TRẠI TÙ T4 (Quỳnh Hương): Phần X

Phần X

NHỮNG NĂM THÁNG TÙ KHỔ SAI CỦA NGƯỜI BÁC SĨ QUÂN Y

Lê sanh đẻ ở Saigon, học truờng Pháp. Sau khi tốt nghiệp Tú tài Pháp, gia đình khá giả nên cho qua Paris du học. Lê tốt nghiệp Đại học về kế toán tài chánh. Khi về có một thời gian làm Phụ Tá Đô Trưởng tại Toà Đô Chánh Saigon. Nhận lệnh động viên, sau khi học giai đoạn 1 ở Thủ Đức, anh sang học chuyên môn ngành Công Binh. Nếu nghe Lê nói tiếng Pháp mà không nhìn mặt thì cứ tưởng ngừơi Pháp chính cống đang nói chuyện.

Lê tù 6 năm. Tôi thường ghé nhà anh ở Tân Định chơi . Anh tù với tôi ở Trại tù T4, khi chuyển trại 1979, chúng tôi đi Bùi Gia Phúc thì anh đi Rừng Lá. Tù về, anh cũng bị hành lên hành xuống ở Phường. Một năm sau bọn công an Phường không gọi anh trình diện hàng tuần nữa. Anh thường giải buồn bằng thú đi câu trên sông Saigon. Anh có rủ tôi đi, nhưng tôi bận việc kiếm sống nên không thể đi câu với Lê được. Khi tôi nạp đơn đi H.O., tôi có hỏi anh, nhưng anh nói là anh ở lại. Sau này tôi nghe nói anh qua Pháp, không biết thực hay chỉ là tin đồn.

Đội 3 ở trong lò đúc gạch lớn, không vách tường thì đội 1 ở trong dãy phòng nhỏ, mỗi phòng ngang gần 3 mét và chiều dài khoảng 6 mét. chứa 7 ngừơi. Ở như vậy thì anh nào xun xoe với cai tù là biết liền. Vì thế mà anh Hãn thường qua bên tôi lai rai ly trà nóng và nói chuyện thoải mái hơn bên anh.

Ngày anh Hãn đau răng, nếu anh ở Trại Tù T6 kế bên đội 3 T4, anh đã có thể nhờ Nha sĩ Bùi ngọc Tô nhổ giúp bằng phương tiện tương đối đầy đủ hơn. Khi ở trong trại tù, anh Tô thấy anh em đau răng nhăn nhó, anh đã nhờ bà chị gửi y cụ vào trong đợt thăm đầu tiên. Bà chị mang cho anh 2 cây kìm nhổ răng và 1 cái nậy (elevator). Sau anh nhờ anh em ‘thợ rèn’ , cũng là tù nhân, làm thêm mấy chiếc nạy thô sơ để anh giúp được hơn 1 trăm anh em tù đau răng, từ các Trại Tù Hố Nai, Suối Máu rồi về Thành Ông Năm

Anh Tô không muốn nêu tên trong Hồi Ký của tôi. Nhưng mạn phép anh, những kỷ niệm về ‘thiên thu tại ngoại’ của chúng mình qua một giai đoạn của lịch sử Việt Nam, đã biết thì cũng nên ghi lại. Trong những ngày gian lao trong Trại tù khổ sai của bọn Cộng sản, việc đùm bọc, tương trợ đồng đội trong lúc khổ cực rất là quí. Qúi vô cùng! Mong anh lượng thứ. Nhất là chúng ta lại cùng ngành .

Khu nhà nhóm tôi là văn phòng của Liên đoàn Công binh, đã có ít nhất một lần tôi tới thăm Vĩnh, lúc đó Trung Uý, là em ruột của cháu dâu tôi. Vĩnh dông trước cuối Tháng Tư Đen nên không bị bọn Cộng khỉ nhốt ngày nào. Sang Mỹ, Vĩnh cày trên 30 niên, nay đã hưu và đang ở Seattle.

Khi lên Bùi Gia Phúc, anh Hãn ở dãy gần cuối trại , kế Bệnh xá .

