Công Tác và Kiến Thiết.
  • Lê Thăng: Thứ Trưởng Ngoại Giao.
  • Trần Văn Chi: Thứ Trưởng Canh Nông.
  • Võ Duy Thường: Thứ Trưởng Y Tế.
  • Hoàng Cung: Thứ Trưởng Thương Mại-Kỹ Nghệ.
  • Lê Văn Ngọ: Thứ Trưởng Xã-Lao
  • Nguyễn Tôn Hoàn: Thứ Trưởng Thanh Niên Thể Thao.
  • Đinh Xuân Quảng: Thứ Trưởng tại Dinh Thủ Tướng.
  • Huỳnh Văn Trọng: Tổng Thư Ký chính phủ.

Nội Các Nguyễn Phan Long được thành lập để thí nghiệm một đường lối chính trị, dò đường đi cho một chính sách đối ngại cương quyết.

Nội Các Nguyễn Phan Long sẵn sàng chịu đựng mọi phản ứng thử thách.

Ngày 3 tháng 2 năm 1950, Quốc Hội Pháp nhóm họp thông qua Hiệp Ước Élysée.

Quốc Gia Việt Nam từ nay đàng hoàng góp phần trong Đại Gia Đình Thế Giới Tự Do. Các nước liên tiếp nhau công nhận sự có mặt một quốc gia Việt Nam.

Những sự kiện đó đã khiến cuộc đấu tranh giữa chính phủ quốc gia và Việt Minh trở nên một cuộc tranh chấp quốc tế.

Được các nước trong Khối Dân Chủ chính thức nhìn nhận, Việt Nam khẩn trương ngay những cuộc giao thiệp với quốc tế.

Chính phủ Nguyễn Phan Long đã phái các Đại Biểu đi dự những Hội Nghị:

– Hội Nghị Y Tế quốc tế ở Genève.

– Hội Nghị quốc tế về Ung Thư

– Lễ Phật Đản ở Ấn Độ.

– Đấu xảo quốc tế.

– Hội Nghị Thương Mại Kỹ Nghệ E.C.A.F.E

– Hội Nghị Thương Mại ở Ba Lê.

Đối nội, chính phủ Nguyễn Phan Long tiếp tục công việc của Nội Các Bảo Đại.

Về Hành Chính: Mỗi địa phương Trung-Nam-Bắc có một vị Thủ Hiến điều khiển mọi công việc theo đường lối của chính phủ Trung Ương.

Cơ quan Cảnh Sát Công An chính quy được thành lập. Bành trướng phong trào Thanh Niên-Thể Thao. Mở mang các trường đào tạo cán bộ Thanh Niên Trung Cấp, Cán Bộ Phụ Nữ Trung Cấp.

Về Xã Hội: Việc cấp tế nạn nhân chiến tranh cùng việc xây dựng những khu nhà rẻ tiền cho đồng bào nghèo tạm trú được Nội Các Nguyễn Phan Long tích cực thực hiện.

Tháng 3 năm 1950, Việt Minh tăng cường khủng bố để đe dọa và kìm hãm sức tiến triểu của chính phủ quốc gia. Việt Minh làm dân chúng sợ sệt bằng cách đặc phái những phần tử quá khích vào các thị thành gây xáo lộn. Đặc biệt nhất là những vụ biểu tình của học sinh. Việc này đã ảnh hưởng rất nhiều đến nhân tâm và an ninh công cộng. Những sự đáng tiếc xẩy ra giữa học sinh và các nhà đương cục Cảnh Sát Công An là điểm đau xót đối với phe Quốc Gia và là một thắng lợi cho cộng sản.

Lợi dụng cái đã lộn xộn ấy, Việt Minh càng ra công hoạt động, nào ám sát, nào ném lựu đạn, nào đốt nhà, nào cấm chợ…

Tình thế bắt buộc một sự cải tổ chính phủ.

Quốc Gia Việt Nam trong giai đoạn cần một chính phủ hợp thời hơn.

Dưới Nội Các Nguyễn Phan Long, đáng tiếc đã có những luồng dư luận không thức thời chỉ chuyên nghĩ công kích, đả phá cá nhân, chê bai hành động bề mặt của chính phủ mà không để ý tới bề sâu.

Ưu điểm thứ nhất: Chính phủ Bảo Đại Nguyễn Phan Long duy trì một đường lối chính trị mạnh. Dưới sự lãnh đạo của Quốc Trưởng Bảo Đại, Thủ Tướng Nguyễn Phan Long đã tiến bước trong đường lối sớm sủa đó. Sự mạnh dạn chưa hợp thời vì phần đối tượng ngoài nước bấy giờ còn cứng mạnh hơn và nội bộ phe quốc gia chưa hoàn toàn đoàn kết thành một khối duy nhất.

Những ai nhận xét đứng đắn cũng phải giữ một ý niệm đẹp về Quốc Trưởng Bảo Đại. Người đã khăng khăng không chịu về nước khi nhận thấy Độc Lập, Thống Nhất chưa được Pháp tích cực nói đến, và về lập trường ngoại giao gay gắt, rắn rõi của Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng Nguyễn Phan Long.

Nhờ đường lối mạnh ấy, chính phủ sau này dễ dàng trong việc bắt mạch tìm chính sách thích hợp, ngõ hầu tránh được những hiểu lầm đáng tiếc, nhất là đối với ngoại quốc.

Khi nhận thấy thời gian chưa hợp với đường lối chính trị của mình, Quốc Trưởng đã thẳng thắn giải tán Nội Các để tìm người thay thế Thủ Tướng Nguyễn Phan Long. Nhân vật mới sẽ rút kinh nghiệm ở bài học trước và vạch một đường lối mới, mềm dẻo và sát tình thế hơn.

CHÍNH PHỦ TRẦN VĂN HỮU

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã bán chính thức quốc tế hóa sau khi mỗi bên thế giới dân chủ và cộng sản thừa nhận chính phủ Quốc Gia do Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo và chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa của cụ Hồ chí Minh.

Quốc tế đã chính thức công nhận sự có mặt một Quốc Gia Việt Nam. Hai phe Quốc-Cộng ở Việt Nam đều cố gắng trong cuộc chạy đua quyết định sống còn. Dĩ nhiên, Quốc Trưởng Bảo Đại phải lãnh đạo dân tộc Việt Nam để đánh bại việt cộng, để nhân dân Việt Nam khỏi phải chịu đựng một chính thể độc tài, để công cuộc tranh đấu của những người chiến sĩ quốc gia khỏi thất bại, để Hiệp Ước Élysée, một sự cố gắng của chính phủ Pháp khỏi biến thành giấy lộn.

Thế giới dân chủ phải có mặt ở Việt Nam.

Từ chính phủ Trung Ương Lâm Thời Nguyễn Văn Xuân phần lớn dân chúng vẫn ở trong vùng Việt Minh kiểm soát. Vùng Quốc Gia chỉ gồm vỏn vẹn vài đô thị lớn và những trục giao thông cần thiết cho quân sự. Đã thế, vùng Quốc Gia còn không được an ninh và vì chính sách khủng bố bạo tàn của các cán bộ Việt Minh, còn hỗn loạn vì phương pháp tuyên truyền xảo trá của cộng sản quốc tế đội lốt quốc gia dân tộc. Tháng 3 năm 1950 vùng Sài Gòn, Chợ Lớn còn xẩy ra nào đốt nhà, nào tan chợ, nào bãi khóa…tinh thần dân chúng bị căng thẳng, hoang mang vì những cảnh tượng ghê gớm liên tiếp diễn ra ngay giữa các đô thị.

Những người quá khích nhất định phá rối nền trật tự mới tái lập tại vùng Quốc Gia.

Trước tình thế khẩn cấp đó, Quốc Trưởng Việt Nam quả quyết cải tổ Nội Các. Vấn để nhân sự là một việc rất khó khăn trên khoảng đất mà số nhân tài chống cộng đã bị thủ tiêu từng đợt từ 1945. Tình thế bắt buộc phải thay đổi chính phủ, dù thế nào Quốc Trưởng cũng phải cố gắng thảnh lập một Nội Các đặc biệt để có thể đối phó với giai đoạn.

Ông Trần Văn Hữu được Quốc Trưởng chú ý và chỉ định.

Ông Trần Văn Hữu, một nhân vật tuy toàn quốc chưa hẳn biết tiếng nhưng riêng địa phương Nam Việt đã rất rõ những hoạt động của ông, một người quốc gia chống cộng hoàn toàn, trên phương diện ý thức cũng như hành động. Trước những biến cố năm 1946, ông có chủ trương thoát ly Nam Việt ra ngoài Quốc Gia Việt Nam. Chủ trương ấy tuy có thể làm yếu cộng sản nhưng không phù hợp với ý thức dân tộc, do đó ông đã sáng suốt từ bỏ ý kiến bất hợp thời ấy để tham gia giữ chức Phó Thủ Tướng chính phủ Lâm Thời Việt Nam.

Được vời ra giữ trọng trách thành lập chính phủ trong lúc nước nhà đang nghiêng ngửa, chính sách của ông là tập trung tất cả những phần tử chống cộng, tập hợp khả năng ít ỏi trong vùng kiểm soát để đặt vững vàng guồng máy hành chính, cải tổ công việc trong các Bộ, kiến tạo một Quân Đội Quốc Gia Việt Nam và đặt đại biểu ngoại giao ở ngoại quốc.

Ngày 6.5.1950, Nội Các Trần Văn Hữu trình diện Đức Quốc Trưởng gồm những vị:

  • Trần Văn Hữu: Thủ Tướng Chính Phủ kiêm Ngoại Giao và Quốc Phòng.
  • Nguyễn Khắc Vệ: Tổng Trưởng Tư Pháp.
  • Trần Quang Vinh: Tổng Trưởng Quân Lực.
  • Dương Tấn Tài: Tổng Trưởng Tài Chánh.
  • Hoàng Cung: Tổng Trưởng Kinh Tế.
  • Lê Quang Huy: Tổng Trưởng Giao Thông Công Chính.
  • Vương Quang Nhường: Tổng Trưởng Quốc Gia Giáo Dục.
  • Đặng Hữu Chí: Tổng Trưởng Y Tế Xã-Lao.
  • Trần Văn Tuyên: Bộ Trưởng Dinh Thủ Tướng.
  • Đinh Xuân Quảng: Tổng Trưởng Công Vụ.
  • Nguyễn Tôn Hoàn: Tổng Trưởng Thanh Niên

Việc lựa chọn nguyên Thủ Hiến Nam Việt làm Thủ Tướng chính phủ đã tạm chấm dứt nhiều nỗi băn khoăn.

Lĩnh sứ mạng cao cả đó, Thủ Tướng Trần Văn Hữu đã tỏ một lòng gan góc, một qý thức quyết chiến, một khả năng dồi dào.

Công việc đối phó đầu tiên của chính phủ là vấn đề an ninh nội bộ, an ninh trong vùng kiểm soát. Có an ninh, dân chúng mới đỡ khổ, mới có can đảm làm ăn, xây dựng lại cơ nghiệp hoang tàn. Thiếu an ninh, chính phủ không thể có uy tín trong dân chúng.

Nhiệm vụ đó thật cực kỳ khó khăn. Nhưng Bộ An Ninh đã thành công vĩ đại sau một thời gian ngắn. Đối phó với các ban khủng bố của đối phương, chính phủ thi hành chính sách ‘’tàn bạo đối với tàn bạo’’. Thủ đoạn ‘’trả đòn’’ dần dần thanh toán được cái nạn ném truyền đơn, ném tạc đạn, bắt trộm và đâm trộm. Tinh thần người dân được ổn định mặc dầu đã có một vài việc quá quắt trong vấn đề bắt bớ giam cầm. Nhưng làm thế nào được, một chính sách ‘’được việc’’ nào chẳng có những điềm thiếu sót ?

Ngành Công An được cải tổ hoàn toàn để phù hợp với công tác an ninh. Được xây dựng trên những phương thức làm việc mới mẻ, hệ thống Công An trong thời gian ngắn đã chạy đều đặn ăn nhịp với sự biến thể của hoạt động Việt Minh. Dân chúng nhận thấy công an, tình báo, tuyên truyền Việt Minh… lấn lượt bị săn bắt ráo riết. Được che chở, người dân trở lại bình tâm xây đắp cuộc đời mới. Người hồi cư đã bắt đầu nhiều nhiều, dân số các thị thành tăng lên một cách lạc quan. Khẩu hiệu Bảo Vệ An Ninh đã có kết quả rất mỹ mãn. Dưới mắt người ngoại quốc, sự an ninh là một lời sự giới thiệu rất hay ho của chính phủ Trần Văn Hữu. Dân chúng và chính quyền đều được thỏa mãn dần dần với sự tiến bộ của tình hình.

Đi đôi với thành tích an ninh, chính phủ Trần Văn Hữu tiến hành rất gấp việc thu hồi chủ quyền nội bộ. Một Hội Nghị mới mẻ được tổ chức. Hội Nghị Pau giữa 4 quốc gia Pháp, Việt, Mên, Lào. Hội Nghị Pau đi vào chi tiết trong việc giải quyết tất cả những thắc mắc về quy chế của các nước Liên Kết: Vấn đề di trú, kế hoạch kinh tế, vấn đề ngoại thương, xuất nhận và tiền tệ. Riêng vấn đề tiền tệ. Việt Nam từ nay có mặt trong một Viện Phát Hành chung ở Đông Dương.

Số lớn các công sở chuyên môn trước khi thuộc quyền Giám Đốc Pháp lần lượt được chuyển sang tay người Việt. Các Công Chức mà Việt Minh đã gạt bỏ vì không hợp với họ dần dần được chính phủ quốc gia nâng đỡ, có chỗ ăn làm nhất định. Chính phủ Trần Văn Hữu đã mang lại yên ấm cho công chức, những bánh xe trong bộ máy chính quyền non trẻ của Việt Nam. Không những họ đủ ăn, đủ mặc, mức sống dĩ nhiên hơn hẳn những người làm việc với Việt Minh, còn có nhiều người được trở nên giầu có do những đặc ân và địa vị ưu đãi trong công sở…

Sau Hiệp Định Pau, chính quyền quốc gia đi dần dần đến chỗ ‘’Việt Nam Hóa’’. Người dân đã hơi làm quen với chính phủ quốc gia mà từ lâu họ nghi kỵ, không chú ý hoặc có chú ý nhưng chỉ chê bai, công kích.

Công tác an ninh đã đem lại kết quả đẹp đẽ cho đời sống của dân chúng. Tuy vậy, vấn đề an ninh nói riêng vẫn chỉ là một việc đấu tranh ngăn ngừa kẻ phá hoại lẻn vào hàng ngũ của chính phủ quốc gia mà chưa phải hẳn là một vấn đề mấu chốt trong cuộc chiến tranh với việt cộng.

Muốn kiến tạo một quốc gia theo ý muốn trong hệ thống dân chủ. Chính phủ phải cấp tốc xây dựng ngay một quân đội đủ để chiến thắng kẻ địch hiện tại, đủ để bảo vệ chính nghĩa, đủ để giữ gìn bờ cõi một khi bị xâm lăng.

Hiện nay công việc ngăn ngừa Việt Minh hoàn toàn ỷ lại vào lực lượng Liên Hiệp Pháp. Tình trạng trên phải sớm được chấm dứt nếu Việt Nam muốn xứng đáng với danh hiệu Độc Lập của mình. Để thực hiện ý định đó, Quốc Trưởng ký một Đạo Dụ Tổng Động Viên và chính phủ Trần Văn Hữu lập tức ban hành những biện pháp cần thiết để thi hành Đạo Dụ.

Lớp thanh niên đầu tiên 60.000 người được gọi ra để theo lớp huấn luyện quân sự 2 tháng. Nền móng của Quân Lực Quốc Gia được đắp xây và Quân Đội Quốc Gia Việt Nam thành hình. Người thanh niên Việt Nam, hôm qua, nạn nhân của một chính thể độc tài, nạn nhân của thời cuộc, hôm nay đã là người lính của quốc gia, hiên ngang trong bộ nhung phục, dưới sắc cờ vàng son. Từ 10 đến 100, từ 100 đến 1000, người lính quốc gia Việt Nam lớn dần với trang bị tối tân của nước bạn viện trợ, sánh vai với người lính viễn chinh đồng cam cộng khổ trên mọi chiến trường. Tuy trong thời kỳ măng sữa, tuy chưa được hết lòng tín phục của người, nhưng bóng dáng người lính quốc gia Việt Nam cũng đã đủ tượng trưng rõ rệt ý thức độc lập của một quốc gia thống nhất dưới vị lãnh tụ thân yêu: Quốc Trưởng Bảo Đại.

Trong bài diễn văn của buổi lễ ký Hiệp Định Quân Sự Quốc Trưởng tuyên bố: ‘’Có những kẻ đã nói đến cốt nhục thương tàn. Tôi muốn những kẻ đó phải giải thích rõ ràng hơn về tính chất tấm thảm kịch đang diễn ra trên đất nước Việt Nam. Tất cả những sự tàn phá, tất cả những tang tóc đau thương chồng chất từ 5 năm nay hoàn toàn do một đảng gây nên. Đảng đó bây giờ không còn e dè che đậy là một đảng do người ngoại quốc cầm đầu. Như vậy quân đội quốc gia sẽ không chủ trương một cuộc chiến tranh huynh đệ tương sát mà chỉ chiến đấu để cứu nước khi lâm nguy, chiến đấu để chống với những kẻ cố tâm phá hoại nền độc lập. Những kẻ muốn để một tà thuyết ngoại lai đặt ách đô hộ trên đầu dân chúng nước này sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những tội đại ác của mình trước lịch sử…’’

Quan niệm của vị lãnh tụ rất rõ rệt. Người không muốn là một tà thuyết nào bay đến phá hủy những thuần phong mỹ tục truyền thống của Việt Nam. Người không muốn một chính thể chính trị nào phá bỏ cá tính quốc gia của dân tộc Việt Nam để buộc dân tộc Việt Nam vào sợi giây quốc tế không tưởng và Người đã lớn tiếng tố cáo Việt Minh là cộng sản, là phản động làm thụt lùi dân trí Việt Nam. Bởi lẽ đó, quân đội quốc gia Việt Nam cần có mặt để làm một việc phải làm: Tiêu diệt lực lượng tay sai của đệ tam quốc tế ở lãnh thổ Việt Nam.

Chính phủ Trần Văn Hữu được vinh dự đặt viên đá đầu tiên trong việc chính thức thành lập Quân Lực chính quy Việt Nam.

Quân đội được kiến tạo để bảo vệ quốc gia, bảo vệ lý tưởng do Quốc Trưởng hướng dẫn. Dựa vào quan niệm căn bản đó, tất cả những bộ đội địa phương khắp Trung, Nam, Bắc sẽ lần lượt được tập hợp, thống nhất dưới lá cờ vàng ba vạch đỏ.

Từ 1948, Trung Tướng Nguyễn Văn Xuân đã muốn quy hợp Vệ Binh đất Bắc, Vệ Binh Cộng Hòa miền Nam và Việt Binh Đoàn Trung Việt làm một dưới nhãn hiệu duy nhất Vệ Binh Việt Nam nhưng hoàn cảnh và tình thế chưa cho phép. Qua Hiệp Ước Élysée, qua Hội Nghị Quân Sự ở Đà Lạt, Quốc Trưởng đã sắc cử Thủ Hiến Phan Văn Giáo làm Trung Tướng Tổng Thanh Tra Quân Đội Toàn Quốc. Đó là bước đầu để gây một quan niệm thống nhất về quân sự. Những nguyên tắc căn bản về việc tổ chức một Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được quyết định giữa Quốc Trưởng và Cao Ủy Pháp Letourneau tháng 11 năm 1950 tại Cao Nguyên Đà Lạt đã giúp chính phủ Trần Văn Hữu khẩn trương phương tiện tổ chức Quân Đội Việt Nam.

Trường Võ Bị Huấn Luyện Sĩ Quan mở ở Đà Lạt. Ở đây, những trang thanh niên tuấn tú được chau rồi cả đạo đức lẫn chuyên môn, ở đây đào tạo các cấp chỉ huy tương lai cho quân đội toàn quốc. Ngoài Trường Sĩ Quan Đà Lạt, ở các nơi khác còn có rất nhiều trường huấn luyện hạ sĩ quan và bổ túc quân sự.

Quân Đội của chính phủ quốc gia tuy chưa hoàn hảo nhưng cũng đã làm đối phương nhiều phen kinh khủng. Địch thủ khiếp sợ trước sức chiến đấu mãnh liệt của người lính quốc gia.

Quân Đội chính quy Việt Nam có bổn phận giữ vững nền Độc Lập cần cho hạnh phúc toàn dân tộc, cần cho nền trật tự chung thế giới. Dưới khẩu hiệu Dân Vi Quý, dành Độc Lập cho xứ sở, xây đắp Hòa Bình cho thế giới dân chủ.

Chính phủ Trần Văn Hữu đã hết sức vun trồng để quân đội quốc gia lớn vùng lên kịp theo sát được quân Liên Hiệp Pháp mục đích tiêu diệt sinh lực thù.

Ngoài việc củng cố nội bộ, xây dựng quân đội, chính phủ Trần Văn Hữu phát triển công tác đối ngoại, gửi rất nhiều phái đoàn đi dự các Hội Nghị quốc tế. Qua những Hội Nghị Pau, Hội Nghị Kinh Tế, Y Học, Lao Động Quốc Tế… Việt Nam còn có mặt tại Hội Nghị quan trọng nhất trong các Hội Nghị quốc tế kể từ sau chiến tranh hoàn cầu lần thứ hai: Hội Nghị Cựu Kim Sơn. Ngồi ngang hàng với các quốc gia trên thế giới, đoàn đại biểu Việt Nam đã phô bày một tâm lý nhiệt thành đối với Đại Gia Đình Quốc Tế, đối với Thế Giới Dân Chủ. Tiếng nói của Việt Nam được các cường quốc chú ý. Quần Đảo Hoàng Sa, Quần Đảo Tây Sa được trả lại Việt Nam, Nhật Bản thỏa thuận bồi thường những sự thiệt hại do chiến tranh gây ra…Đoàn Đại Biểu Việt Nam do chính Thủ Tướng Trần Văn Hữu hướng dẫn đã thành công, mang lại kết quả vật chất và tinh thần cho đất nước. Thắng lợi lớn lao ấy là công của toàn thể nhân dân Việt Nam. Sự tranh đấu mấy năm qua của những chiến sĩ vô danh đã không đến nỗi uống phí. Việt Nam được ngang hàng với các nước trên thế giới ở Hội Nghị Cựu Kim Sơn, đó là thành tích của những người lính hy sinh ngoài trận tuyến, đó là thành tích của những người dân đã tan vỡ cả sản nghiệp đã tản mác, lưu lạc khắp rừng xanh, núi đỏ, đã đổ máu, đổ mồ hôi trên đất nước.

Nói về khả năng, chính phủ Trần Văn Hữu còn đánh dấu được một nấc độ trong sự tiến bộ về phương diện tập hợp nhân tài. Điều khó khăn từ trước tới nay vẫn là vấn đề nhân tài giúp nước. Chính phủ Trần Văn Hữu cũng nhận thấy đó là một điều cần phải giải quyết nếu chính phủ muốn làm được những điều ích quốc lợi dân. Với phương pháp vận động khéo léo, với tư cách riêng của Thủ Tướng, một số người có đầu óc đã chẳng ngại nhẩy ra tham dự chính quyền.

Chính phủ Trần Văn Hữu tích cực xây đắp tư tưởng chống cộng ở Việt Nam và tích cực trình bầy quan điểm đẹp đẽ đó trước thế giới dân chủ. Nhờ lòng nhiệt thành của Thủ Tướng, của chính phủ trong cuộc chiến đấu chống việt cộng, viện trợ của ngoại quốc ngày càng dồi dào. Riêng nước Mỹ đã hết sức chú trọng đến Việt Nam. Các cố vấn Mỹ, các nhà ngoại giao đua nhau sang Việt Nam nghiên cứu. Dựa vào viện trợ Mỹ, Quân Đội Việt Nam sẽ được trang bị tối tân.

Chính phủ Trần Văn Hữu vừa thành lập, tình hình quốc tế đã biến chuyển rất nhanh, ảnh hưởng nhiều đến Việt Nam. Việc thứ nhất là biên cương Việt Nam mở rộng trước Trung Hoa cộng sản, việc thứ hai là cuộc chiến tranh tại Cao Ly. Hai việc lớn đó càng ngày càng chịu ảnh hưởng lên cục diện địa phương Việt Nam. Riêng bóng người Hồng Quân Trung Hoa thấp thoáng ở biên giới đã là một ưu thế mạnh cho địch thủ của phe quốc gia dân tộc…Việt Nam cần phải nhẩy sang một bước khác mạnh hơn, quyết liệt hơn trong giai đoạn đấu tranh thực sự gay go với một kẻ địch đang hùng mạnh.

Tháng 6 năm 1952, Thủ Tướng Trần Văn Hữu tuyên bố hết nhiệm vụ.

Trong hai năm tròn, Nội Các Trần Văn Hữu cải tổ hai lượt. Lượt thứ nhất ngày 20 tháng 2.1951 sau Hội Nghị Pau:

  • Trần Văn Hữu: Thủ Tướng kiêm Ngoại Giao, Nội Vụ, Quốc Phòng.
  • Nguyễn Khắc Vệ: Phó Thủ Tướng kiêm Tư Pháp.
  • Vương Quang Nhường: Tổng Trưởng Phụ Tá Thủ Tướng Phủ kiêm Quốc Gia Giáo Dục.
  • Nguyễn Trung Vinh: Tổng Trưởng Tài Chánh.
  • Trần Văn Khá: Tổng Trưởng Kinh Tế.
  • Đặng Hữu Chí: Tổng Trưởng Y Tế.
  • Dương Tấn Tài: Tổng Trưởng Công Vụ.
  • Lê Quang Huy: Tổng Trưởng Giao Thông Công Chính.
  • Nguyễn Duy Thanh: Tổng Trưởng Kế Hoạch
  • Nguyễn Văn Tâm: Tổng Trưởng An Ninh.
  • Hoàng Cung: Tổng Trưởng Xã Hội.
  • Trần Văn Tuyên: Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng.
  • Nguyễn Hữu Thuần: Bộ Trưởng Ngoại Giao.
  • Đinh Xuân Quảng: Bộ Trưởng Ngân Khố
  • Phạm Văn Bình: Bộ Trưởng Thanh Niên.
  • Nguyễn Trí Độ: Thứ Trưởng Lao Động.
  • Nội Các thứ ba ngày 8 tháng 3.1952 sửa đổi như sau:
  • Trần Văn Hữu: Thủ Tướng kiêm Quốc Phòng và Tài Chính.
  • Vương Quang Nhường: Tổng Trưởng Tư Pháp.
  • Nguyễn Trung Vinh: Tổng Trưởng Ngoại Giao.
  • Nguyễn Văn Tâm: Tổng Trưởng Nội Vụ.
  • Lê Văn Hoạch: Tổng Trưởng Canh Nông.
  • Nguyễn Chánh Hải: Tổng Trưởng Xã Hội Lao Động.
  • Nguyễn Thành Giung: Tổng Trưởng Giáo Dục Thanh Niên.
  • Lê Quang Huy: Tổng Trưởng Công Chính Viễn Thông.
  • Nguyễn Duy Thanh: Tổng Trưởng Kế Hoạch Kiến Thiết.
  • Nghiêm Văn Tri: Tổng Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng.
  • Phạm Văn Hải: Tổng Trưởng Tài Chánh.
  • Nguyễn Trác: Quốc Vụ Khanh.
  • Đinh Xuân Quảng: Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng.
  • Lý Binh Huê: Bộ Trưởng Thương Mai Kỹ Nghệ.
  • Đỗ Văn Hoành: Bộ Trưởng Y Tế.

Nội Các Trần Văn Hữu từ chức. Nhìn tổng quát trong ‘’vấn đề thành công’’ của chính phủ Trần Văn Hữu, ta thấy hai điểm rõ rệt.

– Điểm kết quả nói chung về hành động và tổ chức
– Điểm kết quả về tinh thần, tư tưởng.

Nói chung về những kết quả tổ chức và hành động. Chính phủ Trần Văn Hữu chưa được nổi bật, lý do đặc biệt nhất vẫn là vấn đề nhân sự. Nhân tài trong vùng quốc gia quãng 1950 rất ít ỏi. Từ 1945, dưới bàn tay Việt Minh, những phần tử có khuynh hướng quốc gia đều lần lượt bị ‘’thủ tiêu’’ với cái nghĩa rộng rãi của nó:

– Bị xử bắn công khai hay bí mật như Học Giả Phạm Quỳnh, Tuần Phủ Cung Đình Vận, lãnh tụ Tạ Thu Thâu
– Bị đưa đi an trí một số lớn các giáo sĩ, bác sĩ, giáo sư, quan lại cũ
– Bị chi phối hay đồng hóa như Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Phan Anh, Chu Bá Phượng…

Số nhân tài trong vùng quốc gia hiện nay đều đã may mắn thoát khỏi nanh vuốt Việt Minh nhờ xự sơ xuất của các cơ quan Việt Minh địa phương hoặc nhờ sự can thiệp của Quân Đội Quốc Dân Đảng Trung Hoa hoặc nhờ sự can thiệp của quân đội Pháp. Trong số người xót lại, còn cõi vì thời cuộc, đã tự phân ra làm nhiều loại:

– Các chính trị gia già nua, chầy chật vì nghịch cảnh trên trường tranh đấu, chán cảnh đời vì sự nghiệp không thành, xoay ra đi gõ đầu trẻ, viết sách báo sống cho qua ngày.

– Các nhân sĩ đa nghi, coi chính trị là một nghề bạc bẽo, họ hoài nghi, mất tự tin, không tin người và không tin cả chính mình nữa, thỉnh thoảng óc hoạt động nổi lên muốn làm một cái gì nhưng vì nghi ngại, nhát sợ, chùn lại sống an thân và chờ thời…vô thời hạn.

Ngoài những chính trị gia nói trên và một số những nhân tài chỉ có thể góp phần hoạt động về chuyên môn, những người khác còn lại hoặc biến thành lái buôn hoặc sống an nhàn trong gia đình, qua ngày đoạn tháng.

Nhân nạn ‘’khan nhân tài’’ trong vùng quốc gia Việt Nam dùng thêm lối tuyên truyền sâu sắc khiến cho những kẻ có lòng muốn tham gia giúp nước đều luôn luôn sống trong trạng thái tâm lý giao động, lúc muốn ở bên này, lúc muốn ở bên kia, e e, ngại ngại để rút cuộc cứ ngồi ý một chỗ mặc thời gian vô tình trôi…

Chờ thời đây là hoặc là Việt Minh thắng để sẽ cùng tham gia ‘’cách mạng’’ hoặc chờ tới khi nào đau khổ của quốc dân lên đến cực độ, chờ quốc gia đã Độc Lập, Tự Do hoàn toàn như ý muốn rồi mới ‘’chịu’’ xuất đầu lộ diện…‘’Muôn sự khởi đầu nan’’, cái khó khăn lúc đầu ấy đã quá dài, dài từ ngày ra đi của Quốc Trưởng Bảo Đại, qua sự tập hợp của chính phủ Trung Ương Lâm Thời Nguyễn Văn Xuân, qua sự thử thách của lá bài Nguyễn Phan Long rồi đến Nội Các Trần Văn Hữu và…sẽ còn kéo dài, cho đến bao giờ Quốc Gia Việt Nam có một chính quyền vững mạnh, một quân đội hùng hậu, không còn chi đáng lo ngại…

Ngoài số nhân tài không sợ thị phi, không sợ cộng sản hăng hái lăn lộn với lá bài quốc gia, đang hết sức giúp Quốc Trưởng xúc tiến xây dựng một ý thức quốc gia chân chính, một số lớn người khác vì không chịu đựng được chính thể vô sản độc tài của Việt Minh cũng đã lần lượt tìm cách trở về Thành. Muốn sống an ninh, tự do trong vùng quốc gia những người lẩn trốn Việt Minh lại mắc cái bệnh ‘’trùm chăn’’ không chịu tham gia phát triển sự an ninh chung. Bệnh đó cần phải được chính bản thân những con bệnh tự cố gắng thoát khỏi.

Tuy vấn đề tổ chức và hành động của chính phủ Trần Văn Hữu vấp phải yếu tố nhân tài, kết quả chưa được lạc quan lắm nhưng chính phủ của họ Trần cũng đã thắng lợi lớn trên phương diện tinh thần.

Trước hết chính phủ Trần Văn Hữu đã đặt viên đá chắc chắn và gọn ghẽ trên lâu đài ‘’Chính Nghĩa Quốc Gia’’. Một chính phủ đường hoàng đặt dưới sự lãnh đạo tối cao của Quốc Trưởng đã lôi kéo dần dần dân chúng từ vùng Việt Minh về. Nếu một số lưng chừng vẫn còn e dè bước đường tiến của chính phủ quốc gia trong giai đoạn thì đa số dân chúng đã tỏ lòng tin cậy Quốc Trưởng đã bỏ chính phủ cụ Hồ, đã hồi cư để hy vọng một đời sống tự do, an ninh và đầy đủ.

Dân chúng từ chối hoài nghi đã tiến dần đến chỗ có thiện chí công nhận vùng quốc gia có một chính phủ quốc gia. Trái với quan niệm xưa kia: Vùng ‘’tạm chiếm’’ chỉ có những ‘’Bù nhìn Việt gian’’ quan niệm tàn ác và tai hại đó đã là một trở lực lớn lao họ những lãnh tụ quốc gia trên bước đường tranh đấu, đã làm mủi lòng người chiến sĩ quốc gia nhưng thật ra quan niệm ấy cũng là một ngọn lửa thử thách trí cương quyết và lòng ái quốc chân chính của từng người.

Thủ Tướng Trần Văn Hữu hết nhiệm vụ nhưng còn lắm chông gai trên bước đường tranh đấu đi đến chính nghĩa, còn làm cản trở, làm đau đớn cả tinh thần lẫn thể xác những người ái quốc. Nhưng đã yêu nước thương nòi thì kể chi đến khó khăn!

Ông Nguyễn Văn Tâm, một người hăng hái, can đảm, đủ nghị lực, đủ đức tính để ‘’chống cộng sản’’ được Quốc Trưởng tin cậy, chỉ định ra tiếp tục bồi đắp thêm ý thức quốc gia.

NHỮNG BƯỚC TIẾN CỦA VIỆT MINH TỪ XUÂN 1950

Sau trận Việt Bắc Thu-Đông năm 1947, cơ quan lãnh đạo kháng chiến Việt Minh tuyên bố với toàn thể dân chúng trong vùng họ kiểm soát: Giai đoạn đầu trong cuộc chiến tranh Việt-Pháp đã chấm dứt để bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn cầm cự trong chiến lược trường kỳ.

Cầm cự, theo Việt Minh, là quân đội Pháp không thể nào đẩy lui được họ trên mặt trận toàn quốc. Họ phân tách quân đội Viễn Chính Pháp đã không thể thành công trong lối đánh mau, đánh chớp nhoáng. Nếu bộ đội hùng mạnh của Pháp có thể đi sâu vào vùng Việt Minh kiểm soát thì ngược lại Vệ Quốc Quân cũng có thể len lõi vào hậu địch để trả miếng. Họ mệnh danh bộ mặt mới của cuộc chiến tranh là chiến tranh ‘’cài răng lược’’ hay chiến tranh xen kẽ, ở đó hai quân đội địch thủ sống bên cạnh nhau để bất kỳ tiêu diệt nhau. Lý luận ấy thoát thai ở kinh nghiệm thực tế của mặt trận Việt Bắc. Khi quân đội Pháp xuất toàn lực tiến ngược giòng Lô Giang thì ở đồng bằng các trung đoàn Việt Minh địa phương hăng hái tăng áp lực. Lý luận ấy thoát thai ở chiến trường miền Nam, ở chiến trường toàn quốc nói chung, mà quân lực của Pháp chỉ có hạn, hành động chỗ nảy, bỏ trống chỗ nọ…và lý luận ấy còn căn cứ ở sự tăng tiến của bộ đội Võ nguyên Giáp cả về mặt vũ khí lẫn tinh thần.

Sau khi đã cố hết sức đả kích hành động của Quốc Trưởng Bảo Đại, xuyên tạc những kết quả tốt đẹp trên Vịnh Hạ Long tuyên truyền phá hủy Hiệp Định Élysée, lên án Nội Các Trần Văn Hữu, Việt Minh thu cường lực, mài nanh dũa vuốt để tiếp diễn những trận đánh căn bản hòng thắng lợi cuối cùng.

Được các nước trong thế giới cộng sản chính thức công nhận, chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa của cụ Hồ chí Minh không bỏ lỡ cơ hội tuyên truyền và tăng cường luôn sự giao thiệp trong hệ thống cộng sản thế giới len lõi liên lạc với các đảng cộng sản trong Liên Hiệp Pháp nhất là đảng cộng sản Pháp của Thorez và Duclos. Họ đã giúp đỡ việt cộng không ít trên địa hạt tuyên truyền và gây phong trào phản chiến trong dân chúng Pháp, trong hàng ngũ quân đội Viễn Chinh Pháp.

Bộ máy chính quyền Việt Minh hoàn toàn dưới sự chi phối của đảng cộng sản, từ chính phủ trung ương cho đến các ủy ban xã. Hội đồng chính phủ, dưới mắt dân chúng là một phối hợp của các đảng phái như xã hội, dân chủ, liên việt, tôn giáo, các quan lại cũ, nhưng trên thực tế, đại đa số đều là các đảng viên đảng cộng sản và các người thân cộng cả. Chương trình hoạt động của các bộ trong chính phủ đều nằm trong đường lối của đảng cộng sản vạch ra và kiểm soát sự thi hành.

Tổ chức quốc hội của chính phủ Việt Minh từ 1945 không thay đổi và cũng không họp lần nào thêm cả, các nghị sĩ bị tản cư phân tán, người thì xoay ra buôn bán, người đi dậy học…trừ ban thường trực do Tôn đức Thắng, một đảng viên kỳ cựu cộng sản làm chủ tịch vẫn ở bên cạnh chính phủ. Dân chúng hầu như quên hẳn quốc hội. Vai trò quốc hội lu mờ dần trong trí nhớ và người dân cũng không liên lạc gì với tổ chức đó cả.

Nói giản dị, quốc hội biến mình dưới bộ máy chính quyền, riêng đắc lực cho đảng cộng sản.

Nói đến những bước tiến của chính phủ Việt Minh tức là nói đến đường lối, chủ trương, đến biến đổi, thăng trầm của đảng cộng sản ở Việt Nam.

Chính trị là một điều tối cần thiết. Việt Minh đặt chính trị lên hàng đầu của mọi vấn đề hoạt động.

Để có thể lôi kéo toàn thể dân chúng vào cuộc chiến đấu, Việt Minh tìm một phương thức mới: Đảng cộng sản Đông Dương biến thành đảng lao động Việt Nam.

Tháng 3 năm 1951, đảng lao động Việt Nam ra mắt dân chúng.

Trường Chinh, tổng bí thư của đảng lao động đọc bản tuyên ngôn trước máy truyền thanh nói về đường lối đối nội, đối ngoại của đảng. Đối nội, đảng tự nhận vai trò lãnh đạo tiền phong trong cuộc ‘’Kháng chiến cứu quốc và kiến quốc’’. Đảng sẽ thúc đẩy và khai thác tiềm lực của nhân dân trong cuộc chiến tranh chống đế quốc xâm lăng và kiết thiết một nước Việt Nam mới. Đối ngoại, đảng sẽ phát triển tình hữu nghị của dân tộc Việt Nam với dân tộc Cộng Hòa Sô Viết, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và các nước Dân Chủ Đông Âu…

Để đào tạo những cán bộ thật trung kiên, để loại bớt những phần tử thiếu tinh thần, cộng sản ở Việt Nam nêu lên vấn đề chỉnh đảng. Chỉnh đảng là một việc tối quan trọng, có chỉnh đảng mới hy vọng thắng lợi.

Các lãnh tụ cộng sản giải thích vì sao phải chỉnh đảng. Đây là nguyên văn bản đó:

‘’Trung ương đảng trong kỳ họp hội nghị lần thứ 3 vừa rồi đã quyết định chỉnh đảng là việc chính mà chúng ta phải làm. Chỉnh đảng là một nhiệm vụ chính trị căn bản của đảng cộng sản hiện nay. Đảng từ ngày thành lập, đã trải qua hơn 20 năm hoạt động gian khổ, đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam tranh đấu giành được nhiều thắng lợi vẻ vang, Đó là điều mà trong đảng không còn ai có thể nghi ngờ. Đó cũng là điều mà đông đảo quần chúng nhân dân thừa nhận và tin tưởng.

Vì đâu đảng đạt được những thành tích như thế ? Ấy là vì đảng có chủ nghĩa Mác-Lênin, có đường lối và chính sách đúng, có Hồ Chủ tịch lãnh đạo, có cơ sở khắp cả nước, có nhiều đảng viên và cán bộ tận tụy, hết lòng phục vụ nhân dân.

Tuy nhiên, vì đảng ta phải tiến hành đấu tranh cách mạng trong hoàn cảnh gian nan, trước cách mạng tháng 8 thì đế quốc và phong kiến khủng bố và bao vây trùng trùng điệp điệp, trong kháng chiến thì liên lạc khó khăn, nhiệm vụ nặng, công tác nhiều, nên cán bộ và đảng viên nói chung chưa giáo dục một cách sâu sắc và có hệ thống, trình độ tư tưởng còn thấp kém, ảnh hưởng không ít đến việc chấp hành nhiệm vụ và chính sách của chính phủ. Do lập trường và quan điểm giai cấp chưa vững, nhiều đảng viên và cán bộ còn thiếu tinh thần đấu tranh triệt để và bền bỉ cho sự nghiệp cách mạng. Trên tư tưởng chưa phân biệt rõ địch, bạn và ta, chưa nhận rõ chính sách đoàn kết toàn dân của đảng, chưa nắm vững đường lối trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh, nhận thức về dân chủ và kỷ luật trong đảng chưa rõ ràng và đúng mức, tinh thần phê bình và tự phê bình chưa được thực sự nâng cao, lề lối làm việc quan liêu mệnh lệnh, xa lìa quần chúng, xa lìa thực tế và bệnh tham ô lãng phí còn khá nặng.

Hiện nay cuộc kháng chiến của ta đang ở giai đoạn cầm cự, giai đoạn chuẩn bị tổng phản công, là giai đoạn gay go, gian khổ, trước toàn thể nhân dân, trước mặt trận hòa bình dân chủ thế giới. Đảng ta nhận một nhiệm vụ lớn lao là lãnh đạo kháng chiến chuyển sang tổng phản công thắng lợi. Nhiệm vụ đó nặng nề và phức tạp. Nếu đảng ta không chuẩn bị mình cho đầy đủ, không trừ bỏ được những khuyết điểm và tư tưởng sai lầm nói trên của cán bộ và đảng viên thì trong thời kỳ sắp tới, việc chấp hành chính sách của đảng ta sẽ khó lòng mở rộng thêm thành tích hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình.

Chính vì thế mà ta cần tiến hành việc chỉnh đảng. Do chỉnh đảng và đảng rèn luyện, chỉnh đốn và tăng cường đội ngũ để giữ vững trường kỳ kháng chiến và chuẩn bị đầy đủ lực lượng, chuẩn bị chuyển sang tổng phản công. Do đó, chỉnh đảng trở thành một nhiệm vụ chính trị căn bản của đảng ta hiện nay và mỗi cán bộ, mỗi đảng viên đều có trách nhiệm tích cực làm cho cuộc chỉnh đảng lần này thành công.

Chỉnh đảng đồng thời cũng là một nhiệm vụ tổ chức căn bản. Năm ngoài, trong đại hội đồng, Hồ Chủ Tịch đã nêu cao nhiệm vụ phải xây dựng một đảng mạnh mẽ. Người nói: Đảng lao động phải là một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để. Chính vì muốn chấp hành nhiệm vụ tổ chức đó mà chúng ta tiến hành việc chỉnh đảng.

Mấy năm gần đây, đảng ta phát triển mạnh, số lượng đảng viên lên đến 70 vạn nhưng chất lượng của số đông nói chung còn kém. Hơn 90% đảng viên thuộc thành phần gốc rễ nông dân và tiểu tư sản, tuy đã vào đảng được đảng giáo dục một phần nào và tự bản thân cũng có ít nhiều cố gắng, nhưng chưa gột sạch ý thức tư tưởng tiểu tư sản. Những sai lầm khuyết điểm nghiêm trọng nói trên của cán bộ và đảng viên là do ý thức tiểu tư sản đó gây ra. Xây dựng, chủ yếu là xây dựng về mặt tư tưởng. Tư tưởng có đúng thì hành động mới đúng. Tư tưởng có thống nhất thì mới có ý chí thống nhất, kỷ luật thống nhất, toàn đảng thông suốt muôn người như một. Cho nên xây dựng đảng cốt chính là một quá trình giáo dục, đấu tranh và cải tạo tư tưởng. Đó là đường lối Mao Trạch Đông trong vấn đề xây dựng đảng.

