TRẠI TÙ T4 (Quỳnh Hương): Phần XVI

Phần XVI

Tôi bị bệnh sạn thận trong Trại tù T4 .

Như tôi đã viết ở Phần 1, tờ mờ sáng ngày 25 tháng 6 1975, xe vận tải của Vẹm chở chúng tôi tới Thành Ông Năm.

Sau hai ngày phân chỗ ở,…chia Đội, Khối, Tổ và…chỗ nằm 6 tấc, là chúng tôi bắt đầu phải lo đến nước.

Cả trại tù gần 1.000 người , chỉ có 1 giếng nước duy nhất ở gần gốc cây bã đậu, giữa Đội 1 và 3. Trại T4 có 3 dãy nhà hình chữ U. Hai dãy trước kia là văn phòng của một đơn vị công binh. Còn một dãy rất lớn, không có vách, là lò gạch, còn ngổn ngang gạch lốc đúc sẵn. Sau này dần dần mỗi người nhặt lượm được mền rách hay bao cát, đem khâu lại làm vách che . Gạch lốc được tận dụng làm ‘giường nằm’.

Khu đất giữa 3 Đội là một sân rất rộng, chứa khoảng gần 100 xe GMC, có nhiều chiếc còn mới và 3 máy ủi loại lớn. Sau hơn 1 năm thì những chiếc xe này nát hết. Máy móc do cai tù bắt tù nhân tháo gỡ để đem ra Saigon bán lấy tiền mua ‘đài’đồng hồ ‘2 cửa sổ’ ‘3 mái chèo’(!). Vỏ ruột thì tù nhân cắt làm dép râu.

Đến khi xe bị rã banh gần hết thì có một số xe tải ở ngoài vào, chở đi những xe bị phá nát này. Khi ra tù tôi quen với gia đình một thuỷ thủ, nên mới biết là Vẹm thu gom sắt vụn đem bán cho Singapore. Đây chính là phá đình làm chùa (1). Bãi đất này dần dần trở thành những luống rau nuôi sống tù nhân.

Phân chia chỗ ở xong thì cai tù bắt mỗi đội phải đào 2 giếng nước. Tất cả tù nhân, chưa một người nào biết đào giếng. Đội tôi cắt mỗi toán 5 người. Một ngày 2 toán làm việc. Đào lớp đầu là đất cứng. Nhưng không vất vả bằng khi xuống sâu 4 mét, nước bắt đầu từ các mạch ngầm chảy ra. Vì vậy đến phiên người nào xuống giếng đào là phải khoét một lỗ cở ¼ diện tích giếng, để chứa nước. Nước chảy ra ngập khoảng gang tay, những người phía trên phải dùng giây đưa nón sắt, hoặc thùng nhỏ xuống để người ở dưới múc đầy thì toán ở trên kéo lên. Khi nước cạn, người ở dưới tiếp tục đào.

Sau 3 ngày, giếng sâu khoảng 6 mét, coi như công việc hoàn tất. Giếng để lắng 2 ngày thì bắt đầu xử dụng.

Tôi cũng đã viết về chuyện ‘mỗi ngày 1 chén cháo’ sau 3 tháng ở tù. Nhưng may mắn cho tôi, nằm trong toán 5 người, có Chánh biết lo xa. Thời gian còn phát cơm, mỗi buổi trưa, chiều, Chánh thường mò xuống bếp vét cơm cháy trong chảo, có cả cơm cháy thành than, đem về phòng, Chánh ngâm nước cho nát rổi đem phơi khô, bỏ vào túi để dành. Y chang xưa các cụ dạy ‘tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn’.(2)

Ở đây, Chánh đã ‘tích cơm cháy phòng đói’ và trong thời gian phát mỗi ngày một tù nhân được 1 chén cháo thì toán tôi được thêm một chén ‘cháo cháy’ của Chánh. Chánh quê ở miền Trung. Có lẽ ở xứ ‘quê hương tôi nghèo lắm ai ơi’ nên Chánh biết cách lo xa. Chánh bây giờ chắc cũng đang ở Mỹ, vì Chánh tù cùng 3 trại với tôi và về cùng đợt, nhưng trước tôi vài ngày vì Chánh ở ngoài Trung.