Gọi là Bệnh xá, nhưng chẳng có thuốc men. Điều hành Bệnh xá là một Sĩ Quan Trợ y đã được cai tù chỉ định làm từ mấy năm trước. Có một lần vì tò mò, tôi ghé coi cho biết. Nó chỉ là căn nhà lá 3 gian, trống trơn, không thuốc men, y cụ. Anh bạn này tên Kết (?) được ra khỏi trại bất cứ lúc nào, lấy lý do ‘đi hái lá thuốc’. Nhưng anh bạn Trợ y thường ‘kết hợp’ việc tìm lá thuốc và rau ăn. Món thuốc Nam dễ kiếm ở Bùi Gia Phúc là Hà thủ Ô. Rất nhiều cây Hà thủ Ô mọc hoang ở vùng này. Nó là loại giây leo. Nhưng đào được củ thì vô cùng khó, vì rễ nó mọc rất sâu, có khi hơn 1 mét mới tới củ.

Trên rừng vùng Bùi Gia Phúc rất nhiều loại rau mọc hoang, ăn được như càng cua, cải trời . Rau này những tên vệ binh gọi là ‘rau cộng sản’. Cái tên đó không biết ai đặt ra. Theo tôi nghĩ có lẽ người ta thấy lính Việt Cộng trong rừng thuờng kiếm rau ‘cải trời’ ăn nên gọi như thế. Rau này tương tự như tần ô, ăn hơi hăng hăng.

Tôi và anh Hãn cũng thuờng đi kiếm ‘rau càng cua’ trong các lùm cây. Càng cua ăn hơi ngọt, có thể rửa sạch, ngâm vào nước muối vài phút rồi ăn sống. Cũng có thể nấu canh. Chỗ đất nào ẩm là nó mọc lan tùm lum. Chui vào lùm cây chỉ việc quơ một lát là đầy bị. Tuy nhiên mỗi khu đất ẩm thấp này lại có hàng ngàn con muỗi. Tôi bị sốt rét có thể do hậu quả của hái ‘rau càng cua’ hoặc nấm mèo.

Vào lùm cây, gặp được cây gỗ mục là dễ gặp nấm mèo. Mà nấm mèo nhổ lên rồi mấy ngày sau lại mọc nấm khác. Rừng vùng này còn có thứ nấm rất ngọt, nhưng hơi hiếm, đó là nấm đất. Muốn kiếm nấm đât phải rành, nếu không sẽ lấy nhầm nấm độc. Một nồi canh 4 ngừơi ăn, chỉ cần một nấm đất, khỏi cần bột ngọt ăn cũng hết chê.

Anh Hiền và Hãn tới Bùi Gia Phúc, tuy là Bác sĩ nhưng bọn cai tù vẫn để người Trợ y coi Bệnh xá. Vì anh Hãn là Bsĩ nên anh em đau yếu thường tới nhờ anh khám bệnh mỗi chiều sau khi đi lao động về. Anh cho toa để người bệnh viết thư xin gia đình kiếm mua thuốc.

Kết biết anh Hãn hàng ngày vẫn khám bệnh cho anh em nên anh ta rảnh rang, chỉ việc đi vào rừng lấy cớ kiếm lá thuốc để kiếm rau ăn. Thỉnh thoảng Kết cũng nấu thêm canh đem qua cho anh Hãn.

Bùi Gia Phúc tuy xa Saigon, nhưng việc thăm nuôi dễ dàng hơn , có thề thăm 1 tháng 1 lần và thân nhân có thể ở lại 1 đêm. Thư từ thì anh em nhờ nhau chuyển qua thân nhân đến thăm, nên thư tới nhà nhanh hơn Trại tù T 4. Ở Thành ông Năm, thư phải qua cai tù kiễm duyệt, rồi qua bưu điện, nên đến nhà có khi hơn tháng trời.

Cũng vì giúp anh em về bệnh tật, đổi lại anh Hãn cũng được một số anh em giúp lại trong khi đi làm lao động khổ sai, như chặt tre hay đánh tranh.

Nói tới thăm nuôi, trại Bùi Gia Phúc có tên Rọc, coi nhà thăm nuôi. Hắn là người của tên TTá Chuộng. Cũng là tù nhân, nhưng được giao coi nhà thăm nuôi, nên hắn đã “ăn hối lộ”. Tuy không nhiều, nhưng cũng là “ăn”. Những bà vợ tù nhân muốn ở lại thêm với chồng 1 hay 2 ngày , thường biếu hắn dăm trái cam, hay sộp hơn thì cho vài gói mì ăn liền. Chuyện này anh em tù Bùi Gia Phúc ai cũng biết.