Vì chỉnh đốn tư tưởng rồi mới có thể chỉnh đốn các tổ chức quần chúng, nên hiện nay chỉnh đảng đồng thời cũng là một nhiệm vụ tổ chức căn bản cho đảng.

Chỉnh đảng là một chủ trương đúng mức và kịp thời. Nêu cao chỉnh đảng, quyết không phải là coi nhẹ những thành tích vẻ vang của đảng, phủ nhận những ưu điểm của cán bộ và đảng viên. Không coi thường sai lầm khuyết điểm. Đảng ta mới có thể giữ vững và phát huy ưu điểm, làm trọn nhiệm vụ khó khăn nhưng vẻ vang đối với ‘’nhân dân trong nước và lực lượng hòa bình dân chủ thế giới’’. Chỉnh đảng là một chủ trương kịp thời. Đối với những sai lầm khuyết điểm không những ta thấy cần phải trừ bỏ mà còn thấy có đủ điều kiện để trừ bỏ được. Vì do đại hội đồng toàn quốc năm ngoái đảng ta chung đúc được 21 năm kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của giai cấp và dân tộc để lấy đó làm cơ sở tư tưởng và lý luận đã tiến hành chỉnh đảng. Chỉnh đảng là một nhiệm vụ rất quan trọng về chính trị và tổ chức…’’

Để lọc lấy cái phần cần thiết trong cuộc giai cấp đấu tranh, có những Tỉnh miền Trung Du Bắc Việt sa thải gần phân nửa đảng viên các cấp. Một số lớn đảng viên hoạt động trong cơ quan cũng chịu chung số phận trong đợt thanh trừng đầu tiên. Lý do thanh trừng rất phức tạp, có khi vì những cớ xa xôi thuộc về dĩ vãng, có khi vì những lỗi không thể nào tránh khỏi.

Hãy xem một vài để phỏng đoán phương pháp trừng thanh nội bộ của cộng sản Việt Nam.

Một bí thư chi bộ bị đoàn thể đem ra nghiên cứu trường hợp anh đã được kết nạp. Cán bộ ấy thuộc giai cấp Tiểu Tư Sản thành thị, tham gia công tác năm 1945 ngay sau ngày ‘’cách mạng thành công’’ tháng 8. Đã năm năm nay, anh bỏ gia đình, bỏ họ hàng chạy theo kháng chiến, đã được đoàn thể tín nhiệm, kết nạp ngay từ 1946, ngày nay đã có một địa vị khá trong chính quyền cũng như trong đoàn thể. Hội nghị kiểu thảo đã họp và nghiên cứu tư tưởng anh vì sao đã theo phong trào cách mạng…Vô tình anh thuộc vào loại ‘’cách mạng hoạt đầu’’. Đa số các người được kết nạp vào tổ chức cách mạng năm 1945-1946 đều thuộc vào hạng hoạt đầu, ít thành thực, vì sợ chết, vì ham địa vị, vì theo đóm ăn tàn. Lý luận một chiều ấy đã đưa đến quyết nghị là thải anh cán bộ ra khỏi đến bao giờ tư tưởng anh được ‘’giáo dục lại hoàn toàn’’…

Cứ cái đà như thế, đại đa số đảng viên được kết nạp khoảng 1945 đều lo ngay ngáy và sửa soạn hành lý…về vườn. Đó là những cớ thuộc dĩ vãng.

Những lý do sốt dẻo thì vô cùng.

Một đồng chí công nhận hoạt động từ năm 1943 rất tích cực nhưng vì văn hóa kém quá, sáng kiến nghèo nàn nên mãi đến cuối năm 1949 mới bò được lên chức huyện ủy trong đoàn thể. Nói về phương diện tiết kiệm thì ‘’đồng chí huyện ủy’’ của chúng ta quả là người số một. Ngoài hai bộ cánh nâu, một cái bút máy ‘’cà cộ’’, đồng chí mua bán tiêu pha một cái gì có thể gọi là ‘’tốn của nhân dân’’, của chính phủ, từ những mẫu giấy con con, từ mẫu các-bon, anh cũng thu và thu vén. Bữa cơm, anh chỉ dùng mấy ngọn rau, vài hột muối hòa với vi-ta-min Ơ (các cán bộ của Việt Minh đặt tên vi-ta-min Ơ cho những trái ớt) còn không, có món gì khác, thậm chí những ngày quốc lễ, kỷ niệm, toàn thể được ‘’đúp-ra-xì-ông’’ anh cũng tập kiên khổ không gắp qua miếng thịt bò thịt lợn…

Thế rồi, một hôm quân đội Pháp tảo thanh một vùng thuộc huyện anh phụ trách. Dân chúng hốt hoảng chạy xô cả vào một xã. Không biết vì lý do chiến thuật tránh càn quét của huyện ủy có khuyết điểm hay vì hoàn cảnh chiến trường gay go, chỉ biết rằng trận càn quét của quân đội viễn chinh đã vô tình ‘’quét’’ luôn cả khoảng hai trăm dân chúng vô tội xuống truyền đài…Sau vụ đó, trung ương đảng bộ khai trừ thẳng tay vì huyện ủy của chúng ta vì lý do đã làm trái chủ trương trong thời gian của đảng và chính phủ. Chủ trương trong thời gian ấy là tiết kiệm máu. Làm đổ máu của những hơn hai trăm nhân mạng nhất là những nhân mạng ấy lại không phải là bộ đội, một lỗi không thể tha thứ được nói về phương diện trách nhiệm của một cán bộ đảng. Anh cán bộ bị khai trừ cũng không vừa, đồng chí định thảo đơn kiện trung ương đảng bộ Việt Nam tại phân bộ quốc tế đông phương, nhưng chắc cũng chẳng đi đến đâu nên đồng chí đành còm lưng làm cái công tác gánh thuốc lào kiếm ăn qua cơn thất nghiệp…chính trị tại một vùng đồi núi.

Gay gắt hơn nữa, vấn đề tư tưởng được tích cực chỉnh bị lại bằng cách thu hồi số lớn cán bộ trong đảng cũng như ngoài đảng đang hoạt động về nằm co một chỗ, anh nào phúc lớn thì được nằm co tại phòng tiếp tân của trung ương cơ quan mình, anh nào vô phúc thì xách ba lô đi tuốt vào…cải hối thất.

Cả hai thứ ‘’Phòng’’ và ‘’Trại’’ đều có mục đích chau dồi tư tưởng mới, lọc bỏ lỗi lầm cũ, nhưng ở Phòng thì còn danh còn nghĩa, chứ đến Trại thì thật là…tù.

Nhưng dù là ở Trại hay ở Phòng, hoặc còn là nhân viên hoạt động cũng đều phải hấp thụ tư tưởng mới, phải ươm tư tưởng mới từ miền Bắc bay qua biên giới, đó là tư tưởng Mao Trạch Đông, một tư tưởng Mác Á Đông Hóa. Dân Việt Nam từng hấp thụ văn hóa Khổng Tử và triết học từ bi của Đạo Phật, rồi gần đây lại Tây triết…tất cả những thứ ‘’Triết’’ ấy đã được Việt Nam Hóa trên giải đất chữ S, tạo ra một hệ thống tâm lý mềm mỏng đầy tâm tình hòa nhã. Từ năm 1945, ngay lúc cách mạng bùng nổ, điểm tâm lý căn bản ấy của dân tộc đã ngăn trở bao nhiêu là đổ máu. Mặc dầu là cách mạng, sự đổ máu ở Việt Nam cũng không phải đáng nên so với các cuộc cách mạng trên thế giới, so với Ba Lê Công Xã, những vụ Bastille hay so với Pétrograd của Nga-la-tư mấy chục năm về trước. Ngay trong các cơ quan quân, dân, chính của Việt Minh, công tác chỉ huy lãnh đạo hoặc thừa hành vẫn đượm mầu thuần túy dân tộc, trong các cơ quan, một tâm lý gia đình vẫn phảng phất, ngoài tình đồng chí, họ còn thương nhau như anh em thân thích…

Mùa Đông năm 1950, khi biên cương mở rộng đón mừng uy thế của Trung Cộng đã đón luôn cả tư tưởng Bác Mao, toàn thể thế giới đã thấy tòa án Trung Cộng liệt tội dâm đãng vào tội phản động hạng nhất nhì, liệt hành vi ăn tiêu xa xỉ vào loại đại hình (dĩ nhiên là dùng tiền túi để ăn tiêu xa xỉ) Toàn thế giới đã rõ Trung Cộng ở tài liệu ‘’Tư tưởng Mao Trạch Đông’’ một tài liệu thuộc loại sách gối đầu giường của tất cả các đảng viên cộng sản không cứ ở Á Đông mà cả ở Âu Châu nữa Mao Trạch Đông nói: ‘’Kẻ tư bản ví như con hổ mạnh trên núi Cảnh Dương mà chúng ta là vũ sĩ Võ Tòng, nếu Võ Tòng nới tay không đánh mạnh và đánh cho thật chết thì con hổ cũng sẽ ăn thịt Võ Tòng’’ Tư bản đây là các nước mang danh nghĩa đế quốc, tư bản đây là những kỹ nghệ gia, thương gia, điền chủ, phú ông và tư bản đây cũng cả là những kẻ vô sản nhưng mang theo mọi tính tình tự cao tự đại, tự ái hay mang theo lòng yêu thương kiểu cổ, kiểu Khổng Giáo, kiểu Thiên Chúa Giáo, kiểu Tư Sản… Còn chúng ta đây tức là những người đảng viên cộng sản, những người thân cộng sản…

Để làm điển hình cho phong trào trừng thanh nội bộ vụ án Trần Dụ Châu được thành hình. Trần Dụ Châu là cựu Thư Ký Hỏa Xa, đã giác ngộ theo phong trào cách mạng từ năm 1944, qua bao nhiêu thử thách, anh ta đã leo đến bực thang danh vọng. Có uy tín trong đoàn thể cũng như ở chính quyền, anh đã giữ chức Tổng Giám Đốc một ngành cần thiết trong quân đội, anh đã được chính phủ cấp hàm Đại Tá. Trần Dụ Châu bị bắt chỉ vì đi dự bữa tiệc cưới của một nhân viên cấp Phòng. Tiệc cưới tốn kém vài chục con gà và hàng trăm ngọn nến, có thuốc lá ăng-lê và có cả rượu ‘’Boócđô’’…Lúc vào tiệc, một quan khách đã thốt ra những lời đượm mùi ‘’đạo đức cách mạng’’ phê bình sự xa xỉ trong bữa tiệc, trong lúc toàn thể dân chúng và bộ đội ăn cháo, nằm gai nếm mật…Trần Dụ Châu, phần vì không biết quan khách đó là một nghị sĩ quốc hội, phần ngượng mặt vì những lời phê bình chua cay ngay giữa bữa tiệc, chẳng gì, trách nhiệm tinh thần vẫn là ở cấp phụ trách dù tiệc cưới đặt tại tư gia hay xa cơ quan hàng trăm cây số, nên đã thưởng cho vị quan khách vài cái tát tai nên thân…Bữa tiệc chưa tàn, người ta đã bắt ngay vị Đại Tá Giám Đốc đó để sau dăm hôm khẩu cung và điều tra thấy rằng Đại Tá đã có của riêng hàng trăm đô la Mỹ, hàng chục bộ quần áo ga-ba-đi-nơ hàng két rượu mùi và hàng tút thuốc lá thơm và hàng tập ảnh…gái. Những tài liệu ấy tố cáo gì ở Đại Tá ? Nó tố cáo tư tưởng tư sản trụy lạc của một đảng viên trung cấp trong cộng sản, hành vi ăn cắp của một nhân viên cao cấp của chính quyền. Nó dán nhãn hiệu ‘’tối phản động’’ lên thằng người một vị Giám Đốc, nó dẫn đồng chí đảng viên lên đoạn đầu đài, vụ điển hình số một thuộc loại không tiết kiệm và ăn cắp của nhân dân. Lẽ dĩ nhiên, Trần Dụ Châu cũng lôi theo một số lớn cán bộ xa xỉ và ăn cắp vào Cải Hối Thất để giáo dục lại con người.

Về vấn đề tư tưởng, Trung Cộng đã thổi qua biên giới một luồng gió mới. Luồng gió làm rát mặt những người Việt Nam theo cụ Hồ chí Minh. Không nhận nó không được, đó là một đặc điểm của luồng gió ghê gớm ấy.

Nói đến chính trị, nội các Phạm văn Đồng chủ trương: Dự trữ lực lượng để chờ thời cơ. Muốn vậy, cộng sản phóng đại những thắng lợi của họ trên chiến trường Bắc Việt, đả phá tinh thần sợ Mỹ trong nhân dân, đả kích dữ dội chính phủ quốc gia do Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo, nên ý thức căn bản: Vừa đánh giặc vừa bồi dưỡng và tích trữ lực lượng.

Nguyên văn bản báo cáo của Phạm văn Đồng dưới đây để cho mọi người rõ thâm ý của những người cộng sản:

‘’Những thất bại nặng nề của địch trên chiến trường Bắc Bộ làm địch lo ngại. Điều lo ngại đó đã phản ảnh trong dư luận các giới chính trị phản động ở Pháp và thế giới. Đứng trước tình hình này, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đối phó thế nào ?

Sức của Pháp có hạn, Mỹ lại giao cho Pháp nhiệm vụ quân sự khả năng trong khối gây chiến Tây Âu, thêm vào đó, phong trào chống chiến tranh xâm lược Việt Nam mỗi ngày một lan rộng, lên cao nhất là sau thất bại hòa bình. Thế Pháp quẩn, Pháp luôn luôn chạy theo Mỹ để cầu cứu. Nhưng Mỹ cũng đang gặp khó khăn lớn về mọi mặt ở khắp nơi trên thế giới, sức lực Mỹ cũng có hạn.

Vì lẽ trên thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, một mặt bản thân tiếp tục cố gắng, một mặt tích cực và quyết liệt hơn nữa trong việc dùng ngụy quân, ngụy quyền trong việc thi hành chính sách dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh.

Để thi hành chính sách ấy, chúng trọng dụng tên đại gian ác Nguyễn Văn Tâm cùng một bọn phản động lưu manh, khốn nạn nhất trong bè lũ tay sai của chúng. Bọn này không từ chối một tội ác nào trong việc bắt lính, để tăng cường ngụy quân, cướp của để làm quỹ chiến tranh. Dùng vũ lực bắt lính không có kết quả, chúng dùng lừa phỉnh, mua chuộc. Chúng đặt lắm thứ thuế, nhiều nơi chúng thu ngược lại mấy năm trước (từ 1947) và thu thuế trước mấy năm tới. Đồng bào ta ở vùng tạm bị chiếm sẽ khổ cực thêm dưới gót sắt của địch và ngụy. Nhưng sẽ thấy rõ thêm mặt thật Việt gian phản nước của chúng mặc dầu lời nói giả nhân giả nghĩa của chúng, mặc dầu cái trò ‘’độc lập’’, ‘’dân chủ’’, cải cách’’ của chúng. Đồng bào sẽ căm thù chúng hơn và đoàn kết kháng chiến này mà chúng ta đã thắng lợi lớn ở vùng sau lưng địch Liên Khu 3, Trung Du, Bình-Trị-Thiên v.v…Đó là một cuộc thắng lợi lớn trong công tác duy trì và phát triển cuộc đấu tranh ở vùng sau lưng địch.

Địch cố gắng nhiều trong việc chia rẽ dân tộc, hòng phá hoại khối đoàn kết kháng chiến. Chúng dùng mọi thủ đoạn gian ác để dụ dỗ, lôi kéo đồng bào miền núi, đồng bào có đạo, tìm mọi sơ hở của ta để gây khó khăn cho ta. Nhưng chúng ta không để sơ hở. Chúng ta phải củng cố thêm khối đoàn kết toàn dân một cách thiết thực bằng việc làm, thắt chặt đoàn kết thân ái giữa đồng bào lương và đồng bào giáo, đồng bào miền xuôi và đồng bào miền núi.

Chúng tăng cường chiến tranh gián điệp, từ vùng tạm bị chiếm, vùng du kích đến vùng tự do. Để chống cuộc chiến tranh gián điệp này, chúng ta phải tỉnh táo hơn nữa. Phải phát huy lòng yêu nước và tính tích cực của quần chúng, chỉ có tai mắt của quần chúng mới có thể khám phá được tất cả những âm mưu xảo quyệt của kẻ gian làm tay sai cho địch.

Về mặt kinh tế tài chính, chúng vừa cướp vừa phá, nơi nào không cướp được thì phá đốt. Chúng dùng mọi cách để phá mùa màng, trâu bò, nhà cửa, cầu cống, đê đập v.v…điều đáng đặc biệt chú ý là gần đây địch tìm phá công trình thủy lợi của ta, vậy chúng ta phải chăm chú đề phòng mưu mô phá hoại của địch.

Đó là cuộc chiến tranh toàn diện mà địch đang thi hành để làm yếu sức kháng chiến của ta. Tất cả những điều trên chứng tỏ rõ rệt cho toàn thể đồng bào thấy: Địch càng thất bại thì càng tàn bạo hiển độc, cho nên cuộc kháng chiến của chúng ta phải trường kỳ và gian khổ trước khi đi đến thắng lợi cuối cùng.

Vậy chúng ta phải vừa đánh giặc vừa bồi dưỡng và tích trữ lương thực. Phải đánh giặc khắp mọi nơi, về mọi mặt, thu nhặt về mặt quân sự để tiêu diệt sinh lực địch, để địch yếu dần nhưng không quên đánh giặc về mặt chính trị, kinh tế, tài chính đồng thời phải bồi dưỡng và tích trữ lực lượng của ta về mọi mặt quân sự, chính trị, tư tưởng, kinh tế, tài chính.’’

Việt Minh tranh thủ quần chúng cả ở vùng quốc gia kiểm soát. Nhiều cán bộ lén lút đi sâu vào vùng quốc gia tổ chức cơ sở, họ gây ảnh hưởng từng cá nhân và tuyên truyền không ngớt những thắng lợi bên ngoài của Việt Minh và vạch những sơ suất đào sâu nhược điểm của nền hành chính địa phương dưới sự lãnh đạo của chính phủ quốc gia.

Tận lực khai thác sức lao động để phụng sự kháng chiến, Việt Minh thi hành khẩu hiệu ‘’Giảm chính và tăng hiệu xuất’’

Giảm chính và tăng hiệu xuất!

Tất cả mọi cơ quan quân dân chính đều phải giảm chính.

Giảm chính để tăng cường đơn vị tác chiến, các cơ quan hành chính trong quân đội phải thu hẹp nhân số lại, phá tan hệ thống ‘’bàn giấy’’ và tham mưu’’.

Giảm chính để đỡ hao hụt ngân quỹ chính phủ, các cơ quan chuyên môn nói chung thuộc về chính quyền phải thải bớt nhân viên, thủ tiêu lề lối ‘’tháng lĩnh lương, ngày vớ vẩn’’…

Giảm chính để tiết kiệm sức lao động, các đoàn thể nhân dân phải thu hẹp số nhân viên bàn giấy để thừa người làm các công việc khác cần thiết hơn.

Giảm chính phải đi đôi với vấn đề Tăng Hiệu Xuất những người còn lại phải làm cả những việc của những người bị giảm chính nghĩa là làm gấp 2, gấp 5, gấp 10. Không làm được cũng phải cố mà làm, đó là một bổn phận mà đó cũng là một điều bắt buộc.

Số phận những người bị giảm chính ra sao ?

Dăm năm theo đuổi kháng chiến, nay phải vác ba lô từ biệt anh em, từ biệt cơ quan, không một nỗi niềm nào chua cay, bi đát hơn tâm tình họ lúc ấy. Về ư ? Về đâu ? Gia đình nếu gặp được là một chuyện may mắn, nếu không, hoàn cảnh có thể bầy ra:

Một, có sức lực thì đầu quân.

Hai, không đầu quân được hay không muốn thì về tăng gia cầy cuốc tại những vùng hẻo lánh, người nào may mắn có mẹ nuôi có cơ sở tăng gia sẵn sàng ở miền Đồng Bằng hay Trung Du là một điều phúc.

Ba, đi gõ đầu trẻ ở một thôn xã nào để hàng tháng kiếm gánh thóc nuôi sống thân cô.

Bốn, trở thành công nhân vận tải, có ít tiền dành dụm sắp một cái xe đạp tàng, xếp lên đó hàng tạ muối và đẩy suốt từ miền xuôi lên miền ngược, qua rừng, qua núi, qua suối, qua khe, dầm mưa dãi nắng, làm mồi cho muỗi, cho vắt, để sau khi đổi lấy vỏ, lấy củ nâu, lấy nấm, lấy mật, lại xuôi từ đèo heo hút gió xuống tận một phố chợ gần ‘’tề’’.

Năm, nếu không muốn hoặc không có dư năng lực và nghị lực làm nổi bốn nghề nói trên, chỉ còn một cách là ‘’dinh’’. Dinh là vào Thành ‘’Vào Thành’’ là một danh từ bi đát, một ý tưởng kinh khủng của những kẻ có lòng đã sống dăm năm với chính phủ cụ Hồ. Vì trong lưới tuyên truyền của Việt Minh, tất cả những kẻ không chịu sống trong vùng ‘’tự do’’ mà trở về vùng ‘’tạm bị chiếm’’ đều là các loại phản động, tất cả những cường quốc giúp chính phủ của Quốc Trưởng Bảo Đại đều là quân xâm lăng gớm ghiếc…

Tất cả các giác quan đều hấp thụ một lý luận, tâm lý bị hướng dẫn, những người bị giảm chính chẳng khác chi đàn gà có được thả ra cũng vẫn quáng nếu đêm ngày toàn bị nhốt trong tối đen.

Người ta chỉ nghĩ đến về Thành khi nào cái thế của người ta là 9 phần chết 1 phần sống. Về Thành, theo quan niệm của những người bị giảm chính là ‘’chết cả thể xác lẫn tinh thần’’, là hết, là mặc cho số phận và cho may, cho rủi. Đó là một điểm đặc biệt, một ưu điểm lớn trên mặt trận chiến tranh tâm lý của chính phủ Việt Minh. Người ta đã thấy những cặp vợ chồng cương quyết chia rẽ nhau vì lẽ chồng cam chịu đi công nhân vận tải, vợ quay trở lại Đô Thành và ngược lại, vợ cam chịu sống hiu quạnh với quán nước bên đường, chồng lạnh lùng đi thẳng vào Tề. Những cảnh ấy là kết quả của chính sách giáo dục Việt Minh.

Mùa Thu năm 1950, chính phủ Việt Minh mở trận đánh lớn vào khu Cao-Bắc-Lạng, tình thế quân sự Bắc Việt khẩn trương, phe quốc gia mất vùng biên giới. Thắng lợi của Việt Minh đã làm chấn động dư luận hoàn cầu. Thi đua với chiến dịch biên giới, quân kháng chiến Trung Bộ đánh đắm một chiến hạm của thế giới tự do chở quân sang giúp chính phủ Lý Thừa Vãn…Tất cả đã đánh một dấu phẩy chia giai đoạn cầm cự của Việt Minh ra làm đôi. Chính phủ cụ Hồ tuyên bố phần cuối của giai đoạn 2: Thời Gian Tích Cực Cầm Cự Chuẩn Bị Tổng Phản Công.

Tích cực cầm cự và chuẩn bị…! Tất cả lực lượng Việt Minh đổ dồn vào khẩu hiệu mới mẻ đó. Để lãnh đạo toàn thể dân chúng một cách chắc chắn hơn, hợp thời hơn, tháng 3 năm 1951, mặt trận Việt Minh và Liên Việt tuyên bố sát nhập làm một dưới danh từ Ủy Ban Liên Việt Toàn Quốc. Đó là mặt trận dân tộc thống nhất dưới quyền một chủ tịch cụ Tôn đức Thắng, người cựu lính thủy trong Hải Quân Pháp kiêm trưởng ban thường trực quốc hội.

Giúp việc chủ tịch Tôn đức Thắng có 3 phó chủ tịch:

– Linh Mục Phạm Bá Trực, đại biểu Công Giáo.

– Hoàng quốc Việt, kiêm chủ tịch tổng liên đoàn lao động Việt Nam.

– Bác Sĩ Lê Đình Thám, kiên chủ tịch ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam.

Ngoài chủ tịch và 3 phó chủ tịch còn thêm 2 ủy viên: Chu văn Tấn. Đại diện dân tộc thiểu số kiêm chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính liên khu Việt Bắc, kiêm chánh án tòa án quân sự toàn quốc và cụ già Thy Sơn, ông lão râu tóc bạc phơ có phong độ một nhà nho thuần túy.

Ủy ban liên việt toàn quốc thu thập hết sức rộng rãi các tầng lớp nhân dân, mục đích chính là vơ vét thật cặn kẽ giai cấp trí thức và quan lại lưng chừng. Đó là một hình thức tổng thu những cá nhân lẻ loi, những xu hướng phất phơ ngoài lề cuộc kháng chiến, thống nhất lại để chịu dưới quyền một đảng: Đảng lao động Việt Nam.

Trong vùng việt cộng, vấn đề kinh tế tài chính hết sức gay go nguy ngập, do đấy Việt Minh phải cố gắng phát triển tiềm lực kinh tế của nhân dân. Hệ thống mậu dịch rất nghèo nàn vì Việt Minh dùng mọi phương pháp, thủ đoạn để thủ tiêu quyền tự do mậu dịch.

Theo cộng sản, tự do thương mại có nghĩa là tự do ăn cắp. Từ ngày kháng chiến, một số lớn dân chúng tản cư sống bằng buôn bán. Nhờ buôn bán, số lớn đồng bào đã nuôi sống được gia đình trong những ngày điêu linh khổ sở. Nền thương mại rất lưu động vì phải tránh máy bay, tránh mặt trận. Một phần dân chúng cũng nhờ tản cư đi buôn mà trở nên giàu có. Tuy vậy, hình thức thương mại thật nghèo nàn, ngoài cách mở quán hàng ăn, giải khát, ai biết nghề thì hoặc chữa đồng hồ, hoặc chữa xe đạp, hoặc làm thợ cắt tóc còn toàn là loanh quanh với quán hàng tạp hóa với những thứ hàng ‘’ngoại hóa’’ lén lút. Còn một hình thức thương mại tại vùng đồi núi nữa là buôn măng, mộc nhĩ, nấm hương, tre nứa lá, những lâm sản. Muốn buôn những thứ này, dân chúng phải qua ty kinh tế và xông pha vào thâm sơn cùng cốc mới hy vọng có lời có lãi. Hình thức thương mại đã nghèo nàn nhưng chính sách của đảng lao động là muốn ‘’ỹ lao động hóa’’ con người, ép con người vào công việc tăng gia sản xuất, theo tôn chỉ của đảng, như vậy mới có tiến bộ…

Muốn tiêu diệt dần dần các con buôn, chính phủ bắn một phát đạn thẳng vào túi tiền của những người ưa buôn bán: Đó là thuế công thương nghiệp.

Kinh tế tự do mất đi kinh tế chỉ huy tiến. Ngoài những xưởng giấy, xưởng dệt, xưởng ép dầu của các đoàn thể dân chúng quan quản, kỹ nghệ quốc phòng được mở mang theo mức độ kháng chiến, Việt Minh đã phát triển công việc làm mìn, làm đạn, moóc-ti-ê, làm súng đại bác không giật (SKZ) v.v…

Để điều hòa nền kinh tế chỉ huy, để kịp thời sử dụng hàng hóa và vũ khí, Việt Minh tích cực tổ chức công tác giao thông vận tải. Yếu tố chính của vấn đề vận tải là nhân lực. Trên đường trường xa thẳm xuất hiện loại xe đạp buộc thêm vài cây tre, chở lạc, chở trà, chở củ nâu, chở giấy má…Đường xá bắt đầu được sửa chữa để dùng cho từng đoàn Molotova do Trung Cộng viện trợ. Công việc sửa đường và làm cầu cống hoàn toàn do dân chúng tự tạo. Phòng dân công thành lập tại khắp nơi. Lại một lần nữa Việt Minh động viên dân chúng để phục vụ kháng chiến. Hàng đoàn người, già, trẻ, trai, gái, cơm nắm, áo ôm, đêm đêm xẻng cuốc đắp đường, dầu trong mưa hay trong bão. Sức lao động con người được thúc đẩy dùng đến mức độ cao nhất. Những con đường dài dặc, ngày hôm qua còn lồi lõm, còn bị cắt xẻ do chiến thuật của giai đoạn kháng chiến, ngày hôn nay đã gọn gàng bình thảm lượn quanh đồng ruộng, lượn vòng sườn núi không còn dấu vết của chiến tranh.

Đường giao thông vận tải lớn là những mạch máu chính của cuộc chiến tranh tối tân, là yếu tố mấu chốt của vấn đề phân phối nhu cầu. Bởi lẽ đó nên quân đội Võ nguyên Giáp đặt nan đề giao thông chiến là một việc quan trọng. Hình thái chiến tranh đã thay đổi, đường vận tải lớn trước kia chỉ cần thiết riêng cho Bộ Tư Lệnh Pháp ngày nay cũng trở nên vấn đề sinh tử đối với bộ tư lệnh Việt Minh.

Hiểu như vậy, các cán bộ dân công hết sức thúc đẩy dân chúng đắp đường cho nhanh, xẻ núi cho mau và cũng vì vậy Bộ Tư Lệnh Pháp cố tình phá diệt đường xá, bắn giết đám dân công vô tội. Hàng chuỗi bom được đoàn phi cơ chiến thuật rắc dọc khắp nẻo đường, hàng tràng đại bác 20 ly tưới xuống ven đường, bờ ruộng, mỗi bóng người cầm quốc xẻng, mỗi bóng người nhấp nhô là mỗi tràng đạn nổ rầm trời.

Những đám dân công làm trong đêm tối siêng năng và quả quyết. Nếu nói về kết quả việc làm của họ đã đem lại ý nghĩa phản quốc gia theo quan niệm của những người quốc gia thuần túy vì lẽ họ đã mang sức lực ra giúp Việt Minh, thì hỏi về tinh thần làm việc của họ, phải công nhận họ xứng đáng là những người con quý của dân tộc Việt Nam. Dưới đường lối tuyên truyền của Việt Minh, họ chỉ biết đắp đường là yêu nước. Cử chỉ của họ đã lột rõ tâm tình đối với quốc gia dân tộc, và tất cả những người có ý thức đều phải nghiêng mình trước những sự hy sinh của họ dưới làn mưa đạn của không quân.

Song song với công tác đắp đường, ngành không và ngành thủy cũng được xây dựng. Phòng không quân bắt đầu tuyển mộ đào tạo sĩ quan các loại: Hoa tiêu, cơ khí…Phòng thủy vận tập trung vào những khả năng chuyên môn, tổ chức việc vận tải trên Lô Giang, trên các giòng suối rộng tổ chức thương thuyền vận tải ở bờ bể Trung Việt và tất cả các triền sông chưa bị vùng quốc gia kiểm soát.

Chính sách kinh tế tài chính của Việt Minh gồm mấy điểm lớn:

– Sản xuất tiết kiệm
– Thăng bằng chi thu
– Lũng đoạn kinh tế vùng quốc gia kiểm soát.

Để tránh nạn đói, Việt Minh hô hào dân chúng tăng gia sản xuất. Trước hội nghị cán bộ chính quyền tháng 3 năm 1951, Chủ Tịch Hồ chí Minh lên tiếng phát động phong trào sản xuất và tiết kiệm. Sản xuất đi đôi với tiết kiệm, đó là khẩu hiệu chính mà toàn thể dân chúng đều phải thực hiện.

Từ cuối năm 1951, đảng lao động Việt Nam đã tung ra khẩu hiệu ‘’Tự Cấp-Tự Túc’’. Những xưởng cán bông, dệt vải, seo giấy mọc lên như nấm.

Giấy: Các cơ quan nói chung từ trên xuống dưới đều phải dùng thứ giấy chế bằng đó, bằng giang.

Bông: Một chương trình trồng bông được đại dân chúng hóa mỗi nhà đều phải tiến tới giống một sào bông. Giá một ký-lô bông được nâng cao hơn giá thóc để khuyến khích. Những cá nhân giồng bông nhiều, có kết quả tốt ở những khu đất do họ tự vỡ lấy sẽ được thưởng, hoặc giấy khen, hoặc tuyên dương làm chiến sĩ thi đua, chiến sĩ lao động trên mặt báo…

Mỗi gia đình cũng như mỗi cơ quan, mỗi cơ quan, mỗi đơn vị phải có chương trình sản xuất riêng: Bao nhiêu luống khoai, luống cà chua, luống rau, tăng gia bao nhiêu gia súc, đào bao nhiêu ao, thả bao nhiêu cá v.v…Để ngăn ngừa tâm lý hoang phí khi thu được nhiều kết quả do chính sách mới đẻ ra, đảng lao động Việt Nam đã gắn liền hai chữ Sản Xuất danh từ Tiết Kiệm. Sản xuất nhiều nhưng khi có kết quả không được hoang phí, chính sách ấy có nghĩa là những thứ sản xuất được sẽ để vào kho. Chuẩn bị cho thời gian tổng phản công.

Tiếp theo chính sách sản xuất tiết kiệm. chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa bắt đầu ca tụng một thứ thuế mới: Thuế nông nghiệp. Thuế nông nghiệp là một thứ thuế theo kinh nghiệm của đảng cộng sản Trung Hoa để nuôi Hồng Quân trong sự nghiệp lập các Khu Độc Lập trong khi chiến đấu với chính phủ của Trung Hoa Dân Quốc.

Các cán bộ thuế nông nghiệp giải thích đó là một thứ thuế dân chủ nhất đánh theo năng lực sản xuất của người dân, tính theo tỷ lệ của hoa mầu và lấy thóc làm đơn vị của thuế. Thuế nông nghiệp tượng trưng một thứ thuế ‘’xây dựng’’ một thứ thuế dành ưu thế chính trị cho nông dân, theo quan niệm của cộng sản.

Nhưng thực tế, thuế nông nghiệp cũng chưa thu đủ số dự trù cho ngân sách dù trong khi thừa hành nhiệm vụ, một số cán bộ thuế nông nghiệp đã dùng chính sách áp bức dân chúng.

Việc thu thuế rất nặng làm nhân dân vô cùng ta thán khiến cho Phạm văn Đồng phải sửa đổi ít nhiều để ve vãn lòng dân hòng thu được nhiều hơn nữa.

Trong bản báo cáo tường trình tình hình nông nghiệp họ Phạm đã đề nghị một chủ trương mới trước hội đồng chính phủ như sau:

‘’Khuyết điểm về thuế nông nghiệp 1951 là ở chỗ điều tra định sản có nơi quá thấp, nguyên nhân là vì một số người phụ trách không chịu thật chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến, cùng nhân dân bàn bạc để điều tra định sản cho đúng.

Điều tra định sản nói chung là thấp, nhưng không phải thấy đều nhau, nghĩa là có người vừa hay là cao một chút cho nên họ kêu nặng và bị nặng thật, hoặc tương đối nặng so với nhiều người khác nhẹ (số người được nhẹ lại thường là người có nhiều ruộng và ruộng tốt). Nhân dân thường nói: ‘’Không sợ đóng thuế, chỉ sợ không công bằng’’.

Điều tra định sản thường phải làm đi làm lại, làm phiền nhân dân rất nhiều, lại gây trở ngại đến công tác khác như thế là không hợp lý. Nhân dân thường nói: ‘’Làm sao tính cho đúng và đóng một lần’’.

Một điều cốt yếu trong thuế nông nghiệp là phải đi tới cố định sản lượng, và công bố cho nhân dân để nhân dân yên tâm sản xuất, ra sức tăng năng xuất. Có như thế mới thực sự khuyến khích sản xuất. Nhưng việc cố định sản lượng này trong vụ thuế nông nghiệp 1951, chưa làm được. Chúng ta phải kịp thời học hỏi kinh nghiệm sửa chữa khuyết điểm để hoàn thành nhiệm vụ thuế nông nghiệp 1952.

Căn cứ công tác thuế nông nghiệp 1951, hội đồng chính phủ đã xét lại điều lệ thuế nông nghiệp và quyết định thay đổi mấy điều nhằm mục đích giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân giảm nhẹ sự đóng góp ở vùng căn cứ du kích, quy định việc miễn và giảm thuế đúng mức lúc mùa màng của nhân dân gặp tai nạn bất thường.

Điều đáng nêu nhất là việc nâng khỏi điểm đánh thuế từ 61 ký-lô lên 71 ký-lô, đồng thời hạ thấp thuế xuất từ 6% xuống 5% như thế để miễn thuế thêm cho một số nông hộ nghèo, đồng thời giảm nhẹ chút ít cho mọi người.

Kinh nghiệm công tác thuế nông nghiệp 1951 chứng tỏ rằng chính sách thuế nông nghiệp của chính phủ đã hợp với sức đóng góp của nhân dân. Nếu điều tra định sẵn đúng, thì số thu là 20% tổng số thu hoạch của nhân dân do 90% nông hộ đóng thuế.

Để kháng chiến dành độc lập, mưu ích lợi cho nhân dân, chính phủ phải thu thuế nhưng chỉ thu vừa đúng sức đóng góp của nhân dân. Thực là một trời một vực so với số thuế bằng 50% tổng số thu hoạch mà nhân dân các nước đế quốc cho bọn cầm quyền để chúng áp bức nhân dân và chuẩn bị chiến tranh’’.

Mặc dầu cố đánh thuế nông nghiệp, cố tăng gia, cố tiết kiệm, Việt Minh cũng không thu được đủ chi phí cho chiến tranh cho nên Việt Minh cố gắng thực hiện thăng bằng chi thu của nền tài chính Việt Minh hiện tại:

‘’Thuế nông nghiệp 1951 thu dưới mức. Thuế công thương nghiệp từ đầu năm đến nay cũng thu dưới mức. Thuế công thương nghiệp từ đầu năm đến ay cũng thu dưới mức. Tuy rằng mức ấy còn thấp đối với khả năng thực tế. Cho nên việc thực hiện thăng bằng thu chi, thăng bằng ngân sách mà chính phủ đã quyết định sẽ gặp khó khăn. Vậy chúng ta phải coi trọng và cố gắng nhiều hơn nữa trong công tác này.

Năm 1951, chúng ta chủ trương tăng thu giảm chi, thống nhất quản lý tài chính, giảm dần việc phát hành để chi tiêu, làm như vậy chúng ta nhằm mục đích: Ổn định vật giá, ổn định thị trường, tạo điều kiện phát triển sản xuất, buôn bán phát triển nền kinh tế chung đồng thời phát triển công tác đấu tranh kinh tế với địch và mậu dịch với các nước bạn.

Trong năm 1951, công tác tài chính này đã thu được ít nhiều kết quả, cho đến đầu năm 1952, chúng ta đề ra kế hoạch Sản Xuất và Tiết Kiệm đồng thời chúng ta ra sức Tăng Thu Giảm Chi, tiến tới thực hiện Thăng Bằng Thu Chi, quyết tránh phát hành để chi tiêu, tạo điều kiện thật thuận lợi cho công tác sản xuất và tiết kiệm.

Sáu tháng đã qua, nhưng công tác của chúng ta chưa tiến bộ mấy. Chúng ta thu không đủ số dự trù trong ngân sách về thuế nông nghiệp và thuế công thương nghiệp. Chúng ta chưa nhận thấy đầy đủ sự quan hệ mật thiết giữa công tác thăng bằng thu chi với công tác sản xuất và tiết kiệm. Thậm chí có nơi chỉ lo công tác sau mà sao lãng công tác trước. Như thế khác nào đặt cái cầy trước con trâu. Như thế là chưa hiểu, chưa nắm toàn bộ công tác kinh tế tài chánh trong đó khó khăn chính hiện nay vẫn là công tác tài chính: Thực hiện thăng bằng thu chi.

Chừng nào chúng ta chưa thực hiện được thăng bằng thu chi nghĩa là còn phải phát hành để chi tiêu thì chúng ta chưa ổn định được vật giá, chưa ổn định thị trường, thì nhân dân chưa mạnh bạo sản xuất và buôn bán, thì việc phát triển kinh tế còn gặp khó khăn. Đó là chưa kể còn phát hành để chi tiêu thì giá sinh hoạt vẫn còn lên mãi, làm thiệt hại đến đời sống của nhân dân, nhứt là từng lớp cần lao, bộ đội, cán bộ, công chức, những người nhờ lương tháng để sống.

Để thực hiện thăng bằng thu chi, để củng cố giá trị đồng bạc của ta, củng cố nền tài chính quốc gia, chỉ trên nền tảng đó, chúng ta mới thực sự cải thiện đời sống nhân dân phát triển nền kinh tế quốc gia’’.

Một chiến thuật nữa trong mặt trận kinh tế của Việt Minh là cố làm lũng đoạn nền kinh tế vùng quốc gia kiểm soát. Muốn phá chính sách Bồi Thổ của Quốc Trưởng Bảo Đại, Việt Minh mở rộng vòng đai sắt, để mặc cho những nhân viên bị giảm chính tự do trở về vùng quốc gia kiểm soát, gây nạn thất nghiệp, tung cán bộ công đoàn vào các xí nghiệp, xưởng máy trong vùng quốc gia hoạt động, tranh đấu, bãi công, đòi tăng lương, gây mâu thuẫn, ly gián chủ và thợ, cấp giấy tờ đi lại cho con buôn len lõi vào liên lạc với một số thương gia hám lợi hoặc Việt Nam hoặc Trung Hoa, chuyên chở lén lút thuốc men, các chất hóa học, máy thu thanh, máy chữ, vật liệu văn phòng…Để triệt lương thực vùng quốc gia, Việt Minh tổ chức bao vây kinh tế, cấm ngặt việc đem ngũ cốc, trâu bò về vùng quốc gia, cấm ngặt việc chuyên chở ngoại hóa và xa xỉ phẩm ra vùng thuộc họ kiểm soát. Ngoài những hoạt động trên, Việt Minh còn tích cực tổ chức bán Công Phiếu Kháng Chiến trong vùng thành thị, bí mật đánh thuế những thuyền bè, xe cộ vận tải qua vùng họ kiểm soát. Những hoạt động này cũng thu được khá nhiều kết quả.

Sau trận đánh thẳng vào đầu não Việt Minh năm 1947 (Opération LEA, Lạng Sơn-Cao Bằng-Bắc Kạn-Thái Nguyên-Tuyên Quang), lực lượng quân sự của Việt Minh tuy bị thất tán nhưng chủ lực không bị tiêu diệt. Sau một cuộc hội nghị tranh luận gay go, Việt Minh quyết định chuyển cuộc chiến đấu sang một giai đoạn mới: Giai Đoạn Cầm Cự

Giai đoạn này chủ trương xây dựng lực lượng, phát triển chiến tranh du kích.

Xây dựng lực lượng là tăng cường quân đội chính quy, lấy đơn vị sư đoàn làm chính. Năm 1948-1949, đại hội chủ lực 308 được thành lập gồm một số trung đoàn thiện chiến. Sư đoàn tinh nhuệ này do Đại Tá Vương thừa Vũ chỉ huy. Là một cán bộ quân sự cao cấp của Việt Minh, Vương thừa Vũ đã tòng học ở Trường Võ Bị Hoàng Phố (Trung Hoa), đã chỉ huy bộ đội chiến đấu ở Hà Nội và Khu Bình-Trị-Thiên (Trung Việt) năm 1948.

Cuối 1949, các đại đoàn khác lần lượt được tập hợp như đại đoàn 304 dưới quyền Đại Tá Hoàng minh Thảo, một đại đoàn trưởng trẻ và đầy tương lai của Việt Minh, đại đoàn 312 dưới quyền Đại Tá Lê trọng Tấn, đại đoàn 316 dưới quyền Đại Tá Cao văn Khánh, đại đoàn 320 dưới quyền Thiếu Tướng Văn tiến Dũng, nguyên cục trưởng cục chính trị của bộ tổng tư lệnh quân đội Việt Minh và đại đoàn 351 là đại đoàn pháo binh dưới quyền Thiếu Tướng Trần đại Nghĩa nguyên cục trưởng cục quân giới Việt Minh.

Quân đội chính quy Việt Minh giữ nhiệm vụ vận động chiến. Để phát triển du kích, Việt Minh liên hợp các Khu nhỏ thành các Liên Khu kháng chiến như:

– Liên Khu Việt Bắc gồm Khu 1, Khu 10, Khu 12 cũ (Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Sơn La, Lai Châu, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang).

– Liên Khu 3 gồm Khu 2 và Khu 11 cũ (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hòa Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Quảng Yên, Hòn Gay, Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây).

Liên Khu 4 và Liên Khu 5 là Trung Việt v.v…

Mỗi Liên Khu có một liên khu trưởng chỉ huy và có các trung đoàn gọi là chủ lực khu, dưới có các tỉnh đoàn dân quân du kích.

