TRẠI TÙ T4 (Qùynh Hương): Phần XI

Phần XI

Sau khi xong thủ tục trình diện thành phố, về đến Phừơng lại qua một cầu nhiêu khê. Thoát nhà tù nhỏ, để vào nhà tù lớn tôi còn bị “quản chế thêm 1 năm”. Quản chế là hình thức kìm kẹp của công an Phường. Đi đâu cũng phải làm đơn xin phép. Tên trưởng công an Phường bắt tôi cứ thứ 7 phải “nên nàm việc” taị Phường để ngồi khai “ní nịch” và ghi những việc “nàm” trong tuần của mình. Cũng như nhiều bạn tù chính trị khác thường làm, tôi viết một bản “mẫu”, rồi mỗi tuần “sao y nguyên văn” để tránh bị hoạnh hoẹ. Mỗi lần như vậy, hắn lại “ nên nớp” tôi chừng nửa giờ, nghe vừa chán tai, vừa tức cái ….mình.

Rồi vài tuần sau, hắn bày trò gọi 22 sĩ quan Viêt Nam Cộng Hoà đã đi tù về, ngụ tại Phường, đi ĐÀO KÊNH hàng tuần vào thứ bảy và chủ nhật, trong 3 tháng để “ăn cơm nhà vác tù và hàng xứ”.

Đấy chẳng qua là cách “bóc nột sức nao động” ?

Nhưng, chẳng dấu gì bạn đọc, tôi cũng theo câu vè của Hanoi thời đó loan truyền vào Saigon : “ba số năm vừa nằm vừa ký’ hoặc “ thủ tục đầu tiên” . Vì vậy tôi làm 1 tuần rồi áp dụng đúng đuờng lối dân miền Bắc để theo Tào Tháo “tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách”.

Về Saigon, ban ngày làm việc phụ vợ kiếm sống, ban đêm tôi thường mở đài BBC và VOA để nghe tin tức. Tuy là vặn âm thanh nhỏ, nhưng nằm ở nhà nghe thoải mái hơn năm 1979 trong Trại Tù T4, ở Thành Ông Năm, đói tin tức nên phải len lén đến bên hàng rào đội Kỷ luật nghe ké “đài” của vệ binh coi tù, để biết tin tức về “người anh em núi liền núi sông liền sông đang dạy cho Việt Nam một bài học và đặt mìn giật sập hang Pac Bo”

Đầu năm 1981, tôi xúc tiến việc nộp hồ sơ bảo lãnh đoàn tụ . Tôi phải tìm mãi mới biết địa điểm nhận đơn. Mỗi tuần họ làm việc 1 ngày thứ 3. Tôi dậy 5 giờ sáng để đi lo chuyện này. Địa điểm nhận đơn nằm trong con hẻm nhỏ, không có bảng tên cơ quan hay văn phòng.

Vậy mà bà con “muốn rời khỏi xứ sở do Việt Cộng cai trị” cũng nhiều và rất “thính tai”, nên khi tôi tới nơi đã thấy đám người xếp hàng dài vài chục thước. Gần 1 giờ trưa, sắp đến phiên tôi thì họ ngưng nhận đơn và hồ sơ. Thế là phải trở về đợi thứ 3 tuần sau. Mỗi ngày, họ không định số giờ mà tính số hồ sơ nạp . Hêt qui định số hồ sơ cho một ngày làm việc là họ nghỉ dù còn sớm. Sáng thứ ba tuần sau, tôi dậy từ 2 giờ và vội vã đến xếp hàng. May mắn khi tới nơi mới chỉ có khoảng 20 người nên 10 giờ là tôi xong việc nạp hồ sơ bảo lãnh diện “đoàn tụ”. Lúc đó 3 con tôi ở Hoa Kỳ chưa đứa nào nhập quốc tịch Mỹ nên chỉ nạp tờ Bảo Lãnh của USCC.