Sau khi vào tù 1 tháng, tôi và Đỗ cuốc con đường đất phía sau phòng ngủ, làm được 4 luống trồng rau lang. Thời gian phát cháo, chúng tôi đã hái lá rau lang luộc ăn buổi chiều. mỗi người một chén rau lang luộc.

Sau một năm, bọn Việt Cộng phân loại và cho một nửa trại ra Bắc thì khối tôi chuyển chỗ ở lên dẫy phòng gần cổng trại. Bãi xe chỉ còn rải rác vài ba xe nát, nên nhiều người ra làm luống trồng rau trên những khoảng đất trống.

Trong thời gian này, Trại T4 có vài người làm được những ‘phát minh’ đặc biệt. Ở đội 3, là đội của anh Hãn, có một anh đã làm một cái, tạm gọi là satellite, hình dáng như cái chảo. Khung đan bằng tre, đường kính khoảng 1 mét. Anh dùng giấy bạc trong bao thuốc lá dán kín lòng chảo. Phần vũm của đáy chảo có một cây sắt 6 ly, cắm thẳng lên giữa chảo, dài khoảng 6 tấc, đầu uốn cong như cái móc câu , thường để treo cái xoong hay cái bình nấu nước.

Cứ 10 giờ sáng, anh lại đem cái giống như satellite ra ngoài sân, hướng về phía mặt trời, treo bình nước lạnh vào. Tuỳ theo ngày, nếu nắng gắt , khoảng 15 phút thì cây sắt đỏ dần và thêm nửa giờ thì nước sôi. Dung tích nước bằng một cốc đầy. Có thể pha trà hay cà phê.

Anh bạn này đã lấy nhiệt mặt trời nấu nước.

Anh thứ hai, ở đội 2, đã câu giây điện 220volt xuống chỗ ngủ, cho đường giây qua 3 chậu nước, rồi anh mắc bóng đèn 12 volt, tháo ở đèn xe GMC, để thắp sáng. Trại tù T4, cũng như Bùi Gia Phúc, Bùi Gia Mập không có đèn điện hay đèn dầu.

Ngoài ra, nhiều bạn khác cũng có những tài vặt riêng. Nhưng nhiều nhất là phe làm dao, kéo.

Dao kéo làm rồi khi khám đồ là bị tịch thu. Nhưng vì nhu cầu nên lại làm tiếp để dùng thường ngày. Ngoài ra còn có anh làm các bộ Domino, Mạt chược và làm cả đàn guitare để tiêu sầu. Đỗ cũng khéo tay, ngoài tài làm dao kéo, lược, Đỗ làm tặng tôi cây guitare, khi buồn thì lai rai vài bản classic cho đỡ nhớ vợ con.

Còn môt anh bạn tôi cũng không nhớ tên, ở đội 3, làm một cây đàn bằng sắt vụn, đủ loại, phải vài chục míếng. Anh treo từng miếng sắt lên một khung , to nhỏ khác nhau và lấy cây sắt gõ thử âm thanh. Thời gian anh làm mất cả tháng trời. Khi hoàn tất, anh dùng cây sắt gõ các bản nhạc, nghe rất hay.

Tháng 8 năm 1976 bắt đầu cai tù cho thăm nuôi, nhiều anh em đã được gia đình gửi cho hạt rau muống để trồng. Rau muống trồng hạt ăn ngon hơn trồng bằng cọng. Nhưng chỉ thu hoạch được nhiều lắm là 4 lần thì rau trổ bông. Cũng nhiều anh trồng rau dền. Thứ này dễ trồng và ăn lâu dài. Tuy nhiên cũng vì 2 món này mà tôi bị sạn thận.