Nói đến sự tiến bộ trong vùng Việt Minh là phải nói đến phương diện quân sự.

Phương châm ‘’Huấn luyện trọng hơn tác chiến’’ đề cao việc huấn luyện binh sĩ trong giai đoạn. Nếu tinh thần chiến đấu là điểu tối cần trong giai đoạn phòng ngự thì vấn đề kỹ thuật tác chiến lại là một việc hệ trọng trong giai đoạn cầm cự với chiến thuật ‘’vận động chiến là chính và du kích chiến là phụ’’.

Các trường quân sự được mở liên tiếp ở khắp nơi:

– Trường trung cấp quân sự huấn luyện các cán bộ tiểu đoàn và trung đoàn do Thiếu Tướng Trần tử Bình và Thiếu Tướng Lê thiết Hùng làm giám đốc, có giáo sư Trung Cộng huấn luyện (học ở bên kia biên giới). Các cán bộ trung cấp được chau dồi về kỹ thuật chỉ huy, nghiên cứu học tập chiến thuật của Đại Tướng Trung Cộng chỉ huy Đệ Bát Lộ Quân Lâm Bưu. Học tập quan niệm chiến tranh của một nước lạc hậu chống quân đội tối tân của một cường quốc, học sử dụng vũ khí mới. Về chính trị, các cán bộ phải học tập tư tưởng Mao Trạch Đông, phương thức lãnh đạo quân đội chiến đấu, phương pháp vận dụng tinh thần binh sĩ…Tất cả các cán bộ lần lượt thay phiên mà đi học, hết khóa nọ đến khóa kia mỗi khóa chừng 50 cán bộ.

– Trường sơ cấp huấn luyện các cán bộ trung đội và đại đội, đôi khi nhận cả cấp tiểu đội nếu có đủ khả năng và có triển vọng về quân sự.

Ngoài hai loại trường trên, Việt Minh còn mở rất nhiều lớp võ bị địa phương huấn luyện ngay tại các đại đoàn, khu hoặc trung đoàn, tỉnh đoàn

Tất cả mọi lớp huấn luyện đều phải thuộc dưới quyền kiểm soát của quân huấn cục về mặt chuyên môn và tổ chức do cục trưởng Hoàng đạo Thúy, người Anh Cả của Hướng Đạo Việt Nam cũ, điều khiển.

Từ khi Võ nguyên Giáp trực tiếp giữ chức tổng tư lệnh, họ Võ đã thúc đẩy mạnh phong trào thi đua, rèn cán chỉnh quân năm 1949 ví như thời gian chuẩn bị nanh vuốt thu hình rình mồi của con hổ dữ.

Bước sang Thu-Đông 1950, bộ đội Việt Minh đua nhau áp dụng những điều học được trên chiến trường Cao-Bắc-Lạng đợt 2.

Chiến dịch Cao-Bắc-Lạng là một đòn quyết liệt trong đó bộ đội của họ Võ tập trung gân sức. Tất cả các trung đoàn cứng, các đại đoàn có thành tích đều có mặt trong thời gian chiến dịch.

Ngoài việc thắng lợi, thu hồi khu biên cương trong tay quân đoàn Lê Dương anh dũng của Liên Hiệp Pháp, chiến dịch Cao-Bắc-Lang đẻ ra những trận Thất Khê, Khâu Luông, đẻ ra những anh hùng trong quân đội Việt Minh như:

Trần Cừ, một thanh niên thuộc giai cấp tiểu tư sản thành thị, một đại đội trưởng trong trận Khâu Luông đã dùng lưng bịt họng súng khẩu đại liên dũng mãnh của địch thủ để lấy đường xung phong cho bộ đội mình, thân nam nhi bị tung như xác pháo đã đem lại kết quả tiêu diệt được đồn.

La văn Cầu, một nông dân miền núi phụ trách ôm quả bom danh dự mở đầu cho chiến dịch đường số 4 đợt hai. Cử chỉ của La văn Cầu tượng trưng ý thức ‘’vị đảng’’ bực nhất trong bộ đội Việt Minh. Nói theo nhận định của những người quốc gia, cử chỉ ấy tố cáo một nấc độ cuồng tín tối cao của người lính cộng sản. Với chức vụ chỉ ngang với cấp Trung Sĩ trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam hiện nay, tiểu đội trưởng La văn Cầu, người thanh niên 19 tuổi đã lĩnh trách nhiệm ôm quả bom tiến trong lửa đạn với mục đích đem đặt tại một mục tiêu đã chỉ định…Một loạt đạn liên thanh tiến gẫy cánh tay phải, trái bom chưa kịp đặt tới mục tiêu đã rơi xuống như một trái chín. Lặng lẽ quay trở lại, trong khói lửa, La văn Cầu điềm tĩnh khi gặp một trung đội trưởng đang tay gươm tay súng: ‘’Anh cắt hộ em cánh tay vướng bận lủng lẳng này’’, và một nhát kiếm lìa cánh tay vô dụng rơi như một chiếc lá lìa cành. Không đợi băng bó, người tiểu đội trưởng quay nhanh lại nhặt ôm trái bom bằng cánh tay còn lại thẳng tiến tới mục tiêu…Làm xong nhiệm vụ, để mặt trận bùng khói lửa sau quả bom tiên phong.

Những cử chỉ gương mẫu ấy được tuyên dương trước toàn thể quân đội Việt Minh và cũng là cái mốc thi đua trong thời gian lập công vĩ đại.

Muốn quân chủ lực khu tự nó đã có ý thức và kinh nghiệm chiến đấu. Bộ tổng tham mưu quân đội Việt Minh đề cao tổ chức dân quân toàn quốc. Những người ‘’dân lính’’ ấy không phải là những người thoát ly gia đình, họ vừa làm ăn vừa tổ chức chiến đấu. Luôn luôn họ theo quân chủ lực để học hỏi kinh nghiệm ngoài tuyền tuyến. Trận đánh kết liễu họ lại quay về vừa cầy ruộng vừa canh gác làng mạc thôn xóm. Họ là những người lính chính quy tương lai của quân đội Việt Minh.

Việt Minh tổ chức rộng rãi như vậy nên luôn luôn thiếu thốn cán bộ. Do đó khẩu hiệu mới nẩy ra: ‘’cán bộ quyết định tất cả’’. Nói riêng trong quân lực, cán bộ là vấn đề tối quan trọng trong thời gian: Cán bộ phải chỉ huy những trận đánh bằng điện thoại bằng phương tiện tối tân vì chiến trường rộng rãi. Cán bộ phải biết sử dụng và chỉ huy trên mặt trận gồm đủ loại vũ khí tối tân, đại bác bắn vòng, đại bác bắn thẳng, súng cối nặng, nhẹ, đại liên, trung liên, đại bác không giật (SKZ), Bazooka v.v…Sau trận đánh, dù thua hay dù thắng, cán bộ phải đủ khả năng thu thập kinh nghiệm, phổ biến kinh nghiệm phải nắm vững và phải phát triển tinh thần quân đội…nghĩa là đủ cả…

Với tất cả phương pháp nhồi sọ tối tân, Việt Minh đã biến bộ đội lạc hậu năm 1945 thành một quân đội khả dĩ ngang sức với quân đội một nước tối tân, có thể chống đỡ với quân đội Pháp không bị tiêu diệt trong chiến dịch Ondine 1 và 2 ở Hòa Bình, Sơn Tây, chiến dịch Pégase ở Hà Nam, Phủ Lý, chiến dịch Bastille ở Bắc Ninh, Junon ở Phát Diệm và Pomone ở Phú Thọ, Tuyên Quang, hơn nữa, Việt Minh còn dư sức chịu đựng hỏa lực vũ bão của quân đội tối tân Liên Hiệp Pháp trên chiến trường Vĩnh Phúc Yên và Nam Định, Ninh Bình 1960 dưới tài chỉ huy của vô địch tướng quân: Cố Thống Chế De Lattre de Tassigey.

Năm 1951, họ Võ được thêm vây cánh, hai ủy viên trung ương của đảng lao động được cử vào bộ tổng tư lệnh giúp việc dưới quyền Đại Tướng tổng tư lệnh, ba cơ quan chính tổng cục tham mưu, tổng cục chính trị và tổng cục hậu cần do ba nhân vật trực tiếp chỉ huy Trung Tướng Hoàng văn Thái, Nguyễn chí Thanh và Trần đăng Ninh.

Tổng cục trưởng tổng cục chính trị Nguyễn chí Thanh là một nhân vật cừ khôi, đã tham gia hoạt động cộng sản từ năm 16 tuổi, hãy còn trẻ chưa đầy 40 tuổi, từng làm chủ tịch kháng chiến hành chính Liên Khu 5 (Trung Việt). Dưới bàn tay họ Nguyễn, công tác chỉnh huấn trong bộ đội Việt Minh tiến một bước khá dài, về phương diện tác chiến, họ biến thành những người lính thích chết hơn chịu hàng, về phương diện đạo đức họ cảm hóa được lòng dân. Những sự ấm ức của người dân do những hành động áp bức, vô chính trị của loại cán bộ hành chính, kháng chiến gây ra đã nhờ đạo đức của người lính Vệ Quốc thuộc bộ tư Võ-Nguyễn-Hoàng-Trần làm cho êm dịu.

Thực hiện chánh sách ‘’quân dân nhất trí’’, người lính Việt Minh chiến đấu ở tuyền tuyến và giúp đỡ dân chúng hậu phương. Trong lúc nghỉ ngơi, họ học hỏi liên tiếp, cấy cầy, quét tước, dọn dẹp cho dân chúng, đào giếng, dựng nhà cho thôn xóm. Cử chỉ lễ độ của họ được nhào luyện thêm trong những lớp văn hóa sơ cấp bộ đội, lớp bổ túc văn hóa bộ đội. Tất cả sự tiến bộ của họ về mặt tinh thần đã là ưu điểm tuyệt đối của Việt Minh.

Để theo sát được sự tổ chức và phát triển quân lực về cả mặt tinh thần lẫn vật chất, tổng cục hậu cần của Trần đăng Ninh tích cực khẩn trương nhiệm vụ cơ quan mình phụ trách. việc mấu chốt là quân khí và quân lương. Trần đăng Ninh có nhiệm vụ trực tiếp giao thiệp với Trung Cộng trong vấn đề tiếp nhận võ khí, thuốc men và gạo, dầu mỡ. Công nhân vận tải là một điều quan trọng, tuy vậy tổng cục hậu cần cũng đã tiến tới dùng được những phương tiện giao thông tân tiến như các loại xe cơ giới vận tải.

Đồng thời với sự viện trợ của Trung Cộng, kỹ nghệ quốc phòng mà Kỹ Sư Trần đại Nghĩa là một trong những người tên tuổi về ngành này, đã ra công thiết lập các xưởng máy chế tạo và cải cách võ khí hợp thời. Kỹ nghệ quốc phòng tiến một nhịp đều với giai đoạn chiến lược của quân đội Việt Minh.

Hãy nghe câu chuyện nhỏ giữa hai vị Tướng, ta cũng dự đoán được sự nghiên cứu võ khí trong cơ quan quân giới của Việt Minh gắn liền với chính trị và giai đoạn chiến lược đến mực nào:

– Thiếu Tướng Trần Đại Nghĩa: ‘’Anh có cần những loại võ khí nặng, thật tối tân, có sức tàn phá ghê gớm hơn hẳn những loại mà quân sĩ của chúng ta đương sử dụng ?’’

– Tổng tham mưu trưởng: ‘’Trong giai đoạn chúng ta cần loại dao để bổ cau chúng ta đánh dao bổ bưởi để làm gì ?’’

Bộ tham mưu quân khí Việt Minh đẻ ra SKZ không phải chỉ do tiêu chuẩn ‘’tìm và phát minh loại võ khí có sức công phá mạnh’’ mà chính do điều kiện cần thiết và thích hợp với chiến lược và chiến thuật trong giai đoạn: Tiết kiệm nhân công trong việc sử dụng võ khí nặng. Ta đã thấy súng SKZ công phá không kém gì đại bác cỡ lớn cần phải đủ điều kiện: Xe cộ để vận tải, đường cái to để chuyên chở, chỗ rộng để đặt ụ súng. Đại bác cỡ lớn cồng kềnh bao nhiêu thì SKZ bé nhỏ và nhẹ nhàng bấy nhiêu. Vài chú lính bé nhỏ, cuốc bộ đủ chuyên chở được một khẩu SKZ trên bờ ruộng, trên sườn núi, trên khúc đường nhỏ ngoằn nghèo, trong rừng rú. Rúc trong một bờ rậm cỏn con, SKZ vẫn có thể nhả đạn dễ dàng, tránh chỗ này, quanh chỗ nọ, không quân đối phương khó lòng theo dõi được.

Sự thực vấn đề vũ khí từ năm 1947 Việt Minh vẫn thiếu thốn. Sang 1948, quân đội Võ nguyên Giáp đã tiến bộ về phương diện này và đã có vũ khí loại:

– Bazooka 60 ly, 75 ly.
– Sten
– Mousqueton 7 ly 7
– Đại liên 20 ly, 12 ly 7, 7 ly 7 (phòng không)
– Đại bác 20 ly, 57 ly.

Mỗi tiểu đoàn chính quy Việt Minh vũ trang như sau:

– 60 Pistolets automatiques
– 200 tiểu liên
– 300 súng trường
– 20 trung liên.
– 8 bích kích pháo
– 3 SKZ
– 6 đại liên
– 3 bazooka.

Tháng Giêng năm 1951, quân lực chính quy của Đại Tướng Việt Minh sử dụng 25.000 vũ khí đủ các loại, bộ đội địa phương sử dụng 10.000, dân quân du kích sử dụng 5.000, nhưng đến tháng Giêng 1952, số lượng vũ khí của bộ đội chính quy đã tăng lên 50.000, địa phương quân 16.000 và dân quân 12.000.

Với cái đà tiến bộ như vậy, quân đội Việt Minh đã tăng tiến một cách rất mau lẹ, không những đủ sử dụng trên khắp chiến trường Việt Nam mà còn đào tạo được vài đợt sĩ quan tung sang đất Lào và Cao Mên để gây các khu du kích, giúp đỡ ‘’quân đội giải phóng Neo Lạp Issara’’ và ‘’quân đội giải phóng Khmer Issaraks’’.

Năm 1952, Việt Minh mở trận đánh lớn vào vùng Nghĩa Lộ, chiến dịch này đã giúp họ thu được phần lớn đất đai miền dân tộc thiểu số.

Bước sang giai đoạn Tích Cực Cầm Cự Chuẩn Bị Tổng Phản Công, Việt Minh đặc biệt chú ý đối với việc xây dựng lực lượng dự trữ và bồi dưỡng, Việt Minh sẽ ngã quỵ trước sức tiến triển của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam cộng với sức mạnh luôn tăng cường của quân đội Liên Hiệp Pháp và sự viện trợ tích cực của Hoa Kỳ.

Nghiên cứu bản nhận định tình hình quân sự của Phạm văn Đồng, ta sẽ thấy rõ đường lối chủ trương của bộ tham mưu Việt Minh trong giai đoạn mới:

‘’Sau mấy tháng chiến dịch Hòa Bình, tính rõ tổn hại của địch về mọi mặt quân sự, chính trị, chúng ta càng nhận thấy quân và dân ta đã thắng một trận lớn.

Sau khi bị đánh bại ở biên giới, địch bị hãm vào thế bị động, phòng ngự ở Bắc Bộ. Chúng ra sức xây dựng phòng tuyến củng cố hậu phương, chống đỡ các cuộc tiến công liên tiếp của ta, từ Trung Du xuống Đồng Bằng, đồng thời chúng ra sức chuẩn bị giành lại chủ động, tìm chỗ đánh ta, mong thu được một thắng lợi quan trọng để củng cố lại vị trí quân sự của chúng ở Bắc Bộ và gây ảnh hưởng chính trị.

Như thế, cuộc tiến công Hòa Bình của địch là một sự cố gắng có hệ thống, có kế hoạch của chúng từ cuối 1950 đến cuối 1951. Nhưng cuộc tấn công lớn ấy đã thất bại trong sự cố gắng trong kế hoạch giành lại chủ động ở Bắc Bộ.

Trận đại bại ở Hòa Bình chứng tỏ địch đã thua to, không những trên chiến trường Hòa Bình (trên sông Đà, đường số 6 và Hòa Bình) mà còn thua to ở khắp chiến trường Trung Du và Liên Khu 3. Phòng tuyến kiên cố của chúng không ngăn được quân chủ lực ta thâm nhập vào hậu phương chúng để cùng với lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân đánh và thắng chúng liên tiếp, làm tan rã từng mảnh ngụy quân, mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích, gây một phong trào kháng chiến sôi nổi trong lòng địch.

Cho nên ta đại thắng trận Hòa Bình, không những vì chủ lực ta đánh thắng địch trên mặt trận chính ở chiến trường Hòa Bình mà còn vì chiến tranh du kích phát triển mạnh ở sau lưng địch, ngày đêm uy hiếp địch, gây một mối lo ngại rất lớn cho địch, buộc địch phải rút khỏi Hòa Bình.

Đó là ý nghĩa chính trị, quân sự trên trận Hòa Bình

Địch rút Hòa Bình cốt để chống cuộc chiến tranh du kích đang phát triển sau lưng chúng. Từ đó đến nay, chúng tập trung lực lượng càn quét liên tiếp các vùng du kích và căn cứ du kích của ta ở hữu và tả ngạn sông Hồng Hà, ở Trung Du. Mục đích của địch là: Nếu không tiêu diệt được thì cố gắng dồn ép chủ lực của ta ra khỏi vùng sau lưng chúng, đánh phá lực lượng võ trang địa phương, cơ sở nhân dân, phá hoại kinh tế, bắt người bắt lính, lập lại ngụy quân ngụy quyền. Tóm lại chúng cố gắng dồn ép chủ lực của ta ra khỏi vùng sau lưng chúng, đánh phá lực lượng võ trang địa phương cơ sở nhân nhân. Chúng cố gắng củng cố hậu phương của chúng ở Trung Du và Liên Khu 3 để giữ vị trí của chúng ở Bắc Bộ, đồng thời để cướp sức người sức của ở theo chính sách dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh.

Để chống lại những cuộc càng quét ác liệt của địch, quân và dân ta ở sau lưng địch đã chiến đấu vô cùng anh dũng và đã thu được thắng lợi, cơ sở nhân dân được rèn luyện và củng cố, lực lượng võ trang của địa phương đã lớn mạnh, các vùng du kích, căn cứ du kích nói chung đều giữ được, có nơi bị thu hẹp nhưng cũng có nơi mở rộng, nói chung đều được củng cố vững chắc hơn trước. Đó là những thắng lợi đáng kể, vì chúng ta đã giữ vững và phát triển chiến tranh du kích, chống càn quét thắng lợi trong vùng địch, nơi địch tập trung lực lượng tinh nhuệ của chúng và dùng mọi thủ đoạn tàn ác của cuộc chiến tranh toàn diện: Quân sự, kinh tế, chính trị, gián điệp.

Thắng lợi này là thắng lợi của chiến tranh nhân dân, đặc biệt ở các Tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nam, Hải Dương, Bắc Ninh v.v…Thắng lợi của đồng bào lương và giáo trước đây bị địch và ngụy tàn sát, nay dũng cảm đứng lên đoàn kết chiến đấu chống địch bảo vệ quê hương, tài sản, tính mệnh, tôn giáo.

Đồng bào ở vùng sau lưng địch, Liên Khu 3 và Trung Du đã xứng đáng với tổ quốc, chính phủ thân ái gởi lời chào đồng bào, hoan nghênh tinh thần yêu nước, kháng chiến của gương đoàn kết kháng chiến đó.

Trên các chiến trường khác, từ Bình-Trị-Thiên qua miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ, quân và dân ta vô cùng phấn khởi với chiến thắng Hòa Bình, đã ra sức hưởng ứng với chiến trường chính, ra sức phát triển chiến tranh du kích, chống càng quét, chống kế hoạch bình định, chống chính sách của địch, dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh.

Ở Bình-Trị-Thiên, đi đôi với phong trào du kích chiến tranh khá rộng, nhiều trận đánh tương đối lớn đã diễn ra tiêu diệt từng tiểu đoàn thiện chiến của địch, mở rộng và củng cố miền du kích và căn cứ du kích gây thêm khó khăn cho địch, gây lòng tin tưởng trong đồng bào.

Ở miền Nam Trung Bộ, chúng ta đã thành công phần nào trong việc phá âm mưu của địch, lợi dụng đồng bào Thượng Du ở Sơn Hạ, trong việc diệt một số vị trí địch, uy hiếp đồng bào vùng tự do. Chiến tranh du kích ở sau lưng địch phát triển nhất là ở cực Nam Trung Bộ.

Ăn nhịp với cuộc kháng chiến toàn quốc, cuộc kháng chiến ở Nam Bộ mạnh dần lên, mặc dầu địch dùng mọi lực lượng, mọi thủ đoạn tàn ác để càn quét căn cứ địa của ta. Chia rẽ và mê hoặc đồng bào, ra sức bình định vùng tạm chiếm. Chiến tranh du kích phát triển ở nhiều nơi. Từ miền Đông sang miền Tây, chủ lực và lực lượng võ trang địa phương hoạt động ngày thêm mạnh, đánh lui mấy cuộc tấn công lớn của địch vào căn cứ của ta, chống càn quét thắng lợi ở nhiều nơi, đánh tiêu diệt ở một số vị trí của địch, thắng mấy trận giao thông chiến khá lớn.

Trong hoàn cảnh rất khó khăn ở Nam Bộ, đó là những thành tích kháng chiến đáng kể.

Tóm lại, nửa đầu năm 1952, cuộc kháng chiến của ta đã thu thắng lợi lớn trên chiến trường Bắc Bộ đồng thời chiến tranh du kích phát triển khắp mọi nơi’’.

Xuân năm 1953, Việt Minh vùng đánh sang đất Ai Lao. Hành động ấy chứng tỏ sự lớn mạnh của quân đội Võ nguyên Giáp mặc dầu họ chưa thể tiến được về miền đồng bằng Bắc Việt và chưa làm cỏ được ‘’Cánh Đồng Chum’’ đất Ai Lao. Trung Châu Bắc Việt và Thủ Đô Ai Lao chưa bị xâm phạm nhưng quân đội chính quy Việt Minh vẫn thắng lợi trong tiêu chuẩn hành bính của họ.

Ngoài những mục đích nói chung của các trận đánh, mỗi cuộc hành quân của Việt Minh đi sâu vào ‘’hậu địch’’ đều có tính cách gây bón cho những tổ chức dân quân du kích, thúc đẩy và làm tăng tinh thần của địa phương quân.

Điều tiến bộ của Việt Minh không phải là việc cố đóng ngay được lực lượng chính quy trên đất Lào, mà là sau trận đánh ‘’rút kinh nghiệm ấy’’, gây được thanh thế, ảnh hưởng…Quân đội Việt Minh đã rút lui để làm mọc rải rác trên đất Lào vô vàm những ổ du kích, những tổ dân quân địa phương và những tổ chức chính trị. Những ổ vi trùng này sẽ tự nhiên lớn dần và đến ngày nào đó sẽ được mang danh nghĩa quân đội chính quy với võ khí hoặc là đánh cướp được, hoặc do cục quân giới tiếp vận cho. Bởi kinh nghiệm chiến trường già dặn, bởi sự thông hiểu địa hình, địa vật, những bộ đội chính quy ấy sẽ là những đơn vị vô cùng nguy hiểm mai sau.

Đứng về mặt quân lực, Việt Minh khá tiến bộ mới có thể khởi trận tấn công vào xứ Vạn Tượng, nhưng thực ra việc đó lại tố cáo nhiệm vụ quốc tế và sự lo âu của bộ tham mưu Việt Minh về vấn đề căn cứ địa. Nếu chiến tranh nóng bùng nổ giữa hai phe đối lập trên thế giới bao trùm vùng Đông Nam Á, thì rừng núi vùng Thượng Lào, miền Nam Vân Nam và miền Tây Bắc Việt sẽ là căn cứ địa chính của những lãnh tụ cộng sản hoạt động trong khu vực Bán Đảo Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện và Đông Dương. Nếu không sửa soạn vùng chiến lược sau này, Việt Minh lo sẽ có thể bị tan vỡ hoặc bị bao vây trong căn cứ địa nhỏ bé ở Việt Bắc hiện thời.

Vấn đề Văn Hóa-Xã Hội củng được chú ý đặc biệt mặc dầu Việt Minh mắc bận nhiều ở tiền tuyến. Đặc biệt thứ nhất là sự hoạt động của Bình Dân Học Vụ. Theo báo cáo của đại hội Bình Dân Học Vụ năm 1952, toàn quốc đã có 14.000.000 người thoát nạn mù chữ. Những người đã qua lớp i, tờ nghĩa là đã đọc và viết được đều được tiếp tục theo các lớp bổ túc căn bản. Lớp bổ túc văn hóa mở ra cho nông dân theo học các buổi tối, khỏi làm mất thì giờ công tác tăng gia sản xuất.

Để thúc đẩy phong trào, ủy ban văn hóa trung ương do văn sĩ Hoài Thanh và thi sĩ Tố Hữu, hai cây bút cộng sản lãnh đạo, xúc tiến thi hành các đội ‘’văn công’’ chuyên môn đi biểu diễn ca, nhạc kịch, trưng bầy triển lãnh tận cả nông thôn. Người nông dân là quen dần với những đường cong đơn giản của bản đồ Châu Âu, Châu Á, Việt Nam, quen dần với những chấm đen tượng trưng tỉnh thành của đất nước. Ngoài những bài địa dư, sử ký giản yếu đã khêu gợi ý thức của một người dân đối với giang sơn tổ quốc, những lớp bổ túc văn hóa đã dậy cho nông dân có ý thức về phương diện vật lý, vệ sinh. Tự họ đã đào giếng khơi ngòi, tự họ đã đắp đường xẻ rãnh, tự họ đã tiến bộ. Từng đội văn công lưu động khua chiếng dóng trống len lõi không những tất cả làng mạc miền xuôi mà còn tiến cả vào những vùng đèo heo hút gió. leo qua núi qua khe, có mặt với những dân tộc LôLô, Mán sơn đầu, Mèo ở chót vót từng mây…

Một số các trường trung học được mở bên kia biên giới. Cả giáo sư lẫn học sinh đều ‘’du học’’. Chương trình giáo dục được thay đổi từng gốc rễ, lấy môn chính trị học làm đầu.

Học sinh, ngay từ tiểu học đã phải học ‘’lao động’’. Học sinh phải có một vườn rau riêng, tự lực trồng trọt trong giờ riêng quy định, trong những ngày chủ nhật hoặc thứ năm, học sinh phải tập hợp lũ lượt kéo nhau đi làm ‘’công tác xã hội’’. Đó là những việc linh tinh ở địa phương gần nơi học hoặc đào đất, khơi ngòi, xẻ rãnh, hoặc đắp lạch cho nước ở ao khơi tràn ra đường, hoặc tu sửa một nơi dùng làm phòng triển lãm văn hóa v.v…Những công tác xã hội ấy không bao giờ hết được. Có những em nhỏ một loạt chừng 8, 9 tuổi, dưới sự hướng dẫn của ông giáo trẻ phụ trách việc đắp những con đường nhỏ trong thôn xóm những buổi sớm ngày chủ nhật đẹp đẽ và hùng tráng dưới tia nắng nhẹ của mặt trời. Mỗi trẻ vác một cục đất vừa mới sức mình, ông giáo vác tảng đất to hơn, đàn kiến cần cù và vui vẻ ấy đã thu hút được lòng mến của những người khó tính nhất. Những kẻ bướng bỉnh nhất, những anh lười biếng nhất cũng bị lưỡi mai kiểu tinh thần ấy bẩy lên, tung lên và xô vào bánh xe lao động. Ngoài những công tác đó, học sinh đoàn còn đi bán công phiếu kháng chiến cho chính phủ, làm giúp các công việc cho các ủy ban hành chính kháng chiến.

Nền văn hóa dưới bàn tay Việt Minh đã có bộ mặt thay đổi. Từ trẻ nhỏ, đã tập dần để hiểu thế nào là sức lao động của con người, đã tập dần tự túc, tự sản xuất, tự kiến tạo và tiết kiệm. Tất cả những sách vở, văn chương đều bị kiểm soát ngặt nghèo và hướng dẫn trong một khuôn khổ. Người ta bắt đầu ca tụng những con người mới trong thời đại Staline, những vĩ nhân của chủ nghĩa vô sản, khoa triết học được xây dựng từ khởi điểm bằng tài liệu lịch sử nhân loại theo duy vật biện chứng pháp. Tất cả học sinh cũng như các nhân viên, cán bộ đều phải học lại hoặc bắt đầu học để hiểu rằng loài người là con cháu của loài khỉ, để hiểu rằng định luật kinh tế thô sơ đã đẻ ra xã hội bộ lạc, phong kiến đã đẻ ra xã hội tư bản và ngày nay, đoạn chót của tư bản, đế quốc, tiềm tàng mâu thuẫn đã tự tiêu diệt nhường chỗ cho một xã hội mới, xã hội cộng sản đang thành hình qua cái cầu chủ nghĩa xã hội. Khoa triết học duy vật biện chứng pháo ép học sinh vất bỏ tất cả mọi tư tưởng khác biệt, Einstein là ngố ngáo lạc hậu, Jean Jacques Rousscau là tự do vô tổ chức, Hegel là duy tâm, tôn giáo là ru ngủ, Barkeley là thầy đồ ngụy biện, cũng như Khổng Mạnh chỉ là những lão đồ gàn…Dưới mắt học sinh chỉ có Marx, Engel, Lenin, Staline và thật mới mẻ Mao Trạch Đông.

Một số các cán bộ cao cấp và sinh viên được gửi đi học các ngành tại Prague, tại Varsovie (Đông Âu) học về nghề hỏa xa, nghề điện, nghề công an, kỹ thuật máy móc, một số được theo học trường Mã-Lê học hiệu ở Trung Cộng…

Trên thượng tầng, những anh linh loại văn hóa: Hoài Thanh, Tố Hữu, Nguyễn đình Thi, Xuân Thủy, loại chuyên môn: Bác Sĩ Tôn Thất Tùng và một số kỹ sư đưa nhau làm trưởng phái đoàn đi ngoại quốc thu thập bước tiến của ‘’nhân loại văn minh’’.

Dưới hạ tầng, dân chúng đưa nhau đón tiếp những điều mới lạ. một đặc điểm mạnh dạn nhất là phong trào Nhẩy toàn thể dân chúng, nông dân, công nhân, học sinh, nhân viên, các bộ mọi ngành, già trẻ trai gái đều đua nhau nhẩy ‘’Ương Ca’’ một điệu nhẩy từ Trung Cộng nhẩy sang (và có lẽ nó cũng đã nhẩy lung tung từ Nga Sô đến thất cả các nước ‘’Tân dân chủ’’ trong sợi giây truyền cộng sản)…Vũ khúc Ương Ca bắt nhịp theo các bài hát có nhạc điệu Trung Hoa. Bài hát ca tụng Mao Chủ Tịch là một bài hát được đại chúng hóa không những ở Trung Hoa mà cả ở vùng Việt Minh, đâu đâu cũng thấy:

Đông Phương hồng, Mặt trời lên Trung Hoa chúng ta có ông Mao Trạch Đông…

‘’Trung Hoa chúng ta có ông Mao Trạch Đông’’, câu đó làm người ta nhớ lại những ngày nào, dưới thời Pháp thuộc, trẻ nhỏ Việt Nam gào trên ghế nhà trường bài Sử Ký nhập trường: ‘’Tổ tiên chúng ta là người Gô loa…(nos ancêtres snt des Gaulois)’’.

Những nông dân chất phác, vô học từ hàng thế kỷ nay, bỗng dưng được học văn hóa mới, học nhẩy, thay đổi điệu hát cổ truyền trước mắt họ chỉ còn mầu đỏ của Nga Sô của Trung Cộng, tai họ chỉ nghe những mẫu chuyện ở ‘’Thành phố Hoa-Đồng’’, những thiên ‘’anh hùng ca’’ từ Bình Nhưỡng bay đến, hòa hợp với các bản nhạc kháng chiến đẫm máu của dân tộc Việt Nam họ đã biến dần thành những người cuồng tín, xả thân vì văn hóa mới, vì tư tưởng mới, vì chính phủ, vì đảng…

Hệ thống Dân Y phát triển đều với hệ thống quân y. Phụ nữ tham gia khoa dược học rất nhiều. Từ 1949, bộ y tế đã liên tiếp mở nhiều khoa y tá, cứu thương cho ngành dân y. Mỗi tỉnh lớn đều có một Bác Sĩ phụ trách. Vì thiếu Bác Sĩ, Việt Minh đã phải cố gắng đào tạo những y sĩ trẻ mới.

Nhưng công tác Dân Y tiến bộ rất chậm chạp vì vấn đề bào chế và giao thông. Những xưởng bào chế tuy được hết sức mở mang những vì thiếu máy móc tinh xảo tối tân nên không thể sản xuất đủ cho dân chúng dùng. Do tính cách thủ công nghiệp của phương pháp bào chế nên thường thường các phẩm, lượng của thuốc lúc hơn lúc kém, tùy theo thời gian, theo địa phương, ví dụ: Phòng bào chế tại Liên Khu Việt Bắc. Vì lý do ở miền đồng bằng những dược phẩm cần thiết để bào chế dễ dàng được cung cấp hơn ở vùng đồi núi.

Vấn đề giao thông cũng là một trở lực mạnh. Đứng về địa vị ‘’cung’’, lượng của dược phẩm không được phân phát đều cho các phòng bào chế tản mác trong toàn quốc, cho nên có nơi thuốc rẻ có nơi thuốc đắt, dân chúng càng ở xa phòng bào chế càng chịu cảnh ít thuốc và thuốc đắt. Nói về phương diện ‘’cầu’’ dân chúng tuy được giáo dục qua về ý thức dùng thuốc Âu, Mỹ, nhưng từ những thôn dã xa xôi, họ ngại ngùng khi phải đi một vài chục cây số mới mua được vài ống thuốc hoặc tới khám bệnh tại ty y tế thường đóng trong rừng trong núi. Có cố gắng đến được chăng nữa thì những bệnh cấp cứu cũng đã mất thời gian tính hoặc không còn cách nào để cứu chữa nữa.

Đến 1952, mỗi xã đã có một phòng thuốc công cộng dưới quyền một y tá hàng xã, nhưng thực ra chỉ có hình thức, một là do những khó khăn vì tình trạng thuốc men và giao thông đã nói ở trên hai là do tình trạng tâm lý của dân chúng cũng như tinh thần của các nhân viên chuyên môn phụ trách.

Nói đến tinh thần phục vụ của ‘’nhân viên vệ sinh’’ phải nhìn đến những yếu tố đã cấu tạo ra nó. Phần lớn các y tá dân y là những người thoạt tiên có tư tưởng ‘’leo bên lề cuộc kháng chiến’’ Họ hưởng danh nghĩa ‘’kháng chiến’’ (mà họ cho là oai) nhưng lại nhát không dám xông pha nơi trận tuyến, hoặc khả năng kém không dám xung phong đảm nhận những công tác khố khăn khác. Họ là những người kém tinh thần phục vụ nói chung (tất nhiên dù trong vùng Việt Minh hay trong vùng quốc gia cũng vậy) Với tư tưởng cầu an và phản xã hội ấy, vô hình chung họ lại tham gia vào một công tác cần nhiều đầu óc xã hội nhất. Họ tưởng chắc rằng, với chiếc ‘’sơ-ranh’’, vài quận băng, bông, một chai thuốc ‘’méc-kuya-rô-côm’’ họ sẽ được dân chúng tin tưởng và mến phục, vừa được đi trước với bệnh nhân khi mặt trận lan đến địa phương họ.

Sẵn tư tưởng đáng phàn nàn ấy, phòng chính trị của hệ thống dân y cũng chưa giáo dục được họ cho hoàn hảo nên số những người phụ trách y tế thôn xã đều chỉ nhận được sự thờ ơ của dân chúng. Thâm tâm dân chúng đều ít tin tưởng ở tủ thuốc hàng xã vì cớ thuốc cũng như người nghèo nàn cả về hình thức lẫn nội dung tinh thần lẫn vật chất.

Tóm lại, công tác dân y vùng Việt Minh mới chỉ tiến bộ chút ít về mặt hình thức và tương đối đã là một ngành gần ‘’bét’’ trong vùng Việt Minh so với các ngành hoạt động khác.

Để bù vào ‘’hạ tầng lủng củng’’ về mặt dân y, các Bác Sĩ cố gắng học hỏi nghiên cứu về phương diện bào chế và chau dồi chính trị. Bác Sĩ Tôn Thất Tùng chu du Bắc Bình, Thượng Hải, Bác Sĩ Đặng Văn Ngữ bào chế thuốc Pen-ni-ci-lin, Bác Sĩ Nguyễn Văn Thuyết được tặng danh hiệu ‘’chiến sĩ thi đua số 1’’ Tỉnh Thái Nguyên, thủ đô của Việt Minh.

Quyết tiến vượt mức, Việt Minh cố gắng thúc đẩy phong trào thi đua lập công. Phong trào này được bồi dưỡng bằng cách ca tụng những thành công, những thành tích thắng lợi của từng cá nhân. Trên báo chí, trên tranh ảnh toàn thi đua ái quốc đến thi đua kiến quốc.

‘’Ngày ngày thi đua,
Ngành ngành thi đua,
Người người thi đua,
Ta nhất định thắng,
Địch nhất định thua.

Đó là bài thơ gây phong trào thi đua ái quốc và kiến quốc của tác giả Hồ chí Minh, tác giả của đảng cộng sản Đông Dương, tác giả của đảng Việt Nam Độc Lập Đổng Minh, của hội nghiên cứu Mác-Lenin ở Việt Nam, tác giả của đảng lao động Việt Nam…

Bài thơ được phổ nhạc. Phong trào thi đua được phát động thật mạnh mẽ hình thức thi đua phổ biến hết sức rộng rãi.

– Những ngày còn thở hít được khí giới là phải thi đua.
– Thi đua trong tất cả mọi ngành quân, dân, chính.
– Gái, trai, già, trẻ, người nào cũng phải thi đua.
– Mình thi đua với người, mình thi đua với chính mình.
– Mình thi đua hôm nay với mình hôm qua.
– Mình bây giờ thi đua với mình lúc nấy.

Cuộc vận động phong trào thi đua được xây dựng trên những yếu tố:

– Tinh thần yêu nước, vì đảng.
– Tâm lý tự ái, hiếu thắng.
– Óc địa vị, chuộng danh.

Theo quan niệm của những người cộng sản ở Việt Nam thì dân chúng phải cấu tạo một ý thức hẳn hòi về thi đua, làm sao cho thi đua lẫn vào cuộc sống hàng ngày, cần thiết đối với con người như khí giới, như hạt thóc, làm sao cho hành động này thi đua với hành động nọ, liên miên không phút nào ngừng. Thi đua phải biến thành tiềm thức, lẫn vào xương vào máu để nhất cử nhất động phải là thi đua. Đó là điểm đặc biệt, theo họ, tiến bộ hơn phong trào Stakhanovitch của Nga Sô, phong trào Ngô-mộng-hảo của Trung Cộng. Những phong trào của ngoại quốc chỉ tưng bừng hoặc trong kỹ nghệ, trong nhà máy hoặc trong những đợt kế hoạch kinh tế.

Phong trào thi đua đợt đầu đã đẻ ra nhiều cá nhân gương mẫu. Quân đội chính quy có La văn Cầu, có Nguyễn quốc Trị, kỹ nghệ quốc phòng có Kỹ Sư Trần đại Nghĩa công nhân Ngô gia Khảm. Đồng ruộng có ông lão Hoàng Hanh. Dân quân du kích có Nguyễn thị Chiêm…Họ toàn là những chiến sĩ thi đua, nhờ thành tích thắng lợi được chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa thưởng các huân chương quân công, huân chương kháng chiến, được báo chí nêu danh: Anh hùng quân đội, anh hùng lao động…

Hết đợt này đến đợt khác, luôn luôn Việt Minh khuấy động tinh thần làm việc của người dân bằng ý thức thi đua. Sự khuấy động với phương pháp hết sức tinh vi, khoa học đã đem lại nhiều kết quả mà kết quả chính là lực lượng chiến đấu ngày một tăng, tinh thần chiến đấu ngày một vững.

Sau bức màn sắt, Việt Minh ‘’nhất mã nhất thương lăn lộn trong dân chúng, nhào nặn họ thành những tín đồ sùng đạo cộng sản’’ hơn cả những con chiên sùng đạo nhất trên hoàn cầu.

Thế giới đã từng thấy người lính Nga Sô chiến đấu dữ dội như thế nào để giữ Thành Stalingrad, thế giới đã từng thấy đệ tử của Mao Trạch Đông chiến đấu dữ dội như thế nào khi vượt Hoàng Hà Giang, người lính đỏ bắc Cao Ly chiến đấu dữ dội như thế nào để chống với lực lượng tối tân của Liên Hiệp Quốc thì ngày nay thế giới lại thấy tất cả những tính cuồng chiến ấy hiện ra trong bộ võ phục nhãn hiệu ‘’cờ đỏ, ao vàng’’ ở Việt Nam.

Gắn liền với công tác chính trị, phong trào thi đua của Việt Minh đã biến toàn thể dân chúng trong vùng họ kiểm soát thành một bức thành kháng chiến khổng lồ gây khó khăn vĩ đại cho toàn sức chiến đấu của Liên Quân Việt-Pháp. Đại Tá Némo, người chỉ huy cuộc hành binh ‘’Claude’’ ở vùng Duyên Hải Trung Châu Bắc Việt (8.1953 Tiên Lãng, Bắc Việt) đã phải tuyên bố: ‘’Chúng tôi đã trông thấy một em nhỏ chừng 14 tuổi chiến đấu như con sư tử non trong một trận giáp la-cà. Trong cuộc hành binh này, chúng tôi đã bắt được 123 trẻ nhỏ dự chiến như vậy’’.

Nhớn thi đau, bé cũng thi đua, Việt Minh thật là quá quắt khi đặt vấn đề khai thác cả tuổi thơ ngây dùng trong cuộc chiến tranh hung bạo.

Chủ trương chính trị đối với quốc tế của Việt Minh là liên kết với Liên Bang Sô Viết với Trung Hoa Đỏ, với các nước Dân Chủ Nhân Dân Đông Âu, với Bắc Cao Ly, liên kết chặt chẽ với các đảng cộng sản khắp thế giới, đặc biệt nhất với đảng cộng sản Pháp và các Xứ ở Bắc Phi Châu thuộc Liên Hiệp Pháp.

Việc giao thiệp với Nga Sô đặt dưới hai hình thức: Chính quyền và dân chúng.

Về chính quyền, Nguyễn lương Bằng một lãnh tụ của Việt Minh được cử làm Đại Sứ Việt Nam ở Mạc-tư-khoa. Nguyễn lương Bằng là một lãnh tụ cộng sản quan trọng, nổi tiếng với đức tính cần cù và tiết kiệm, đã từng giữ chức Giám Đốc Ngân Hàng Quốc Gia của chính phủ Việt Minh. Với tinh thần kỷ luật tuyệt đối, óc vị đảng thân Nga hoàn toàn chính phủ Việt Minh thật đã chọn đúng người với trách nhiệm Đại Sứ ở Nga.

Để nâng cao tình bang giao, để truyền bá tư tưởng thẳng vào dân chúng, Hội Việt-Sô Hữu Nghị thành lập do Tôn đức Thắng, chủ tịch ủy ban liên việt toàn quốc làm hội trưởng.

Nga Sô đã ủng hộ Việt Minh bằng cách dùng Đài TASS tuyên truyền các ‘’hành động anh hùng’’ trong quân đội họ Võ, trong liên đoàn lao động của Hoàng quốc Việt, dán nhãn hiệu anh hùng của thế giới hòa bình lên La văn Cầu, lên Ngô gia Khảm…Và đồng thời tranh đấu đòi cho đại biểu của chính phủ Hồ chí Minh được gia nhập Liên Hiệp Quốc.

Khác với giao thiệp Việt-Nga chỉ có tính cách một ‘’ngoại giao báo cáo’’, sự giao thiệp với Trung Cộng lại là một ‘’ngoại giao viện trợ’’ chính thống. Ngoài ông già Thy Sơn, một ủy viên trong ủy ban liên việt toàn quốc với chức hội trưởng Hội Việt-Hoa Hữu Nghị, Việt Minh cử ông Nguyễn văn Hoan làm Đại Sứ Bắc Kinh.

Sát với Trung Cộng, Việt Minh đã đon đả nhận viện trợ đủ các loại, từ tư tưởng đến phương pháp làm việc, từ tinh thần đến vật chất, cố vấn chuyên môn, võ khí, thuốc men, thóc gạo…

Bắt đầu từ trận Cao-Bắc-Lạng, cố vấn Trung Cộng đủ mọi ngành hoạt động ùn ùn kéo sang Việt Nam. Phòng giao tế trung ương được thành lập để tổ chức tiếp đón.