Khi nghe tin cựu Trung Tướng Vessey sang Việt Nam để thào luận về tù chính trị, tôi lập một hồ sơ khác, đưa gửi bưu điện qua Mỹ cho con tôi để kiếm nơi nạp trực tiếp.

Hồ sơ này gia đình tôi có 6 ngừơi. Vì lo xa Việt Cộng có thể kiểm soát thư đi ngoại quốc, nhất là Mỹ, chúng có thể vứt bỏ hồ sơ xin đi Mỹ , nên tôi tìm được mối “gửi thằng không qua kiểm soát”. Tốn 1 chỉ vàng. Thời kỳ này thư từ Mỹ về Việt Nam thường là 3 tháng, có thư phải 6 tháng, vì thư phải qua Hanoi kiểm duyệt trước.

Chuyện lo xa của tôi tới năm 1985 mới biết là mình lo xa đúng phóc. Đầu năm 1985, một người bạn đồng khoá của tôi tên Thiện tới thăm, và cho biết mới ở tù ra. Tôi thắc mắc , hắn ra tù sau tôi ít lâu sao lại tù nữa?

Thiện cho hay vì gửi đơn ở bưu điện qua Mỹ để xin đi Mỹ, nên bị công an bắt vào ban đêm . Chúng không đưa đi giam ở Trại Tù Chính Trị Xuân Lộc mà giam tại trại Phan đăng Lưu, Gia Định cũ. Chổ này nhốt tù nhiều thành phần. Có cả những ngùơi vượt biên, buôn lậu, và cả trường hợp “làm đơn xin đi Mỹ” như Thiện.

Trại này còn giam một vài người giàu có. Chắc họ cũng hối lộ cai tù nên ngày nào gia đình cũng đem rượu và thúc ăn vào. Thiện kể rằng hắn quen với ông Tàu lai, giầu , nên thời gian ờ tù trong trại Phan đăng Lưu không đến nỗi khổ. Theo Thiện, trong trại Phan đăng Lưu có trên 10 sĩ quan tù chính tri, ra tù rồi lại nộp đơn xin đi Mỹ qua đường Bưu điện, cũng đều bị bắt ban đêm và nhốt vào đây.

Vào thập niên 80, mỗi buổi sáng, trong công viên trước Dinh Độc Lập cũ, bên cạnh nhà thờ Đức Bà, có khoảng gần 100 tù chính trị đã được tha, thường tụ tập thành từng nhóm, ngồi ở các gốc cây trao đổi nhau những tin tức mới nhận. Thỉnh thoảng có dịp đi lên đường Tự Do mua báo, tôi nhìn thấy nhưng không ghé vào nói chuyện, vì tôi sợ trong số này có thể có công an.

Đến năm 1988, một buổi sáng, công an khu vực đưa một người mặc thường phục, mang một sấp dày hồ sơ tới nhà tôi. Tên công an giới thiệu người lạ này là ‘cán bộ thuộc Phòng chính trị công an thành phố.’

Hắn đưa cho tôi 1 tờ giấy đánh máy có ghi sẵn tên gia đình tôi, xin đi Hoa Kỳ, gồm 2 vợ chồng tôi và 4 con. Hắn yêu cầu tôi xác nhận và ký tên ở bên dưới.

Tôi giải thích rằng hồ sơ này cũ rồi. Gia đình tôi chỉ xin đi 4 nguời là 2 vợ chồng tôi và 2 con gái.

Tôi có chỉ cho anh ta biết là, 4 con ở trong đơn thì 1 đứa vượt biên và đang học Đại học ở Mỹ. Còn một đứa lập gia đình, mà phía gia đình chồng không muốn cho nó đi nên tôi xin bỏ 2 người.

Anh ta nói : “ Hồ sơ này là do phía Mỹ đòi hỏi, chúng tôi không có quyền sửa. Nếu gia đình anh có những tên này thì anh ký xác nhận”.