Khoảng cuối năm 1977, một buổi chiều, tôi thấy lâm râm đau ngang thắt lưng, rồi càng ngày càng đau buốt. Tôi có cảm tưởng như có người dùng kim đâm vào lưng. Tôi nhớ là trong trại lúc này còn 8 Bác sĩ . Chỉ có một Bác sĩ giỏi khoa châm cứu là Trương Thìn ở đội 3 là được về sau 3 tháng.

Khi còn học Y Khoa, ông ta cùng Huỳnh Tấn Mẫm nằm vùng, hoạt động gây rối chính quyền VNCH. Khi về ông ta được Vẹm cho làm Giám đốc Bệnh viện Y học Dân tộc ở đường Công Lý Saigon. Ông này tuổi nhiều hơn anh Hãn và anh Hiền nên có thể bây giờ đã nghỉ hưu.

Còn tên Mẫm khi Vẹm chiếm Saigon, hắn làm Tổng biên tập tờ tuần báo Thanh Niên. Sau này vợ buôn lậu, hắn bi thất sủng nên mất việc. Hắn quay trở lại tiếp tục học Y Khoa, ra trường làm ở một Bệnh viện tại Saigon. Hai khuôn mặt ngu muội nằm vùng hoạt động cho Việt cộng, gây rối an ninh miền Nam Tự Do là Lê Văn Nuôi, học sinh học nghề Trung Hoc Cao Thắng(3)Huỳnh Tấn Mẫm sinh viên Y Khoa, sauTháng Tư Ten đều làm cho Viêt Cộng một thời gian rồi bị cho về vườn.

Một Bác sĩ khác được về sớm là Hồ Hữu Lộc. Ông này tù vài tháng thì được về phép vì cha chết. Cha chết mà được về là phải có ‘gốc vẹm’. Anh ruột ông ta là Hồ Hữu Lịch, nằm trong ‘Mặt trận bù nhìn giải phóng miền Nam’, bảo lãnh ông Lộc nên ông ta tù có hơn 1 năm. Đi phép cha chết cũng là tên Lịch bảo lãnh.

Đội 2 tôi biết lúc đó còn Bác sĩ Đại Uý Vương Gia Nhơn, Tiều đoàn Quân Y Thuỷ Quân Lục Chiến, Bác sĩ Đại Tá Lương Khánh Trí, Y sĩ Trưởng Lực Lượng Đặc Biệt, bên đội 3 thì có Bác sĩ Nguyễn Duy Hãn, và Bác Sĩ Sơn, tôi không nhớ họ. Đội tôi có 3 Bác sĩ, một người trong khối là Bác sĩ Hảo, tôi nghe anh Hãn nói thì Bác sĩ Hảo qua Mỹ, ở San Jose và ở khối 1 là Bác sĩ Lương Đức Hiền cùng Bác sĩ Trạch.

Nhưng thăm nom và giúp tôi thì có 3 người, anh Hãn, anh Hiền và anh Sơn.

Ba người cùng khuyên tôi nên nhắn về xin thuốc Pyperazine Midi, tác dụng làm mòn sạn.( Không phải loại Pyperazine dùng chữa sán lải mà ngành Quân Y QLVNCH thường dùng).

Bác sĩ Sơn kể cho tôi nghe, trước kia anh cũng bị sạn thận, phải bò từ trên lầu xuống dưới nhà và sau phải giải phẫu mới khỏi. Anh còn bảo tôi rằng 2 thứ rau nhiều Calci là rau muống và nhất là rau dền. Mình lại uống nước ít, thận lọc không hết cặn, lâu ngày cặn đọng lại thành sạn. Sạn càng nhỏ thì càng nhọn và càng đau. Uống Pyperazine Midi làm mòn thì hy vọng trôi ra. Nếu không cũng giảm đau vì những mũi nhọn đã bị mài mòn.

Sau khi ra tù vài tháng, tôi có gặp Bác sĩ Sơn ở đầu đuờng Hiền Vuơng (cũ). Lúc đó tôi đi xe Honda và Bác sĩ Sơn đang ngồi trên Cyclo. Tôi quẹo lại gặp và thăm hỏi nhau chừng 15 phút. Sau đó chúng tôi không gặp lại nhau nữa.