Phần lớn các cố vấn đều là cán bộ quân sự của Hồng Quân Trung Hoa. Họ sang đủ cả lễ bộ: Tướng, Tá, Úy cho đến cả mã phu, mỗi Tá, mỗi Tướng có đến bốn năm lính theo hầu, nào thông ngôn, nào bếp, nào giữ ngựa, nào kiêng võng, nào che lọng…Tuy họ đã rất giản dị, sự thật, giản dị hơn các Tướng Tá Quốc Dân Đảng Trung Hoa sang Bắc Việt hồi 1945 nhiều lắm, nhưng người ta vẫn phải buồn cười vì những hành lý ngộ nghĩnh của họ. Hãy ngắm một vị Tướng hoặc Tá trên đường sang Việt Nam: Một con ngựa của ‘’ngài’’ cưỡi, dưới yên, một tầm chăn bông mầu xám xù ra ôm cả lưng lẫn bụng ngựa, lẽo đẽo theo sau là anh mã phu vác lọng che nắng che mưa cho ‘’ngài’’, rồi đến ngựa của viên thông ngôn, rồi đến ngựa đồ đạc với đủ thứ: Chậu đồng rửa mặt vàng chóe, ô, dù lủng củng, va-ly, hòm xiểng chồng chất… những nồi niêu bát đĩa.

Từ khi có mặt các cố vấn Trung Cộng, phương pháp tổ chức và làm việc nói chung đều phải sửa đổi. Các ông cục trưởng đứng đầu một cơ quan trung ương đều mang một tên mới: Thủ Trưởng.

Một lớp ngoại ngữ được mở để các cơ quan phái nhân viên đi học cấp tốc về làm thông ngôn giữa Thủ Trưởng với Cố Vấn chuyên môn. Môn ngoại ngữ dĩ nhiên là tiếng Quan Hỏa gọi là tiếng Phổ Thông.

Ngoài vấn đề chiến lược nói chung do tham mưu hỗn hợp quy định, vấn đề chiến thuật và kỹ thuật cũng phải theo một hướng mới do tư tưởng mới quyết định: Tư tưởng vô sản.

Một tỷ dụ về kỹ thuật bắn đại bác.

Muốn công phá một đồn của Liên Quân Việt-Pháp các cán bộ trong một đơn vị pháo binh đã dùng lối ‘’bắn vòng’’ để câu trái pháo vào mục tiêu. Một cố vấn quân sự Trung Cộng không bằng lòng và phê bình pháo binh Việt Nam đầy óc tiểu tư sản. Theo Hồng Quân Trung Hoa phải thực hiện lối bắn của vô sản: Người vô sản phải đem đại bác sát mục tiêu, càng gần càng hay và nhắm mục tiêu qua nòng súng mà nhả đạn cho thẳng tắp. Lối bắn vòng phí đạn, ít kết quả, do tư tưởng muốn an sinh và nhát sợ của bọn tiểu tư sản phải loại bỏ.

Một võ khí sắc bén nữa đã theo các cố vấn Trung Cộng sang Việt Nam: Tinh thần phê bình và tự phê bình.

Nói đến chủ nghĩa Mác-Ăng-ghen là nói đến phê bình và tự phê bình rồi nhưng thực ra trong vùng Việt Minh, vấn đề ấy cũng mới chỉ bàn bạc trên lý thuyết mặc dầu tác giả quyển ‘’Sửa đổi lối làm việc’’ X.Y.Z (bí danh của cụ Hồ chí Minh) một cuốn sách gối đầu giường của tất cả các nhân viên và cán bộ quân, dân, chính, đã dạy: ‘’Một ngày không kiểm thảo, không tự phê bình cũng ví như một ngày không rửa mặt’’.

Phương pháp kiển thảo, tự phê bình được các cố vấn Trung Cộng truyền thụ một cách rất thực tế. Trong đơn vị quân sự, tự phê bình và phê bình lẫn lộn, quân phê bình quân, quân phê bình quan, thẳng cánh. Mỗi buổi chiều tối hoặc sau mỗi trận đánh, ngồi trên chiếu kiểm thảo, phê bình, mọi người đều bình đẳng, ai có lỗi tự kê khai để ‘’đoàn thể sửa chữa cho’’…Trong lớp học, học sinh phê bình nhau, thầy giáo phê bình học trò, học trò phê bình thầy giáo ‘’Chúng tôi phê bình Thầy trong giờ giảng Thầy dùng nhiều thời giờ để hút thuốc lào quá, việc đó có hại cho việc học hỏi của học sinh và không tiết kiệm thì giờ cho đoàn thể…Phê bình Thầy đến trễ năm phút…Phê bình Thầy giảng bài bằng một tinh thần ‘’tắc trách’’…

Dưới đây là một mẫu chuyện kiểm thảo phê bình giữa hai mã phu, một Việt Nam, một Trung Hoa để tượng trưng phương pháp phê bình mới nhập cảng:

Gần bản doanh quân sự có một chuồng ngựa. Chuồng ngựa được ngăn làm đôi từ khi vị cố vấn trung đoàn trưởng Trung Cộng được cử đến cộng tác với vị sĩ quan cao cấp Việt Minh phụ trách cơ quan đó. Sĩ quan Việt Minh có một con ngựa và một mã phu. Cố vấn Trung Cộng cũng có một con ngựa và một người mã phu đồng hương. Hai anh mã phu mỗi người phụ trách một con ngựa của ‘’quan’’ mình. Hàng ngày người ta nhận thấy kết quả hai công tác hơn kém nhau rõ rệt: Con ngựa của anh mã phu Trung Cộng mỗi ngày được tắm rửa hai lần, ngoài việc được nuôi dưỡng thật đúng phương pháp, còn có những bó cỏ non mướt rũ rửa sạch sẽ để dự trữ, xung quanh chuồng ngựa có xẻ rãnh để thông nước, không một mảnh rác rưới, không một bãi phân ngựa. Luôn luôn những gánh nước được gánh từ suối lên nào dội, nào cọ…Anh mã phu Trung Cộng đã đem toàn lực ra để ngựa của chủ anh được béo, được sạch, chuồng nuôi ngựa của anh sạch như ở nhà, luôn lau chùi quét dọn. Bên cạnh anh mã phu Việt Nam cũng có tắm cho ngựa, cũng có quét cọ, lau chùi chuồng ngựa nhưng vì kém tích cực, kém cố gắng nên nơi anh phụ trách vẫn rõ ràng là…một chuồng ngựa. Phân, nước tiểu, cỏ rác bừa bãi, bẩn thỉu. Riêng con ngựa của anh chăn nuôi cũng không mỡ màng bằng con ngựa Trung Hoa. Hơn nữa, anh mã phu Việt lại mắc thêm cái tật hay ngủ ngày trên đống da và tắm lâu trên giòng suối.

Tuy chiều nào cũng có ‘’Hội ý, hội báo’’ giữa hai anh mã phu Hoa-Việt nhưng vì mới gặp nhau nên chưa có những buổi gay gắt lắm. Một thời gian ngắn trôi qua, sau khi đã nhận đúng những khuyết điểm của ‘’đồng chí Việt Nam’’, sau khi có đủ chứng cớ về ngựa, về chuồng, về người, đồng chí Trung Cộng tấn công một buổi chiều sau giờ ‘’chính quyền’’:

– Mã phu Trung Cộng: ‘’Sau khi nhận thấy chuồng ngựa kém quét dọn, nhiều rác rưới, phân, nước tiểu bừa bãi, ngựa kém chăm nom, ít được tắm rửa, hôi hám, cỏ ngựa ăn không chịu rửa kỹ, thóc ngựa ăn vung vãi phí phạm…tôi phê bình đồng chí: Không chăm chỉ, làm việc tắc trách, cần phải sửa đổi lối làm việc’’.

– Mã phu Việt Nam (tự ái và bướng bỉnh): ‘’Đồng chí nhận xét sai, mỗi người một hoàn cảnh, ngựa của tôi phải dùng luôn, không thể mỗi lúc một mang ra tắm được. Tôi tự thấy đã làm đủ bổn phận rồi’’.

– Mã phu Trung Cộng (yên lặng nghĩ ngợi một lúc): ‘’Có lẽ tôi có khuyết điểm trong sự nhận xét công việc làm của đồng chí, tôi sẽ kiểm thảo lại vẫn đề đã nêu ra để chúng ta cùng rút kinh nghiệm’’.

Buổi kiểm thảo ngắt quãng để tiếp diễn chiều ngày hôm sau.

– Mã phu Trung Cộng: ‘’Tôi đã hết sức suy nghĩ và thấy rằng những điểm tôi đã nêu ra hôm qua là đúng. Đồng chí cần nhận để sửa đổi khuyết điểm đã mắc. Phải hiểu rằng đoàn thể đã trao cho chúng ta nhiệm vụ coi ngựa. Đó là con ngựa của đoàn thể, đó là tài sản của nhân dân. Ngựa khỏe mạnh và sạch sẽ, sẽ giúp đồng chí trung đoàn trưởng trong khi phục vụ nhân dân. Muốn ngựa khỏe cần phải luôn tắm rửa cho ngựa, cần phải xem xét cẩn thận thóc và cỏ cho ngựa ăn, cần phải…

– Mã phu Việt Nam: ‘’Tôi thấy đồng chí lý luận nhiều quá. Tôi đã hết sức chu đáo không để ngựa ốm, tôi đã tự xét và thấy không lầm lỗi, nhất định không lầm lỗi, chính đồng chí tỉ mỉ quá trong việc chăm nom không cần thiết lắm làm mất thì giờ học tập riêng của đồng chí’’.

Buổi kiểm thảo lại ngắt quãng vì sự ngoan cố của ‘’đồng chí Việt Nam’’ sau khi anh mã phu Trung Cộng vui vẻ nói:

‘’Chưa làm đồng chí nhận được khuyết điểm của mình tất nhiên là tôi còn khuyết điểm trong xự nhận xét hoặc giả tôi đã nhận xét sai lệch, hoặc giả tôi có thành kiến với đồng chí, tôi sẽ tự kiểm thảo và chúng ta sẽ thảo luận lại buổi mai.’’

Và chiều hôm sau…

– Mã phu Trung Cộng (với nét mặt nghiên nghị): ‘’Tôi đã tự kiểm thảo và vẫn thấy rằng những nhận xét của tôi rất đúng. Một đồng chí hay ngủ gật trong giờ chính quyền, đồng chí đã không tắm cho ngựa đều đều là hai. Ba, đồng chí không quét dọn chuồng ngựa luôn. Bốn, thóc ngựa ăn vung vãi, Năm, cỏ ngựa ăn không đủ. Tóm lại, đồng chí có khuyết điểm trong công tác của đoàn thể trao cho, tôi đề nghị đồng chí giác ngộ và phục thiện…’’

Cứ đều đều như thế mãi, hết chiều lại chiều, anh mã phu Trung Cộng cố sức nhẫn nại tìm cách phê bình bằng những chứng cớ cụ thể cho đến khi anh mã phu người Việt đành phải công nhận lỗi lầm để từ đó trở đi, phải thi đua trong công tác chăn ngựa, phải không được ngủ ngày và phải tham gia học hỏi tay đôi với anh bạn đồng chí ngoại quốc.

Lối học do Trung Cộng truyền sang thật lạ lùng biến con người một cách dễ dàng thành những con cừu ngoan ngoãn luôn luôn muốn chịu đựng và phục tùng.

Nếu hơn ngàn năm về trước người Trung Hoa đã dùng Khổng Giáo để tinh thần thắng người ở Việt Nam thì ngày nay, người Trung Hoa lại mang một võ khí tinh xảo hơn, sắc bén hơn khiến người dân Việt từ nhẹ dạ ương ngạch đến ngoan ngoãn, phục tùng.

Từ anh mã phu vô học đến nhà kỹ sư thông thái, từ anh học sinh Trung Học ngây thơ đến nhà giáo già dặn, tác phong giáo dục của cộng sản Trung Hoa đã vượt qua mọi trở lực san phẳng hình thức con người và đồng hóa một điểm quan hệ, tinh thần và tư tưởng.

Đi sâu vào phương pháp học tập của Trung Hoa đỏ, ta thấy người ‘’giáo sư chính trị’’ dùng lối ‘’tự tu’’ để dậy học trò.

Theo dõi một khóa trung cấp về cải tạo tư tưởng và chính trị học bên kia biên giới, ta thấy:

Một đợt thanh niên Việt Nam, đa số đã có bằng Trung Học Pháp cũ, bằng Trung Học Chuyên Khoa cả hai phần…tạm ngừng công tác, đeo hành lý ngược qua biên giới, tựu trường.

Buổi gặp mặt ‘’Thầy’’ đầu tiên, học trò được nghe một bài giản dị:

‘’Các đồng chí đi đường có được khỏe mạnh không ? Ở đây các đồng chí có thấy điều gì khuyết điểm không ? Các đồng chí tham dự khóa học này thật là một điều may mắn cho tôi, tôi sẽ được các đồng chí vạch rõ các khuyết điểm của tôi để tôi sửa chữa và tôi sẽ có dịp vạch rõ những bệnh về tư tưởng của các đồng chí v.v…’’

Lớp học mãn giờ với cái đà đại khái như vậy. Trong một thời gian hai tháng, học sinh được tự do sinh hoạt, tự do suy tưởng theo nội quy của nhà trường. Giáo sư thỉnh thoảng tạt qua thăm nhưng cũng chỉ để hỏi những câu thông thường: ‘’Các đồng chí có thấy dễ chịu không ? Có khỏe mạnh không ? Sự ăn uống có điều gì đáng phàn nàn không ? Vấn đề vệ sinh chung ra sao ?… Những lời nói của tôi nếu phải thì các đồng chí nghe, nếu không phải mong các đồng chí hãy giả lại tôi…’’.

Trong thời gian hai tháng đó, các vị giáo sư nhũn nhặn có mặt đã hoàn toàn lấy được cảm tình của học sinh, để rồi, một buổi mai, học trò mỗi người được lĩnh giấy bút làm bản ‘’Tự Vãn’’ thuận lại đời mình bằng một lối văn thật tỉ mỉ, thật soi mói, tự nghiên cứu, tự tra vấn tội trạng mình, tự bắt mạch căn bệnh tư tưởng, tự tra vấn tội trạng mình, tự định mức độ tinh thần mình, tự phân loại những ‘’vết thương’’, những bệnh trạng của mình và tự đề ra những phương pháp sửa chữa.

Tiếp vào vấn đề kiểm thảo tư tưởng, các học sinh được học hỏi và nghiên cứu duy vật biện chứng pháp, quan niệm tân dân chủ, lịch sử đảng cộng sản Liên Sô, tình hình thế giới, chiến cuộc Cao Ly, vấn đề Đức, tính chất cuộc chiến tranh ở Việt Nam v.v…

Chương trình học đã làm cả tinh thần lẫn thể xác của học sinh mệt mỏi rã rời. Rồi đến lượt vị giáo sư Trung Cộng sẽ thân chinh hướng dẫn trong cuộc nhận định căn nguyên cội rễ căn bệnh của ‘’học trò’’ và ‘’bốc thuốc’’…

‘’Phải học tập, học luôn, học mãi, không ngừng, vì ngừng một phút ta sẽ thua địch một phút’’. Đấy là lời của tổng tư lệnh Võ nguyên Giáp tuyên bố với toàn thể các cán bộ quân sự trong một buổi họp hoan nghênh sự thắng lợi của Hồng Quân Trung Hoa.

Học chuyên môn và học cải tạo tư tưởng. Cải tạo tư tưởng là vô sản hóa con người là bỏ hết những tính tình cũ là…lột xác.

Phương pháp học tập kiểu Trung Cộng kể trên đã khiến một số học sinh khi về nước sụt đi hàng dăm bảy cân mặc dầu họ được ăn uống sung sướng trong khóa học. Ngoài việc sụt cân còn có học sinh đâm ra ngớ ngẩn hoặc mắc bệnh ‘’lệch lạc giây thần kinh’’ vì đã phải dùng tới trí óc nhiều quá. Sau khóa học, thường thường họ được nghỉ công tác hàng 5, 6 tháng liền để thuốc thang và tĩnh dưỡng tinh thần. Cần phải nói là trước khi đi học họ phần đông đều thuộc loại thanh niên khỏe mạnh dư lực.

Dưới lối nhìn một chiều và máy móc, người ta chỉ thấy Trung Cộng viện trợ cho Việt Minh hoặc bột mì, hoặc dầu xăng hoặc súng đạn…Sự thực, những thứ viện trợ ấy đều không đáng kể, chẳng khác gì những đồ viện trợ của Hoa Kỳ đã gửi cho Tưởng Thống Chế, có khi còn kém cả về phẩm lẫn lượng. Võ khí ghê gớm nhất mà ‘’Bác Mao’’ đã gửi giúp ‘’Bác Hồ’’ là những ‘’đại bác’’ cải tạo tư tưởng, cải tạo tận gốc, cải tạo thực sự, những phương pháp tranh đấu bản thân thực cạn tầu ráo máng…

Người ta còn nhớ khi Hồng Quân Trung Hoa đánh Nam tiến như vũ bão, không một trở lực, gạt băng tất cả các chướng ngại vật trên đường, bỗng nhiên dừng hẳn lại bên bờ sông Hoàng Hà…không phải vì hết lương thực, không phải vì thiếu chuẩn bị súng ống đạn dược, không phải thiếu phương diện quá giang…mà chỉ dừng lại để ‘’phản tỉnh’’ để tự tra, tự cứu!

Qua trận Hoàng Hà, người ta lại một lần nữa thấy kết quả phương pháp giáo dục ấy ở trận Hòa Bình năm 1952 và còn có thể có những lần nữa trên khắp lãnh thổ Bán Đảo Đông Dương.

Nếu như ngoại giao Việt-Sô có một tính chất chư hầu báo cáo và liên hệ ngoại giao Việt-Hoa có tính chất viện trợ lĩnh giáo, thì liên hệ ngoại giao Việt Hàn có một tính chất ủng hộ và rút kinh nghiệm chiến đấu. Ủng hộ và rút kinh nghiệm. Việt Minh cử Trung Tướng Nguyễn Sơn, người đã từng chỉ huy sư đoàn thiết giáp trong dã chiến quân Trung Cộng, nguyên khu trưởng Liên Khu 4 (Trung Việt) sang chiến đấu cùng với cộng sản Bắc Cao Ly. Việt Minh và Bắc Cao Ly cùng thi đua trong công tác ‘’trừ ngoại xâm’’. Giữa mỗi phần của hai dân tộc Việt-Hàn có những cuộc trao đổi cán bộ rút kinh nghiệm. Những ‘’anh hùng’’ của Việt Minh đều được nêu danh tại Bắc Cao Ly để làm gương mẫu và ngược lại cũng thế.

Tính chất ngoại giao ấy tố cáo rõ rệt sự thuần nhất về tư tưởng và chiến lược của phe cộng sản trong 2 trận chiến tranh nóng Á Đông.

Liên hệ ngoại giao giữa chính phủ Quốc Gia Việt Nam với chính phủ Lý Thừa Vãn nhạt nhẽo bao nhiêu thì trái lại sự ràng buộc giữa Việt Minh và Kinh Nhật Thành chặt chẽ bấy nhiêu. Để tuyên truyền cho Bắc Cao Ly, Việt Minh đã dùng danh từ bù nhìn, tay sai của đế quốc để chỉ Tổng Thống Lý Thừa Vãn và gọi Kim Nhật Thành là vị ‘’Chủ tịch thân mến của dân tộc Hàn’’. Việt Minh lên tiếng tố cáo Mỹ đã thả bom vi trùng ở Cao Ly do viện khảo cứu vi trùng học ở Moukden phóng đại, để gây công phẫm trong dân chúng thêm khinh ghét Hoa Kỳ. Nhưng việc đó đã chứng tỏ sự đồng tâm nhất trí của Việt Minh và Bắc Cao Ly. Nếu một ngày mai có bóng người lính Mỹ trên đất Việt, chắc chắn Việt Minh sẽ quay thẳng mũi dùi chiến tranh vào Hoa Kỳ mà hất Liên Quân Việt-Pháp xuống mục tiêu ngoại phụ.

Sợi giây chằng ngoại giao của Việt Minh vươn sang tận các nước Đông Âu và Đông Đức, tuy nhiên chưa được chặt chẽ lắm ngoài việc, trao trả các quốc gia ở Đông Âu những tù binh người Hung, Lỗ, Tiệp…bắt được trong hàng ngũ Liên Hiệp Pháp, trao đổi các tin tức về những kế hoạch kinh tế thực hiện dưới chính thể tân dân chủ hoặc phái du học sinh Việt Nam theo học các trường chuyên môn tại Prague, Bucarest hay Varsovie. Việt Minh đã có lần được Tiệp Khắc ủng hộ giầy, vải đủ trang bị cho hai sư đoàn.

‘’Phong trào hòa bình thế giới’’ do Điện Kremlin nêu lên tất nhiên được các đồng chí Việt Nam nhiệt liệt hưởng ứng. Một phái đoàn đi dự hội nghị Berlin có: Nguyễn đình Thi, Hoài Thanh, Lưu hữu Phước…với một số thiếu nhi. Trong đó còn có cả La văn Cầu ‘’đồng chí chiến sĩ cụt tay’’ trong chiến trường Cao-Bắc-Lạng mùa Thu năm 1950.

Cầm đầu ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới ở Việt Nam là Bác Sĩ Lê đình Thám. Họ Lê đã làm một việc khá lớn là gây phong trào lấy chữ ký ở Việt Nam để yêu cầu 5 cường quốc Anh-Mỹ-Pháp-Nga-Trung Hoa lập công ước hòa bình. Mỗi đơn vị quân sự dù tĩnh hay dù động cũng phải có một ban đi lấy chữ ký từng người. Mỗi cơ quan chính quyền hay đoàn thể đều phải thành lập một ban. Mỗi địa phương kháng chiến kể cả vùng tề và ngay trong các đô thị do quốc gia kiển soát Việt Minh cũng cố gắng len lõi vào lấy chữ ký.

Ngoài việc công khai giao thiệp với các nước trong thế giới công sản, Việt Minh tăng cường liên lạc với các đảng cộng sản thuộc Liên Hiệp Pháp. Nhìn qua những việc xảy ra, ta cũng thấy hoạt động của Việt Minh rất có kết quả. Trước hết là đảng cộng sản Pháp hoặc do đường Đông Âu liên lạc, hoặc do các tù binh được phóng thích, nhất là sau cuộc thăm viếng của Léo Figuiéres, phó chủ tịch liên đoàn thanh niên thế giới kiêm chủ tịch liên đoàn thanh niên Pháp, Pháp cộng và việt cộng đã tăng cường giây liên lạc. Vụ anh chàng lính thủy Martin không chịu chở binh lính sang Trung Ấn, vụ một phụ nữ Pháp chị Raymondien, 19 tuổi nằm ngang trên đường sắt chắn đoàn xe lửa chở lính sang Đông Dương, phong trào các bà mẹ Pháp đòi con, phong trào đình công, những vụ phá hoại đầu máy xe lửa và quân nhu võ khí gửi sang Đông Dương…tất cả đã do bàn tay của những người cộng sản Pháp, do sự thâm thụt của những người cộng sản Việt Nam lén lút sang Pháp. Đối lại sự tăng cường chiến đấu của việt cộng nhằm thêm mục đích: Ngăn cản công cuộc thành lập quân đội Pháp theo Minh Ước Đại Tây Dương.

Việc phóng thích các tù binh người da đen cũng nằm trong chương trình liên lạc của Việt Minh với các đảng cộng sản Bắc Phi. Công tác huấn luyện và nhồi sọ các tù binh người Bắc Phi được đặc biệt nghiên cứu. Những nhạc điệu mới được phổ biến tuyên truyền mục đích làm cho sợi giây liên lạc giữa ‘’da đen’’ và ‘’da vàng’’ được chặt chẽ (Bài hát của người da đen).

Một cơ ngũ Bắc Phi được thành lập toàn người da đen. Người lính ‘’Việt Minh da đen’’ trong đơn vị ‘’Bắc Phi độc lập’’ cũng có mẹ nuôi, chị nuôi và khi cũng thành lập gia đình cẩn thận.

Đảng cộng sản Đông Dương là đảng cộng sản mạnh nhất trong toàn khu vực Đông Nam Á. Không những vì lý do có một lãnh tụ hạng quốc tế như cụ Nguyễn ái Quốc (Hồ chí Minh) chỉ đạo mà còn vì cả bộ tham mưu của đảng còn gồm một số người thông minh nhất, hoạt động nhất có người đã từng được xếp ưu hạng trong các trường đào tạo cán bộ chính trị ở Mạc-tư-khoa.

Phong trào cách mệnh hỗn loạn vùng Đông Nam Á cũng do Việt Minh trực tiếp châm ngòi lửa. Sau việc thất bại của lãnh tụ Việt Minh Đào duy Kỳ tại Thái Lan năm 1947, lãnh tụ Trần Văn Giầu đích thân sang Thái hoạt động, đào tạo cán bộ địa phương, tuyên truyền Việt kiều hải ngoại và liên lạc với cộng sản Mã Lai. Ở Miến Điện, Bác Sĩ Luân cũng liên lạc với cộng sản địa phương. Riêng đối với hai quốc gia Cao Miên, Ai Lao, Việt Minh đặt liên hệ mạnh bạo hơn cả.

Từ hình thái chiến đấu lẻ loi của những toán quân Issarak hay Sơn ngọc Thành, năm 1946, Việt Minh tiến tới thành lập khối Liên Minh Việt-Mên-Lào năm 1952.

Trong kỳ họp đại hội thống nhất ủy ban liên việt và mặt trận Việt Minh đã có mặt cả đại biểu Lào, Cao Mên và các đại biểu dân tộc thiểu số.

Khối Liên Minh Việt-Mên-Lào có 3 ủy viên lãnh đạo. Ủy viên thứ nhất là Tôn đức Thắng, đại diện Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ủy viên thứ hai là Siêu Heng, một ủy viên của ủy ban giải phóng trung ương dân tộc Cao Mên mới (Khmer Issarak) và ủy viên thứ ba là Souphanuvong đương kim chủ tịch mặt trận giải phóng Lào (Neo-Lào Issarak) của nước Lào mới (Pa-thet Lào).

Tất cả đường lối chiến lược, chiến thuật đều do Việt Minh chỉ đạo. Từ 1949, các cán bộ quân sự, chính trị Việt Minh đã bí mật sang đất Lào và Mên không ngớt với mục đích gây cho dân tộc hai nước đó những ổ kháng chiến, chuẩn bị chiến trường và ta đã thấy trận đánh Ai Lao của Việt Minh năm 1953 đã làm chấn động dư luận đến mức nào. Đó là kết quả đầu tiên do mọi sự chuẩn bị của Việt Minh từ năm 1949.

Một ngày kia, nếu cơ hội thuận tiện cho Việt Minh, nếu tình hình thế giới có lợi cho hoạt động của Việt Minh tại vùng Đông Nam Á, người ta có thể thấy một Liên Bang Trung Ấn xuất hiện, gồm các xứ ‘’Cộng Hòa Nhân Dân Việt Nam’’. ‘’Cộng Hòa Nhân Dân Lào và Cộng Hòa Nhân Dân Mên’’ dưới một chính thể ‘’tân dân chủ’’, dưới một đảng lao động liên bang…

Gần đây đài Bắc Kinh tuyên bố một chính phủ Thái được thành lập ở Vân Nam cho tất cả những người Thái vùng Đông Nam Á…Người dân Thái sống ở Miến Điện, ở biên giới Bắc Việt, ở Ai Lao, ở Thái Lan…rồi đây, sự hoạt động của chính phủ ấy thế nào, kết quả ra sao ? Nếu cộng sản thắng lợi, bản đồ vùng Đông Nam Á lại một phen sửa đổi. Tất cả các dự định của cộng sản nói chung, lúc tiềm tàng, lúc đột biến khó ai có thể đoán trước được.

Từ việc lãnh tụ Malenkov kế chân vị ‘’Đại Nguyễn Soái Staline’’ đến việc xâm lăng Lào của quân đội Võ nguyên Giáp, mọi sự kiện trên thế giới do bàn tay cộng sản địa phương chủ động đều nằm trong kế hoạch chung, đường lối chung phát ra tự các ông trùm cộng sản thế giới. Dưới mắt thế giới tự do những sự kiện ấy đôi khi là lạ lùng và nếu cứ quan tâm đến tất cả mọi sự kiện đó thì thế giới tự do chỉ còn một việc hoặc thụ động hoặc theo đuổi đối phó với những việc đã rồi.

Từ 1946 đến 1953, mặc dầu qua các giai đoạn hung bạo đôi khi tàn ác, vùng Việt Minh vẫn không bị nạn đói đe dọa, không bị các bệnh thời khí hoành hành. Những lãnh tụ Việt Minh tuy đã áp dụng lắm phương pháp vượt khỏi khuôn khổ của tình cảm con người nhưng chính bản thân họ đã tỏ ra hy sinh triệt để, đã phô bày đủ các đức tính cần cù, tiết kiệm, thanh liêm, sự khổ hạnh trong lối sinh hoạt của họ cộng vào quá trình tranh đấu xưa đến nay dưới mắt người dân đã là một đặc điểm để thu hút và cảm hóa lòng người.

Nhờ có dân, Việt Minh mới mạnh. Dân đóng góp thóc lúa cho Việt Minh, dân giữ bí mật cho Việt Minh hoạt động, dân khuân vác, vận tải, dân đưa đường chỉ lối, dân dấu diếm cán bộ cán bộ, dân sửa đường khơi ngòi đắp đê…dân đã làm đủ cả cho Việt Minh. Đấy là nguyên tắc căn bản mà các lãnh tụ cộng sản đã nắm rất chắc rất vững vàng.

Nếu Staline đã tự nhận là ‘’cha già của các dân tộc’’ thì Staline cũng thường nhận rằng mình là con đẻ của các dân tộc. Nếu Mao Trạch Đông lặp đi lặp lại ở Bắc Kinh rằng họ Mao là con của dân chúng thì lãnh tụ Hồ chí Minh cũng thường nói mình do dân chúng đẻ ra. Làm cha mà lại làm con, làm con mà lại thành làm cha, ý tưởng xem ra rắc rối ấy thực đã là một yếu tố tối quan trọng trong vấn đề ‘’thống trị’’ của các chính phủ cộng sản.

Việt Minh đã nhào nặn được dân chúng vùng họ kiểm soát, điều đó không thể chối cãi được. Nhiệm vụ của những người quốc gia, những người lấy tự do cá nhân làm trọng là phải đem kinh nghiệm bản thân, kinh nghiệm đau đớn khi bị Việt Minh áp bức, kinh nghiệm trong quá trình tranh đấu của mình để dìu dắt và phổ biến trong dân chúng, một dân tộc nghèo nàn, kém đọc kém viết, chất phác như dân tộc Việt Nam hiện nay, một dân tộc mới vùng ra khỏi vòng nô lệ.

Có lôi được dân chúng khỏi tay mấy lãnh tụ cộng sản mới thắng được cộng sản, vì đấu tranh với Việt Minh không phải là chỉ riêng trừ khử nhóm lãnh tụ tay sai của Nga-Trung mà lại chạm cả vào khối người đã từng ngụp lặn trong lý thuyết cuồng tín ngoại lai ngót chục năm ròng.

Công việc vĩ đại ấy đòi hỏi ở những người quốc gia một cố gắng phi thường, một bình tĩnh tuyệt đối và một hy sinh vô bờ bến. Nhưng người Quốc Gia Việt Nam chiến đấu không lẻ loi, luôn được thế giới tự do giúp đỡ, ủng hộ, nhất là Pháp và Hoa Kỳ, đó là một điềm tin tưởng độc nhất dẫn đến thành công.

CHÍNH PHỦ NGUYỄN VĂN TÂM

Chính phủ Trần Văn Hữu đã xong nhiệm kỳ lịch sử.

Thủ Tướng Trần Văn Hữu đã nhường ghế cho ông Nguyễn Văn Tâm.

Từ chính phủ Trung Ương Lâm Thời Nguyễn Văn Xuân đến Nội Các Trần Văn Hữu, Việt Nam Quốc Gia mới chỉ tiến bộ nhiều trên mặt thể thức. Đến nay cần phải có một chính phủ cương quyết hoạt động để mạnh tiến trên thực trạng.

Nhìn đúng nhịp đi của Quốc Gia Việt Nam, theo sát nhu cầu của tình thế, Quốc Trưởng Bảo Đại đã rất khôn khéo trong việc lựa chọn vị Nguyên Thủ mới. Quốc Trưởng đã chỉ định vị nguyên Tổng Trưởng Thủ Hiến Nguyễn Văn Tâm, người từng được mang danh là ‘’Cọp Cai Lậy’’.

Giữ trọng trách điều khiển vận mệnh nước nhà, Tân Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm đã đem ngay đến một nguồn sinh lực mới, một niềm tin tưởng mới cho đám dân chúng đang e dè, bỡ ngỡ trước hai đường: Cộng sản, quốc gia. Cho đến tận tháng 6.1952, hoạt động của Việt Minh vẫn còn reo rắc ý tưởng sô sệt trong dân chúng. Nào Cao-Bắc-Lạng, nào Hòa Bình, nào chính phủ Việt Minh, Nga Sô, một cường quốc ghê gớm và đáng sợ. Trong khu quốc gia còn phản phất không khí ám sát, khủng bố. Tất cả những sự lung lay và giao động đã không giúp sức mảy may cho lý tưởng quốc gia, trái lại còn làm lỏng lẻo Khối Quốc Gia Dân Chủ ở Việt Nam.

Nhìn rõ được tâm trạng của dân chúng, Tân Thủ Tướng đã ném luôn một trái bom vĩ đại, một lời nói bất hũ: Tôi đánh giặc.

Khẩu hiệu: ‘’Tôi đánh giặc’’ đã vạch rõ thái độ cương quyết của chính phủ Nguyễn Văn Tâm.

Muốn hưởng chế độ tự do dân chủ phải triệt để ủng hộ chính phủ quốc gia, phải theo chính phủ để cùng gọi đối phương là giặc, và phải đánh giặc. Lừng khừng là chết. Khẩu hiệu của vị Thủ Tướng chính phủ đã làm trỗi dậy hàng vạn con dân trên đường chống cộng.

Khẩu hiệu mạnh và ngắn của Tân Thủ Tướng đã tỏ rõ lập trường của chính phủ Liên Hiệp Quốc Gia, đã làm người Pháp phải nhìn Quốc Gia Việt Nam bằng cái nhìn mới mẻ, đồng thời Hoa Kỳ, cường quốc dân chủ bậc nhất cũng bắt đầu chú trọng nhiều hơn đến Quốc Gia Việt Nam dưới sự dìu dắt của Quốc Trưởng Bảo Đại và Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm.

Trong khi khẩu hiệu ‘’Tôi đánh giặc’’ ảnh hưởng có lợi rõ rệt đến thái độ của các cường quốc dân chủ Tây phương đối với Quốc Gia Việt Nam thì những ‘’cố gắng vượt bực’’ của Việt Minh vẫn chưa đem lại được tín nghiệm của Kremlin.

Cuối năm 1949, sau những cố gắng phi thường của toàn thể cán bộ Việt Minh trong 4 năm chiến tranh ròng dã, một lãnh tụ Việt Minh đã phải thốt ra câu: ‘’Thế giới chưa tin chúng ta (thế giới cộng sản) nhưng chúng ta cứ làm rồi họ sẽ phải biết đến’’.

Hội nghị đệ tam quốc tế (Kominform) họp tại Mạc-tư-khoa lần chót đã phê bình các lãnh tụ cộng sản Việt Nam: Ngoài ưu điểm về quân sự, chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa đã có nhiều khuyết điểm lớn về ngoại giao và kinh tài. Khuyết điểm thứ nhất là sự hoạt động của chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa chưa đem lại hoàn toàn tín nhiệm đối với các nước dân chủ (cộng sản) trong khi đối thủ (phe quốc gia) đã tiến bước mạnh hơn đối với thế giới tư bản. Lời nhận xét trên tố cáo tư tưởng lừng khừng của những người cộng sản Việt Nam, thái độ có vẻ nước đôi giữa hai trái cân Nga-Mỹ. Khuyết điểm thứ hai là chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa để cho dân chúng càng ngày càng lâm vào cảnh đói khổ. Lời nhận xét này tố cáo rõ ràng sự bất lực của Việt Minh trong vòng vây của Liên Quân Việt-Pháp. Đúng như vậy, trước chiến dịch Cao-Bắc-Lạng, chính phủ Việt Minh như ở trong một cái túi: Mặt bể bị hạm đội Pháp bao vây, suốt dọc biên giới giáp Trung Hoa, quân đội Việt-Pháp chặn đóng trên Quốc Lộ số 4, miền Đồng Bằng quân đội Việt-Pháp cũng chiếm đóng và tảo thanh liên miên, mặt Tây-Bắc đồn binh Pháp rải rác theo dọc sông Đà và trên đường số 6. Việt Minh chỉ còn vỏn vẹn có khu rừng già nối liền Bắc Thái Nguyên, miền Nam Bắc Kạn và miền Đông Tuyên Quang để tập trung cơ quan chỉ đạo, đầu não của Việt Minh toàn quốc.

Từ 1950 trở đi, sau khi nhận lời phê bình cay chua gay gắt của Kremlin, các lãnh tụ Việt Minh mới tập trung tư tưởng về vấn đề cải tổ bộ máy chiến tranh cả về vật chất lẫn tinh thần. Và cũng từ năm ấy, người ta mới bắt đầu nghe thấy những lời hô ‘’Đồng chí Nguyễn ái Quốc muôn năm’’ vẳng lên trong rừng xanh núi đỏ. Việt Minh đã dứt khoát được thái độ của mình.

Trong ba ngày, Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm đã lập xong danh sách các vị Tổng Trưởng, Bộ Trưởng đệ lên Quốc Trưởng duyệt y.

Chính phủ Nguyễn Văn Tâm đã tập hợp được các phần tử yêu nước, đảng phái và không đảng phái, những người quốc gia thuần túy của dân tộc Việt Nam.

Danh sách các vị Nội Các gồm có:

  • Thủ Tướng kiêm Nội Vụ: Nguyễn Văn Tâm.
  • Pháo Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Bộ Cựu Chiến Binh: Ngô Thúc Định.
  • Phó Thủ Tưởng kiêm Tổng Trưởng Thông Tin: Phan Văn Giáo.
  • Tổng Trưởng Bộ Ngoại Giao: Trương Vĩnh Tống.
  • Tổng Trưởng Bộ Canh Nông: Cung Đình Quý.
  • Tổng Trưởng Bộ Quốc Phòng: Nghiêm Văn Tri.
  • Tổng Trưởng Bộ Tư Pháp: Lê Tấn Nẩm.
  • Tổng Trưởng Bộ Giao Thông Công Chính: Lê Quang Huy.
  • Tổng Trưởng Bộ Tài Chính: Nguyễn Huy Lai.
  • Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục: Nguyễn Thành Giung.
  • Tổng Trưởng Bộ Y Tế: Lê Văn Hoạch.
  • Tổng Trưởng Bộ Xã Hội Lao Động: Lê Thăng.
  • Bộ Trưởng Bộ Thanh Niên Thể Thao: Vũ Hồng Khanh.
  • Bộ Trưởng Bộ Nghiên Cứu Cải Cách: Trần Văn Quế.
  • Bộ Trưởng Bộ Chiêu An Bình Định: Hoàng Nam Hùng.

Bắt tay vào công việc, Thủ Tướng đã trình bầy rất minh bạch những nét lớn trong chương trình xây dựng:

1.- Mối lo đầu tiên của chúng tôi là phát triển Quân Đội Quốc Gia, vì tương lai chúng ta, nằm trong tay quân đội.

Chúng tôi muốn dự một phần mới vào cuộc chiến tranh, nhận cho mình nhiều vùng chiến đấu mới. Thế nên chúng tôi đào luyện gấp các cán bộ nhất là các cán bộ cao cấp và các viên chuyên môn và cũng tăng gia sự tuyển chọn các viên chuyên môn trong các địa hạt khác. Vì hiện nay trong một xứ chiến tranh, không phải chỉ động viên quân đội, mà phải động viên toàn quốc.

Sự động viên ấy chúng tôi muốn nó sẽ là sự động viên của tấm lòng và ý chí. Bởi vì chính phủ phải phụng sự quốc gia, bởi vì cuộc chiến tranh hôm nay đã thành một cuộc chiến tranh của toàn quốc, bởi vì sự bình định chỉ phải là công cuộc của toàn dân. Chính phủ tôi sẽ kết hợp toàn xứ vào mọi cố gắng của mình. Nó sẽ kiếm và sẽ tìm ra hai nguồn hứng của nó trong tinh thần quốc gia đầy can đảm và lý trí, của dũng cảm, của lòng tin tưởng và chí hy sinh của toàn dân Việt Nam.

2.- Một Hội Đồng tuyển cử sẽ giúp dân tộc chúng ta có thể phát biểu được những nguyện vọng thiết tha của họ, từ những nơi đồng quê hẻo lánh, cho họ có thể hướng đạo và kiểm soát hành động của chúng ta là công cuộc của dân. Sự triệu tập một quốc hội lúc chiến tranh trong tình trạng bất an sẽ tỏ cho kẻ trung lập và cho đồng bào đang bị đè nặng dưới sự độc tài cộng sản, dầu là chế độ nhân dân chân chính.

Một Hội Đồng Quốc Gia Lâm Thời, đại diện tất cả địa phương và nghề nghiệp sẽ tổ chức một ngày gần đây, nó sẽ tiêu biểu ý chí thực hiện sự đại diện quốc gia của chúng ta cho đến ngày triệu tập quốc hội.

3.- Chúng tôi sẽ ưu đãi sự tổ chức nghiệp đoàn để giúp dân lao động ở thị thành có được phương thế binh vực quyền lợi và nâng cao mức sống của mình. Nhưng chúng tôi sẽ không quên rằng chỉ có thể thi hành một cuộc phân phát của cải lương thực là khi nào trong nước sức sản xuất được bành trướng và khối tài sản quốc gia được dồi dào, nhờ bởi sự đoàn kết của tất cả mọi người

4.- Chúng tôi sẽ cải cách chế độ điền địa để nâng cao sinh hoạt của nông dân, nhưng chúng tôi sẽ kính trọng quyền lợi hiện hữu của các điền chủ.

5.- Về phương diện cải cách cuộc cai trị, chúng tôi sẽ gắt gao như thế. Sự ban hành một quy chế công vụ sẽ đem lại cho giới công chức một bảo đảm chắc chắn, nhân đó, chính phủ sau khi đã chu đáo đến đời sống của họ, sẽ bắt buộc họ làm việc cho có hiệu quả, với một sự ngay thẳng tuyệt đối và phải có sáng kiến để đi đến chỗ thành công. Một chính phủ am hiểu trách nhiệm và nghĩa vụ của mình phải có một chính sách cai trị nới rộng quyền hành đối với các cơ quan hành chính địa phương. Như thế các cơ quan địa phương không còn lấy cớ không nhận được chỉ thị của thượng cấp hay là thiếu phương tiện hành động, để che chở cho những sự lỗi lầm của mình. Quan lại sẽ được đánh giá theo giá trị của việc làm của họ, họ sẽ được binh vực trong phạm vi thi hành chức vụ của họ cũng sẽ bị trừng phạt gắt gao về sự bất lực hay trốn tránh phận sự của họ.

Chính phủ Liên Hiệp Nguyễn Văn Tâm là một chính phủ hoạt động. Thủ Tướng chính phủ Liên Hiệp đã nói:

‘’…Dự một phần mới vào cuộc chiến tranh và nhận cho mình nhiều vùng chiến đấu mới…’’ Dự một phần mới vào cuộc chiến tranh và nhận cho mình nhiều vùng chiến đấu mới có nghĩa là Quốc Gia Việt Nam sẽ tỏ cho thế giới dân chủ biết lòng đứng đắn cùng tư tưởng chính đáng của mình: Dân tộc Việt Nam sẽ thẳng thắn tự nhận lấy phần trách nhiệm chính trong công cuộc tranh đấu bảo tồn lãnh thổ. Đấy là một lời nói chắc và mạnh. Lời nói ấy sẽ phá tan những thành kiến sai lầm của một số người trong nước cũng như ngoài nước vẫn thường không tin ở khả năng chiến đấu của các chiến sĩ quốc gia.

Muốn nhận phần thưởng xứng đáng: Độc Lập, Việt Nam không thể mãi mãi nhờ cậy các nước bạn mà cần phải phát triển bản thân lực lượng.

Bản thân lực lượng là một quân đội khỏe, một nền hành chính lành mạnh trong một đường lối dân chủ thực sự, bảo vệ tự do và quyền lợi cá nhân, tôn trọng nhân phẩm con người.