Tôi viết một dòng : Những ngừơi có tên trong danh sách là vợ con tôi, rồi ký tên. Tôi sợ có chuyện lôi thôi sau này về hồ sơ của mình nên viết “chung chung” như thế.

Khoàng vài tháng sau, Phòng Quản Lý xuất nhập cảnh đường Nguyễn Du gọi tôi lên , bảo tôi đem hồ sơ về làm lại, và ký tên xác nhận xin đi mấy người.

Tôi nghĩ rằng , như vậy tin loan truyền là cựu Trung Tướng Vessey trao cho phía Việt Cộng danh sách 30.000 người, gồm tù chính trị và gia đình, có lẽ là đúng nên mới có tình trạng “kiểm soát” kỹ như thế.

Sau khi Hoa Kỳ và Việt Cộng thoả thuận xong việc ra đi của sĩ quan tù chính trị, thì Việt Cộng lập văn phòng nhận hồ sơ đi Mỹ theo diện H.O. ở đường Nguyễn Trãi. Tôi lại thiết lập một hồ sơ khác gồm 4 người trong gia đình và đem nạp tại văn phòng này.

Gần đây, tôi may mắn được đọc “Lịch sử hành trình định cư của H.O.”, tác giả HP, tài liệu của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, do bà Khúc Minh Thơ cung cấp, tôi mới biết là Chương trình H.O. khởi sự từ 1982. Về phía Hoa Kỳ, các vị như Phụ tá Bộ Trường Ngoại Giao Hoa Kỳ Stoessel, Phụ Tá Ngọai Trưởng Wolfowitz, Phụ tá Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ,đặc trách về ngùơi tị nạn Robert Funseth, cùng một số các vị Nghị Sĩ đã cố gắng xúc tiến cho chương trình H.O. suốt 8 năm để đi đến thành quả tốt đẹp: tất cả những Sĩ Quan tù chính trị được đến xứ sở tự do Hoa Kỳ.

Trong giai đoạn đàm phán, bọn chop bu Cộng Sản Việt Nam luôn mồm nói những người Sĩ Quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà là tôi phạm. Chúng không mở to mắt nhìn 8 nước Đông Âu và 15 nước khối Liên xô, sau ngày 31 -12-1991, quốc tế Cộng Sản tan rã, không có nước nào lập trại tù không lồ để đày ải những Sĩ Quan Cộng sản, kể cả dân Ba Lan, là nuớc bị Cộng sản đàn áp nhiều nhất.

Một khó khăn khác cho tất cả những người tù chính trị, khi thoát được nhà tù nhỏ, về nhà tù lớn là gặp bọn Cộng Sản địa phương. Phần lớn bọn ở Rừng ra, chúng bốc men chiến thắng, ( nhất là lúc này mả cha chúng là Liên xô chưa tan) thế nên bất cứ tù nhân chính trị nào về địa phương cũng bị “hành” đủ mọi thứ.

Phải có một việc làm, vừa phụ vợ con, vừa để cho Phường Khóm không dòm ngó là mình ngồi chơi. Khác với anh Tú , tôi đã viết ở Phần 6, trong Tổ Dân Phố nơi tôi ở, phần lớn là dân “chế độ cũ”. Tuy vậy tôi vẫn phải phòng ngừa “chỉ điểm” của công an Phường. Bản thân tôi không làm nghề dạy học mà làm nghề nhuộm vải.

Thời gian tôi ở tù, lúc Saigon sụp đổ, vợ tôi thường nhuộm “quần áo”- loại quần áo cũ- chuyển từ những màu sặc sỡ ra màu “nông dân”. Có lẽ tâm lý người dân lúc đó qúa “rét” trước sự kìm kẹp của con cháu bác Cáo, nên “gặp thời thế thế thời phải thế!” họ hùa nhau làm chuyện khác thường này. Ngoài những màu sặc sỡ, những bộ đồ nhà binh màu vàng, nhất là treilli mầu xanh rêu đều nhuộm thành đen . Loại này là vải, thường dùng thuốc “đen đá”. Thuốc nhuộm vải vợ tôi được bà chị ở Hải Phòng chuyển vào từ đường tàu thuỷ, vì Saigon vào giai đoạn 1975-1977 rất hiếm thuốc nhuộm.