Số anh Hãn hơi xui, ở Đội 3 Traị Tù T4 đã bị mấy cái “râu” , lên Bùi Gia Phúc cũng lại bị một cái ‘râu’ ngay trong Lán của mình. Hắn tên là Huệ rỗ. Cái tên anh em đặt như vậy, nhưng mặt hắn chỉ hơi rỗ, chứ không phải rỗ chằng chịt do bênh Đậu mùa ( Small pox).(1)

Có một lần mới từ Thành ông Năm lên, anh Ruyệt, Đại Uý Thiết Giáp, đem kể tin tức từ bên ngoài truyền vào cho bạn bè nghe, anh không biết Huệ rỗ là anten, khi Huệ tới gần mà anh vẫn “mở đài” thao thao bất tuyệt. Không ai dám chặn anh dù những người tù ở đây lâu, họ biết Huệ. Huệ là Trung Úy, tốt nghiệp Võ Bị Dalat. Bạn đọc là Võ Bị đừng cho là tôi bêu xấu. Ngành của tôi cũng có tên Quang Heo Ho, hắn nguyên gốc là Trợ Y. Sau này khi ra tù, tôi bíêt được hắn xin vào làm tại Bệnh Viện Chợ Rẫy. Hắn cũng có trên 3 cuốn lịch, đủ tiêu chuẩn đi diện H.O., nhưng không biết hắn đi hay ở lại cam chịu nhục trong nhà tù lớn.

Hôm sau tên Chuộng gọi anh Ruyệt lên , đem nhốt anh xuống hầm và cho vệ binh đánh anh bị thương què chân. Hơn 1 tuần sau hắn thả anh ra thì anh đi hết nổi.

Về traị, anh em tù nguời thì cho thuốc, người cho thức ăn, mấy tuần sau anh hồi sức nhưng cái chân khập khễnh. Ruyệt còn cho biết, một tên vệ binh khốn nạn đã gắn cái lon sữa vào mũi giầy vải, rồi đá mấy cái vào mặt anh đến đổ máu.

Anh Hãn cũng có một lần hớ hênh, phổ biến tin tức do anh nhận sau khi được thăm nuôi. Anh cũng không ngờ tên Huệ rỗ tới và đứng ngay sau lưng anh. Khi phát hiện ra hắn, anh hoảng quá. Nhưng mấy ngày sau không thây tên Chuộng gọi lên hành. Khi anh kể chuyện này cho tôi biết, tôi có hỏi lại anh, “tên Huệ rỗ có khi nào nhờ anh khám bệnh không”, thì anh trả lời ‘hắn không bao giờ nhờ tôi khám bệnh’.Tuy vậy, tôi đồ chừng hắn lo xa , lỡ khi bản thân có bệnh lại phải nhờ anh Hãn nên anh được ‘tha Tào’. Hắn không tâu với cai tù.

Anh Hãn còn cho biết, có lần tên Huệ nói ‘nếu anh muốn lên làm trên Bệnh xá hắn sẽ giới thiệu’, nhưng anh Hãn từ chối. Anh bảo với hắn: “Cám ơn anh, để tôi đi làm với anh em đựơc rồi”.

Anh Hãn đã tỉnh táo. Nếu anh nhận lời lên lảm bất cứ việc gì thì cũng sẽ bị coi là “ thân cai tù” và anh sẽ mất bạn bè. Cũng như ở Thành ông Năm, anh bạn Trần nhất Tân (tôi viết ỡ phần trên, đã chết tại miền Bắc), khi ở tù được vài tháng, có một buổi sáng, tên cai tù tên Bồi gọi anh lên ‘làm việc’. Tân có kể cho tôi rằng hắn bắt anh báo cáo về tình hình anh em trong khối. Anh hỏi ý tôi xem làm thế nào. Anh ta cũng không dám từ chối vì sợ sẽ bị trù. Tôi bảo Tân rằng cứ báo cáo, nhưng “chung chung” , không hại ai là được, chẳng hạn chuyện cãi vã, gây gổ nhau. Tôi nghĩ Tân nghe tôi nên những ngày sau trong khối không ai bị gọi lên đánh đập hay xỉ vả.

Anh Hãn ra tù ở Bùi Gia Phúc, trước tôi trên 5 tháng. Về nhà giai đoạn đầu anh thường khám bệnh cho những người quen biết ở khu vực anh ở. Anh bị bọn Công An Phường gọi lên hạch hỏi, qui tội anh khám bệnh “chui”. Anh trả lời rằng tôi khám công khai sao gọi là chui. Tên Công An lại nói ‘anh không đăng ký kinh doanh’. Anh Hãn trà lời:’ Tôi đâu có buôn bán mà đăng ký kinh doanh. Bà con đau yếu nặng mới tới tôi khám bệnh. Còn bệnh thường thì họ tự ra Nhà bán thuốc để mua. Khám bệnh tôi đâu có đòi hỏi phải trả bao nhiêu.