Trước kia Quân Đội Quốc Gia Việt Nam chỉ làm một nhiệm vụ nhũn nhặn là chiến đấu phụ vào quân đội Liên Hiệp Pháp.

Từ khi ông Nguyễn Văn Tâm lên ghế Thủ Tướng, Quân Đội Quốc Gia dần dần thay đổi hẳn bộ mặt.

Nếu các lãnh tụ Việt Minh thẳng bước đến cộng sản hóa dân tộc Việt Nam bằng cách coi việc chỉnh đảng và cải tạo tư tưởng là công tác căn bản tối quan trọng của họ thì trái lại, phe quốc gia cần phải đặt công tác quân sự lên hàng đầu trong công cuộc xây dựng nền độc lập Tổ Quốc. Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm nhấn mạnh rằng: ‘’Tương lai chúng ta nằm trong tay quân đội’’. Câu nói ấy có giá trị vô cùng trong thời gian và trong hoàn cảnh. Quân Đội ‘’mối lo đầu tiên’’ không những của Thủ Tướng Tâm mà cũng là của tất cả mọi người theo lý tưởng quốc gia trong thời đại. Muốn thắng cộng sản, muốn lý tưởng quốc gia tồn tại, phải mạnh. Khối cộng đồng phòng thủ Tây Âu, việc tái võ trang Tây Đức, tái võ trang Nhật Bản hay phát triển Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, tất cả những công cuộc ấy đều nằm trong một quan niệm: Khỏe để đánh bại cộng sản. Không khỏe sẽ mất hết tự do và dân chủ.

Ngày Việt Minh cướp chính quyền (1945) lực lượng thuần túy quốc gia trên toàn lãnh thổ Việt Nam chỉ có hai tổ chức đáng kể: Tổ chức quân sự của Việt Nam Quốc Dân Đảng ở khu chiến Vĩnh Yên, Yên Bái và nhóm quân sự của Giáo Đạo Bùi Chu, Phát Diệm. Quân đội của Việt Nam Quốc Dân Đảng ra mặt chống Việt Minh để mong cứu vãn tình thế, duy trì một nền chính trị tự do dân chủ còn các chiến sĩ Công Giáo chỉ cầm súng để tự vệ, chỉ chống lại đối phương khi họ uy hiếp trực tiếp đến vùng tôn giáo của mình. Ngoài ra còn một số lác đác và ít ỏi những nhóm người cũng cầm súng chống Việt Minh đóng rải rác ở vùng Tiên Yên, Đầm Hà miền Duyên Hải Bắc Việt hoặc ở miền rừng núi Tây Bắc Việt v.v…Họ chạm súng với Việt Minh nhưng không có một quan niệm rõ rệt trong sự chiến đấu. Quan niệm của những nhóm lẻ tẻ ấy hoàn toàn có tính chất địa phương và cá nhân riêng biệt.

Sau ngày khói lửa bùng lan trên khắp giải đất Việt Nam (19.12.1946), mỗi địa phương Trung, Nam, Bắc dần dần thành tựu và kết hợp những tổ chức quân sự nhưng vẫn mang nhiều tính chất tự vệ hơn là chủ động xông pha tiền tuyến tìm diệt đối phương.

Trong thời gian Quốc Trưởng còn ở nơi Hải Ngoại, cho đến tận thời gian thành lập Nội Các Trần Văn Hữu, những tổ chức quân sự địa phương mọc lên nhan nhản.

Nhờ ở sức mạnh quân đội Pháp trực tiếp đương đầu với lực lượng đối phương, các bộ đội quốc gia có tính chất địa phương tự chau dồi tổ chức và tiến bộ. Từ hành động thiết lập một đại đội chính quy thời chính phủ Trung Ương Lâm Thời Nguyễn Văn Xuân đến sự động viên hàng năm sáu vạn người để xúc tiến việc xây dựng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam dưới Nội Các Trần Văn Hữu, Quân Đội Việt Nam mới chỉ đáng gọi là tượng trưng hình bóng mặc dầu đã có rất nhiều cuộc chạm súng ở tiền tuyến với các lực lượng quân sự Việt Minh. Đối với một quốc gia đang tiến mạnh đến độc lập, đối với một chính phủ đang cố giành dật lại đất đai, những hoạt động của đám quân sĩ nhìn chung chưa song đối với tiến bộ về những thắng lợi chính trị và ngoại giao đã thu hoạch được.

Nhìn rõ sự chênh lệch ấy, Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm quyết tâm hướng dẫn Quân Đội Quốc Gia Việt Nam theo kịp với nhịp tiến triển về ngoại giao và chính trị.

Các đơn vị chính quy, từ con số 65.000 (cuối năm 1949) đã vọt lên sấp sỉ 200.000 (1953) và nhất định sẽ còn tăng tiến nữa. (Theo chương trình dự định, đến cuối năm 1954, Quân Đội Quốc Gia sẽ lên tới con số 300.000 người).

Dưới quyền điều khiển của Thiếu Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Nguyễn Văn Hinh, lãnh thổ Việt Nam chia ra các Khu Quân Sự:

– Đệ Nhất Quân Khu: Nam Việt.

– Đệ Nhị Quân Khu. Trung Việt.

– Đệ Tam Quân Khu: Bắc Việt.

– Đệ Tứ Quân Khu: Cao Nguyên.

Mỗi Quân Khu có một Chỉ Huy Trưởng cấp Tướng hoặc cấp Tá phụ trách.

Đến cuối năm 1942, Quân Đội Quốc Gia đã có gần 5 Sư Đoàn gồm các Binh Chủng: Nhẩy Dù, Thiết Giáp, Pháo Binh, Công Binh, Không Quân, Thủy Quân, ngoài ra lại còn những Vệ Binh Thái, Vệ Binh Nùng, Vệ Binh Nam Việt v.v…

Quân Đội Quốc Gia Việt Nam có truyền thống tư tưởng chống cộng của các chiến sĩ cách mệnh quốc gia đã từng võ trang tranh đấu ngoài Bắc Việt của các chiến sĩ quốc gia với tư tưởng Bảo Hoàng miền Trung Việt, và của các chiến sĩ đạo giáo đã từng hy sinh trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Dựa vào cái cốt tinh thần ấy Quân Đội Quốc Gia phát triển và động viên được đông đảo nhân dân ở các vùng rộng rãi đã thoát khỏi sự chi phối trực tiếp của nền hành chính Việt Minh, những vùng đã tránh được sự chỉ huy trực tiếp của các viên xã đội trưởng hay huyện đội trưởng cộng sản.

Như đã nói, chiến tranh ở Việt Nam có một trạng thái rất đặc biệt. Hàng ngàn thôn xóm thuộc hẳn trong hệ thống chính trị của Việt Minh và hàng ngàn thôn xóm do quân đội Liên Hiệp Pháp bảo vệ đã trực thuộc phạm vi kiểm soát của chính phủ quốc gia. Giữa hai địa phận đó còn lẫn lộn những khu rộng rãi chịu ảnh hưởng của cả hai bên thế lực. Vì thế nên vấn đề động viên của chính phủ quốc gia cũng như của Việt Minh đã là một cuộc tranh chấp dữ dội.

Số thanh niên giữa hai khu vực ảnh hưởng vừa phải chịu thuế cho Việt Minh vừa phải chịu sự kiểm tra của chính phủ quốc gia. Họ không dám đi lính cho Việt Minh vì họ không thể chịu nổi sự quá khổ hạnh của chế độ chính trị một chiều. Nhưng với tâm lý sợ Việt Minh, khi nghe thấy lệnh động viên của chính phủ quốc gia, thoạt tiên họ cũng kinh hoàng. Rồi dần dần nhận định rõ chế độ tự do trong khu vực an ninh, họ đã hăng hái gia nhập quân đội. Do đó tổng số Quân Đội Quốc Gia tăng cường một cách mau chóng.

Chống lại tâm lý biến động của đám thanh niên đồng ruộng ấy, các cán bộ và nhân viên trong phòng tuyển mộ của Việt Minh ra sức len lõi hoạt động, tuyên truyền để cướp lại thanh niên, bổ xung quân số bị hao hụt trên trận địa.

Chính phủ quốc gia, nhờ những phương pháp mới mẻ, đã thu hút một cách dễ dàng những thanh niên lành mạnh để xây dựng Quân Đội Quốc Gia.

Quân số tăng cường bao nhiêu, vấn đề cán bộ chỉ huy càng thêm cấp bách bấy nhiêu.

Đối phó với vấn đề thiếu sĩ quan các Trường Võ Bị ra công đào tạo.

TRƯỜNG LIÊN QUÂN ĐÀ LẠT

Niên khóa 1948-1949: 53 Sĩ Quan tốt nghiệp.

Niên khóa 1949-1950: 120 Sĩ Quan tốt nghiệp.

Niên khóa 1950-1951: 227 Sĩ Quan tốt nghiệp.

Niên khóa 1951-1952: 402 Sĩ Quan tốt nghiệp.

Niên khóa 1952-1953: 541 Sĩ Quan tốt nghiệp.

Các Sinh Viên Sĩ Quan được huấn luyện mỗi tuần:

– 6 buổi học về kỹ thuật tác chiến hoặc động tác cơ bản.

– 5 buổi học về kỹ thuật sử dụng vũ khí, địa hình địa vật, cơ giới, truyền tin…

– 1 buổi học về lý thuyết quân sự.

TRƯỜNG THỦ ĐỨC

Thành lập từ năm 1951, Trường Thủ Đức đã đào tạo được hơn 2000 Sĩ Quan Trừ Bị.

Khóa thứ 4 (11.1953) có thêm 1.200 Sinh Viên.

Chương trình học 6 tháng, chia làm 3 giai đoạn:

– Huấn luyện chung.

– Huấn luyện chuyên môn.

– Thực hành tập sự.

TRƯỜNG BIÊN HÒA

Trường Biên Hòa chuyên đào tạo các Sĩ Quan Chỉ Huy Phụ Lực Quân Nam Việt.

Đã có 2.300 Sĩ Quan tốt nghiệp.

TRƯỜNG QUẢNG YÊN

Trường Quảng Yên chuyên đào tạo Cán Bộ Chỉ Huy cho các đơn vị Khinh Quân.

Trong năm 1953, 2.200 Hạ Sĩ Quan đã tốt nghiệp (Chuẩn Úy, Thượng Sĩ, Trung Sĩ).

Và còn rải rác tại các Trường Quân Sự bên Pháp, 182 Sinh Viên Sĩ Quan Việt Nam đang được bổ túc thêm về: Bộ Binh, Pháo Binh, Công Binh, Không Quân, Thủy Quân v.v…

Vấn đề tuyển mộ Sinh Viên Sĩ Quan được chính phủ phân chia theo một tỷ lệ rất công bằng để tránh sự tiến triển lệch lạc hoặc ngừng trệ trong các ngành hoạt động xã hội, kinh tế:

Tuyển Mộ Sinh Viên Sĩ Quan

1951

1952

1953

Công Chức

18%

42%

57%

Sinh Viên

11%

29%

18%

Học Sinh Trung Học

18%

7%

2%

Tư Chức

52%

16%

16%

Võ Nghệ & Linh Tinh

1%

6%

7%

Sĩ quan trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam là những thanh niên đầy hăng hái, quả cảm đầy lòng yêu nước thương nòi, đã từng có một căn bản văn hóa khá vững chắc để có thể tiến tới nắm vững kỹ thuật của cuộc chiến tranh tối tân.

Chính phủ còn mở mang rất nhiều Trường Võ Bị địa phương chuyên việc huấn luyện Hạ Sĩ Quan và Chuẩn Úy như Trường Võ Bị Trung Chánh ở Nam Việt, Trường An Cựu ở Trung Việt, Trường Ban Mê Thuột ở Cao Nguyên, Trường Binh Động ở Bắc Việt.

Quân Đội Quốc Gia Việt Nam rập theo khuôn mẫu quân đội Pháp. Tổ chức nhằm tiến tới tối tân. Ngoài những đơn vị lục quân, tất cả các Binh Chủng khác cũng đồng thời được nghiên cứu huấn luyện và thiết lập.

Về Không Quân, chính phủ mở mang phi trường huấn luyện ở Nha Trang và gửi nhiều sinh viên đi theo học tại các Phi Trường Marrakech, Fez v.v…

Nhờ những phi cơ kiểu Becchcrft một phi đội liên lạc đầu tiên đã được thành lập. Trong các cuộc hành quân, sĩ quan Không Quân Việt Nam đã chỉ huy đoàn phi cơ trinh sát, thám thính trên chiến trường.

Về Thủy Quân, từ tháng chạp 1951. Chính phủ Trần Văn Hữu đã đặt viên đá đầu tiên xây dựng Trung Tâm Huấn Luyện và đến chính phủ Nguyễn Văn Tâm, ngành đó thêm phần tiến triển mạnh mẽ.

Nhờ Thủy Quân Pháp cho mượn chiếc pháo thuyền Digitale, những học sinh có thể học từng đợt chừng 30 người một và mỗi năm từ 250 đến 300 thủy binh.

– Bổ túc Sinh Viên Sĩ Quan.

– Đào tạo Sĩ Quan Hải Quân.

– Huấn luyện thủy binh chuyên môn.

Vì tình thế cấp bách phải cần ngay một số thủy binh để sử dụng những giang thuyền tuần thám trên sông và ven bể, Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang đã tổ chức những buổi học tập sự trên chiếm hạm lớn như Mẫu Hạm Arrorgnon de Brazza…Sau đó các học sinh được qua một kỳ thi để có thể trở nên Chuẩn Úy hoặc Thiếu Úy Thủy Quân.

Ngành Hải Quân rất khó khăn và đòi hỏi nhiều khả năng căn bản của học sinh cho nên, ngoài lối huấn luyện cấp tốc. Chính phủ còn mở thêm những kỳ thị để tuyển sinh viên theo học các Trường Sĩ Quan Hải Quân ở Pháp.

Tương lai Hải Quân Việt Nam có nhiều hứa hẹn tốt đẹp. Chính phủ đang trù tính, thành lập 2 Đoàn Thủy Binh Xung Phong (Dinassaut) một Đội Pháo Thuyền bình trị, tuần thám.

Hiện nay, nhiệm vụ của Hải Quân Việt Nam còn nhỏ hẹp theo hoàn cảnh chiến trường nhưng không vì thế mà kém phát triển để theo kịp với nhịp tiến của các Binh Chủng khác.

Quân Đội Quốc Gia còn có thêm những đơn vị phụ thuộc như:

– Giao thông liên lạc.

– Truyền tin.

– Vận tải.

– Quân y và Nữ phụ tá quân đội v.v…

Các Binh Chủng Pháo Binh, Công Binh, Nhảy Dù đều được tăng cường.

Cũng là lần đầu tiên Việt Nam phát triển tổ chức quân đội nhảy dù. Trên những cơ sở ít ỏi và lẫn lộn trong quân đội Liên Hiệp Pháp, đơn vị Nhảy Dù Việt Nam đã lớn mạnh và dần dần có kinh nghiệm trong các cuộc hành quân liên tiếp, nhất là ở Bắc Việt. Đã có những trận nhảy dù đại quy mô đa số do binh lính Việt Nam tham dự như trận Lạng Sơn, Lào Kay (1953)…

Ngành Quân Y tương đối khá so với khu vực Việt Minh. Nhờ có đủ dụng cụ khoa học, đủ phương tiện tối tân, các Sĩ Quan Quân Y có thể dễ dàng làm trọn nhiệm vụ ở tiền tuyến cũng như ở hậu tuyến. Nhà thương riêng của quân đội được mở mang rộng rãi như nhà thương Võ Tánh ở Hà Nội và nhiều nhà thương chung cho tất cả các quân đội dự chiến trên chiến trường Việt Nam.

Đối với thương binh, chính phủ rất chú trọng săn sóc. Họ là những người đã hiến xương máu một cách cụ thể để đem lại an ninh cho quốc gia và họ đáng được ưu đãi. Không những cá nhân thương binh được nuôi dưỡng tử tế, chính phủ còn nghĩ đến cả gia đình của họ. Chính phủ dành quyền ưu tiên nâng đỡ công ăn việc làm cho vợ con các chiến sĩ đã bỏ mình trên chiến địa. Bộ Quốc Phòng còn thiết lập Trường Thiếu Sinh Quân thu nhận những con cái của các quân nhân để dậy dỗ và huấn luyện những thiếu nhi đó sau này trở nên những người lính hoàn toàn.

Trong khi những thương binh của Quân Đội Quốc Gia được chăm nom chu đáo tại các nhà thương rộng thoáng, vệ sinh thì các an dưỡng đường của cục quân y Việt Minh bẩn thỉu và chui rúc trong các xó rừng sâu thẳm, thiếu thuốc men, thiếu dụng cụ tối tân và thiếu cả cán bộ quân y coi sóc.

Trong khi thương binh vùng quốc gia được nuôi dưỡng và theo dõi đến cả đời sống sau lúc đã rời khỏi dưỡng đường thì thương binh trong vùng Việt Minh phải lê tấm thân tàn phế vất vưởng tìm kế sinh nhai, sống không bảo đảm. Họ phải tìm sinh sống bằng cách gia nhập các trại thương binh, ở đó họ phải xuất tàn lực ra làm công việc tăng gia sản xuất để tự cung tự cấp hoặc làm các công việc đan rổ, đan rá bán cho dân chúng. Nếu không, họ sẽ bị trả về cho dân chúng và tự dân chúng phải tổ chức giúp đỡ họ trong chuỗi ngày xót lại đầy đau khổ. Những sự săn sóc của Việt Minh đối với họ thật đã không xứng đáng với tinh thần hy sinh của họ trên chiến địa.

Tháng 2 năm 1953 tại Hội Nghị Quân Sự Tối Cao họp tại Đà Lạt, phái đoàn Pháp đã đồng ý sẽ chuyển giao lại bất cứ một khu vực nào cho Quân Đội Việt Nam khi Việt Nam yêu cầu. Bởi vậy, trong mùa Hạ năm 1953, các Phân Khu Mỹ Tho, Vĩnh Long, Trà Vinh được giao lại cho Quân Đội Việt Nam đã trưởng thành và còn thêm nhiều khu vực khác ở Trung Việt và Bắc Việt.

Những đơn vị đặc biệt cũng được dần dần chuyển qua sự chỉ huy của Sĩ Quan Việt Nam như đơn vị Lưu Động tại Na Sản.

Điểm đáng nhấn mạnh hơn cả là sự thành lập các Tiểu Đoàn Khinh Quân Việt Nam.

Kể đến tháng 6 năm 1953, Việt Nam đã có 9 Tiểu Đoàn Kinh Quân đang được huấn luyện. Chính phủ dự định trong năm 1953 phải có 54 Tiểu Đoàn Khinh Quân.

Tiểu Đoàn Khinh Quân là những đơn vị nhẹ có thể dễ dàng theo dõi Việt Minh khắp nơi thôn xóm rừng hoang mà không sợ vướng víu bận rộn vì những vũ khí nặng nề cồng kền. Các đơn vị Khinh Quân Việt Nam đã làm cho đối phương phải chú ý, e ngại. Sự thật, riêng Kinh Quân cũng chưa đủ để đối chọi với các binh đoàn mạnh của Việt Minh nhưng sự tiến bộ không ngừng của nó cả về phẩm lẫn lượng đã làm cho Việt Minh phải lo đến số phận tương lai.

Số lượng các đơn vị Khinh Quân có thể một ngày gần đây lên tới hàng 100 Tiểu Đoàn và sẽ được chia đi lưu động chiến đấu khắp nơi trên đất Việt.

Qua một thời gian 6 tháng, đến tháng Giêng năm 1953 chính phủ Nguyễn Văn Tâm cải tổ.

Nội Các mới gồm những vị:

  • Nguyễn Văn Tâm: Thủ Tướng chính phủ
  • Lê Văn Hoạch: Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Bộ Thông Tin Tuyên Truyền.
  • Nguyễn Huy Lai: Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Tài Chính-Kế Hoạch-Kiến Thiết.
  • Trương Vĩnh Tống: Tổng Trưởng Bộ Ngoại Giao.
  • Nguyễn Văn Nhung: Tổng Trưởng Bộ Kinh Tế.
  • Phan Văn Hy: Tổng Trưởng Bộ Cựu Chiến Binh và Phế Binh.
  • Lê Quang Huy: Tổng Trưởng Bộ Giao Thông Công Chính Bưu Điện. Quyền Tổng Trưởng Bộ Quốc Phòng.

Tháng 6 năm 1953 Thủ Tướng ủy nhiệm:

  • Bác Sĩ Phan Huy Quát giữ chức Tổng Trưởng Bộ Quốc Phòng.
  • Lê Văn Nẩm: Tổng Trưởng Bộ Tư Pháp.
  • Cung Đình Quỳ: Tổng Trưởng Bộ Canh Nông.
  • Nguyễn Thành Giung: Tổng Trưởng Bộ Giáo Dục.
  • Tấn Hàm Nghiệp: Tổng Trưởng Bộ Y Tế.
  • Lê Thăng: Tổng Trưởng Bộ Xã Hội Lao Động.
  • Lê Quang Hộ: Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ.
  • Vũ Hồng Khanh: Bộ Trưởng Bộ Thanh Niên và Thể Thao.
  • Đào Đăng Vỹ: Bộ Trưởng Dinh Thủ Tướng.

Nội Các mới thêm sinh lực mới trong công cuộc tiễu trừ cộng sản trên toàn diện.

Trước hết chính phủ tiếp tục tăng cường Quân Lực Quốc Gia.

Chiến đấu bên cạnh quân đội Liên Hiệp Pháp, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam trưởng thành. Trong tất cả mọi cuộc hành quân có người lính Việt Nam tham dự, những vị Tướng, Tá Pháp về hình thức đã phải thành thực khâm phục lòng dũng cảm và sự tiến bộ của người lính Quốc Gia Việt Nam.

Sự tiến triển của Quân Đội Quốc Gia vấp phải hai trở lực khó khăn nhất: Khó khăn về vấn đề chi tiêu quân sự và vấn đề sĩ quan.

Chính phủ Quốc Gia Liên Hiệp đã cố hết sức giành phần lớn ngân quỹ dùng về quân sự. Năm 1951, 15% ngân sách quốc gia được dùng để tổ chức bộ đội. Dự án năm 1952 là 800 triệu đồng nhưng thực sự đã lên đến 1.750.000.000 đồng, 58% ngân sách. Năm 1953, chính phủ dành riêng cho việc tổ chức quốc phòng số tiền sấp sỉ 3.000.000.000 đồng, 70% ngân sách. Số tiền khổng lồ đó đủ chứng tỏ sự lớn mạnh của toàn thể Quân Đội Quốc Gia trong năm 1953.

Còn vấn đề sĩ quan, một vấn đề không kém phần quan trọng.

Số lượng quân lính nhiều bao nhiêu, sĩ quan và hạ sĩ quan phải nhiều lên bấy nhiêu. Quân Đội càng tăng, đơn vị càng phải lớn và quan trọng. Ngoài những sĩ quan hàng Úy, chỉ huy các đại đội, cần phải huấn luyện gấp rút số sĩ quan hàng Tá, sĩ quan hàng Tướng và sĩ quan Tham Mưu.

Vấn đề chỉ huy là một việc trọng đại khi phải sử dụng hàng vài sư đoàn trên chiến trường rộng lớn, người chỉ huy trưởng, ngoài đức dũng cảm và trí kiên quyết thường xuyên của một chiến sĩ, lại còn phải là một nhà bác học về khoa quân sự. Nào lục quân, nào không quân, thủy quân, nào pháo binh, trinh sát, giao thông liên lạc, rồi chiến thuật tác chiến, rồi kỹ thuật sử dụng vũ khí, sử dụng binh lính v.v…tất cả tập trung dưới quyết định hết sức nhanh chóng của một người. Do đó sĩ quan cao cấp không thể đào tạo dễ dàng trong một khoảng thời gian ngắn ngủi được. Cần phải có những phần tử thật ưu tú để đảm đương trọng trách trên những chiến trường mỗi ngày mỗi rộng. Vấn đề cấp bách này đã được Bộ Quốc Phòng nghiên cứu cẩn thận trong chính sách huấn luyện các cấp chỉ huy tương lai.

Tháng 6.1953, Quốc Trưởng ký một Đạo Dụ về vấn đề quân dịch, quy định nhiệm vụ của người dân Việt Nam trong thời chiến đối với công việc tham gia quân đội. Tất cả công dân Việt Nam (nam giới) từ 20 tuổi trở lên đều phải qua một thời kỳ quân dịch trừ khi được chính thức công nhận là không có đủ sức khỏe. Quân dịch là một vấn đề phải có trong mọi thời kỳ quân dịch trừ khi được chính thức công nhận là không có đủ sức khỏe. Quân dịch là một vấn đề phải có trong mọi quốc gia tự do, độc lập. Công dân Việt tới 19 tuổi đều phải trình diện tại Hội Đồng Kiểm Tra Trưng Binh để xét sức khỏe.

Mỗi năm lại có sự kiểm tra trưng binh những thanh niên đã được kiểm tra trong vòng năm trước. Hội Đồng Kiểm Tra Trưng Binh có nhiệm vụ kiểm soát lại sổ kiểm tra, sửa đổi khi có sự sai lầm hay không hợp thời, định đoạt trong mọi trường hợp tranh tụng về những thanh niên và hộ tịch có sự đáng ngờ định đoạt về năng lực thể chất của từng người để thi hành nhiệm vụ, biên dịch, sưu tầm theo huấn lệnh chính phủ, các tài liệu về thống kê hoặc về dân số học nhân loại trác định pháp hoặc về sức khỏe công cộng. Mỗi tỉnh, mỗi thị xã sẽ có một Hội Đồng Kiểm Tra Trưng Binh.

Đồng thời với công việc Kiểm Tra Trưng Binh toàn quốc, chính phủ đã liên tục đào tạo hàng ngàn hạ sĩ quan trừ bị tại các trung tâm huấn luyện kỹ thuật địa phương và thiết lập Trường Cao Đẳng Võ Bị.

Tháng 10 năm 1953, Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Phan Huy Quát đã cho biết những phương pháp mới mẻ sẽ được áp dụng trong công việc đào tạo sĩ quan như dưới đây:

‘’Theo các nhà chuyên môn về quân sự thấu hiểu vấn đề hiện tại, nước Việt Nam có thể có đủ sĩ quan có tài năng để đảm nhiệm việc chỉ huy bộ đội trong đủ mọi cấp. Việc khẩn yếu là kiểm tra các phần tử có tài năng và huấn luyện cho họ thành các sĩ quan có đủ năng lực và điều kiện chuyên môn. Điều kiện cốt yếu sẽ không phải là cấp bực trong quân đội, tuổi nhiều hay ít và học lực nhưng là năng lực chỉ huy.

Nước Việt Nam đang đứng trong một tình trạng khẩn yếu và đặc biệt, vì vậy chính sách huấn luyện cán bộ Quân Đội Quốc Gia cũng phải dùng những phương pháp đặc biệt ngoài những phương pháp thường xuyên.

Các phương pháp thường xuyên vẫn áp dụng từ trước đến nay cũng cần phải được sửa đổi.

Điều đầu tiên là tất cả sĩ quan hiện tòng sự trong các Bộ Tham Mưu, các Nha, các Sở, các phòng giấy và giữ một nhiệm vụ có thể do công chức thường đã quá tuổi động viên thay thế được sẽ hoặc ra chỉ huy bộ đội ở tiền tuyến hoặc đi theo lớp huấn luyện cao cấp hơn.

Điều thứ hai là các lớp huấn luyện sĩ quan cấp Úy và hạ sĩ quan sẽ dần dần hoàn toàn dậy bằng tiếng Việt.

Từ trước đến nay, chính phủ gọi nhập ngũ các thanh niên có bằng cấp Đại Học, Trung Học hay Cao Đẳng Tiểu Học hay có học lực tương đương.

Nhưng số gọi thanh niên nhập ngũ nhiều hơn gấp bội số thanh niên học sinh nên không bao lâu nữa có lớp dậy quân sự bằng tiếng Pháp sẽ không có học trò nữa. Ngoài ra ta cũng có một số thanh niên có học lực tương đương, có bằng cấp Trung Học hay Cao Đẳng Tiểu Học nhưng học ở các Trường Trung Học quốc gia hay ở hậu phương nên không có học lực sinh ngữ Pháp đủ để theo các lớp huấn luyện quân sự dậy bằng tiếng Pháp. Vì vậy việc dậy bằng tiếng Việt là một sự cần thiết nếu ta muốn các lớp huấn luyện sĩ quan có nhiều học sinh.

Điều thứ ba của phương pháp thường xuyên là sẽ có các lớp huấn luyện cấp tốc riêng cho các sĩ quan, hạ sĩ quan có năng lực chỉ huy và có kinh nghiệm chiến tranh để có thể không kể tuổi, học lực hoặc cấp bậc trong quân đội, bổ nhiệm tạm thời ngay vào các cấp chỉ huy cao hơn. Nếu trong một thời gian ngắn, các phần tử đó tỏ ra có đủ năng lực để chỉ huy, thì sẽ được bổ nhiệm thực thụ vào cấp chỉ huy tương đương.

Bộ Quốc Phòng mới tổ chức tại Hà Nội một ‘’Trung tâm nghiên cứu quân sự’’ để huấn luyện các Đại Úy và các sĩ quan cấp Tá. Ngoài ra lại còn đang trù liệu để tổ chức một Trường Cao Đẳng chiến tranh có mục đích huấn luyện các sĩ quan chỉ huy cao cấp các đơn vị quan trọng và các sĩ quan chỉ huy các Bộ Tham Mưu.

Các trường huấn luyện quân sự hiện có hoặc sắp được tổ chức sẽ cố gắng hoạt động để các học sinh được đông đảo hơn và thời hạn huấn luyện được nhanh chóng hơn ngõ hầu bộ đội có đủ cán bộ chỉ huy.’’

Nói đến phương pháp đặc biệt, ông Tổng Trưởng Quốc Phòng cho biết:

‘’Cần phải áp dụng các phương pháp đặc biệt để đối phó với tình thế đặc biệt và với nhu cầu đặc biệt và khẩn cấp về các cấp chỉ huy quân đội. Những phương pháp này chỉ sẽ dùng trong tình thế chiến tranh hiện tại.

Phương pháp đặc biệt đầu tiên được trù liệu là việc dùng các công chức hay thường dân đã quá tuổi động viên và có đủ năng lực để thay thế các sĩ quan trong các việc thường xuyên ở các Bộ Tham Mưu, các Nha, Các Sở và các Phòng giấy.

Các nhân viên này sẽ phải được tập sự trong một ít lâu và sẽ thay thế hẳn các sĩ quan hiện dịch và các sĩ quan trừ bị để cho các phần tử này ra tiền tuyến hay theo học các lớp huấn luyện quân sự cao cấp.

Phương pháp thứ hai là kiểm tra các phần tử, vì tình thế chiến tranh hiện tại, có kinh nghiệm về việc chỉ huy quân đội và tỏ ra có năng lực thật sự. Đối với các phần tử này Bộ Quốc Phòng sẽ mở lớp huấn luyện riêng rồi tùy theo năng lực sẽ bổ nhiệm tạm thời ra chỉ huy bộ đội tại mặt trận hay tòng sự tại các Bộ Tham Mưu tác chiến. Nếu các sĩ quan này tỏ ra xứng đáng để chỉ huy một đơn vị nào thì sẽ được bổ nhiệm thực thụ vào cấp bực đó.

Phương pháp đặc biệt thứ ba là kiểm điểm các hạ sĩ quan có kinh nghiệm chỉ huy và tỏ ra có can đảm và năng lực ở tiền tuyến để bổ nhiệm họ lên cấp sĩ quan với tính cách tạp thời và cũng như tôi đã nói trên, nếu họ tỏ ra xứng đáng với chức vụ mới thì sẽ được thực thụ bổ nhiệm. Phương pháp này sẽ khuyến khích toàn thể các phần tử Quân Đội Quốc Gia và cho họ có dịp để biểu lộ tài năng.

Phương pháp đặc biệt thứ tư là chọn các thanh niên có đủ học lực để huấn luyện họ thẳng làm sĩ quan chuyên môn như ngành cơ giới, pháo binh, công binh v.v…

Nói tóm lại chính sách huấn luyện cán bộ quân sự dùng đủ mọi phương pháp kể cả phương pháp cách mạng, mục tiêu cốt để tìm kiếm và huấn luyện trong một thời gian ngắn nhất các sĩ quan đủ các cấp có năng lực và kinh nghiệm để chỉ huy Quân Đội Quốc Gia và để đối phó với mọi biến chuyển của thời thế’’.

Từ trước, Quân Đội Quốc Gia mới chỉ được nhào nặn trong những hệ thống làm việc cố định và do những phương pháp cổ điển, cứng nhắc, không hợp với tình thế và hoàn cảnh của Việt Nam. Nếu những phương pháp mới mẻ và hợp thời hiện nay của Bộ Quốc Phòng khai thác được hết khả năng quân sự của tất cả các người hoặc có khiếu về quân sự hoặc kinh nghiệm bản thân trong sự chiến đấu trên chiến trường thì nhất định Quân Đội Quốc Gia Việt Nam sẽ có dịp tiến bộ và tiến một cách vượt bực.

Nhiệm vụ Quân Đội Quốc Gia rất nặng. Thế giới tự do đã chú mục đến những người lính Việt Nam trên đồng ruộng Việt Nam.

Quân Đội Quốc Gia không còn chiến đấu lẻ biệt để riêng phụng sự cho nước Việt Nam nhỏ bé mà đã có nhiệm vụ tiên phong trong cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa cộng sản của toàn thể thế giới tự do dưới sự lãnh đạo chiến lược đại cường quốc dân chủ Hoa Kỳ.

Sức chiến đấu của người lính quốc gia tuy chưa hẳn là cốt cán trong quân lực nói chung trên chiến trường Việt Nam nhưng không vì thế mà kém phần anh dũng.

Trong năm 1953, chính phủ đã tuyên dương công trạng cho biết bao nhiêu anh hùng chiến sĩ hoặc còn sống hoặc đã bỏ mình trên chiến địa. Những chiến sĩ ấy tỏ ra can đảm phi thường khi xông pha ngoài chiến trường.

Đó là những anh hùng quân đội của chính nghĩa quốc gia, những người Binh Nhì như Châu Dum, anh hùng bắn súng máy ở Đèo Hải Vân trong Đệ Nhất Tiểu Đoàn Nhẩy Dù Việt Nam, Binh Nhì Đoàn Ngọc Chiêm, Trần Ngọc Dinh, anh hùng trong Đệ Tam Tiểu Đoàn Nhẩy Dù vùng Hải Dương Bắc Việt, Hạ Sĩ Phùng Minh Xuân nổi danh trong cuộc hành binh ở Da Ban, Trung Việt, Trung Sĩ Vương Hữu Hào, Trần Quang Vinh, anh hùng của tháp canh TRV-993 Biên Hòa v.v…Tất cả còn nhiều không thể kể xiết, đã ngã trong danh dự.

Dưới danh từ ‘’lực lượng’’ trong vùng quốc gia, ngoài quân đội chính quy trực thuộc hẳn hoi trong hệ thống nhất định của chính phủ Quốc Gia Liên Hiệp, mỗi địa phương Trung-Nam-Bắc còn có những tổ chức quân sự riêng biệt hoặc hoạt động dưới quyền Thủ Hiến Phủ do ngân sách địa phương đài thọ, hoặc hoạt động dưới sự chỉ đạo của các nhóm tôn giáo, chính trị.

Ở Bắc Việt, không kể Bảo Chính Đoàn nguyên Thủ Hiến Phạm Văn Bình đã khởi xướng việc thành lập quân thứ lưu động và hiện kim Thủ Hiến Nguyễn Hữu Tri còn thành lập và phát triển Địa Phương Quân. Địa Phương Quân là những chiến sĩ áo nâu, chiến sĩ nơi đồng ruộng có nhiệm vụ giữ làng giữ xóm trực tiếp đối đầu với lực lượng du kích của đối phương. Họ là những ‘’du kích thoát ly sinh sản, Việt Minh có hai loại du kích, một là du kích thoát ly sinh sản hai là hạng dân quân du kích tự cung, tự túc. Hạng trên được tập hợp có hệ thống và biên chế rõ rệt được địa phương đài thọ, họ chiến đấu và tiến dần thành bộ đội địa phương, thường gọi là chủ lực địa phương. Trái lại, hạng dưới chỉ là thường dân, khi hết nhiệm vụ sản xuất ở đồng ruộng lại đóng vai canh gác, tuần thám như tài liệu chính trị, tin tức, sách báo…’’

Ở Bắc Việt còn có một lực lượng địa phương khá hùng hậu và đầy đủ tinh thần chiến đấu, đó là những lực lượng Công Giáo vùng Bùi Chu-Phát Diệm. Họ tuy không thuộc hạng lính chuyên việc ‘’tấn công địch’’ nhưng vì vùng Công Giáo là chiến trường gay gắt và dai dẳng nhất Bắc Việt nên vô hình chung họ đã trở thành những người lính chiến kiên nhẫn và mạnh dạn cố thủ giữ quê hương.

Tại miền Trung, Thủ Hiến Phan Văn Giáo thành lập Nghĩa Dũng Đoàn để bảo vệ tài sản và sinh mệnh của dân chúng. Nói đến Nghĩa Dũng Đoàn ở Trung Việt ngày nay tất phải nhớ đến truyền thống khá oanh liệt của Việt Binh Đoàn mà tiền thân là Bảo Vệ Quân do Hội Đồng Chấp Chánh tổ chức ra 7, 8 năm về trước. Tất cả những kinh nghiệm và tinh thần chiến đấu của Việt Binh Đoàn ngày nay Nghĩa Dũng Đoàn tất nhiên mặc hưởng và phát triển trong sứ mạng bình định miền Trung nước Việt.

Nói đến miền Nam, những tổ chức quân sự riêng lẻ thật là dồi dào. Quân đội Bình Xuyên, quân đội Hòa Hảo, quân đội Cao Đài. Những đoàn quân riêng biệt ấy không trực thuộc trong hệ thống Quân Đội Quốc Gia, cũng không trực thuộc dưới quyền Thủ Hiến Phủ Nam Việt. Những nhóm quân sự hùng mạnh đó chịu dưới quyền đặc biệt của các Tướng lĩnh địa phương (Bình Xuyên) hoặc của các lãnh tụ tôn giáo (Cao Đài, Hòa Hảo).

Riêng về vấn đề quân sự, sau hơn một năm hoạt động, chính phủ Nguyễn Văn Tâm đã cố gắng thực hiện công cuộc phát triển Quân Lực Quốc Gia, số lượng mới đây hàng vạn đã lên đến hàng chục vạn. Đó là một thành tích rất đáng kể. Tuy nhiên muốn được thập phần hoàn hảo, cần phải cương quyết vượt qua nhiều nhược điểm và sửa chữa nhiều khuyết điểm như vấn đề chưa thống nhất, đoàn kết được tất cả các lực lượng quân sự dưới hẳn một hệ thống tổ chức nhất định để cùng hành động trong một chiến lược chung, hai là vấn đề tư trưởng phục vụ nhân dân trong quân đội chưa được chỉnh bị khiến cho thường khi có những việc làm tắc trách trong công cuộc bình trị, vấn đề thứ ba là tư tưởng chính trị chưa được hoàn toàn phổ biến, còn cần phải làm thế nào cho quân sĩ quan niệm thật rõ rệt và vững chắc ý nghĩa về sự chiến đấu của họ.

Chừng nào câu nói ‘’Nhận cho mình nhiều vùng chiến đấu mới’’ được kết quả hoàn toàn cả bề sâu lẫn bề rộng, chừng đó Quốc Gia Việt Nam mới có thể hãnh diện vì những vượt bực cố gắng của mình, Quân Đội Việt Nam sẽ kiêu hãnh vì thành tích oanh liệt vẻ vang của mình.

Quân Lực Việt Nam bành trướng, vùng quốc gia sẽ càng ngày càng mở rộng và dân chúng sẽ theo chính phủ quốc gia nhiều hơn nữa. Mất dân chúng, Việt Minh sẽ mất hẳn yếu tố quyết định sự sống còn của họ.

Trong phạm vi Kinh Tế, Nội Các Nguyễn Văn Tâm đã thu hoạch được nhiều kết quả đẹp mặc dầu đang phải chuyên chú đến vấn đề xây dựng Quân Đội Quốc Gia , mặc dầu tình thế còn phô bầy một thực trạng đáng lo ngại.

Vì chiến tranh. nhất là chiến tranh du kích và chính sách vườn không nhà trống, nước Việt Nam đã nghèo nay lại sơ xác thêm. Muốn thực hiện một nền kinh tế khả dĩ có thể tự túc, trước hết phải lo giải quyết vấn đề nhân khẩu mà đại đa số là nạn nhân chiến tranh, mất hết sản nghiệp, đang bị nạn đói, rét đe dọa. Chính phủ giải quyết ngay vấn đề đó rồi mới mong tính đến khai thác được sức lao động của nhân dân, phục vụ nền kinh tế quốc gia non yếu.

Đất Bắc là nơi chiến tranh tàn khốc nhất. Theo kế hoạch ngăn chặn nguồn tiếp tế của Việt Minh, Liên Quân Việt-Pháp đã chẳng nề hà phá tan các kho dự trữ lương thực của địch ở khắp nơi, trái lại để tăng cường số lượng dự trữ của mình, Việt Minh đã đánh ập vào các vùng đồng ruộng phì nhiêu cướp thóc lúa trong mùa gặt hái, đồng thời bao vây cấm ngặt việc chuyển gạo vào các thị thành. Do đó, Bắc Việt đã trải qua nhiều lần gạo cao giá. Nhờ khả năng sản xuất gạo ở Nam Việt, nhờ phương tiện giao thông dễ dàng, mau chóng. Tổng Trưởng Kinh Tế Nguyễn Văn Nhung đã ban hành những biện pháp thích ứng, nhờ lòng tận tâm của các đương cục hữu trách, Bắc Việt đã tránh được những cuộc khủng hoảng gạo.

Dưới Nội Các Nguyễn Văn Tâm, vấn đề gạo nuôi sống nhân dân tương đối được thăng bằng, tất cả các ngành kinh tế khác nhờ đó đã tiến triển tuy chưa vượt mức nhưng cũng khá quan trọng.

Về Kinh Tế Nông Nghiệp, chính phủ hết sức giúp đỡ tài chính và hướng dẫn nhà nông tăng gia theo các phương pháp khoa học nên đã có những tiến bộ cụ thể.

Trước hết, trên tư tưởng, chính phủ đã dung hòa được quyền lợi các giai cấp trong đám nông dân: Phú nông, trung nông, tiểu nông và bần cố nông và ngược lại hạng bần cố nông trong khi tiến tới hưởng quyền sở hữu chủ ruộng đất bằng cách tự xuất sức lao động, đã không quá trớn thủ tiêu quyền lợi cố hữu của giai cấp điền chủ.

Trên địa hạt sản xuất, phát triển nông nghiệp, nhất là sản xuất thóc lúa, chính phủ đã đạt được những mục tiêu đáng kể.

Nếu kinh tế nông nghiệp, chia ra nhiều khu vực:

– Canh tác về thóc lúa.

– Thủy nông.

– Trồng trọt thực phẩm.

– Chăn nuôi.

– Khai thác lâm sản.

– Hầm mỏ.

– Ruộng muối.

– Thóc lúa được đặt lên hàng đầu trong nền kinh tế nông nghiệp. Đối với đông đảo nhân dân ở Á Đông, hạt thóc đã được gọi là ‘’ngọc thực’’. Trận chiến tranh giữa Việt Minh và Liên Quân Việt-Pháp đôi khi đã có những chiến dịch mệnh danh là chiến dịch thóc lúa. Đối với Việt Minh, hạt thóc quyết định chiến trường. Trong vùng quốc gia cũng vậy, hạt thóc quyết định tất cả, mọi hoạt động đều phải chịu ảnh hưởng ở vấn đề thóc gạo.

Từ ngày xảy ra chiến tranh, ruộng đất bỏ hoang kể hàng vạn mẫu tây trong toàn quốc. Bộ Canh Nông dưới quyền Tổng Trưởng Cung Đình Quý đã cố gắng thực hiện việc canh tác trên những thủa ruộng hoang. Mỗi năm số diện tích những đồng ruộng được cầy cấy lại, được tăng một cách khả quan. Trong năm 1952, tổng số tính theo mẫu tây tăng được 8.710 và cuối năm 1953, tại khắp lãnh thổ Việt Nam, nhà nông đã cầy cấy trong khu vực quốc gia năm 1953, lên tới 2.016.850 mẫu tây.

Với những phương pháp tinh xảo và được giúp đỡ thóc giống, phân bón hóa học, nhà nông Việt Nam, đã sản xuất trong năm 1952 trên hai triệu rưỡi tấn gạo trong năm 1953, 2.763.300 tấn gạo.

Sở dĩ tiến bộ được như thế vì quần chúng nông gia sống tương đối yên ổn trong khu vực quốc gia kiểm soát đã tích cực cố gắng đổ mồ hôi trên đồng ruộng và cũng nhờ ở chính phủ đã dành riêng một số tiền cho kế hoạch canh tác.