Khi tôi về, khu Làng Dệt Bảy Hiền làm ăn khá . Họ là Xã viên Hợp tác xã dệt, được đưa Sợi polyester để dệt ăn công . Số sợi giao kilo, khoán thành thước vải.

Kiểu này từ ngữ Việt Cộng gọi là “khóan sản”. Cách “khoán sản” này năm 1985 ở Thuỷ Nguyên , gần Hải Phòng có một anh chàng cựu Trung Đoàn Trưởng Việt Cộng , sau khi nghỉ hưu, về làm Chủ tịch xã, thấy dân đói vì làm theo tiếng kẻng , kiểu kinh tế tập trung do bác Cáo đem về áp dụng ở Việt Nam, nên thu hoạch giảm trầm trọng. Anh ta nghĩ ra “khoán sản” và đem áp dụng vào nông nghiệp. Kết quả thu hoạch rất cao so với kiểu “gõ kẻng cùng đi làm”. Tuy nhiên anh ta bị đi tù vì tội “ dám vượt rào, bỏ kinh tê tập trung của bác Cáo Đuôi to (!).

Bạn đọc đi trước 30-4-75 không biết sau Tháng Tư Đen, miền Nam dần dần thiếu gạo, dù đồng bằng miền tây là vựa lúa của cả nước, Chính Phủ VNCH trước đó hàng năm đều xuất cảng gạo.

Dân Bắc và Nam phải ăn độn khoai mì hay bo bo. Nạn đói xẩy ra ở 2 tỉnh Thanh Hoá và Quảng Ninh năm 1987 làm chết 2 ngàn người, và UBND tỉnh Thanh Hoá cấp giấy cho từng đoàn ‘cái bang’ ra các thành phố Hà Nội Hải Phòng, hay cả miền đổng bằng sông Hồng để ăn xin. Chi tiết thảm cảnh này tôi có viết trong chuyện ‘Người anh họ’.

Dưới đây là trích đoạn trong Tư Thuật của nhà văn Trần Khải thanh Thủy về nạn đói :

….21 năm qua rồi kể từ ngày bố tôi mất. Ông chết vì suy dinh dưỡng nặng. Vào thời điểm 1985, sau “giải phóng” mười năm, cả nước cùng ôm nhau ngắc ngoải trong những ô tem phiếu.

Nếu những thời điểm trước người dân có câu sấm truyền bất hủ:

Gạo vừa 13 ký, suốt tháng cháo thừa, cơm thiếu. Quanh năm no cậy nước,
Vải tròn 4 nghìn phân, suốt ngày quần thiếu, khố thừa. Cả đời ấm nhờ da …

Thì thời điểm giữa 1985 còn khổ ải hơn, chả lấy đâu ra 13 ký gạo cùng 4000 phân vải. Khắp trong các cơ quan xí nghiệp, nơi này nơi kia phải bỏ việc để kéo quân xuống các địa phương tăng gia sản xuất, trồng giống ngắn ngày như ngô, khoai sắn để kéo dài sự sống. Nhà nước coi tính mạng con dân không bằng cỏ rác, cần thì bắt ép dân theo, không cần thì vứt xuống dưới chân, sống chết mặc bay, đảng này không ngán. Thế là ra chỉ thị cho các cơ quan xí nghiệp, hộ dân phải tự túc lương thực 3 tháng. Hết 3 tháng này rồi lại 3 tháng khác. Sự nghèo, cái đói cứ như một sợi dây thòng lọng treo lơ lửng trên đầu mỗi người. Nhà tôi cũng không ra ngoài quỹ đạo đó, đói dai dẳng, đói triền miên, đến mức nhìn đứa trẻ con ăn một tấm miá, hoặc quả chuối cũng thèm chảy nước miếng. Gạo ăn không đủ, làm sao dám nghĩ đến chuyện ăn quà vặt…Vốn là người quen chịu đựng, ông không hề phàn nàn vợ con điều gì, chỉ lẳng lặng chịu đựng rồi như ngọn đèn cạn dầu, ruỗng bấc, không thể toả sáng tiếp tục,ông lặng lẽ tắt đi, chỉ để lại cho đời một tấm giấy duy nhất, cũng là lời tuyên bố chính thức của ông với đảng cộng sản “bất diệt”: Đơn xin ra khỏi đảng…..