Cuối cùng thì đám CA Phường cho anh về. Nhưng bọn chúng họp bàn sẽ tìm cách đưa anh vào tù trở lại. Anh rất may mắn được người ngầm báo tin này, nên anh kiếm chỗ đi làm. Anh dự định xin vào Chợ Rẫy, nơi xưa kia anh đã là sinh viên nội trú và anh có ngừơi bạn học ,đi tù về trước, là Bsĩ Hoàng, đang làm Bsĩ Thần kinh giải phẩu tại đây. Thời gian chuẩn bị nạp đơn thì chuyện không vui xẩy ra cho Bsĩ Hoàng.

Sau một ca mổ, có 2 Bsĩ, bọn Việt Cộng cho 2 người 1 hộp sữa đặc. gọi là “bồi dưỡng”. Ở chế độ xã hội chủ nghĩa, một chén gạo còn quí, thì hộp sữa còn quí hơn chén gạo.

Anh Hoàng là trưởng ca, nên anh nhường cho bạn, nói rằng, kỳ này nhường anh lãnh, kỳ sau đến phiên tôi. Tên y tá trong rừng ra đứng gần nghe được, nó lên lớp anh Hoàng: “Chế độ ‘bồi dưỡng’ cho anh mà anh chê là anh khinh thường chế độ”. Hắn còn báo cáo lên trên để tên Việt Cộng cấp trên bắt anh Hoàng làm kiểm điểm. Anh Hoàng phải làm kiểm điểm cho xong, nhưng về nghĩ giận quá, không thể tiếp tục làm ở đó được nên viết đơn xin nghỉ việc.

Thế là anh Hãn phải bỏ ý định xin vào Chợ Rẫy mà xin vào Bệnh viện Saigon. Lúc này Bác sĩ rât thiếu, nhất là Bác sĩ được đào tạo từ Đại Học Y Khoa Việt Nam Cộng Hoà, trước Tháng Tư Đen 75. Họ không chịu khuất nhục trong sự kìm kẹp của chế độ Cộng Sản nên vượt biên, hoặc đi bán chính thức, do đó đơn của anh đươc thuận liền.

Khi về anh Hãn có vựợt biên mấy lần nhưng thất bại. Anh lập gia đình sau khi ra tù và nạp đơn đi theo diện H.O. , tới Hoa Kỳ cuối năm 1990. Anh đi H.O.4.

Chúng tôi hợp ý nhau từ ngày còn trong tù, và ngày nay gặp lại, tôi và anh cũng tương đắc trong vụ Little Saigon SanJose.

Chúng tôi ở phía nam SanJose, không thuộc khu vực 7, nên không góp được lá phiếu “recall” cô Nghị viên thành phố Madison dù chuyện này thất bại.

Theo tôi, cô Madison thiếu khôn ngoan. Không những cô phản bội cộng đồng, những người đã đưa cô vào ghế nghị viên thành phố. Nếu cô có ý tái tranh cử trong nhiệm kỳ tới, cô mất số phiếu 5181 của cộng đồng Mỹ gốc Việt Khu vực 7. Cô dựa vào ông Thị Trưởng, mà trong xứ Dân Chủ, ông Thị Trưởng không ở mãn đời chức vụ này. Trong khi đó thì ‘dân còn mãi’. Tuy vụ recall, cô lấy được phiếu của người Mỹ gốc Mexico, nhưng con số phiếu recall 5181 đã nói lên sức mạnh đáng kể của cộng đồng và cô mất số phiếu này.

Chú thích:

(1) Bệnh đậu mùa do một trong 2 loại siêu vi Variola major hay Variola minor. Tên Latin là Variola hoặc Variola vera, gốc chữ Latin varius, có nghĩa là Đốm hoặc varus nghĩa là Mụn nhọt. Vào thế kỷ 18, bệnh gây chết 400.000 người một năm. Ngày nay, bệnh đậu mùa là bệnh nhiễm trùng cho người đã được tiêu diệt.(Wikipedia)

—> Phần XI

This entry was posted in *Mùa QUỐC HẬN, 1.Hồi-ký - Bút-ký, Chuyện Tù, Quỳnh Hương. Bookmark the permalink.