Từ 713.750 đồng năm 1951 dưới Nội Các Trần Văn Hữu, vốn xuất trong năm 1952 đã lên tới 6.279.000 đồng và năm 1953 cũng 6 triệu đồng.

Chính phủ Nguyễn Văn Tâm còn dành riêng một ngân khoản 10.000.000 trong số tiền viện trợ Mỹ, hợp với 5.000.000 đồng của Sở Quốc Gia Tín Dụng Hợp Tác Canh Nông và Tiểu Công Nghệ dùng trong chương trình vay mượn ngắn hạn cho các tá điền và tiểu điền chủ. Tuy chương trình này mới chỉ áp dụng với nông dân các miền Chợ Lớn, Gia Định, Mỹ Tho, Tân An, Gò Công ở Nam Việt nhưng rồi đây nông dân toàn quốc cũng sẽ phải được hưởng theo.

Nếu trong vùng Việt Minh hạt thóc đã gây bao khốn cực cho đời sống bình nhật của nông dân thì ở vùng quốc gia, dưới chính phủ Nguyễn Văn Tâm và dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng Trưởng Canh Nông Cung Đình Quý, nhà nông đã tạm đủ thóc lúa tự túc, thị thành thoát khỏi nạn khan gạo, một điều đáng lo sợ cho tất cả mọi người.

– Số lượng thóc lúa tăng tiến một phần cũng do công cuộc thủy nông được mở mang.

Gạo Nam Việt nhiều hơn ở Bắc và Trung vì không những ở Nam đồng ruộng nhiều hơn lại còn được hưởng đầy đủ số nước cần thiết cho cây lúa do công cuộc thủy lợi và do mưa gió điều hòa hơn ở Trung Bắc. Tại Bắc Việt, một vài nơi như Thanh Hóa, Sơn Tây, Bắc Giang có những ‘’nông giang’’ luôn luôn tưới nước mát cho đất mầu nhưng phần lớn đồng ruộng những tỉnh ấy đều dưới quyền kiểm soát của Việt Minh.

Chính phủ đã xúc tiến công việc sửa chữa sông đào sửa chữa đê điều trị thủy và tu bổ các cống nước, đập nước tiện cho nông gia sử dụng. Riêng với công việc thủy lợi chính phủ đã phải tiêu tốn hàng chục triệu (năm 1952 hết 12.747.000 đồng và năm 1953 hết 20 triệu đồng).

– Ngành trồng trọn hoa mầu khác ngoài thóc lúa của được Bộ Canh Nông rất chú trọng. Tại các vùng đất đai chỉ có thể sản xuất được ngô, khoai, sắn hoặc các thứ thực phẩm như dưa, cà, bí, đỗ, lạc v.v…nông gia được hưởng và sử dung một ngân khoản riêng dành cho họ. Nhờ sự nâng đỡ đó các nhà nông trồng trọn hoa mầu thực phẩm đã sản xuất được nhiều và tăng tiến công việc đồng áng của họ.

– Về chăn nuôi, chính phủ bỏ ra một số tiền là 20 triệu đồng năm 1952 và 22 triệu trong năm 1953. Với tiền giúp đỡ, đồng bào thôn quê tránh được nạn thiếu trâu bò cầy cấy và có thể khẩn trương công việc chăn nuôi gia súc.

Nếu dân chúng sống trong vùng Việt Minh bắt buộc phải hạn chế sát sinh trâu bò thì ở vùng quốc gia, dân chúng đã được hưởng thụ đầy đủ những thức ăn cần thiết.

Ngành lâm sản cũng có riêng một ngân khoản quan trọng 122.000.000 đồng trong năm 1952 và 146.500.000 trong 1953.

Số gỗ dùng vào công việc xây dựng mỗi năm hàng hai chục vạn thước khối mặc dầu phần lớn rừng núi vẫn thuộc vùng của Việt Minh đóng giữ.

Củi đun mỗi năm tiêu thụ chừng năm chục vạn tạ và than gỗ có thể sản xuất được hàng vạn tấn.

Công tác sản xuất nhựa thông ở vùng Cao Nguyên cũng được nghiên cứu và cải cách phương pháp lấy nhựa.

Các đồn điền cao xu lại được khai thác sau khi đã diệt trừ được những sự len lõi phá phách của du kích Việt Minh. Số lượng sản xuất mỗi ngày mỗi tăng. Năm 1951, Việt Nam đã sản xuất được 37.278 tấn nhựa cao xu năm 1952, số tấn lên đến 45.062.

– Nói đến hầm mỏ, nhất là ở Bắc Việt, các Công Ty đã rất tiến bộ từ khi chính phủ Quốc Gia Liên Hiệp bắt tay vào việc. Đặc biệt nhờ sự săn sóc của Mỹ trong phạm vi máy móc và kỹ thuật khai thác, các công ty mỏ than đã nỗ lực không ngừng phát triển.

Mức sản xuất tăng rất đều. Từ hơn 6 chục vạn tấn than đá năm 1951 đã lên đến 9 chục vạn tấn năm 1952. Những năm tới số lượng sản xuất than đá sẽ phải tăng vượt mức vì lý do an ninh đã gần hoàn toàn trở lại trong khu vực hầm mỏ và nhờ ở sự hỗ trợ của chính phủ Việt Nam, nhờ cố gắng của nhà chuyên môn kỹ thuật.

– Muối là món thực phẩm quan trọng chẳng kém gì thóc gạo nên kỹ thuật sản xuất muối biển được cải tiến. Năm 1952, số lượng sản xuất muối là 143.200 tấn và năm 1953, sẽ có thể hơn nữa, không những đủ dùng trong dân chúng mà còn thừa để xuất cảng.

Vấn đề Công Kỹ Nghệ nói chung vẫn chậm tiến. Kỹ nghệ nặng chưa được xây dựng vì thế phần lớn những nhu cầu cần thiết cho Quốc Phòng phải trông mong vào viện trợ của Hoa Kỳ và Pháp. Tiểu công nghệ như nghề làm dầu nhớt, xà phòng hay việc sản xuất bông, tơ…chưa được khả quan vì lẽ thiếu nhiều nguyên liệu và máy móc cần dùng.

– Về ngành Giao Thông Công Chính, chính phủ đặt một chương trình hoạt động trường kỳ và khoa học. So với ngành giao thông kém cõi lạc hậu của Việt Minh phương tiện giao thông trong vùng quốc gia đã hơn hẳn, vừa đầy đủ phương tiện, vừa nhanh chóng dễ dàng.

Bộ Giao Thông Công Chính đã tích cực trong công cuộc sửa sang các hải cảng và các đường giao thông mặt thủy như vét bùn ở bến tầu, các kho hàng ở bến, khơi sông v.v…Dân chúng đã có thể dùng đường thủy để thông thương vừa tiện lợi vừa rẻ tiền. Quốc Gia Việt Nam đã có nhiều tầu thủy kiểu LCT như tầu Bạch Đằng Giang, tầu Hàm Tử Quan, tầu Chương Dương Độ.

Việc giao thông trên đường bộ đã gặp nhiều trở lực rất gay go vì chiến thuật phá đường của Việt Minh. Đã có rất nhiều chiến sĩ ngành Công Chính phải bỏ mình trong khi thi hành nhiệm vụ sửa chữa và giữ gìn đường xá. Nhờ những hy sinh đó mà hệ thống giao thông trên bộ được mở mang.

Số xe cộ đi lại trên đường bộ ngày một nhiều hơn trước, nhất là tại các thành phố lớn trên khắp lãnh thổ Việt Nam.

Những khoản chi tiêu về giao thông công chính đã tăng từ 113 triệu bạc (1951) lên đến 323 triệu bạc năm 1953 đủ chứng tỏ nỗ lực của chính phủ quốc gia về phương diện xây đắp đường giao thông.

Ngoài đường thủy và đường bộ, chính phủ mở mang thêm đường không vận bằng cách gián tiếp quan quản Công Ty Hàng Không Việt Nam, thỏa thuận cho những tư nhân ngoại quốc và Việt Nam được thành lập các Công Ty Không Vận trên hệ thống giao thông quốc tế.

Để thúc đẩy và phục hưng nền kinh tế trong nước, tháng 6 năm 1953, chính phủ thành lập một Hội Đồng Quốc Gia Kế Hoạch đặt dưới quyền trực tiếp của Thủ Tướng chính phủ hay một vị được Thủ Tướng ủy quyền có sự phụ tá hoặc của Phó Thủ Tướng Tổng Trưởng Tài Chánh Kế Hoạch và Kiến Thiết hoặc một vị được Phó Thủ Tướng ủy quyền.

Hội Đồng Quốc Gia Kế Hoạch gồm những nhân vật như sau:

Hội Viên Chính Thức:

  • Quốc Vụ Khanh, Đổng Lý Văn Võ Phòng Đức Quốc Trưởng (hay vị đại diện)
  • Tổng Trưởng Bộ Quốc Phòng (hay vị đại diện)
  • Tổng Trưởng Bộ Kinh Tế (hay vị đại diện)
  • Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục (hay vị đại diện)
  • Tổng Trưởng Bộ Giao Thông Công Chính Bưu Diện (hay vị đại diện)
  • Tổng Trưởng Bộ Y Tế (hay vị đại diện)
  • Tổng Trưởng Bộ Canh Nông (hay vị đại diện)
  • Tổng Trưởng Bộ Xã Lao (hay vị đại diện)
  • Thủ Hiến các Phần (hay vị đại diện)

Hội Viên Thường do Thủ Tướng bổ nhiệm:

  • 1 Đại diện Canh Nông
  • 1 Đại diện Kỹ Nghệ
  • 1 Đại diện Thương Mại
  • 1 Đại diện Ngân Hàng
  • 1 Cố vấn kỹ thuật.

Hội Đồng Quốc Gia Kế Hoạch có nhiệm vụ đề nghị lên chính phủ mọi biện pháp nhằm mục đích tăng gia, điều hòa sự sản xuất mậu dịch trong khuôn khổ chính sách tổng quát của chính phủ là phục hưng kinh tế, nâng cao tình trạng xã hội trong nước và đề nghị những phương pháp để thi hành kế hoạch làm việc.

Sắc lệnh thiết lập Hội Đồng Quốc Gia Kế Hoạch ra đời sau vụ phá giá đồng bạc Đông Dương đã là một điểm báo trước những cố gắng tiến triển tương lai của nền kinh tế quốc gia độc lập.

Vụ phá giá đồng bạc Đông Dương do quyết định độc đoán của chính phủ Pháp (Mayer) đã làm nghiêng ngửa những cố gắng của chính phủ Việt Nam trên mọi phạm vi đến Hiệp Ước 8 tháng 3 năm 1949 ký kết giữa hai nước.

Quyết định bất ngờ ấy làm cho ngân sách Quốc Gia Việt Nam lung lay, khiến toàn thể dân chúng Việt Nam kém tin cậy lòng ngay thẳng của chính phủ Pháp.

Báo chí Việt Nam đồng thanh chỉ trích phê bình, lên án quyết định đó, cho đó là một sự vi phạm nặng nề đến chủ quyền của Việt Nam, một lầm lỗi không thể làm ngơ bỏ qua được.

Giáo Sư Kinh Tế Âu Trường Thạch tại Sài Gòn đã nhấn mạnh việc sụt giá của đồng bạc Đông Dương là một bài học cho toàn thể dân Việt Nam cần ghi nhớ. Nhà Kinh Tế Học nói:

‘’Phản đối là một việc về hình thức và có ý nghĩa tượng trưng. Nguy cơ căn bản là chúng ta sống trên một nền kinh tế lệ thuộc’’.

Đứng hẳn về phương diện chuyên môn, Giáo Sư Âu Trường Thạch vạch rõ những điểm đặc biệt:

‘’Điều tủi nhục hơn hết là từ Nam chí Bắc có rất nhiều ngân hàng và Phòng Thương Mại của ngoại kiều, người Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam chẳng có lấy một Phòng Thương Mại hay một Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam. Mấy năm nay, dân Việt Nam sống xa hoa xa xỉ trong cảnh phồn thịnh. Sự phồn thịnh ấy chỉ là bề ngoài nhờ ở 200.000 người trong đạo binh Viễn Chính Pháp cũng như Việt Nam tiếp nhận 200.000 khách du lịch đem tiền đến ăn tiêu trên lãnh thổ của mình. Việt Nam chưa có một nền kinh tế độc lập tiềm tàng khả năng tăng gia sản xuất.’’

Kết luận, Giáo Sư họ Âu cho rằng: ‘’Phá giá đồng bạc là bài học cho dân Việt Nam.’’

Để tránh sự hỗn loạn, mất thăng bằng trong đời sống của nhân dân, chính phủ đã phải thi hành ngay những biện pháp cần thiết, ấn định giá cả và thể thức kê khai hàng hóa, kiểm soát sự buôn bán, tăng thuế nhập cảng v.v…

Vấn đề ngoại thương cũng được cụ thể hóa bằng các thương ước ký kết với các quốc gia phương Tây như Bỉ, Lục và gần đây với Ý, Tây Đức, Hòa Lan. Đã có sự tiếp xúc giữa các phái đoàn kinh tế của những quốc gia đó với phái đoàn kinh tế của Việt Nam.

Trong Hội Nghị Colombo họp tại Ấn Độ tháng 10 năm 1953 phái đoàn kinh tế Việt Nam do Tổng Trưởng Cung Đình Quý hướng dẫn đã nhận được những hứa hẹn của các quốc gia miền Đông Nam Á. Và cũng là lần đầu tiên một phái đoàn Việt Nam được Thủ Tướng Ấn Độ Nehru đích thân tiếp đón.

Tại miền Nam Cao Nguyên (Hoàng Triều Cương Thổ) dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Quốc Trưởng Bảo Đại và ông Đổng Lý Văn Võ Phòng Quốc Trưởng Nguyễn Đệ, một kế hoạch kinh tế riêng biệt đã được thành hình.

Miền Nam Cao Nguyên là một khu rừng núi rộng lớn gồm đất đai của những Tỉnh như Pleiku, Komtum, vùng Darlac, Lang Bian, Djiring. Có những 5 chục vạn dân thiểu số Sedang, Banhar, Djarais, Rhade, Maa, Sré, Noang v.v…ở rải rác trong rừng và chừng 3 vạn dân Việt sống tập trung ở các Thị Xã Kontum, Pleiku, Banmethuot, Đà Lạt, Djiring, Blao, Dran.

Dân chúng Cao Nguyên từ xưa vẫn sống bằng nông nghiệp tối lạc hậu về nghề săn bắn. Họ thường làm rẫy để reo hạt hoặc thóc hoặc ngô. Làm rẫy là một lối canh tác đặc biệt của tất cả các dân tộc thiểu số trên Cao Nguyên. Họ chọn và đốt những ngọn đồi có khi rất cao và rất dốc nhưng miễn là đất còn mới chưa ai cầy cấy. Sau vài ngày, lửa đốt cháy trụi hết cả cây cỏ chỉ còn lại những gốc cây to. Trên làn tro xám, dân chúng có thể reo vừng, trồng ngô, trồng lúa. Họ chỉ còn có việc canh giữ không cho các muôn thú đến phá hoại và chờ ngày gặt hái. Mỗi rẫy họ trồng trọt có một lần.

Dân thiểu số rất thạo nghề săn bắn, chuyên dùng cung nỏ kiếm thức ăn. Họ sống trong những nơi xa thẳm miền rừng núi, nhà kín mít, tối tăm quanh năm thiếu ánh sáng và ám khói, ấy là chưa nói đến ở góc nhà còn xếp lủng củng những lọ đựng hài cốt của tổ tiên.

Vì các dân tộc thiểu số sống ở miền Nam Cao Nguyên còn tối lạc hậu như thế nên kế hoạch kinh tế Nguyễn Đệ đã phải nhằm những mục tiêu cần thiết:

– Nâng cao mực sinh hoạt dân chúng.

– Làm tan biến những kiểu sống quá lạc hậu.

– Nâng cao và điều hòa trình độ văn hóa chung cho các bộ lạc.

– Tập hợp những làng mạc tản mác thành từng khối để dễ dàng hướng dẫn giáo dục, phát triển nông nghiệp, dìu dắt dân tộc thiểu số bước kịp đà tiến của dân tộc Việt Nam.

Nói tóm lại, chính phủ đã hết sức cố gắng để mở mang nền kinh tế quốc gia. Nhưng nhìn tổng quát vào chính sách hoạt động, còn khá nhiều điểm cần phải nghiên cứu tu bổ thêm.

Điểm thứ nhất là dân Việt Nam hơn 90% sống nhờ nghề nông. Đáng lẽ kinh tế nông nghiệp phải được chú trọng trên hết và phải được chú trọng trên hết và phải được nâng đỡ nhiều hơn cả thì trái lại, ngân khoản dành cho căn nông trong số tiền chi dụng chung cho kế hoạch phục vụ kinh tế quốc gia rất ít ỏi. Đã thế, phân khoản ấy lại dùng cả cho công cuộc phát triển các đồn điền cao xu mà phần lớn đều do các công ty ngoại quốc nắm giữ. Đứng về phương diện tăng gia sản xuất như vậy có thể là lệch hướng. Đứng về phương diện đấu tranh chính trị với Việt Minh, tất nhiên khó đem lại thắng điểm cho biện pháp quốc gia, Việt Minh dễ lợi dụng con số quá thấp kém nói trên để tuyên truyền lung lạc nông dân.

Điểm thứ hai là trong khi các quốc gia trên thế giới hoặc đang nghiên cứu hoặc đã thực hiện công cuộc điện khí hóa thôn quê thì ở Việt Nam ngay tại các thành phố lớn, sự phân chia điện còn kẽm cõi. Thiếu điện lực, dân chúng không còn hy vọng gì nghĩ đến việc mở mang kỹ nghệ, nhất là những nhà máy phát điện ở trong tay các hãng độc quyền nắm giữ.

Chính phủ chưa chú ý đến việc dùng thác nước để đem lại cho dân chúng một nguồn sinh sống tân tiến.

Điểm thứ ba, sự nỗ lực phát triển khai thác tại các hầm mỏ đã tiến bộ trong khi nền kỹ nghệ nặng quốc gia chưa được xây dựng tý gì. Như vậy, kết quả của công việc khai thác chỉ là kết quả của những hành động thuộc loại thương mại, không có một chút ý nghĩa nào về phương diện xây dựng kỹ nghệ quốc gia.

Đối với Việt Nam hiện nay, nỗ lực khai thác hầm mỏ phải đi đôi với nỗ lực mở mang kỹ nghệ và hai việc đó phải liên hệ ràng buộc với nhau, phải cần có những tương quan chặt chẽ.

Bước sang công cuộc Kiến Thiết chính phủ Nguyễn Văn Tâm tiếp tục thi hành chính sách Bồi Thổ của Quốc Trưởng Bảo Đại đề ra từ ngày mới trở về lãnh đạo việc nước.

Chính phủ cho các tư nhân vay tiền làm nhà ở và xây dựng những khu nhà rẻ tiền cho các tiểu công chức và công nhân thuê hoặc tậu hẳn bằng cách trả tiền dài hạn.

Trong năm 1952, tiền dùng để xây dựng nhà cửa do Quỹ Tự Trị của Kiến Ốc Cục cho vay là 8 triệu rưỡi, đã lên đến con số 12 triệu 4 trăm ngàn bạc trong năm 1953.

Chính phủ cũng xuất ra những số tiền lớn (30 triệu) để xây dựng các khu nhà rẻ tiền cho quần chúng lao động có nơi trú ngụ.

Cương quyết đối phó với nạn thiếu nhà ở, chính phủ đã thành lập các làng mới như làng Phước Hiệp, làng Thắng Nhất làng Đông Hoa ở Gia Định, Ô Cấp (Nam Việt), làng Chánh Hòa ở Quảng Bình (Trung Việt) để tập trung số dân hồi cư tỵ nạn.

Ngoài Bắc Việt, Thủ Hiến Nguyễn Hữu Tri thí nghiệm xây dựng Đại Xã Đồng Quan. Công việc tiến hành rất đều đặn, được chú ý cả từ vấn đề giáo dục, thủ công nghiệp đến phương diện đào giếng hợp vệ sinh, chăn nuôi gia súc. Dân chúng ở Đại Xã được giúp đỡ những vịt giống, cá giống, hạt giống v.v…

Những hoạt động của các Sở Cứu Tế Xã Hội thực ra chưa có gì đáng kể ít nhiều việc đi phân phát lương thực vải, chăn, quần áo cho những nơi mới được bình định, tổ chức giúp nạn nhân các vùng bão lụt v.v…

Phần lớn hoạt động xã hội mới chỉ quy tụ trong việc mở mang và thực hiện chương trình Y Tế.

Nói đến hoạt động y tế tức là nói đến những sự cố gắng của tất cả các bác sĩ trong vùng quốc gia, cố gắng trong sự tìm tòi trị bệnh cho dân chúng.

Những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như thổ tả, dịch hạch, đậu mùa rất ít khi xẩy ra. Nhờ có bột trừ muỗi, rệp DDT và các thứ thuốc sốt rét mới và mạnh, số bệnh nhân mắc bệnh sốt rét đã rút, có nơi từ 80% xuống 5%.

Bệnh đau mắt hột ở Việt Nam trước kia rất bành trướng. Gần đây nhờ những tổ chức y tế lưu động đến tận các làng mạc để phát thuốc và chữa bệnh ngay tại chỗ, nạn đó đã giảm dần.

Ở Hà Nội nhà thương chữa mắt dưới sự trông nom của Bác Sĩ Phạm Văn Tiến đã giúp đỡ đồng bào thôn quê rất nhiều. Nông dân từ xưa đến nay đại đa số bị đau mắt hột, bị toét mắt, lông quặm và đã có những người bị lòa vì phải sống trong tối tăm, ẩm thấp, thiếu vệ sinh, phải phơi mình suốt ngày làm việc dưới nắng trang trang ngoài đồng ruộng. Nay nhờ sự tận tâm săn sóc của các bác sĩ lành nghề, các nhân viên y tế lưu động, nhiều đồng bào đã thoát được nạn hỏng mắt.

Chiến tranh càng dai dẳng số người bị bệnh lao càng nhiều. Ngoại số dân chúng được sống đầy đủ ở thành thị còn đã số dân chúng, nhất là ở vùng tiền tuyến đã sống trong cảnh thiếu ăn thiếu mặc và ngày đêm luôn luôn bị súng đạn khủng bố tinh thần. Do đó bệnh lao được thể hoành hành trong đám người cơ cực ấy. Một ít người may mắn có hoàn cảnh và điều kiện đã lên được các thành phố lớn để theo đuổi thuốc men. Tại những nước tân tiến, các dưỡng đường trị lao thường được thiết lập ở những vùng thoáng rộng, trái lại ở Việt Nam bệnh nhân bắt buộc từ giã nơi thoáng khí để đi sâu vào phố phường tĩnh dưỡng. Hoàn cảnh chiến tranh và sự thiếu thốn nói chung của cả dân chúng lẫn chính phủ đã khiến các bác sĩ chuyên môn về lao đành cứ theo đuổi chính sách trị bệnh một cách chua chát trong các dưỡng đường ở giữa đô thị đầy bụi bặm, nhất là ở Bắc Việt.

Chính phủ đã tổ chức những phòng tiêm BCC cho các trẻ em để ngăn ngừa bệnh lao, nhưng chưa được phổ cập nhiều.

Công cuộc ngăn ngừa bệnh hoa liễu rất được chú ý. Bệnh hoa liễu lan tràn nhiều nhất trong khoảng 1947-1948-1949. nhưng từ 1950 đến nay bệnh đó đã lui dần nhờ thuốc Penicilline, Bi-Penicilline nhờ những hoạt động của nhà thương bài trừ hoa liễu và những tổ chức kiểm soát khám bệnh cho gái điếm.

Để chữa bệnh ung thư, hai Viện Ung Thư, một ở Hà Nội có 717 gam radium, một ở Sài Gòn có 345 gam , đã hoạt động ráo riết.

Chống với nạn đầu độc do thuốc phiện gây ra, chính phủ đã dự định bắt đầu từ 1954 sẽ cấm hẳn sự buôn bán ma túy trong dân chúng. Số người nghiện, một ngày kia hy vọng sẽ không còn.

Riêng về bệnh hủi, phần lớn những trại hủi đã bị tàn phá từ 1945. Các bệnh nhân bị phân tán reo rắc căn bệnh nguy hiểm trong dân chúng. Từ 1952, nhờ số tiền của Viện Trợ Mỹ, Bộ Y Tế đã thành lập được ở vùng Nam Cao Nguyên (Kontum) một trại hủi và số người hủi đang được chạy chữa đó đã có tới 5.000.

Trên đây là kể đến những công cuộc ý tế trên thực tại, những công cuộc đã cứu hàng ngàn vạn người dân Việt Nam giữa lúc chiến tranh ra công reo rắc đau thương và bệnh hoạn.

Chương trình y tế nhằm những mục tiêu chính:

– Bài trừ bệnh sốt rét tàn hại dân chúng ở các miền sơn cước.

– Bài trừ bệnh đau mắt hột hoành hành ở các thôn quê.

– Giáo dục vệ sinh ở thôn quê.

Các ngân khoản dành riêng cho Ngành Y Tế:

– Năm 1952: 204.300.000 đồng.

– Năm 1953: 220.000.000 đồng.

Viện trợ kinh tế Mỹ đã góp vào đó mỗi năm chừng 25%.

Hoạt động Y Tế ở Việt Nam lâm vào hai tình trạng:

– Thiếu nhà thương chữa bệnh: Trong một cuộc đi thăm các nhà thương ở Bắc Việt tháng 11 năm 1953, dưới sự hướng dẫn của Bác Sĩ Giám Đốc Y Tế Bắc Việt Lê Văn Khải, những người hằng tâm đến sức khỏe của đồng bào đã bùi ngùi khi nghe lời tuyên bố của Bác Sĩ Phạm Biểu Tám, Giám Đốc Bệnh Viện Phủ Doãn: ‘’Chúng tôi không thể từ chối một vết thương nào. Người dân nào cũng có quyền được nằm điều trị. Nhưng trong hoàn cảnh thiếu thốn lúc này chúng tôi không thể làm hơn được. Nguyên nhân không phải là thiếu giường, chính là thiếu nhà nằm’’. Người ta đã thấy các bệnh nhân ba bốn người nằm chen chúc một giường hoặc phải nằm cả xuống đất, ngổn ngang trong những căn buồng hẹp, lạnh lẽo.

– Thiếu thầy thuốc chữa bệnh: Chính ông Tổng Trưởng Bộ Y Tế Tân Hàm Nghiệp đã phải nói trong một buổi họp mới của Hội Rotary Club ở Sài Gòn rằng: ‘’Dân chúng Việt Nam bị khốn đốn vì tình trạng thiếu nhà thương và thiếu cả thầy thuốc’’.

Vấn đề thầy thuốc ở Việt Nam từ xưa vẫn là một việc nam giải. Chỉ có các nhà giầu mới đủ tiền cho con cái theo đuổi Đại Học nhất là học môn thuốc, những món tiền chi phí cần phải đủ trong 6, 7 năm ròng.

Chính phủ chưa tích cực đề cập vấn đề đào tạo bác sĩ dân y. Lại thêm nhu cầu tối khẩn của quân đội, một số lớn bác sĩ, sinh viên y học đã phải đầu quân, do đó dân chúng đã bị thiệt thòi không ít về phương diện chữa bệnh.

Những công cuộc mà chính phủ đã thực hiện về mặt xã hội hoặc như cứu tế mùa Đông, cấp cứu nạn nhân ở các vùng bị bão lụt, bị cháy chỉ là những việc làm đặc biệt và mặc nhiên phải có trong khi quốc gia bất thần bị thiên tai xẩy đến.

Nước Việt Nam đang bị chiến tranh tàn phá, dân Việt Nam sẽ còn phải chịu đựng nhiều đau khổ nữa chưa biết đến bao giờ, tất nhiên muốn triệt để thực hiện chính sách Bồi Thổ. chính phủ còn phải để tâm thêm nhiều đến việc nghiên cứu và thi hành mọi phương pháp làm dịu nỗi đau thương đang đầy rẫy trong xã hội Việt Nam.

Với chính phủ Nguyễn Văn Tâm vấn đề giáo dục thanh niên đã thêm nhiều tiến bộ.

Dưới quyết tâm cố gắng của Bộ Trưởng Vũ Hồng Khanh. Số thanh niên sang học hỏi ở ngoại quốc mỗi ngày một nhiều, chính phủ luôn luôn mở những kỳ thi cấp học bổng cho những sinh viên du học.

Trong nước, những trường công bậc Tiểu Học và Trung Học đã được mở mang nhưng vì số học sinh ngày càng nhiều nên nhiều trường tư thục đã được phép dễ dàng thành lập.

Ngoài việc chau dồi văn học, thanh niên Việt Nam như đã trỗi dậy về phương diện thể dục, thể thao.

Những hội thể thao hoạt động rất náo nhiệt, tổ chức các cuộc đua bơi, đua xe đạp, bóng tròn. Nhiều đội bạn ngoại quốc đã tới thăm Việt Nam.

Trong năm 1952, Việt Nam cử đại biểu đi dự Thế Vận Hội Helsinki (Phần Lan). Lần đầu tiên Quốc Gia Việt Nam góp mặt với nền thể thao quốc tế.

Về bóng bàn, những cây vợt vô địch Mai Văn Hòa, Trần Văn Đức. Những thanh niên thể thao này thật đã mang lại hãnh diện cho xứ sở và khiến thanh niên nước nhà thêm tin tưởng vào tương lai.

Phong trào Nhu Đạo cũng bành trướng mạnh mẽ. Thanh niên ưa nói đến môn võ thuật mới mẻ này. Ngoài nước, Giáo Sư Nhu Đạo Phạm Lợi đã tự tạo được một tài năng xuất chúng và được liệt vào hạng Huấn Luyện Viên cao cấp về Nhu Đạo quốc tế. Đó là một danh dự chung cho thanh niên Việt Nam.

Nhờ được nâng đỡ của chính phủ, thể thao và thể dục được bành trướng ở Việt Nam song song với sự tiến bộ văn học.

Bước sang địa hạt tinh thần và tư tưởng của thanh niên, nhất là trong giới học sinh, cần phải xem xét để có thể nêu lên được khuyết điểm và nhược điểm của những giai đoạn giáo dục trước.

Thanh niên trong vùng quốc gia đã bị xáo lộn qua nhiều giai đoạn tinh thần từ đầu 1947.

– Giai đoạn trụy lạc.

– Giai đoạn liều lĩnh.

– Giai đoạn học hỏi.

– Giai đoạn đấu tranh.

Giai đoạn trụy lạc: Sau biến cố lớn lao xẩy đến với toàn thể dân tộc, tất cả những khủng bố từ mọi hướng đã đặt thanh niên vào một trạng thái tinh thần hoang mang, khiếp sợ. Thanh niên trở thành yếm thế và lãnh nhiệm vụ trước thời cuộc, lao mình vào một cuộc điếm đàng hỗn loạn. Họ sống bừa bãi, vô tổ chức, trong thâm tâm như chờ đợi một cuộc biến chuyển tình thế có ảnh hưởng đến bản thân họ.

Giai đoạn liều lĩnh: Hoàn cảnh chính trị trong vùng quốc gia còn phức tạp nên các nhà đương cục đã sao lãng việc dìu dắt thanh niên theo một hướng lợi ích duy nhất. Nhằm sự sơ xuất đó, Việt Minh đã nắm đúng thời cơ và bắt mạch đúng tâm trạng thanh niên trong vùng quốc gia để gây một sự hỗn loạn và liều lĩnh, vụ học sinh Trần Văn Ơn ở Nam Việt, những vụ bãi khóa liên tiếp trong toàn cõi, biểu tình ám sát.

Giai đoạn học hỏi: Một phần do những biện pháp quả quyết và cứng rắn của các cơ quan an ninh quốc gia đã tích cực thi hành đối phó với những kẻ làm rối trật tự, một phần do Việt Minh đã thay đổi chính sách hoạt động trong vùng quốc gia, thanh niên học sinh trở lại mực trầm tĩnh và bình thường

Tự chán chường với thái độ hỗn loạn, vô lý nghĩa và vô kết quả của mình, thanh niên học sinh nói chung quay đầu chăm chú vào việc học. Theo họ chỉ có học là an ninh nhất, lại có lợi cho chính bản thân. Nhưng học rồi để làm gì ? Họ chưa tìm được câu trả lời.

Giai đoạn đấu tranh: Chính phủ Quốc Gia Liên Hiệp đã thực hiện một việc quan trọng. Ổn định tinh thần thanh niên, Thủ Tướng đã vạch cho thanh niên một đường lối rõ rệt: Gia nhập quân đội phục vụ nhân dân đấu tranh với cộng sản. Số lớn các thanh niên có văn bằng phải theo học các lớp sĩ quan, những thanh niên trong hạn tuổi động viên phải nhập ngũ.

Quân ngũ và chiến trường đã giáo dục thanh niên hiểu biết nhiệm vụ của mình.

Số lớn thanh niên trưởng thành đã phải động viên còn lại trên ghế nhà trường học sinh trẻ tuổi. Họ là những người hăng hái nhất, phần đông chưa hề có ý niệm gì về chính trị, mới lớn lên trong vùng quốc gia kiểm soát. Hiểu rõ tư tưởng tinh khiết, thuần túy trong đám người trẻ tuổi ấy, chính phủ đã luôn theo dõi nâng đỡ và dìu dắt họ.

Tiếp với tổ chức Đại Hội Thanh Niên ở Nam Việt do Bộ Thanh Niên của Vũ Hồng Khanh tổ chức, Nha Học Chính và Nha Thanh Niên ngoài Bắc Việt cũng tổ chức ngày Đại Hội Thanh Niên Học Sinh ở Hà Nội với mục đích phát động phong trào học tập ‘’và tái võ trang tinh thần thanh niên’’.

Ngay khi Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm mới lên nắm chính quyền cũng đã nhìn về phía thanh niên và hiểu rõ rằng tương lai quốc gia là ở thanh niên.

Tháng 7 năm 1952, khi Tân Thủ Tướng ra kinh lý Bắc Việt, ngót một nghìn thanh niên, đại biểu các giới, đã tự động tập hợp tại Dinh Thủ Tướng để trình bày nguyện vọng phụng sự quốc gia của thanh niên và mong đợi sự hiểu biết nâng đỡ dìu dắt của chính phủ. Nhân dịp tiếp xúc đó, Thủ Tướng đã tuyên bố: ‘’Để thanh niên lạc lõng là lỗi tại những nhà lãnh đạo đã không biết cách dìu dắt họ đi vào con đường chính’’.

Phụ nữ trong vùng quốc gia cũng đã tiến bộ nhiều. Phụ nữ đã ganh đua với nam thanh niên về phương diện học tập. Nhiều nữ sinh viên đã đi du học ngoại quốc. Phụ nữ đã tham gia hoạt động trong mọi ngành: Chính trị, quân đội, xã hội v.v…

Có những Hội như Phụ Nữ Toàn Quốc, Phụ Nữ Tương Tế, Bảo Trợ Phụ Nữ đã mạnh mẽ tranh đấu dành quyền lợi cho phái nữ.

Phụ nữ đã phụng sự chiến trường bằng cách tham gia Ngành Nữ Phụ Tá Quân Đội.

Chính phủ đã thành lập trường đào tạo cán bộ thể dục riêng cho phụ nữ (Do Bộ Thanh Niên phụ trách)

Nhiều phụ nữ trẻ đã thành thạo trong các nghề nghiệp có thể tự túc, tránh khỏi cảnh sống bám nhờ gia đình.

Nói chung thanh niên và phụ nữ Việt Nam đã tiến nhưng còn cần phải cố gắng thêm nữa để diệt trừ đầu óc chia rẽ, lưng chừng vương sót lại và phải bỏ hẳn tính thích xa hoa, ăn chơi phù phiếm để chuyên tâm nghĩ tới việc phụng sự quốc gia, dân tộc.

Trên phạm vi Chính Trị, chính phủ Liên Hiệp Nguyễn Văn Tâm đã liên kết được, nếu không nhiều về bề sâu cũng đã lạc quan về bề rộng, những nhóm chính trị và những nhân tài chuyên môn.

Dưới mục tiêu tranh đấu cho Chính Nghĩa Quốc Gia, Quốc Trưởng và chính phủ đã hướng dẫn các đảng phái hoạt động trong vòng kỷ luật với một ý thức xây dựng.

Tuy sống ở trong vùng tương đối được tự do để nẩy nở, một số các đoàn thể chính trị cũng đã đi dần đến chỗ rã rời hoặc không hành động gì cả chỉ còn lại một vài phái đảng có ít nhiều lực lượng và một vài nhóm tôn giáo chính trị.

Trong số lãnh tụ của các nhóm đảng trên đã có nhiều người tham gia hoạt động trong chính phủ.

Hai tôn giáo lớn nhất của Quốc Gia Việt Nam là Đạo Phật và Đạo Thiên Chúa cũng có những đại biểu trên trường chính trị, nhất là Công Giáo. Sở dĩ những đại biểu Công Giáo tích cực hoạt động vì, nếu cộng sản Việt Minh thắng lợi, họ sẽ diệt trừ thẳng tay mọi tư tưởng hữu thần mà Công Giáo là đại diện số một. Trên địa hạt hoạt động, Việt Minh đã tấn công thẳng vào vùng giáo đạo Bùi Chu càng ngày càng dữ dội. Tất cả những vụ bắt bớ Cha Cố ở Trung Cộng, những vụ giam hãm, đầy ải Cha Cố ở khu Việt Minh và sự tăng áp lực ở khu giáo đạo của quân đội Võ nguyên Giáp đã khiến những người lãnh tụ Công Giáo Việt Nam phải chuẩn bị đề phòng và tích cực tranh đấu. Các chiến sĩ đạo giáo trong khi cầm súng bảo vệ Thánh Đường đã biến thành những người lính Quốc Gia dũng cảm.

Năm 1953, có vài biến cố lớn lao đã ảnh hưởng đến cục diện chính trị ở Việt Nam:

– Việt Minh tiến đánh xứ Lào.

– Vụ phá giá đồng bạc Đông Dương của chính phủ Pháp.

– Việc ký kết đình chiến ở Cao Ly.

– Hành động đặc biệt của Mên Hoàng Sihanouk.

Vụ tấn công xứ Lào của Việt Minh đầu Hạ năm 1953 khiến toàn thể thế giới phải chăm chú theo dõi. Tước bỏ những vấn đề hoàn toàn có tính chất quân sự của trận đánh xứ Lào, Việt Minh đã thực hiện xong một kế hoạch trên phạm vi chính trị là đi theo quân đội Việt Minh có những cán bộ chính trị trong chính phủ Pathet Lào. Những cán bộ chính trị ấy sẽ là mầm mống làm lung lay nước Vạn Tượng của Quốc Vương Ai Lao Siravang Vong.

Vụ phá giá đồng bạc Đông Dương trong tháng 5 đã khiến cho Việt Nam ít tin tưởng ở thái độ của nước Pháp. Quyết định độc đoán của chính phủ Mayer ảnh hưởng nhiều đến đời sống của dân Việt Nam và là một trong những bó đuốc dẫn đường cho đường lối chính trị mới.

Việc thứ ba có ảnh hưởng đền đường lối chính trị ở Việt Nam là thỏa hiệp ngừng bắn tại Cao Ly ngày 27 tháng 7.1953. Từ khi có cuộc nghiên cứu thảo luận đình chiến ở Bàn Môn Điếm, rất nhiều người trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã nghĩ lại một cuộc thương thuyết có thể sẽ được tiếp theo để mang đến hòa bình ở Việt Nam. Cuối tháng 6 năm dương lịch, chính phủ Laniel đã bộc lộ một tư tưởng muốn hòa bình trong bài diễn văn nói về chính sách của Pháp đối với Việt Nam: ‘’Cuộc đổ máu ấy (ở Đông Dương) cần phải được nỗ lực chấm dứt nếu có thể làm được như vậy. Chính phủ tôi luôn luôn nghiên cứu tới ‘’sự có thể’’ dù bằng phương tiện thương thuyết sau khi Cao Ly đình chiến hay là bằng mọi thương thuyết thỏa hiệp với các chính phủ các Quốc Gia Liên Kết’’.Một mặt hy vọng làn gió hòa bình ở Cao Ly có thể thổi lan sang Việt Nam, mặt khác lo sợ những áp lực quân sự cộng sản rảnh tay ở Cao Ly sẽ lại quay sang biên giới Bắc Việt uy hiếp vùng Đông Nam Á. Do đó, đối với mong muốn trên, người ta đã hy vọng đem vấn đề Việt Nam ra hội nghị chính trị thứ hai, một hội nghị ‘’tưởng tượng’’ có thể sau hội nghị chính trị Cao Ly (sẽ họp). Đối với lo sợ áp lực mới ở vùng Đông Nam Á, thế giới tự do đã tỏ ý cảnh cáo trước rằng: ‘’Những hành vi xâm lược đối với Việt Nam hay là một nước nào vùng Đông Nam Á sẽ bị coi là phá hoại Hiệp Ước Đình Chiến Cao Ly’’. Nhưng dù cảnh cáo cộng sản mong muốn hay thương thuyết hòa bình, chính phủ Pháp cũng phải có một chính sách mới ở Việt Nam.

Ảnh hưởng thứ 4 là hành động của Mên Hoàng Sihanouk ngày 14 tháng 6. Mên Hoàng bất thần sang lánh bên đất Thái Lan tỏ thái độ đe dọa Pháp nếu Pháp không thực tâm trao trả lại chủ quyền Quốc Gia Cao Mên.

Hành động đột biến của Mên Hoàng, trên phương diện ngoại giao dẫu có kém lịch sự nhưng trên phương diện chính trị ít nhất bề ngoài cũng đã làm Pháp phải sững sờ và điểm lại thái độ của mình.

Pháp đã đến lúc phải hoàn bị nền độc lập của các Quốc Gia Liên Kết. Những Thỏa Ước 1949-1950 đã trở nên lạc hậu không hợp với tình thế mới.

Giữa lúc nhốn nháo về chính trị tại các Quốc Gia Liên Kết, chính phủ Pháp với Tân Thủ Tướng Laniel đã họp phiên đầu tiên ngày 1.7.1953 tại Điện Élysée và trao đổi quan điểm về vấn đề Đông Dương. Một loạt biện pháp được đem ra thảo luận.

Thứ Nhất: Hoàn bị nền Độc Lập cho các Quốc Gia Liên Kết về phương diện chính trị, kinh tế, tư pháp và có thể cả về phương diện quân sự. Sự hoàn bị đó không thể trở ngại đến việc các Quốc Gia Liên Kết nằm trong hệ thống của Liên Hiệp Pháp, của khối đồng Phật Lăng, nó cũng sẽ không trở ngại gì đến những cấp bách cần thiết trong phạm vi chiến lược. Biện pháp thứ hai là bổ khuyết những thiếu sót bên ngoài của Đông Dương với nền Độc Lập.

Chính sách mới của Pháp sẽ nhằm một đường lối tiếp tục công cuộc của Pháp đã thực hiện ở Đông Dương.

Mùng 3 tháng 7, Nội Các Laniel cho ra đời một Bản Tuyên Ngôn như sau:

‘’Chính phủ Cộng Hòa Pháp họp Hội Đồng Tổng Trưởng đã xét đến các mối giao dịch giữa nước Pháp với các Quốc Gia Liên Kết Đông Dương, chính phủ Pháp cho rằng đã đến lúc nên ứng hợp các thỏa hiệp mà các nước này đã ký kết với nước Pháp, vào các địa vị mà với sự ủng hộ hoàn toàn của nước Pháp, họ đã đạt được trong đại gia đình các dân tộc tự do.

Với một lòng tôn kính phong tục riêng của các nước và các quyền tự do của con người nước Pháp, trong một cuộc hợp tác lâu ngót thế kỷ nay, đã đưa các dân tộc Mên, Lào, Việt đến chỗ mở mang mỹ mãn của cá tính và duy trì thống nhất quốc gia của họ.

Với các thỏa hiệp đã ký kết, nước Pháp đã công nhận nền độc lập của họ và các nước này đã thỏa thuận liên kết với nước Pháp trong khối Liên Hiệp Pháp.

Ngày nay chính phủ Cộng Hòa Pháp muốn có một lời tuyên bố long trọng. Trong thời gian bốn năm vừa qua sau khi ký kết các thỏa ước, tình đồng ngũ tương thân tương trợ đã hiện ra rõ ràng hơn giữa các Quân Đội Quốc Gia này mỗi ngày tham dự một phần quan trọng hơn vào công cuộc chiến đấu chống kẻ thù chung.

Trong cũng thời gian ấy, các cơ cấu cai trị của ba nước đã đủ sức để cùng nhau đảm đương được các trách vụ của mọi quốc gia tâm thức, mà sự giao thiệp quốc tế của các chính phủ họ cũng đã lan ra số lớn các nước hợp thành tổ chức Liên Hiệp Quốc.