Làm khoán sản, tuy tiền công một mét vải rẻ mạt, nhưng mỗi lần nhận sợi dệt, các xã viên đã khéo léo “lách” lúc đưa sợi lên khung cửi, nên dôi sợi. Họ để dành sợi dư 2 hay 3 lần cho được trên 10 mét là họ lên khung dệt đem bán hoặc đưa đi nhuộm.

Vợ chồng tôi cố gắng tìm tòi và thí nghiệm loại thuốc nhuộm nylon để nhuộm được nhiều màu cho khách hàng may mũ nên rất đông khách.

Đúng là gặp vận may. Vợ tôi mua được căn nhà nhỏ , nhưng là “mặt đường”, nên mối nhuộm hay những người bán thuốc dễ tìm đến. Mối bán thuốc là điều quan trọng cho nghề của vợ chồng tôi trong giai đoạn khó khăn của chế độ Cộng Sản, nhất là khi chuyển hàng nhuộm từ vải bông, sang nhuộm vải sợi polyester.

Trên 1 triệu người trốn chạy bọn cộng sản từ Bắc vào Nam năm 1954-1955, một số ít sống ở Saigon và các tỉnh lỵ hay thị xã, còn phần đông ở trong các Trại định cư lớn như Hố Nai, Phương Lâm, Cái sắn. Ngay tại Saigon cũng có 2 Trại ở Ngã ba Ông Tạ và một Trại ở Phú Bình, 2 Trại ở Gò Vấp và Hóc Môn.

Dân di cư tị nạn cộng sản, hành nghề nhuộm gia truyền ở thành phố Saigon là quê ở Bố Đáp, sống trong Trại tị nạn Phú Bình. Vợ chồng tôi không phải dân Bố Đáp, nhưng lúc đó đã vượt họ trong nghề này.

Thời gian tôi đi tù, hai năm 1975 và 1976, bọn địa phương cũng theo lệnh tên chết-bất-đắc-kỳ-tử Sáu Dân , Võ văn Kiệt, đến bắt vợ tôi “ký giấy xin đi kinh tế mới” . May mắn được ông anh con ông bác, anh Nguyễn quang Biềng, ở Bắc vào bảo cô em rằng “ bằng mọi giá phải trụ lại Saigon”, thế là nhà tôi đã từ khước việc ép ký tên xin đi ra khỏi thành phố để lên rừng làm rãy.

Ngoài ra, đứa con gái lớn tôi đang học Văn khoa, bọn Cộng Sản chiếm miền Nam , chúng đóng cửa 2 Trừơng Luật Khoa và Văn Khoa, nên cháu nghỉ học và đi làm “ mõ phường”. Tôi dùng từ này vì nó y chang Mõ thời xưa. Nhưng từ ngữ Vẹm là “ thông tin văn hoá”. Thêm việc này của con, bọn Cộng sản ở Phừơng không bắt vợ tôi đi kinh tế mới nữa. Đây cũng là một hy sinh lớn lao của nó đối với gia đình.

Nhưng, khó khăn khác cho tôi, cũng như hầu hết các bạn tù chính trị khi về Saigon, là cái “hộ khẩu”. Tôi cũng phải mất 2 năm mới “chạy” được tờ giấy “thổ tả” này.

Phần lớn bạn đọc đều biết, các sĩ quan tù chính trị, khi ra tù về với gia đình đều “không có hộ khẩu”. Chuyện cái “hộ khẩu” đã làm điêu đứng không biết bao nhiêu gia đình, nhất là Sĩ quan tù chính tri.

Nhận xét về “hộ khẩu” , nguời cháu tôi ở Saigon từ năm 1954 đến nay cho biết, có 6 điều “không” của tờ hộ khẩu.

1- Không được mua nhà, dù có tiền.

2- Không được lấy vợ, dù có yêu nhau, vì Phường Quận không cho làm hôn thú.

3- Có lấy nhau chui, cũng không được đẻ vì không Bệnh viện nào nhận. Phải đẻ chui. Đứa con không giấy khai sinh.

4- Không được đau ốm, vì bệnh sắp chết nhà thương cũng không cho nhập viện.

5- Con cái không hộ khẩu sẽ không được quyền đi học.

6- Không được sống vì không có “sổ gạo”(!).(1)

Tuy nhiên, tôi thấy điểm 3 và 5 không đúng lắm. Như tiết lộ của các ông Nguyễn Minh Cần, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân TP Hanoi 1955-1956, bà Trần Khải thanh Thuỷ ( với bút hiệu Nguyển Thái Hoàng), cũng như ông Vũ Kỳ, thì Hồ chung chạ với bà Xuân đâu có hôn thú. Sau khi có con, Cáo cho Hoàn gíêt bà Xuân, đứa con đưa bí thư Vũ Kỳ nuôi , đâu có khai sanh, nên Vũ Kỳ mới đặt tên là Vũ Trung. Ông Vũ Kỳ khi sắp mất, đã đá giò lái bác Cáo, nên đem đổi lại họ thật của Trung là Nguyễn Tất Trung , con Nguyễn Tất Thành. Câu chuyện từ đó khắp thiên hạ ai cũng biết bác Hồ chơi rồi chạy. Mà gẫm ra bác là người thuộc lòng và áp dụng triệt để thơ cụ Nguyễn Du “Ở đời muôn sự của chung”, cho nên bác cho Hoàn “ăn có” bà Xuân rôì sau sai Hoàn giết bà.

Điểm 5 không đúng vì ở chế độ cộng sản : “bé không học lớn làm cách mạng”. Một lô cán bộ cao cấp cộng sản đâu có học hành gì ra hồn. Như Hoạn Heo Đỗ 10, học lực lớp 3, Cai đồn điền Lê Đức Anh, Lê Duẩn và ngay như Phạm Văn Đồng cũng không qua Certificat d’étude Primaire, là tiểu học.

Chú Thích :

(1) Bạn đọc đi trước Tháng Tư Đen có thể không biết Sổ Gạo, và tầm quan trọng của Sổ Gạo.

Sau 30-4-1975. ở thành phố Saigon chúng bắt các hộ gia đình lập tờ hộ khẩu. Vì vậy các sĩ quan VNCH đang ở tù đều không có tên trong hộ khẩu. Gạo khan hiếm nên chúng dựa vào Tờ Hộ Khầu để lập Sổ mua Gạo cho mỗi gia đình . Nếu không có Sổ gạo là không mua được gạo. Gọi là Sổ Gạo, nhưng hàng tháng xếp hàng đi mua nhiều tháng không Gạo nên Cửa Hàng Gạo bán Khoai mì hay mì gói loại kilo.

Ngày đó dân Saigon có câu ví : Mặt buồn hiu như mất Sổ Gạo, Hoặc giả gặp bạn mà thấy bạn mặt ràu ràu thì hỏi : ‘Bộ mày mất Sổ Gạo hay sao mà buồn vậy?’

—> Phần XII

This entry was posted in ***Mùa QUỐC HẬN, **Chuyện Tù, 1.Hồi-ký - Bút-ký, Quỳnh Hương. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s