Trong trường hợp này, nước Pháp xét đã đến lúc nên hoàn thành nền độc lập và chủ quyền quốc gia của các nước liên kết Đông Dương bằng cách lo liệu với sự đồng ý của mọi chính phủ ba nước nói đây, việc chuyển giao các quyền hành mà nước Pháp còn giữ lại vì chính sự lợi ích cho các nước liên kết trong những trường hợp hiểm nghèo do chiến tranh gây ra.

Chính phủ Pháp đã định mời riêng mỗi chính phủ của ba nước hãy thỏa ý với mình về việc thanh toán các vấn đề mà mỗi chính phủ ấy sẽ xét thấy cần phải nên ra về các phương diện kinh tế, tài chính, tư pháp, quân sự và chính trị, sao cho các quyền lợi chính đáng của đôi bên đều được tôn trọng và bảo toàn.

Chính phủ Cộng Hòa Pháp ước ao rằng một thỏa hiệp về các điểm khác nhau này sẽ xiết chặt thêm tình thân hữu giàng buộc nước Pháp với các Quốc Gia Liên Kết trong Khối Liên Hiệp Pháp’’.

Chính phủ Pháp đã không quên nhấn mạnh đến cuộc sống thâm niên chung đụng giữa Pháp và ba Quốc Gia Việt, Mên, Lào, một cuộc sống mà nước Pháp đã hết sức hy sinh để tôn trọng phong tục riêng của từng xứ sở, tôn trọng quyền tự do của con người, trong sự nghiệp hướng dẫn các dân tộc ở Đông Dương. Nay vì nhận thấy quân đội của các quốc gia liên kết khả dĩ đã bành trướng quan trọng, nhận thấy nền hành chính và các ngành khác cũng đã thiết lập đầy đủ vững chắc nên chính phủ Pháp đã quyết định thắt chặt tình hữu nghị Pháp-Việt, Mên-Lào bằng cách mới riêng từng chính phủ của ba nước để ‘’giải quyết một cách thỏa đáng’’ những vấn đề kinh tế, tài chính, tư pháp, quân sự và chính trị. Nói tóm lại, chính phủ Pháp muốn hoàn bị nền Độc Lập của các Quốc Gia Liên Kết.

Bản Tuyên Cáo của chính phủ Pháp đã được long trọng công bố và thế giới đã hoan nghênh ca ngợi. Hoa Kỳ tuyên bố sẽ ủng hộ Pháp trong những cố gắng của chính phủ Pháp nếu Pháp theo đúng hướng đi mới mà Pháp đã vạch ra, Hoa Kỳ tin chắc rằng sự liên minh mới mẻ sẽ không thỏa mãn nguyện vọng của các dân tộc đang khao khát Độc Lập mà lại còn làm cho nước Pháp và các lực lượng đang chống cộng mạnh thêm. Các nước Ấn Độ. Diến Điện, Nam Cao, Anh…tuy còn hơi dè dặt nhưng cũng đã tỏ thiện cảm với đường lối mới của chính phủ Pháp ở Đông Dương.

Để giải thích rõ hơn nữa, Phó Thủ Tướng Pháp, ông Reynaud đã tuyên bố tại Dunkerque:

‘’Hành động đầu tiên của chính phủ Joseph Laniel làm hả lòng những người đối lập với chủ nghĩa bất động. Đó là một hành động táo bạo phù hợp cả với những cổ truyền của Pháp và những thực tại của tình hình ở Đông Dương. Thật vậy, khó mà để cho một dân tộc chủ tâm chiến đấu nếu không được phấn khởi bởi một sự thần bí.

Người ta không thể nào chiến đấu chống cộng sản nếu người ta xung đột với lý tưởng của những người quốc gia. Lời tuyên bố của chính phủ đã được tất cả thế giới tự do tán đồng. Lời tuyên bố đó đã được mạnh thêm bởi những hành động như sự bổ nhiệm một vị Đại Sứ làm Tổng Ủy Viên ở Đông Dương.

Sẽ có những hành động khác tiếp theo, nhưng vấn đề chiến tranh ở Đông Dương phải được giải quyết vì thế, nó liên quan đến tất cả các quốc gia tự do. Nó sẽ được đặt ra cho các bạn đồng minh của chúng ta’’.

Sau Bản Tuyên Cáo 3.7.53 của chính phủ Pháp, các chính phủ Quốc Gia Việt, Mên, Lào đã tỏ thái độ. Hoàng Thân Souvanna Phouma, Thủ Tướng Ai Lao tuyên bố ngày 6 tháng 7:

‘’Chính phủ Hoàng Gia Lào hoan hỉ về lời tuyên bố của chính phủ Pháp nhận rõ một cách rành mạch lập trường mới của Pháp trong việc liên lạc với các Quốc Gia Liên Kết. Chính phủ Hoàng Gia Lào đặc biệt tán thành quyết định cổ xúy những cuộc thương thảo tay đôi để giải quyết các vấn đề chính trị, quân sự, tài chính kinh tế và tư pháp hãy còn bỏ giở.

Khi được biết Bản Tuyên Cáo của Pháp, Thủ Tướng Lào, hiện đang công cán ở Ba Lê, đã quyết định triệu tới Pháp những người cộng sự chính để mở cuộc tiếp xúc nhanh chóng với các đại diện chính phủ Pháp.

‘’Tình thân thiện Pháp-Lào lúc nào cũng tin tưởng và quý mến nước Pháp. Chúng tôi hy vọng rằng những cuộc bang giao sau này đặt dưới những luật lệ ngoại giao sẽ là kết quả của sự xiết chặt những giây liên lạc tự do thỏa thuận với nhau, những liên lạc trong khối Liên Hiệp Pháp’’.

Với Cao Mên, Bản Tuyên Cáo của Pháp ra đời giữa lúc Quốc Vương Sihanouk vừa rời khỏi Battambang cùng văn võ tùy tùng về Siem-Réap, chuẩn bị một thái độ mới đối với Pháp.

Cao Mên đang cương quyết yêu sách Pháp và tỏ rõ lập trường cứng rắn của mình trong việc đòi hoàn bị nền Độc Lập.

Đồng thời với việc đích thân khai mạc Hội Nghị thảo luận kế hoạch động viên toàn quốc, Mên Hoàng đã thận trọng trong sự tiếp đón Bản Thông Điệp mùng 3 tháng 7. Theo Thủ Tướng Cao Mên Penn Outh thì mặc dầu bức Thông Điệp đã làm dễ dàng cuộc thương thuyết Pháp-Mên nhưng cũng chưa thể làm thỏa mãn hoàn toàn những nguyện vọng của Cao Mên được. Theo Cao Mên Quốc Vương Sihanouk, chỉ cần có hai chữ minh bạch và giản dị: Độc Lập.

Đối với Việt Nam, sau khi nghiên cứu Thông Điệp 3 tháng 7, Quốc Trưởng và chính phủ nhận thấy chính phủ Pháp đã bộc lộ một thiện chí xây dựng và nguyện vọng sâu xa nhất của dân tộc Việt Nam do đó sẽ có thể được thỏa mãn. Chừng nào sự thực hiện nền Độc Lập do việc chuyển giao tất cả những quyền hành mà Pháp còn giữ chừng đó Quốc Gia Việt Nam sẽ tìm thấy những sáng kiến mới để tự do thắt chặt mối giây liên lạc Pháp-Việt.

Văn kiện ngày 3 tháng 7 đã là một văn kiện quan trọng nhất từ năm 1949 trong chính sách của Pháp ở Đông Dương. Bài văn kiện đã chứa đựng một hình thức mới mẻ, ấn định sự liên hệ giữa Pháp và Việt, Mên, Lào bằng những quy ước tay đôi. Như vậy, mối giao thiệp sẽ có thể, tùy theo nhu cầu tình thế hay cần thiết trong hoàn cảnh, trong thời gian, không gian, mà được quy định. Hơn nữa, chính phủ Pháp đã khôn khéo áo dụng một cách thức mới để trao văn kiện. Thông Điệp mùng 3 tháng 7 được chính phủ Pháp chuyển thẳng tới tay các Đại Diện Việt, Mên, Lào tại Ba Lê. Đó là một hình thức ngoại giao, bằng chứng đầu tiên của Pháp muốn cam kết chắc chắn nền Độc Lập của Việt Nam và của Cao Mên, Ai Lao.

Cùng với thời gian công bố Bản Tuyên Cáo, chính phủ Pháp đã chọn ông Maurice Dejean, Đại Sứ Pháp ở Nhật Bản làm Tổng Ủy Viên liên lạc với ba Quốc Gia Liên Kết.

Ngoài hai hành động kể trên báo hiệu thái độ mới mẻ của Pháp trong cuộc bang giao với ba Quốc Gia Liên Kết ở Đông Dương, ông Gautier, Cao Ủy Pháp ở Việt Nam đã nhấn mạnh thêm:

‘’Lập trường của chính phủ Pháp được ấn định sau khi đã xem xét đầy đủ cuộc biến chuyển ấy biểu lộ trong việc thiết lập hoàn thành tất cả các cơ quan công quyền của một nước tân tiến cùng với việc thành lập một Quân Đội Quốc Gia, Quân Đội này từ nhiều tháng nay đã đảm nhiệm một gánh nặng ngày càng quan trọng hơn cuộc chiến đấu chung.

Cuộc biến chuyển này đã được nhìn nhận. Trên lập trường quốc tế, nước Việt Nam đã có địa vị và làm cho người ta nghe tiếng nói của mình trong phần nhiều các tổ chức quốc tế. Vậy là rõ rệt các Hiệp Định Pháp-Việt đã quá thời và phải có một giải pháp mới, chính phủ Pháp vừa cam kết thực hiện giải pháp ấy.

Để cho lời cam kết ấy được toàn lực và phát biểu được mọi ảnh hưởng của nó, chính phủ Pháp đã thông báo lập trường của mình cho chính phủ Việt Nam một cách long trọng.

Vậy Bản Tuyên Ngôn ngày 3 tháng 7 vừa qua là một hành động đưa tới sự canh tân các liên lạc Việt-Pháp.

Trước hết, chính phủ Pháp đã quả quyết ý muốn thi hành việc chuyển giao những thẩm quyền mà nước Pháp hãy còn nắm giữ, để cho nền Độc Lập của Việt Nam được kiện toàn.

Kế đó, căn cứ trên sự liên kết buộc chặt nước Pháp với nước Việt trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp, chính phủ Cộng Hòa Pháp thỉnh cầu chính phủ Việt Nam thỏa hiệp với mình về những mối quan hệ tương lai Việt-Pháp.

Những mối quan hệ này do nơi Bản Hiệp Ước mới mà hai chính phủ sẽ thương thuyết với nhau trên một lập trường hoàn toàn bình đẳng’’.

Ngày 28 tháng 7, khi tới Sài Gòn, Tổng Ủy Viên Pháp ở Đông Dương, Ông Maurice Dejean đã tuyên bố rõ ràng về nhiệm vụ của ông là:

‘’Việc hoàn bị nền độc lập của các Quốc Gia Liên Kết theo như Bản Tuyên Ngôn lịch sử mà chính phủ Pháp đã long trọng công bố ngày 3 tháng 7.1953. Tôi sẽ lập tức cùng các chính phủ Việt, Mên, Lào và các vị Cao Ủy, nghiên cứu những biện pháp cần áp dụng để việc chuyển giao những thẩm quyền còn ở trong tay nước Pháp tiến hành một cách nhanh chóng thích hợp với các nhà chuyên môn và để cho nền Độc Lập Cao Mên, Ai Lao và Việt Nam được hoàn toàn đầy đủ.

Sau hết nhiệm vụ của tôi là cùng với các vị Quốc Trưởng và các chính phủ của các vị đó nghiên cứu và thảo luận về hình thức và nội dung những thỏa hiệp mới để ấn định, trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp, mối bang giao giữa nước Pháp và ba nước độc lập Cao Mên, Ai Lao và Việt Nam. Nói một cách khác, nhiệm vụ đó là sửa soạn, bằng cách trao đổi quan điểm, những cuộc thường thuyết theo Bản Tuyên Cáo của chính phủ Pháp ngày 3.7.53. Trong những cuộc thương thuyết đó, các nước sẽ tham dự trên lập trường hoàn toàn tự do và bình đẳng tuyệt đối, để cùng nhau đặt nền tảng cho một sự liên kết trường cửu giữa nước Pháp và mọi Quốc Gia Việt, Mên, Lào.

Về phía Pháp, chính phủ Cộng Hòa đã tỏ ra lập trường trong Thông Điệp ngày 3.7.53. Lập trường đó dược các người đại diện chính phủ Pháp ở Đông Dương và Việt Nam trực tiếp giải thích rõ ràng trước dân chúng Việt Nam.

Về phía Việt Nam, không khí hưởng ứng rất sôi nổi. Báo chí ngày nào cũng nhắc tới việc chuẩn bị tổng tuyển cử vào quốc hội. Chính phủ luôn luôn họp để nghiên cứu Bản Giác Thư, nghiên cứu tình hình chính trị. Trong hai ngày 19 và 20 tháng 7, Quốc Trưởng đã từ Banmêthuột tới Sài Gòn hội đàm cùng Thủ Tướng chính phủ và các vị Tổng Trưởng để cùng nhận định nghiên cứu về Thông Điệp của chính phủ Pháp.

Ngày 1 tháng 8, Quốc Trưởng từ giã Việt Nam đi Pháp. Trước khi lên đường tiếp xúc với chính khách Pháp để chuẩn bị cuộc thương thuyết Pháp-Việt, Quốc Trưởng Bảo Đại đã hiệu triệu quốc dân, tuyên bố về lý do cuộc hành trình:

‘’Đồng bào thân mến!

Trước khi lên đường sang Pháp tôi cần phải tuyên bố cùng quốc dân, những lý do cuộc hành trình của tôi.

Năm 1948, thể theo lời yêu cầu các nhà đại diện chính đảng của đồng bào, tôi đã nhận làm phát ngôn nhân cho dân tộc. Khi đó, vì tình thế trong nước chưa ổn định, nên tôi không thể trưng cầu dân ý được hết thẩy các gia đình tinh thần và các chính đảng toàn quốc.

Sự tiến triển trên đường dân chủ hóa của các cơ quan chính quyền quốc gia, trong khoản mấy năm nay, khiến nên bây giờ tôi có thể bổ khuyết được chuyện ấy. Bởi vậy trong mấy tuần lễ vừa rồi, tôi đã mở một cuộc thăm dò rộng rãi về phương diện chính trị. Để hướng dẫn hành động của tôi, tôi đã hỏi ý kiến hết thẩy những người khả dĩ phát biểu được nguyện vọng của dân chúng. Và đây, tôi đã thâu góp được tài liệu đầy đủ và nhờ sự thống nhất ý chí biểu quyết mạnh mẽ của đồng bào, tôi có thể nhân danh dân tộc Việt Nam mà lên tiếng. Tôi sẽ tỏ bầy cùng người Pháp sự cố gắng, những nỗi khó khăn, những sự hy sinh của chúng ta, tôi sẽ làm cho người Pháp biết: Quân Đội Quốc Gia Việt Nam thành lập với một tin tưởng cao siêu nhường nào. Lực lượng do gốc tích ở đất nước, cội rễ ở dân tộc và do đức tính cổ truyền của chúng ta đào tạo, ngày nay đang dự bị đảm nhận những chức vụ cực kỳ khó khăn, đó là một điểm tôi cũng cần làm cho người Pháp nhận định.

Ngoài ra, tôi cũng sẽ tỏ rằng, chúng ta đã hiểu những nỗi khó khăn của nước đại cường quốc thân hữu của chúng ta.

Để đáp lại lời mời ngày 3.7.53 của chính phủ Pháp, tôi sẽ giải bầy những nguyện vọng của dân tộc Việt Nam mà đòi hỏi độc lập hoàn toàn và đồng thời cũng mong ước tự do gia nhập trong khối Liên Hiệp Pháp do mấy quốc gia chủ quyền đầy đủ và thân hữu kết liên với nhau.

Nhưng điều cốt yếu là đồng bào hãy tin chắc rằng sẽ không có quyết định nào mà đồng bào không dự phần. Từ hơn bốn năm nay, tôi hằng vẫn theo đuổi mục đích làm cho toàn dân ngày một tham gia vào công việc điều khiển việc nước. Thì giờ này đây, là giờ phút định đoạt vận mệnh quốc gia, định đoạn nền độc lập, hòa bình và an ninh của xứ sở, là giờ phút liên can tới danh dự tổ quốc và cuộc sống còn của nhân dân, có lẽ nào tôi lại không để đồng bào hoàn toàn hưởng quyền lợi căn bản thiêng liêng và bất khả xâm phạm là quyền chọn lựa số phận mình. Tuy nhiên, trong khi chờ đợi, tôi xin nhắn nhủ quốc dân hãy xiết chặt lại hàng ngũ vì còn nhiều công cuộc cần phải được quốc dân chú ý và gắng công.

Trong các hội đồng và các hội nghị chân chính dân chủ của nước nhà hiện thời, các từng lớp chính trị ưu tú hãy tự đào tạo cho mình. Các sĩ quan hãy gắng công rèn luyện Quân Đội Quốc Gia, để gây thêm lực lượng cho Quân Đội đó là nguồn hy vọng của đất nước.

Hết thẩy đồng bào bất cứ ở địa vị nào hãy góp phần vào công cuộc khuếch trương những tài sản của nước nhà. Do đó, do sự gắng sức của mọi người, sức mạnh của quốc gia sẽ nẩy nở và ta sẽ đoạt được hòa bình trong khi ta chăm lo hướng dẫn vận mệnh tổ quốc.

Tôi tuyên bố cùng đồng bào, sự tin tưởng của tôi vào tương lai và đồng bào tin rằng ý nghĩ của tôi sẽ không xa đồng bào bao giờ’’.

Chương trình viễn du của Quốc Trưởng kỳ này được sửa soạn kỹ càng với sự tham gia ý kiến của tất cả mọi người, khả dĩ có thể phát biểu được những mong muốn chính đáng của dân chúng Việt Nam. Quốc Trưởng đã đầy đủ tài liệu để có thể nhân danh dân tộc Việt Nam trình bầy tất cả những hy sinh, cố gắng của dân tộc Việt.

Ở Pháp, Quốc Trưởng đã tiếp xúc với Bộ Trưởng Jacquet và ngày 27 tháng 8, đã hội đàm với Tổng Thống Pháp Vincent Auriol để trao đổi quan điểm về các vấn đề đã nêu lên giữa hai nước do Bản Tuyên Ngôn Pháp ngày 3 tháng 7.1953.

Quốc Trưởng Việt Nam nhắc tới việc Việt Nam sẽ tự do gia nhập Liên Hiệp Pháp và đối lại, ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Bidault, nhân danh chính phủ Pháp, cũng cam kết rằng dù thế nào mặc lòng chính phủ Pháp không có thể làm gì trước nếu không có cuộc thăm dò ý kiến của các quốc gia liên kết ở Đông Dương và nếu không có sự thỏa thuận của các nước đó.

Trong khi ở Pháp, Quốc Trưởng Bảo Đại chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ mới của dân tộc giao phó thì ở Việt Nam, chính phủ và dân chúng tích cực gây hậu thuẫn và cơ sở cho những cuộc thương thuyết sắp tới giữa Pháp và Việt.

Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm nhân danh chính phủ Việt Nam yêu cầu nhà cầm quyền Pháp chuyển giao nốt ngay những cơ sở còn ở trong tay người Pháp. Theo Việt Nam, đó là một sự kiện rất hợp lý sau khi Bản Giác Thư ngày 3 tháng 7 ra đời.

Những yêu cầu của chính phủ Việt Nam gồm 4 bản danh sách.

Yêu cầu thứ nhất là chuyển giao một cách nhanh chóng những cơ sở:

  • Hàng không dân sự.
  • Cơ sở hạ từng về phi cơ.
  • Sở Khí Tượng.
  • Các đèn pha ngoài biển và hải tiêu.
  • Thương Cảng Sài Gòn.
  • Ban kiểm soát các cơ sở phát điện lực do chính phủ nhượng lại.
  • Cảnh Vụ Thương Cảng Sài Gòn.
  • Tất cả các Sở An Ninh, trừ các Sở An Ninh Quân Sự và của đoàn quân viễn chinh.

Yêu cầu thứ hai là chuyển giao những thẩm quyền còn do các nhà chức trách Pháp thi hành:

  • Sở trưng dụng nhà cửa.
  • Ty nguyên liệu lỏng và dầu mỡ.
  • Ban kiểm soát kinh thác con đường Hỏa Xa Vân Nam.

Yêu cầu thứ ba là trao trả hẳn cho Việt Nam những cơ sở Pháp-Việt còn chia đôi thẩm quyền:

  • Ban kiểm tra lý lịch về tư pháp.
  • Ban cảnh binh hành chính và di trú ngoại kiều (Sở Tân Đốc)
  • – Ty coi về kiểm soát kỹ thuật.
  • – Nha cảnh binh tư pháp hỗn hợp.
  • – Tất cả các sở thuộc về các tòa án hỗn hợp.
  • – Ty trang bị và phân phối điện lực.
  • – Ban điều hành giao thông Bộ và Thủy.

Bản danh sách thứ tư yêu cầu sửa đổi lại những thỏa hiệp trước nghĩa là hầu hết những thỏa hiệp minh xác sự giao thiệp Pháp-Việt, nhất là thỏa hiệp ngày 9.3.1949 và các quy ước áp dụng những thỏa hiệp đó về vấn đề ngoại giao, tư pháp, văn hóa và đại học v.v…

Nội Các Nguyễn Văn Tâm muốn nhằm mục đích gạt bỏ phần trở ngại trước không Việt-Pháp mở cuộc đàm phán chính thức. Phần trở ngại đó là những sự hạn chế đã làm cho Quốc Gia Việt Nam như chịu đựng một ‘’cộng đồng chủ quyền’’.

Hội Đồng Nội Các còn gửi một bản kiến nghị tỏ lòng tận tâm, tín nhiệm vào Quốc Trưởng trong công cuộc thực hiện các nguyện vọng quốc gia.

Ngoài những bức điện văn của các cơ quan chính quyền, dân chúng ở khắp ba phần đều tổ chức những cuộc mít tin, biểu tình rất rầm rộ tỏ ý hoàn toàn ủng hộ Quốc Trưởng trong cuộc đàm phán tương lai.

Ngày 11.8 ở Huế, các đại biểu của những toàn thể tôn giáo, chính trị, thanh niên, phụ nữ đã tụ họp đồng hằng chục vạn để xác nhận sự ủng hộ của dân chúng Trung Việt.

Ở Bắc Việt, ngày 4 tháng 9, một cuộc biểu tình đông đảo cũng được tổ chức, do các đoàn thể hướng dẫn, dân chúng nhộn nhịp hàng chục vạn người đã hội họp tại công trường Nhà Hát Lớn Hà Nội. Máy phóng thanh đặt khắp ngả đường để dân chúng có thể dễ dàng nghe những diễn giả đại diện các giới phát biểu ý kiến.

Ở Nam Việt, các ông Phạm Công Tắc, đại diện Cao Đài, Lê Văn Viễn đại diện Bình Xuyên, Lương Trọng Tường đại diện Hòa Hảo gửi điện sang Cao Ủy Phủ Việt Nam tại Ba Lê tỏ lòng tin cậy và triệt để ủng hộ Quốc Trưởng.

Ngày 4 tháng 9, một Hội Nghị Đoàn Kết được triệu tập tại Nam Việt do một số người nhân danh đại diện tôn giáo và nhân sĩ như Giám Mục Ngô Đình Thục, Hòa Thượng Tuệ Tăng, Giáo Chủ Huỳnh Công Bộ, Hộ Pháp Phạm Công Tắc và Y Sĩ Nguyễn Xuân Chữ. Các nhà đại diện trên đây đã tung ra một Bản Hiệu Triệu dân chúng kêu gọi tiến tới thành lập một Khối Đoàn Kết Quốc Gia.

Một phong trào Liên Hiệp Ái Quốc cũng được nêu lên và thiết lập dưới quyền chủ tọa của Giáo Chủ Phạm Công Tắc. Cuộc hội họp diễn ra trong khu vực Bình Xuyên và công bố một Bản Tuyên Ngôn của phong trào đại ý nói các chiến sĩ quốc gia ở Việt Nam đã tốn bao xương máu mà vẫn chưa thực hiện được nền Độc Lập cho nước nhà. Các chiến sĩ quốc gia luôn luôn bị những mưu mô chia rẽ, phá hoại, ngày nay, nhờ hoàn cảnh thuận tiện đã cố gắng hợp nhất, kiến tạo một phong trào đoàn kết sâu rộng mục đích dễ dàng tranh đấu cho nền Độc Lập Tổ Quốc.

Về mặt chính quyền, Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm rời Sài Gòn ngày 3 tháng 9 đi Pháp. Thủ Tướng sang yết kiến Quốc Trưởng để thảo luận về vấn đề xây dựng thành phần các đại biểu tương lai đi dự cuộc đàm phán với Pháp. Thủ Tướng đã gặp nhiều chính khách Pháp như ông Reynaud, Phó Thủ Tướng. Ông Laniel, Thủ Tướng. Ông Letourncau, nguyên Tổng Trưởng Bộ Liên Quốc, Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm quay trở lại Việt Nam sau một tuần lễ ở Pháp, mang theo những huấn lệnh mới của Quốc Trưởng Bảo Đại.

Quốc Trưởng có một mong muốn rất rõ rệt Quốc Trưởng muốn dân chúng phải được tham gia ý kiến, gom góp sáng kiến vào cuộc đàm phán có ảnh hưởng đến vận mệnh của quốc gia và của toàn thể dân tộc.

Quốc Trưởng còn muốn tỏ cho mọi người hiểu rằng hoạt động của chính phủ và các người lãnh đạo chính phủ quốc gia phải bắt nguồn từ những mong muốn của dân chúng.

Quốc hội Việt Nam chưa thành lập được và vì lẽ đó, Quốc Trưởng đã nghĩ tới cách thu thập ý chí, nguyện vọng, sáng kiến của quốc dân bằng triệu tập một Đại Hội Nghị Toàn Quốc. Tham dự Đại Hội sẽ có đủ mọi các nhóm, đảng chính trị, tôn giáo, đại biểu các nghề nghiệp, dân chúng.

Quốc Trưởng đã ký một Sắc Lệnh ngày 10 tháng 9 về việc thiết lập một Hội Nghị Toàn Quốc, nội dung như sau:

Khoản nhất: Nay thiết lập một Hội Nghị Toàn Quốc để quốc dân tỏ bày ý định tiếp theo Bản Tuyên Ngôn của chính phủ Pháp ngày mồng 3 tháng 7 năm 1953.

Khoản hai: Hội Nghị Toàn Quốc gồm có 200 nhân viên tuyển lựa trong các đoàn thể chính trị, tôn giáo, kinh tế, chuyên nghiệp và trong các Hội Nghị và Hội Đồng Dân Cử.

Số các nhân viên được tuyển lựa tùy theo tổng số nhân viên các đoàn thể, hội nghị và hội đồng chỉ định trên đây.

Trong trường hợp không thể ấn định tổng số nhân viên của mỗi đoàn thể, sự tuyển lựa số đại biểu sẽ do Ủy Ban Tổ Chức Hội Nghị Toàn Quốc ấn định chiếu theo khoản thế 8.

Khoản Ba: Lĩnh trách nhiệm phát biểu một cách hết sức rộng rãi dư luận toàn dân, trong tình trạng hiện tại. Hội Nghị Toàn Quốc sẽ tỏ bầy ý kiến về những vấn đề sau đây:

1.- Định rõ phạm vi và giới hạn chủ quyền quốc gia để được công nhận trong cuộc thương thuyết với nước Pháp.

2.- Định rõ những thể thức của sự liên kết giữa nước Việt Nam và Pháp.

Ngoài ra, Hội Nghị Toàn Quốc sẽ đệ trình Quốc Trưởng một danh sách hai mươi nhân sĩ trong số ấy Quốc Trưởng sẽ tuyển lựa những đại biểu được ủy nhiệm thương thuyết với nước Pháp.

Khoản tư: Hội Nghị Toàn Quốc sẽ nhóm họp trong hai ngày và giải tán ngay sau thời hạn ấy.

Khoản năm: Hội Nghị Toàn Quốc họp tại Sài Gòn.

Khoản sáu: Chủ Tịch và Ban Chấp Hành Hội Nghị Toàn Quốc sẽ được bầu cử trong số những nhân viên của Hội Nghị bằng cách bỏ phiếu kín và theo đa số tuyệt đối.

Hội Nghị Toàn Quốc có trọn quyền ấn định nội dung quy trình.

Khoản bẩy: Ngày triệu tập Hội Nghị Toàn Quốc sẽ do Nghị Định Thủ Tướng chính phủ và các Tổng Trưởng hữu trách sẽ áp dụng những biện pháp cần thiết, như về phương diện trật tự, để Hội Nghị Toàn Quốc tự do thi hành nhiệm vụ ấn định ở khoản thứ ba.

Khoản 8: Để triệu tập Hội Nghị Toàn Quốc theo các điều kiện ấn định ở những khoản trên, nay thiết lập một Ủy Ban Tổ Chức Hội Nghị Toàn Quốc.

Ủy Ban này sẽ gồm có chín nhân viên tuyển lựa trong những nhân sĩ có tư cách đại diện hơn hết cho các đoàn thể, hội nghị và hội đồng chỉ định ở khoản thứ hai.

Ủy Ban ấy sẽ liên lạc với chính phủ để tổ chức Hội Nghị Toàn Quốc và chính phủ sẽ giúp Ủy Ban thi hành nhiệm vụ trong phạm vi những sắc lệnh và nghị định hiện hành.

Ủy Ban Tổ Chức sẽ giải tán ngay sau khi Hội Nghị Toàn Quốc đã bầu Ban Chấp Hành chỉ định ở khoản thứ sáu.

Ngày 15 tháng 9, Quốc Trưởng ủy nhiệm Cao Ủy Bửu Lộc lĩnh sứ mạng về Việt Nam để triệu tập và khai mạc Hội Nghị Toàn Quốc.

Hoàng Thân Bửu Lộc về nước với lời Hiệu Triệu của Quốc Trưởng:

‘’Đồng bào thân mến!

Ngày 31 tháng 7 dương lịch vừa qua, trước khi lên đường sang Pháp, tôi đã nói để đồng bào biết rằng tôi sẽ giải thích cùng dân tộc Pháp và chính phủ Pháp, những nguyện vọng của dân tộc Việt Nam: Đòi hỏi độc lập hoàn toàn và đồng thời cũng mong ước tự do gia nhập trong khối Liên Hiệp Pháp, gồm những quốc gia chủ quyền đầy đủ và thân hữu liên kết với nhau.

Hôm nay chủ định của tôi là tin để đồng bào biết rằng: Dân tộc và chính phủ Pháp đã nhận định lập trường do tôi tuyên bố trên đây.

Tôi đã nhận thấy ở Pháp, một sự hiểu biết thành thực và nhiều bằng chứng của một tình thân hữu, mà từ lâu chúng ta vốn biết rằng có thể chắc chắn tin cậy.

Ngay từ bây giờ chính phủ Pháp quả quyết thi hành những điều cam kết trong Bản Tuyên Ngôn long trọng về nền Độc Lập Việt Nam ngày 3 tháng 7 vừa rồi. Nước Pháp hết lòng mong mỏi Tổ Quốc chúng ta toàn thắng trong cuộc chiến đấu hiện tại. Nước Pháp muốn giúp chúng ta, để chúng ta dành lại quyền tự do và chiếm lấy, trong đại gia đình các quốc gia tự do, một địa vị xứng đáng, với nền quá khứ vinh quang của dân tộc, xứng đáng với hy sinh cao cả của con dân đất nước, một địa vị mà chúng ta có quyền được hưởng vì lòng tha thiết đối với những lý tưởng văn minh.

Cứ tình thế nói trên, tôi đã có thể ngay từ bây giờ, thể theo lời mời của chính phủ Pháp, bắt đầu mở với các nhà cầm quyền Pháp những cuộc thương thảo mà tôi biết chắc rằng sẽ đưa đến một bản hiệp ước, ký kết trên một nền tảng hoàn toàn bình đẳng về quyền lợi và chủ quyền.

Nhưng cũng hôm 31 tháng 7 vừa đây, tôi đã tuyên bố rằng sẽ không có một quyết định nào mà đồng bào không dự phần. Bởi vậy, tôi muốn rằng quốc dân Việt Nam phải được hỏi ý kiến như lời tôi đã hứa.

Tôi đã thực hiện lời hứa hẹn này, trong khi tôi tỏ cho chính phủ Pháp biết rằng, trước khi mở đầu cho mọi cuộc thương thuyết, tôi muốn triệu tập một cuộc Hội Nghị Toàn Quốc, có nhiệm vụ bày tỏ những nguyện vọng của toàn dân và đề cử những phát ngôn nhân của nước Việt Nam trong các cuộc đàm phán ở Ba Lê.

Cuộc Hội Nghị Toàn Quốc đó sẽ gồm những đoàn thể chính trị và tinh thần của Quốc Gia Việt Nam dưới chính thể hợp pháp. Những đoàn thể này tiêu biểu cho các từng lớp nhân dân, gồm những người có thiện chí và chân chính lo cho tiền đồ Tổ Quốc.

Tất cả đồng bào sẽ có quyền lên tiếng trong cuộc hội nghị đó. Giờ này đây, tôi thấy kêu gọi và thúc dục những ai từ trước đến nay, vì không muốn ấn định thái độ, nên đã từ chối không chịu tham dự công cuộc chung. Ngày nay, họ không thể viện lẽ gì mà do dự hoặc nghi ngờ được nữa. Sự tham dự của mọi người trong lúc này sẽ chứng tỏ ý chí của toàn thể quốc dân.

Vốn tôn trọng những quyền tự do, căn bản của nền dân chủ, tôi sẽ để các vị đại diện của đồng bào toàn quyền chuyển đạt cho tôi ý chí đó của dân chúng. Các vị đại diện của đồng bào sẽ có nhiệm vụ thiết lập danh sách những người xứng đáng và đủ năng lực hơn hết, trong số đó tôi sẽ cử những vị đại biểu Quốc Gia, mà rồi đây sẽ lãnh nhiệm vụ thương thuyết với nước Pháp. Do đó, chính là một Quốc Gia ủy nhiệm mà các vị đại diện của đồng bào sẽ nhận lãnh.

Tin tưởng ở lòng ái quốc của đồng bào, riêng tôi, tôi đã quyết đứng ra ngoài cuộc trưng cầu dân ý này. Những đại diện hữu quyền của tôi sẽ loan báo Bản Hiệu Triệu này với quốc dân.

Trong khi vững lòng chờ đợi đồng bào trả lời, tôi sẽ mang hết cố gắng thực hiện trong cuộc cần thiết nhất thuộc nhiệm vụ của tôi tức là sự thành lập Quân Đội Quốc Gia, tượng trưng cho nền thống nhất và độc lập tổ quốc, và cũng đồng thời bảo đảm cho nền hòa bình xứ sở, mục đích tối cao của chúng ta.

Đối với thế giới đang quan sát chúng ta, dân tộc ta sẽ tỏ rõ tinh thần dân chủ của mình, nhờ tinh thần ấy mà ý chí dành độc lập, tự do liên kết với nước Pháp, trở nên hợp lý. Thế giới sẽ cân nhắc và sẽ nhận định nơi nào là địa hạt của tinh thần Quốc Gia chân chính, nẩy nở và tốt tươi trên nền tảng tự do.

Hỡi đồng bào thân mến, nhiệm vụ chứng minh tinh thần của dân tộc với thế giới nay ở trong tay đồng bào. Với đức tính tôn trọng kỷ luật công dân, với sự lựa chọn sáng suốt của đồng bào, tôi chắc đồng bào sẽ chẳng phụ lòng tin tưởng của tôi’’.

Hoàng Thân Bửu Lộc, sau khi đặt chân lên Sài Gòn, Huế, Hà Nội, đã gặp gỡ, nhận định, tiếp xúc, hội đàm với nhiều yếu nhân trong chính quyền, trong các đoàn thể, các nhóm chính trị tôn giáo, giải bầy với nhân dân quyền hạn của Ủy Ban Tổ Chức Hội Nghị, nhiệm vụ và thời hạn của Hội Nghị Toàn Quốc.

Thành phần Hội Nghị được chia theo tỷ lệ các Hội Đồng Dân Cử, các nhóm chính trị, tôn giáo, kinh tế, văn hóa với mục đích làm phấn khởi tinh thần thống nhất của toàn dân.

Số ghế ở Hội Nghị chia ra như sau:

– Hội viên hàng xã: 50 ghế.
– Hội viên hàng tỉnh: 19 ghế.
– Đoàn thể chính trị: 25 ghế.<
– Cao Đài: 17 ghế.
– Công Giáo: 15 ghế.
– Hòa Hảo: 15 ghế.
– Bình Xuyên: 9 ghế.
– Nghiệp đoàn: 8 ghế.
– Công nhân: 6 ghế.
– Thương mại: 6 ghế.
– Phật Giáo: 5 ghế.
– Sơn cước: 5 ghế.
– Kỹ nghệ: 4 ghế.
– Văn hóa: 3 ghế.
– Báo giới: 3 ghế.

Và 3 ghế dành thêm cho đồng bào hải ngoại:

– Pháp: 1 ghế.
– Xiêm: 1 ghế.
– Mên: 1 ghế.

Hội Nghị đã bầu một Chủ Tịch Đoàn và một Ban Tổng Thư ký.

Chủ Tịch Đoàn:

  • Trần Trọng Kim: 153 phiếu.
  • Đặng Văn Sung: 136 phiếu.
  • Nguyễn Hữu Thuần: 117 phiếu.
  • Vũ Ngọc Trản: 109 phiếu.
  • Lê Thiện Phước: 108 phiếu.
  • Phan Hà: 102 phiếu.

Ban Tổng Thư Ký:

  • Trần Văn Ân: Tổng Thư Ký
  • Trần Văn Tuyên: Phó
  • Thanh Nam: Phó
  • Nguyễn Duy Quang: Phó
  • Lê Thành Trường: Phó
  • Nguyễn Phú Đốc: Phó.

Tại Tòa Thị Chính Sài Gòn, Hội Nghị Toàn Quốc đã khi mạc ngày 12 tháng 10 và thành lập ra ba Tiểu Ban.

1.- Tiểu Ban Nghiên Cứu vấn đề Độc Lập:

  • Nguyễn Phan Long: Chủ Tịch.
  • Phan Khắc Sửu: Phó Chủ Tịch.
  • Đỗ Mạnh Quát: Phúc Trình Viên.
  • Phan Huy Đức: Thư Ký.
  • Đỗ Đình Quế: Hội Viên.
  • Nguyễn Hữu Dương: Hội Viên.
  • Phan Huy Anh: Hội Viên.
  • Nguyễn Bỉnh Tuyên: Hội Viên.
  • Trần Ngọc Ban: Hội Viên.
  • Trương Ngọc Nhu: Hội Viên.
  • Trịnh Thế: Hội Viên.
  • Lê Đình Cự: Hội Viên.

2.- Tiểu Ban nghiên cứu vấn đề liên kết với Pháp:

  • Trần Văn Quế: Chủ Tịch.
  • Đỗ Đình Đạo: Phó Chủ Tịch kiêm Phúc Trình Viên.
  • Nguyễn Hữu Pha: Thư Ký.
  • Nguyễn Công Triệu: Nhân Viên.
  • Vĩnh Cơ: Nhân Viên.
  • Vũ Văn Dung: Nhân Viên.
  • Lê Đình Duyên: Nhân Viên.
  • Bùi Quang Tời: Nhân Viên.
  • Vũ Ngọc Tiến. Nhân Viên.
  • Phan Khoan: Nhân Viên.
  • Mai Ngọc Thiệu. Nhân Viên.

3.- Tiểu Ban nghiên cứu nhiệm vụ của phái đoàn thương thuyết:

  • Phạm Hữu Chương: Chủ Tịch.
  • Chế Công Triệu: Phúc Trình Viên.
  • Phạm Văn Thụ: Nhân Viên.
  • Nguyễn Văn Mai: Nhân Viên.
  • Nguyễn Nhân Ứng: Nhân Viên.
  • Bùi Xuân Tuy: Nhân Viên.
  • Hồ Văn Hải: Nhân Viên.
  • Đỗ Cường Duy: Nhân Viên.
  • Lưu Đức Trung: Nhân Viên.
  • Ứng Thi: Nhân Viên.
  • Phạm Thế Tường: Nhân Viên.
  • Vũ Văn Huyên: Nhân Viên.
  • Thái Văn Châu: Nhân Viên.

Hội Nghị Toàn Quốc làm trong một bầu không khí rất hăng hái, sôi nổi và bế mạc, ngày 17 tháng 10 bằng một Bản Kiến Nghị Tổng Quát đệ lên Quốc Trưởng.

‘’Hội Nghị Toàn Quốc đặt tín nghiệm hoàn toàn vào Đức Quốc Trưởng trong công việc điều đình sắp tới để hoàn thành nền Độc Lập nước Việt Nam và kiến thiết cùng nước Pháp một khối liên minh căn bản trên sự tự do thỏa thuận đôi bên, trên sự tôn trọng chủ quyền và sự hỗ tương quyền lợi và nhiệm vụ của hai dân tộc.

Hội Nghị Toàn Quốc ngỏ lời cảm ơn nước Pháp và nước Mỹ đã ủng hộ và viện trợ Việt Nam để củng cố nền Độc Lập’’.

Sau mấy ngày hội họp tranh luận, các đài biểu của Hội Nghị đã bỏ phiếu chấp nhận 3 bản quyết nghị như sau:

1.- Quyết Nghị về vấn đề Độc Lập.

Xét rằng chỉ độc lập hoàn toàn mới làm thỏa mãn nguyện vọng tối thiêng liêng từ ngàn xưa của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Xét rằng độc lập hoàn toàn là điều kiện phải có trước tiên đề đặt nền tảng bang giao Việt-Pháp trên lập trường hai nước, độc lập như nhau.

Xét rằng độc lập hoàn toàn là điều kiện duy nhất chấm dứt chiến tranh hiện tại và vãn hồi hòa bình ở Việt Nam.

Toàn thể Hội Nghị Toàn Quốc đại diện các từng lớp dân chúng Việt Nam.

Quyết Nghị:

Việt Nam phải là một nước hoàn toàn độc lập nghĩa là phải đầy đủ chủ quyền đối nội và đối ngoại như bất cứ một quốc gia độc lập nào khác trên thế giới theo quốc tế công pháp.

Thủ tiêu tất cả hiệp ước ký kết giữa Pháp với Việt Nam từ xưa đến nay và chế độ Hoàng Triều Cương Thổ.

2.- Quyết Nghị về vấn đề liên kết:

Xét vì trong giai đoạn lịch sử hiện tại, các nước đều có khuynh hướng liên kết chặt chẽ với nhau để duy trì độc lập và tự do cùng nhau xây dựng hòa bình thế giới.

Xét vì cuộc liên kết giữa các dân tộc chỉ có thể bền vững và có ích nếu hai nước cộng tác trên lập trường hoàn toàn tự do bình đẳng và tôn trọng quyền lợi lẫn nhau.

Xét vì Tổ Chức Liên Hiệp Pháp xây dựng trên Hiến Pháp nước Pháp năm 1946 trái hẳn với chủ quyền một quốc gia độc lập.

Xét vì quyền lợi thứ nhất của một dân tộc là tự mình quyết định những việc có liên quan với dân tộc mình.

Quyết Nghị:

Nước Việt Nam độc lập không gia nhập Liên Hiệp Pháp dưới hình thức hiện tại.

Sau khi thâu hồi tất cả các chủ quyền mà nước Pháp còn giữ lại, sau khi thanh toán xong việc phát hành Đông Dương tức Ngân Hàng Đông Dương cũ, nước Việt Nam sẽ ký với Pháp những Hiệp Ước liên minh trên lập trường bình đẳng tùy theo nhu cầu của Việt Nam và Pháp trong những thời hạn và trường hợp ấn định rõ ràng.

Hết thẩy mọi sáng kiến, thương thảo, đề nghị quốc tế có liên quan với Việt Nam đều phải do chính phủ Quốc Gia Việt Nam dưới quyền lãnh đạo của Đức Quốc Trưởng định đoạt.

Tất cả các Hiệu Ước trên đây sẽ do quốc hội Việt Nam do cuộc phổ thông đầu phiếu bầu lên duyệt y mới được thi hành.

3.- Quyết Nghị về vấn đề cử người đi thương thuyết:

Hội Nghị quyết định để tùy Đức Quốc Trưởng lựa chọn, trong số 211 đại biểu dự Hội Nghị hoặc cả trong số các nhân vật ngoài Hội Nghị Toàn Quốc, những đại biểu tham dự phái đoàn đi thương thuyết với Pháp .

Kết quả công việc Hội Nghị của Toàn Quốc đã làm Quốc Trưởng và nhân viên Việt Nam hài lòng.

Hội Nghị đã bầy tỏ được nguyện vọng tha thiết của dân chúng Việt Nam mong mỏi một nền độc lập hoàn toàn.

Hội Nghị đã nêu rõ được mong muốn của nhân dân Việt Nam trong một xây dựng một tình thân giao tự do, một sự liên hiệp Việt-Pháp trên lập trường bình đẳng và cương quyết xóa bỏ những vết tích của một chế độ bất hợp thời.

Hội Nghị đã tỏ lòng tín nghiệm hoàn toàn vào Quốc Trưởng Bảo Đại trong cuộc thương thuyết sắp tới với nước Pháp.

Giá trị tuyệt đối của Hội Nghị Toàn Quốc là ở lòng sốt sắng, nhiệt thành, bộc lộ một tinh thần quốc gia mạnh mẽ của các đại biểu.

Một số người, nhất là người ngoại quốc đã nhắc nhiều tới hình thức và phương pháp làm việc của Hội Nghị để phê bình chỉ trích một cách gay gắt.

Phần vì muốn chia rẻ xuyên tạc, phần vì nhận xét quá nông nỗi, vội vàng, chỉ chú trọng đến từ chương, họ đã không để ý tới nội dung, không chịu tìm hiểu những ý nghĩa xâu xa và thành thực về những quyết nghị của Đại Hội.

Một số dư luận ở Pháp đã tỏ vẻ không ưa lề lối bầu cử trong Hội Nghị. Họ chỉ trích kiểu bầu Chủ Tịch Đoàn là một kiểu của cộng sản.

Do thời gian làm việc quá cấp tốc ảnh hưởng tới các hành văn không được khôn khéo của một bản quyết nghị và cũng do sự truyền tin quá hấp tấp của một số phóng viên các báo, cho nên Hội Nghị Toàn Quốc vô tình đã gây ra một thắc mắc lớn cho Pháp trong ít ngày.

Nguyên ngày 15.10, Đại Hội đã quyết nghị về vấn đề liên kết với Pháp trong có câu: ‘’Nước Việt Nam độc lập không gia nhập Liên Hiệp Pháp’’. Sợ thiên hạ có thể hiểu nhầm tinh thần Bản Kiến Nghị, ngay hôm sau, Đại Hội đã bỏ phiếu thuận sửa đổi và chú thích thêm vào câu trên mấy chữ ‘’dưới hình thức hiện tại’’ để được rõ nghĩa nhưng cũng gây cho giới chính trị Pháp một mối xúc cảm mạnh.

Vì thế, ngày 21 tháng 10, Hội Đồng Tổng Trưởng Pháp đã phải họp dưới quyền chủ tọa của Tổng Thống Auriel để bàn về Việt Nam. Chính phủ Pháp đã chuyển tới cho Đại Sứ Việt Nam, Hoàng Thân Bửu Lộc một bức thông điệp nhắc lại lập trường của Pháp về vấn đề Liên Hiệp Pháp và yêu cầu Quốc Trưởng và chính phủ Việt Nam cho biết rõ lập trường của Việt Nam.

Ngày 26 tháng 10, trước khi lên máy bay về nước, Quốc Trưởng Bảo Đại tuyên bố:

‘’Mặc dầu có sự hiểu lầm nhất thời, tình hữu nghị cổ truyền Pháp-Việt vẫn nguyên vẹn. Riêng tôi, tôi tin rằng tình hữu nghị này sẽ bành trướng một cách êm đẹp trên căn bản bình đẳng trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp.

Điều đó đã là và sẽ vẫn là nguyên tắc căn bản trong chính sách của Việt Nam đối với Pháp’’.

Lời tuyên bố của Quốc Trưởng đã làm dịu hẳn dư luận Pháp.

Đường lối của Quốc Trưởng rất rõ rệt.

Việt Nam cần phải được độc lập hoàn toàn, dân Việt Nam chỉ muốn thương thuyết với Pháp trên lập trường tự do và bình đẳng. Nền độc lập Việt Nam đã tiến triển chậm chạp từ cuộc thương thuyết tại Vịnh Hạ Long nay đến chỗ bội tiến của nó và được đánh dấu bằng Bản Tuyên Cáo long trọng ngày 3 tháng 7.1953 của chính phủ Pháp.

Hội Nghị Toàn Quốc đã bộc lộ ý chí giản dị và minh bạch của dân tộc Việt Nam. Toàn dân đã ủy nhiệm Quốc Trưởng để cố gắng cụ thể ý chí của mình trong cuộc đàm phán với Pháp và hoàn toàn siết chặt hàng ngũ làm hậu thuẫn.

Những người quen dùng chữ trong các văn kiện ngoại giao hoặc với mục đích ru ngủ, hoặc với mục đích lừa lọc dân chúng, đã nhăn mặt khi nhìn cách hành văn trong Bản Kiến Nghị của Đại Hội Toàn Quốc. Thực ra, dân tộc Việt Nam, khi đến tuổi trưởng thành về chính trị đã chỉ tỏ ra luôn luôn thành thực và không hề muốn lắt léo trình bầy văn kiện lịch sử. Dân Việt Nam rất mong mọi người thâm hiểu những ý nghĩ sâu xa và chính đảng đã phô bầy một cách thường xuyên trong mọi vấn đề.

Nhân dân Việt Nam lúc nào cũng muốn kết bạn với nhân dân Pháp, cũng như với nhân dân của các nước khác trên thế giới, một lập trường hoàn toàn bình đẳng. Nhưng nếu cơ quan Liên Hiệp Pháp lại do những ý thức lạc hậu và ngoan cố hướng dẫn với mục đích gò buộc dân tộc Việt Nam thì không những dân tộc Việt Nam tất phải vùng dậy tranh đấu mà chính nhân dân Pháp cũng sẽ phải bất bình, sẽ ủng hộ giúp đỡ Việt Nam để thủ tiêu mọi sự bất công đã lỗi thời.

Quốc Trưởng Việt Nam cũng đã nhấn mạnh rằng:

‘’Nếu Liên Hiệp Pháp là một chính thể thuộc địa trá hình thì nó không thể nào tồn tại được. Mối giây ràng buộc các phần tử của đế quốc thuộc địa cũ thế nào cũng phải cởi ra, và với Việt Nam thì các giây ấy phải cắt đứt hẳn. Nếu ai cố tâm đi ngược lại với trào lưu lịch sử thì đấy chẳng qua chỉ là một nước cờ thủ thế và chẳng chóng thì chầy sẽ phải thất bại’’.

Nhân dân Việt Nam và cả nhân dân Pháp cũng cùng một ý nghĩ như vị Quốc Trưởng Việt Nam.

Ngày 28 tháng 10, Quốc Trưởng Bảo Đại đã về đến Sài Gòn và một Bản Hiệu Triệu được công bố cho toàn thể nhân dân Việt Nam:

‘’Đồng bào thân mến,

Sau ba tháng trời vắng mặt, tôi trở về nước nhà cốt để hội kiến cùng đồng bào trước ngày khởi cuộc thương thảo Việt-Pháp.

Tuy xa xứ sở, tôi vẫn không khỏi nóng lòng muốn được thăm viếng các chiến sĩ thân mến của Quân Đội Quốc Gia và của Liên Hiệp Pháp đang chiến đấu anh dũng để bảo vệ nền độc lập nước nhà, ở khắp các mặt trận từ Nam chí Bắc, tôi cũng nóng lòng muốn được an ủi các đồng bào Trung-Việt vừa mới bị đau khổ bởi thiên tai bất ngờ.

Lúc tôi quyết định trở về thì một phần dư luận báo chí và một số chính đảng Pháp xôn xao vì các kiến nghị của Hội Nghị Toàn Quốc, khiến chính phủ Pháp phải gửi một bức Thông Điệp yêu cầu ‘’chính phủ Việt Nam xác định ý muốn của mình đối với tổ chức Liên Hiệp Pháp’’.

Luận điệu của một vài tờ báo Pháp, trong khi đăng tin tức về bức thông điệp ấy, đã làm sai lạc chủ ý của chính phủ Pháp. Vì theo nguyên văn bức thông điệp này, thì chính phủ Pháp bao giờ cũng mong muốn giữ mối tình thân hữu giữa hai nước Pháp-Việt.

Bởi vậy trong khi chờ chính phủ và quốc dân phúc đáp bức thông điệp ấy, tôi căn cứ vào tinh thần cộng tác thân mật đã bồi đắp trên sự hy sinh của hai dân tộc từ bấy lâu nay mà giải thích cho chính phủ Pháp thấy rõ ý nghĩa Bản Kiến Nghị của Hội Nghị Toàn Quốc ngày 17 tháng 10.

Bản Kiến Nghị này, thực ra, chỉ có ý nghĩa là muốn đặt cuộc bang giao Việt-Pháp trên một cơ sở pháp lý bình đẳng thích hợp với những nguyện vọng quốc dân Việt Nam mà chính nước Pháp đã hứa hẹn quả quyết sẽ làm cho được thỏa mãn hoàn toàn.

Tôi đã chỉ ra chỉ thị cho Cao Ủy Việt Nam tại Pháp Quốc, để giải thích cùng chính phủ Pháp.

Vì thế, hiện nay sự hiểu lầm có thể gọi là đã tiêu tan. Hơn nữa, phiên họp Hội Đồng Tối Cao Liên Hiệp Pháp khai mạc trong khoảng tháng 11 sắp tới, sẽ tỏ rõ rằng sự hợp tác chặt chẽ từ trước tới nay vẫn tiếp tục.

Công việc thu xếp ổn thỏa, nên hôm nay, đáp lại lòng tin tưởng của toàn thể Nghị Sĩ Hội Nghị Toàn Quốc, tôi trở về nước đề cử các vị đại diện lãnh trọng trách thương thuyết với nước Pháp.

Tin tưởng vào lòng yêu nước nồng nhiệt và tinh thần công dân đã biểu lộ trong dịp Hội Nghị Toàn Quốc, tôi chắc rằng sau khi Hội Nghị đã biểu quyết những kiến nghị kia, thì chúng ta sẽ đủ người có thiện chí sốt sắng cùng tôi thương thảo với Pháp để ký kết một hiệp ước bình đẳng và công bằng mà vẫn không sao nhãng những điều kiện thực tế bảo đảm cho nền độc lập thực sự cho nước nhà.

Như vậy, với tình giao hữu và sự giúp đỡ của nước Pháp, đại cuộc của chúng ta sẽ thành tựu và dân tộc Việt Nam sẽ được mãn nguyện.

Đồng bào thân mến,

Những ngày sắp tới quan trọng đặc biệt đối với công cuộc kiến quốc. Chẳng cần phải nhắc lại, đồng bào cũng hiểu rằng nếu không có một sự sắp đặt chu đáo và một chí cương quyết bền bỉ, thì không bao giờ nêu được sự nghiệp lớn lao. Trái lại cương quyết và sáng suốt là những yếu tố thành công.

Bởi vậy, một lần nữa, tôi yêu cầu đồng bào xiết chặt hàng ngũ và tận tâm phụ lực vào các cố gắng của tôi.

Chủ quyền đất nước và quyền tự do cá nhân của chúng ta, sẽ được bảo vệ đầy đủ hay không là tùy nơi nhiệt tâm ủng hộ của quốc dân đồng bào đối với các vị đại biểu lãnh trách nhiệm khó khăn đi đàm phán để hoàn thành nền độc lập.

Mặc dầu chúng ta còn phải gặp nhiều trở ngại, tôi nhắn gửi quốc dân đồng bào lời kêu gọi này với một niềm tin tưởng vì tiền đồ nước Việt Nam liên quan mật thiết đến tương lai của hết thẩy các quốc gia cùng một lý tưởng tự quyền, công bằng và bác ái.

Vinh dự tổ quốc chúng ta ở đó.

Trong đại gia đình các nước dân chủ, tổ hợp trên nguyên tắc bình đẳng, nước Việt Nam tự do liên kết với nước Pháp, thể theo ý niệm Liên Hiệp Pháp, phải có địa vị thích nghi đầy đủ mới thi hành được nhiệm vụ mà thế giới tự do đã ủy thác cho’’.

Quốc Trưởng Việt Nam về nước để tiếp xúc và lựa chọn những nhân viên đi dự cuộc đàm phán Pháp-Việt.

Quốc Trưởng về nước đúng lúc cuộc bầu cử Hội Đồng hàng tỉnh vừa kết thúc với kết quả mỹ mãn.

Cuộc tuyển cử hàng tỉnh ngày 25 tháng 10 là một thực hiện đẹp đẽ, một thành công nhằm mục đích dân chủ hóa Quốc Gia Việt Nam trong chương trình chính trị của Quốc Trưởng và chính phủ.

Để đánh dấu một giai đoạn trên đường tiến tới dân chủ thực sự, Quốc Trưởng không ngần ngại vì những lý do hòa bình chưa tái tạo, độc lập chưa hoàn bị, đã nhất định xúc tiến xây dựng chủ quyền với sự tham dự của quốc dân.

Quốc Trưởng về nước vừa đúng dịp qua thăm Việt Nam của Phó Tổng Thống Mỹ Richard Nixon rồi tiếp đến ông Tổng Trưởng Pháp Marc Jaequet, phụ trách việc liên lạc với ba quốc gia liên kết cũng tới Việt Nam, trung tuần tháng 11.

Ông Tổng Trưởng Marc Jacquet, sau khi tiếp xúc với nhân dân Việt Nam qua những cuộc hội đàm với nhiều yếu nhân chính trị trong khu vực quốc gia đã phải xác nhận rằng tất cả các khuynh hướng chính trị Việt Nam đều tỏ lòng tin tưởng vào Quốc Trưởng Bảo Đại.

Đó là sự thật, vì tất cả những người Việt Nam ghét cộng sản đều nghe theo lời Hiệu Triệu của Quốc Trưởng để xiết chặt hàng ngũ ủng hộ Quốc Trưởng trong công cuộc tranh đấu giành hoàn toàn Độc Lập và dân chủ hóa Tổ Quốc Việt Nam.

Ngày 23 tháng 11, Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm đáp phi cơ đi Pháp cùng với ông Tổng Trưởng Marc Jacquet và phái đoàn Lào. Thủ Tướng Việt Nam đi dự khóa họp của Thượng Hội Đồng Liên Hiệp Pháp. Nhân viên phái đoàn Việt Nam cùng đi với Thủ Tướng gồm các ông: Trương Vĩnh Tống, Tổng Trưởng Ngoại Giao. Phan Huy Quát, Tổng Trưởng Quốc Phòng. Lê Tấn Nẩm, Tổng Trưởng Tư Pháp. Nguyễn Văn Nhung, Tổng Trưởng Kinh Tế. Nguyễn Thành Giung, Tổng Trưởng Giáo Dục. Nguyễn Huy Lai, Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Tài Chính Kế Hoạch Kiến Thiết. Bửu Kinh, Huỳnh Văn Chia.

Sứ mạng của phái đoàn Nguyễn Văn Tâm trong việc đi dự đám phán Pháp-Việt định đoạt mối bang giao giữa hai nước. Mối bang giao tương lai ấy phải thân mật, bình đẳng và chặt chẽ theo đúng nguyện vọng của nhân dân Việt Nam cũng như mong muốn của nhân dân Pháp.

NƯỚC PHÁP VỚI QUỐC GIA VIỆT NAM

Sau ngày tan vỡ 19 tháng Chạp năm 1946, ông Moutet Bộ Trưởng Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại vội vã sang Đông Dương mong cứu vãn lại Hòa Bình. Nhưng trong bầu không khí chiến tranh sặc mùi khói súng. Ông Moutet đã tỏ một thái độ rõ rệt và quyết định:

‘’…Cuộc tấn công ngày 19.42 xét theo tinh thần, kiểu cách và sự chuẩn bị của nó đã khiến chúng ta phải dùng biện pháp quân sự. Khi nào quân đội đem lại được an ninh, lúc ấy mới sẽ có thể nghiên cứu lại vấn đề chính trị…’’

Những lời kêu gọi đàm phán của cụ Hồ chí Minh theo ông Moutet chỉ là một luận điệu để tuyên truyền:

‘’…Chắc chắn rằng những kẻ đang cầm quyền thực sự trong chính phủ Việt Nam không hề muốn một cuộc đàm phán…’’

Nước Pháp mong muốn có hòa bình vì chính bản thân đã phải chịu đựng bao tàn phá khốc liệt do Hitler và đồng lõa gây ra, đã hiểu rõ nỗi đau khổ của chiến tranh và hiện đang còn phải kiến thiết tu sửa lại quốc gia Pháp.

Với các lãnh thổ hải ngoại, Pháp đã vạch một chính sách ‘’Nói rộng quyền hành’’ từ Hội Nghị Brazzaville ở Phi Châu (1944). Năm 1945-1946, Pháp muốn ‘’cho’’ Việt Nam rộng quyền tự chủ nhưng dân Việt, nhớ trình độ hiểu biết chính trị đã khá vững, lại muốn ‘’song hành’’ ngay với Pháp. Trạng thái tâm lý của kẻ bề trên và của kẻ mới nhớn tương phản mạnh mẽ dựa tình thế đến chỗ ngờ vực lẫn nhau. Chiến dịch Gaur của Đại Tướng Pháp ở miền Nam nước Việt, những hành động khiêu khích ở Hà Nội vô tình đã làm đa số người Việt mất tin tưởng vào thiện chí của Pháp. Ngược lại, những hành động ‘’vô chính phủ’’ của các đội tự vệ, những công trình phòng ngự những đòn ăn miếng trả miếng của quân đội Việt Minh cũng khiến người Pháp ở Việt Nam phải khó chịu, bực tức, nghi ngờ.

Bầu không khí căng thẳng chứa đầy nghi ngờ phẫn nộ, căm hờn, uất ức của cả hai bên đã phải bùng nổ không thể tránh để đưa đến một trận chiến tranh đau đớn kéo dài cho đến nay vẫn chưa tìm được lối thoát.

Chính phủ Pháp thừa hiểu rằng cụ Hồ chí Minh và Việt Minh chỉ là những người lính xung phong của Điện Kremlin trong chương trình thôn tính thế giới. Vì thế cuộc chiến đấu chống Việt Minh càng được chính phủ Pháp coi như là một bổn phận thiêng liêng của mình tuy chưa hẳn có một đường lối rõ rệt, một chính sách dứt khoát đối với Việt Nam, một lãnh thổ hải ngoại mà Pháp đã từng đô hộ ngót một thế kỷ.

Trong giai đoạn đầu tiên của trận chiến tranh ở Việt Nam, Pháp đã gặp phải nhiều khó khăn:

– Chống nhau với chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa mà đại đa số dân chúng vẫn đang quan niệm là một chính phủ độc nhất của Quốc Gia Việt Nam.
– Cá nhân cụ Hồ chí Minh đang được hầu hết dân chúng tin tưởng, mến phục.

Pháp đã vấp phải phản ứng mạnh ở khắp mọi nơi như du luận Hoa Kỳ lớn tiếng kết án Pháp là ‘’Một nước Tây phương độc nhất muốn dùng võ lực để giữ gìn thuộc địa ở Á Châu’’ rồi Thủ Tướng Ấn Độ Nehru, Thủ Tướng Diến Điện Aung San v.v…nhất tề tuyên bố ủng hộ chính phủ cụ Hồ và phản đối Pháp. Một Hội Nghị Liên Á (tháng 3 năm 1947) được tổ chức ở Ấn Độ có mặt đại diện của Việt Minh, trong đó các nước Á Châu đều lên tiếng phản đối hành động của Pháp tại Việt Nam.

Ngay trong lòng nước Pháp, phản ứng cũng sôi nổi:

– Dân chúng Pháp phản đối chiến tranh ở Việt Nam.
– Binh sĩ Pháp cũng không ưa phải đổ máu vô ích.

Đối với cuộc xung đột ở Việt Nam, các đảng phái Pháp đã tỏ một thái độ rất tương phản. Đảng cộng sản, dĩ nhiên, muốn chính phủ điều đình với cụ Hồ chí Minh, đảng Xã Hội muốn đàm phán, trái lại Cộng Hòa Bình Dân và Cộng Hòa Tả đảng nhất định không chịu nói chuyện lại với Việt Minh sau vụ ‘’bội phản’’ 19.12.1946.

Nội Các Xã Hội Léon Blum muốn chỉ định Đại Tướng Leclere giữ chức Cao Ủy Đông Dương nhưng tất cả các đảng phái khác chỉ thỏa thuận để chức Cao Ủy cho một chính khách vì vậy đến thời Nội Các Ramadier, chính phủ Pháp đã cử ông Emile Ballaert sang làm Cao Ủy ở Đông Dương (6.3.1947).

Việc đó chứng tỏ rằng nước Pháp ưa chuộng hòa bình đã nhận thấy chỉ nên và chỉ có thể giải quyết vấn đề Việt Nam bằng giải pháp chính trị.

Trước khi chính phủ Pháp quyết định cử ông Ballaert làm Cao Ủy, Đô Đốc D’Argenlieu đã đo lường các chính khách Việt Nam đối lập với Việt Minh và nhất là thăm dò ý liến Cựu Hoàng Bảo Đại (ở Hồng Kông). Trong khi chờ đợi một quyết định dứt khoát, Pháp đã trực tiếp giao thiệp với một số chính khách Nam Việt trong việc thành lập một ‘’chính phủ Nam Kỳ’’.

Chính phủ Pháp cũng thừa rõ hành động trên chỉ có tính cách tạm thời nhưng vì thực trạng ở Việt Nam quá hỗn độn đến mức độ mà chính phủ Pháp không còn biết làm cách nào để giải quyết thu xếp ổn thỏa. Thủ Tướng Ramadier đã tuyên bố rất mơ hồ ở Quốc Hội (18.3.47) về đường lối của Pháp ở Việt Nam:

‘’…Không có thống trị, không phải lệ thuộc mà là hợp tác. Như vậy có nghĩa là chúng ta tôn trọng nền Độc Lập của các dân tộc. Lời mở đầu hiến Pháp của chúng ta đã chỉ rõ như vậy…’’

Ông Ramadier đã nhắc tới ‘’Độc lập trong khuôn khổ Liên Hiệp Pháp’’ và cam kết sẽ thực hiện việc thống nhất lãnh thổ Việt Nam nếu dân tộc Việt Nam muốn thế.

Nhưng muốn có hòa bình phải ngừng chiến và thương thuyết. Thương thuyết với ai chính đáng nhất ? Đó là một vấn đề mà chính phủ Pháp chưa đủ thời gian nhận xét để dám nói một cách quả quyết.

Đầu tháng 4.1947, Cao Ủy Bollaert đến Sài Gòn. Một thực trạng mới phô bầy trước mắt vị Cao Ủy Pháp: Hoạt động của các người Quốc Gia Việt Nam:

– Mặt trận Liên Hiệp Quốc Gia Việt Nam của các ông Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam thành lập ở Hồng Kông tháng 2.1947.
– Nhóm tôn giáo chính trị Cao Đài.
– Nhóm Hòa Hảo.
– Nhóm thanh niên quốc gia.
– Dân Chủ Đảng của Cựu Khâm Sai Nguyễn Văn Sâm.
– Khối Quốc Gia của Cụ Trần Thanh Đạt (Trung Việt)
– Khối Liên Hiệp Quốc Gia của ông Nghiêm Xuân Thiện (Bắc Việt).

Tất cả các nhóm chính trị xu hướng quốc gia đã cùng nhau trao đổi ý kiến và đồng thanh quyết nghị ủng hộ Cựu Hoàng Bảo Đại.

Với sự kiện mới mẻ đó, chính phủ Pháp đã có thể có một lối thoát, ngả về phía Cựu Hoàng Bảo Đại.

Để chấm dứt cuộc điều đình với Việt Minh, những người Pháp có trách nhiệm trực tiếp ở Đông Dương đã đề ra những điều kiện hắc búa:

– Phải thả ngay các tù binh Pháp.
– Phải ngừng bắn, ngừng khủng bố, ngừng tuyên truyền.
– Phải trao trả 50% vũ khí cho quân đội Pháp.
– Phải để quân đội Pháp được tự do đi lại trên khắp lãnh thổ Việt Nam.

Dĩ nhiên đó là những điều kiện ‘’không thể nhận’’ mà Pháp đã đặt trước chính phủ cụ Hồ.

Trong nội bộ của Pháp hồi ấy cũng rất lủng củng, nào Madagascar biến động, nào Algérie đòi cải cách, nào Maroc với Mặt Trận Liên Ả Rập…

Chính phủ Pháp mỗi ngày một nghiêng về phía hữu, nào sự bất hòa giữa Thủ Tướng Ramadier với phe cộng sản, nào tổ chức Liên Hiệp Quân Dân Pháp của Tướng De Gaulle thành lập (13.4.47)

Tình hình chính trị của Pháp ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam và kết thúc bằng thái độ quả quyết trong diễn văn của Cao Ủy Bollaert đọc tại Hà Nội ngày 15 tháng 3.1947. Cao Ủy Bollaert tỏ cho mọi người biết ý định của Pháp là không muốn và không thể điều đình với Việt Minh nữa vì lẽ cụ Hồ và chính phủ lưu vong của cụ không phải là đại diện chính đáng của dân tộc Việt Nam.

Tư tưởng lạc quan về chiến thắng quân sự của ông Paul Coste Floret, Bộ Trưởng Bộ Chiến Tranh Pháp trong cuộc viếng thăm Việt Nam (26.4.-3.5.1947) cũng như lập trường cứng rắn của Cao Ủy Bollaert tại Hà Đông đã là những nhát kéo cuối cùng cắt đứt sợi giây mỏng manh giữa Pháp với Việt Minh trong giai đoạn.

Tư tưởng lìa xa chính phủ Việt Minh của Pháp được hoàn bị thêm bằng lời tuyên bố của Cựu Hoàng Bảo Đại (Báo Union Française, 5.7.47):

‘’…Nếu nhân dân Việt Nam tín nghiệm tôi, nếu sự hữu diện của tôi có thể giúp ích cho sự liên lạc tốt đẹp tốt đẹp giữa dân tộc tôi và Pháp, tôi sẽ sung sướng mà trở lại Việt Nam…’’

Cựu Hoàng Bảo Đại đã bắt đầu lên tiếng, chính phủ thiên hữu của Pháp càng thấy không còn nghĩa lý gì nữa nếu lại bắt tay với Việt Minh cộng sản giữa lúc.

– Mâu thuẫn Hoa Kỳ-Nga Sô càng ngày càng tăng.

– Quốc Quân Trung Hoa đang thắng lợi, đánh đuổi Hồng Quân Trung Hoa ra khỏi Diêm An, thủ đô của cộng sản.

Chính phủ Ramadier nhất quyết nói chuyện với những người Quốc Gia Việt Nam mà Cựu Hoàng Bảo Đại đã đại diện rất rõ rệt. Muốn vậy phải phá tan tiềm lực quân sự của Việt Minh.

Giải pháp vũ lực, một yếu tố số một và tối cần thiết.

BIỆN PHÁP QUÂN SỰ

Sở dĩ chính phủ Pháp chắc chắn biện pháp quân sự sẽ đem lại kết quả ở Việt Nam vì nhiều lẽ.

– Một, các Tướng Tá Pháp coi thường khả năng quân sự của Việt Minh. Những nhận xét và suy luận của Pháp đã đúng khi Việt Minh chỉ có một số ít trung đoàn ‘’xanh xao, không giầy, không mũ’’, những loại quân du kích mới thành lập trong dãy rừng già vùng Bắc Việt, thiếu vũ khí, thiếu huấn luyện và chỉ có dăm ba Tướng lĩnh ‘’nội hóa’’ tầm thường.

– Hai, chính phủ Pháp tin chắc ở tài vô địch truyền thống của đạo binh thuộc địa (Troupes Coloniales). Lẽ đó cũng đúng khi lần trang sử oanh liệt của đội quân bách thắng đó.

Lịch sử đoàn quân ấy là tất cả những thắng lợi đã đem lại vinh quang cho nước Pháp, đã khiến Pháp trở nên một đại cường quốc qua bao thế kỷ.

Từ hồi Trung Cổ, tiền thân của quân đội thuộc địa Pháp (1096) là đạo quân ‘’Viễn chính thứ nhất’’ của những Tướng Godefroy de Bouillon (Quận Công ở Basse Lorraide), Raymond de St. Gilles (Bá Tước ở Toulouse). Trong khoảng vài trăm năm (1096 đến 1303) đoàn viễn chinh thứ nhất mệnh danh là ‘’Đoàn quân chiếm đóng hải ngoại’’ (T.O.E.-Troupes d’Occupation Etrangère) đã đi từ Chypre đến Palestine, từ Syric đến Ai Cập, phục vụ một trận chiến tranh thần thánh (1ére Croisade) và thành lập đế quốc đầu tiên.

Tất cả những người lính thủy của vùng Dieppe, vùng Saint Malo, tất cả những người lính trong các cuộc viễn chinh qua thời đại do các Tướng lĩnh Jacques Coeur, Moatcalm, Lally, Tollendal, Dupleis chỉ huy đều đã là những chiến sĩ của đoàn quân ‘’chiếm đóng’’ rải rác từ Ấn Độ đến Louisianne, từ Gia Nã Đại cực Bắc đến xứ Brésil cực Nam Tân Lục Địa.

Lịch sử đoàn quân thuộc địa Pháp chính thức bắt đầu từ 1622, khi đế quốc Pháp thành lập được hạm đội chính quy đầu tiên (Compagnie de la Mer), gồm trên dưới trăm người. Đến năm 1626, hạm đội đó phát triển (Régiment de la Marine, Rgt. de Richelieu, Rgt. de Vaisscaux, Royal Marine, Légion St. Dominique, Rgt. de Pondichhery v.v…) đã giúp các Tướng Flacourt chiếm Fort Dauphin ở Ấn Độ (1642), François Matin chiếm Pondichery (Ấn Độ, 1683), La Bourdonnais chiếm Mahé (Ấn Độ, 1726), Dumas chiếm Karikal (Ấn Độ, 1739), Montcalm chiếm Gia Nã Đại (đến 1763 Pháp phải nhường Gia Nã Đại cho Anh-cát-lợi theo Hòa Ước Paris).

Với đà oanh liệt của các Tướng lĩnh tiền bối, thế kỷ thứ 19 đã là thời đại mà đông đảo binh sĩ của Tướng Choisel trong đội ‘’Hoàng Gia Thủy Binh Lục Chiến’’ và ‘’Pháo Binh Hải Quân’’ (Corps Royaux de L’Infanterie de Marine et de l’Artillerie de Marine) gây nhiều thành tích vẻ vang cho nước Pháp. Nào chiếm Alger (1830) nào chiếm Madagascar (1840), Océanie (1842). Năm 1854, Faidherbe chiến xứ Sénégal rồi Francis Garnier và Doudart de Lagrée đánh Đông Dương, hoàn bị thêm sự nghiệp lẫy lừng của đoàn quân thuộc địa vĩ đại.

Sau khi các Tướng Galliéni và Lyautey đã bình trị Đông Dương (1893), hệ thống quân đội Pháp chính thức bắt đầu có những binh chủng ‘’Lục quân thuộc địa’’ và ‘’Pháo binh thuộc địa’’ (I.C.-Infanterie Coloniale, A.C.-Artillerie Coloniale).

Trong đám binh sĩ dưới nhãn hiệu ‘’thuộc địa’’ đã nẩy nở ra một tâm lý kiêu hùng vì đối tượng của họ chỉ là những dân chúng bản xứ lạc hậu với vũ khí thô sơ.

Binh đoàn thuộc địa phần lớn đã chủ động trên mọi chiến trường. Họ là những bộ đội chuyên ‘’tấn công’’ chứ không chuyên ‘’phòng thủ tự vệ’’.

Hồi 1940-1945. Việt Minh thường tuyên truyền mỉa mai sự ‘’chạy dài’’ của quân đội thuộc địa Pháp trước quân đội Phù Tang. Điều đó có đúng không? Hãy nên công bằng điểm qua thực trạng tinh thần và vũ khi quân đội Pháp ở Đông Dương hồi đó.

Trước hết biến cố 1939-1940 đã làm cho toàn quân Pháp tan rã ở chính quốc, phần rút sang Anh, phần rút sang Phi Châu. Lẻ loi đánh quân ở Đông Dương bị lực lượng của quân đội Thiên Hoàng vây chặt.

Năm 1945, lực lượng Pháp ở Bắc Việt chỉ có:

– Một Trung đoàn bộ binh thuộc địa (9-e R.I.C.)
– Một Trung đoàn bộ binh Lê Dương (5-e R.E.I.)
– Một Trung đoàn bộ binh thuộc địa dã chiến (19-è R.M.I.C).
– Bốn Tiểu đoàn pháo thủ thuộc trung đoàn pháo binh thuộc địa thứ 4 (4-e R.A.C.)

Tại Trung Việt và Ai Lao:

– Hai Trung đoàn bộ binh thuộc địa dã chiến (10-e 16-e R.M.I.C.)
– Một Tiểu đoàn pháo thủ.

Tại Nam Việt:

– Một Trung đoàn bộ binh thuộc địa (II-e R.I.C)
– Một Trung đoàn Pháo binh thuộc địa (5-e R.A.C)

Tại Cao Mên:

– Một Trung đoàn pháo thủ Bắc Phi Châu (R.T.A)
– Một Trung đoàn pháo binh thuộc địa (5-e R.A.C)
– Một Trung đoàn pháo thủ thuộc địa (R.T.C)

Về vũ khí, Pháp chẳng có gì đáng kể có thể cầm cự với Nhật:

– Thủy quân có chiếc tuần dương hạm kiểu cổ Lamotte Picquet, trọng tải 10.000 tấn.

– Không quân, trong khi Nhật có hàng trăm khu trục cơ kiểu Zero bay nhanh 4-5 trăm cây số một giờ thì Pháp chỉ nghèo nàn có được vài cái Moranes và Potez 63, Potez 25, Potez 542 (thường gọi là máy bay bà già), 3 oanh tạc cơ kiểu cổ Farman và vài thủy phi cơ Loire 130 với tốc lực 180 cây số một giờ.

– Lục quân, ngoài mươi chiếc chiến xa tối cổ F.T và S.M. White chế tạo từ 1918 (thường dùng trong các cuộc điển binh Pháp chỉ có một số rất ít tiểu liên, trung liên F.M.24, M.Reibel đại diện Oerlikon, một ít khẩu đại liên 13,2 và vài khẩu đại bác cũ rích nòng 25, 37, 75.

Với lực lượng còm cõi như trên với tinh thần bạc nhược vì những biến cố chính trị xẩy ra từ 1939 đến tháng 3.1945, quân đội thuộc địa Pháp đã như rắn không đầu thì làm sao có thể chống lại được với đoàn quân dữ như hổ báo của Thống Chế Terauchi Tổng Chỉ Huy quân đội Nhật miền Đông Nam Á.

Nhưng quân đội Pháp ở Đông Dương cũng không đến nỗi hổ danh quá đáng như lời xuyên tạc của Việt Minh, khi đã gây được ít nhiều thành tích:

1940: Tiểu đoàn Pháp của Thiếu Tá Lecoq chống giữ Na Sầm và đã liều chết cố thủ ở Đồn Samrong Kandal Đèo Chi Ma (Lạng Sơn).

– Xung đột với Thái Lan và đại thắng trong cuộc hành binh Kochang khi Thái Lan xâm phạm vào lãnh thổ Đông Dương. (Sau Pháp phải nhường cho Thái Lan những Tỉnh Battambang và Sixophon (Cao Mên), Bassac và Paklay (Ai Lao) vì áp lực quân đội Nhật Bản) (1941).

1945: Vì nhất định không chịu ngưng bắn với quân đội Nhật, Tướng Lomenier và Đại Tá Robert phải chịu xử bắn và quân đội của các Tướng đó bị bắt làm tù binh.

– Dưới áp lực ghê gớm của quân đội Tsushihashi, Tổng Tư Lệnh Nhật ở Đông Dương, Tướng Sabattier và Alessandri muốn bảo tồn lực lượng phải thu thập quân đội ở Tây Sơn rút sang Trung Hoa trong khi ở Khu Quân Sự thứ 2 (Cao Bằng), Thiếu Tá Baudenou rút quân ẩn vào rừng rậm.

Lịch trình tiến hóa của quân đội thuộc địa Pháp rất oai hùng đã đem lại cho người lính thuộc địa một tuyền thống kiêu hùng bất khuất.

Năm 1946, quân đội thuộc địa của Tướng Alessandri và của Trung Tá Quilichini về chiếm đóng lại xứ Thái, miền Tây Bắc Việt. Cũng năm ấy, ngày 18 tháng 3, tại Thủ Đô Hà Nội, 3 Tiểu Đoàn với một đơn vị pháo binh bị giam hãm từ lâu đã được kiêu hãnh trình diện trong cuộc duyệt binh cùng Sư Đoàn Thiết Giáp thứ 2 (2e Division Blindée) và sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9 (9e D.I.C.) dưới mắt vị anh hùng giải phóng Pessan, Paris, Strasbourg và Berchtesgaden: Đại Tướng Leclerc.

Năm 1946, lực lượng quân đội Pháp ở Đông Dương đã rất hùng mạnh cả về tinh thần lẫn vũ khí.

Sư đoàn thiết giáp thứ 2 (2eD.B.) với những đội cơ giới dũng mãnh, đầy đủ:

Nào xe díp (Jeep), xe chỉ huy (command car), xe hướng đạo (Scoit car), xe vận tải 10 bánh (G.M.C), xe vận tải nhẹ (Dodge 4×4-6×6), nào chiến xa Sherman, nào xe thiết giáp (A, moured Car, Half track, Auto mitrailleuses), xe lội nước (Amphibie, Alligator, Grabe), xe phá ụ (Bull dozer, Angle dozer)…

Sư đoàn bộ binh thuộc địa thứ 9 (9é D.I.C.) có 4 trung đoàn trang bị vũ khí tối tân với hỏa lực ghê gớm. Mỗi trung đoàn có 4 tiểu đoàn. Vũ khí của một tiểu đoàn đại khái như sau:

– 624 súng trường (Remington US-Carbines)
– 133 tiểu liên (Pistolets Mitrailleuses)
– 36 súng ngắn tự động (Pistolets automutiques
– 41 trung liên (F.M. Bean
– 4 Bích kích pháo nòng 81 (Mortiers 81
– 8 Bích kích pháo nòng 60 (Mortiers 60
– 8 đại liên 12,7 và 13,2 (Mitrailleuses 12,7-13,2
– 36 súng phóng lựu đạn (Lance grenades).

Đó là chưa kể các ổ Bazockas, Rocket gun…

Trong khi ấy thì các tiểu đoàn kiểu mẫu (về mặt vũ khí) của Việt Minh chỉ có những loại súng trường kiểu cũ (fusils indochinois, mousquetons, súng trường Nhật), một ít tiểu liên Sten của Mỹ thả dù cho hồi đầu năm 1945, vài khẩu trung liên (Cào cào Nhật, Hotchkiss kiểu cổ), lựu đạn nội hóa, bom ba càng. Pháo binh nặng thì có vài ‘’cỗ’’ nòng 75 đã mất cả kim hỏa (percutcur), mỗi khi bắn phải lấy búa đinh nện vào kíp đạn.

Sự quá chênh lệch về lực lượng và vũ khí đã được Pháp đến ý tưởng muốn dùng biện pháp quân sự trong vấn đề Việt Nam.

Dựa vào những kinh nghiệm cổ truyền, những thành tích thắng lợi của mọi cuộc hành binh thôn tính các đất đai hải ngoại công cuộc bình định của Pháp ở Việt Nam cũng chia làm 3 giai đoạn:

1.- Giai đoạn thứ nhứt: Mở những trận đánh mau đánh mạnh xuyên thẳng vào trung tâm phòng ngự của đối phương, phân tán và tiêu diệt chủ lực quân của đối thủ.

Trong giai đoạn này, các chỉ huy quân sự Pháp được toàn quyền hành động ngoài phạm vi quân sự, đơn độc trên khu vực chiến trường của mình.

Nhằm những cơ quan đầu não đóng ở vùng Đồng Tháp Mười (Nam Việt), Bình-Trị-Thiên (Trung Việt), Cao Bằng, Bắc Kạn (Bắc Việt), lục quân Pháp sẽ luôn luôn tấn công như vũ bão đồng thời với những cuộc oanh tạc liên tiếp dữ dội làm tê liệt địch.

Dập theo chiến thuật ‘’chớp nhoáng’’ của quân đội Đức, binh sĩ Pháp sẽ gây được kinh hoàng, khiếp sợ khắp mọi nơi, bắt buộc quân đội chính quy Việt Minh phải luôn luôn tìm cách lẩn tránh và dân chúng hậu phương phải nơm nớp sống trong tình trạng bất an.

2.- Giai đoạn thứ hai: Sau khi dã chiến đóng được một vùng nào, quân đội Pháp sẽ quyền hành chính cho một tổ chức An Dân do người địa phương chịu trách nhiệm. Tổ chức hành chánh này tượng trưng sợi dây liên lạc giữa dân chúng trong vùng kiểm soát với các nhà đương cục quân sự Pháp. Hoạt động của các tổ chức An Dân không ngoài phạm vi hành chính, xã hội.

3.- Giai đoạn thứ ba: Áp dụng chiến thuật ‘’vết dầu loang’’.

Khi tình hình đã tạm ổn định trong khu vực chiếm đóng, quân đội Pháp sẽ từ các căn cứ điểm đó đánh tung ra những vùng lân cận với lối hành binh mau lẹ (như trong giai đoạn thứ nhất).

Rồi đến những cuộc tấn công càn quét (opération de nettoyage de police) nhằm mục đích diệt trừ những hoạt động du kích quấy rối, lùng bắt những phần tử đối phương xâm nhập, tuyên truyền phá hoại.

Khu vực bình trị sẽ dần dần mỗi ngày một mở rộng và dân chúng hồi cư ngày thêm đông dần vì lý do nếu họ ở ngoài khu vực kiểm soát của quân đội Pháp, họ sẽ bị nguy hiểm bởi các cuộc oanh tạc của không quân hay những trận tảo thanh thường xuyên của lục quân.

Sẽ tiến tới tổ chức các đội tự vệ với nhiệm vụ canh gác, bảo an, giữ trật tự trong thôn xóm của họ.

Tổ chức những ‘’Hội Tề’’ để kiểm soát dân chúng từng làng, báo cáo tình hình lên vị chỉ huy quân sự Pháp và cơ quan hành chính cấp trên.

Dựa vào chiến lược bình định rất khoa học và chu đáo kể trên, quân đội Pháp vững tâm phóng ra những chiến dịch tấn công chớp nhoáng để đánh quỵ một đối phương mà cả lực lượng lẫn vũ khí đều không đáng kể.

Với một số vũ khí lạc hậu, thô sơ Việt Minh đã trông vào đâu để chống lại quân đội Pháp ?

Việt Minh tin tưởng vào thứ võ khí quan trọng nhất: Lý luận duy vật biện chứng của Mã Khắc Tư và lịch trình tiến hóa của cách mạng.

Việt Minh tin tưởng ở đức tính kiên nhẫn và kiểu mẫu của một số cán bộ trung kiên cao cấp. Nhờ họ, đông đảo dân chúng sẽ chịu phục tùng tập hợp dưới cờ kháng chiến.

Việt Minh tin tưởng tin tưởng ở khả năng và thủ đoạn chính trị của mình có thể nhào nặn và biến dân chúng thành những chiến sĩ dũng cảm và cuồng tín.

Những điều tin tưởng trên đã cho phép Việt Minh áp dụng đường lối chiến tranh của cộng sản Trung Hoa: Trường Kỳ Kháng Chiến với 3 giai đoạn.

Về phương diện quân sự cũng như hành chính, đất đai Việt Nam đã bị bộ tổng tư lệnh Việt Minh chia thành nhiều khu vực: Những khu kháng chiến.

Ngoài số dân quân, tự vệ của mỗi khu kháng chiến Việt Minh chỉ có được một vài trung đoàn chính quy thạo lối du kích chiến. Những trung đoàn ‘’mạnh’’ đó phần đông đều có mặt ở Việt Bắc hồi đầu năm 1947.

Bộ Tổng Tư Lệnh quân đội viễn chinh Pháp cũng chia Việt Nam thành 3 mặt trận Bắc, Trung, Nam và mỗi mặt trận ủy nhiệm một vị Tướng chỉ huy:

  • Mặt trận Bắc: T.F.I.N. (Troupes Françaises en Indochine du Nord).
  • Mặt trận Trung: T.F.C.A. (Troupes Françaises Centre Annam).
  • Mặt trận Nam: T.FI.S. (Troupes Françaises en Indochine du Sud).

Mỗi mặt trận lại chia ra nhiều khu quân sự nhỏ (Zone, Secteur, Sous Secteur, Quartier, Sous Quartier).

<—Chương 2 —-> Chương 3 (tiếp theo)
This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, NGHIÊM KẾ TỔ: Việt Nam Máu Lửa, Việt Sử. Bookmark the permalink.