Anh Hiền còn bảo tôi nhắn về để bà xã kiếm được Hydrocholothiazide , thuốc này lợi tiểu, cần uống nhiều nước để có thể trục sạn nhỏ ra.

Tôi bị đau vật vã 3 ngày. Nằm đủ thế, nghiêng trái, nghiêng phải, cúi khom, nằm ngửa, kiểu nào cũng đau buốt. Ba ngày đêm không ngủ, không ăn, và không đi đại tiểu tiện được nên tôi gầy rạc. Giúp tôi tận tình có Chánh , Đỗ, Từ. Nhất là Đỗ.

May mắn cho tôi, đau đến chiều ngày thứ ba thì một anh bạn bên đội 3, trước ở Tiểu Đoàn Truyền tin, Sư Đoàn 5 ghé qua thăm. Anh kể cho tôi năm 1972, anh cũng bị đau sạn thận, qua Tỉểu Đoàn 5 Quân Y chụp hình xác định bệnh rồi, Bác sĩ TĐ5 QY gửi đi giải phẫu ở Tổng Y Viện Cộng Hoà. Trên đường về Saigon, anh đi xe Lambretta ba bánh. Đến đoạn Lái Thiêu thì có một ông già lên xe. Ông ta thấy anh ôm bụng nhăn nhó liền hỏi :

– Cậu đau bệnh gì ?

Anh kể rõ trường hợp của anh và nói đang trên đường về Tổng Y Viện Cộng Hoà để mổ lấy sạn.

Ông già bảo anh :

– Cậu khỏi cần đi mổ. Nếu cậu tin tôi thì cứ về nhà kiếm một nắm NGÒ OM chừng 40 cọng- thứ này có nơi gọi là ‘ngổ điếc’, thường được nấu lẩu lươn, lẩu cá bông lau- về nhặt sạch, rửa sạch, ngâm thuốc tím sát trùng 5 phút, sau đó cho vào cối giã nát, xong đổ vào cối 1 cốc đầy nước lọc, nguấy đều lên.

Rồi bảo người nhà ra vườn, chặt ngang cây CHUỐI HỘT, cỡ 1 mét rưỡi. tính từ gốc. Bỏ phần ngọn, giữ nguyên cây .

Khoét 1 lỗ giữa cây chuối. Đường kính 4 phân. Sâu 20 phân. Không được khoét nông. Vì khoét nông, một đêm đọt chuối đùn lên là mất hết nước.

Khoét xong, đổ dung dịch nước và ngò ôm vào lỗ buổi chiều, đến sáng hôm sau ra múc vào ly , hay lấy ống hút, hút lên uống

Anh bạn nói tiếp:

– Tôi tin lời chỉ dẫn và quay trở về nhà ở Bình Dương để vợ tôi làm theo lởi của ông cụ. Tôi chỉ uống một lần là hết đau. Nhưng tôi vẫn tiếp tục uống thêm ba ngày vì sợ còn sạn. Mấy ngày sau tôi trở lại Tiểu Đoàn 5 Quân Y xin tái khám và chụp hình xem kết quả ra sao.

Sau khi chụp hình thì Bác sĩ nói là không còn sạn. Tôi đem sự việc này nói cho Bác sĩ, ông ta cũng ngạc nhiên.

Anh bạn này bảo tôi:

– Anh cứ thử xem, không có phản ứng gì đâu mà sợ.

Tôi cám ơn và sau đó nói lại với Đỗ trong toán tôi để nhờ Đỗ giúp vì tôi đứng lên còn khó khăn, làm sao đi xin ngò om và làm được. Sáng hôm sau tôi cố đứng dậy ra cây chuối hột , lấy thìa múc nước cho vào ly, khoàng 2/3 ly, tôi uống một hơi hết nước ngò om trong ly.

Đến 4 giờ chiều thì tôi thấy giảm đau. Tới 6 giờ thì không còn đau đớn nữa và tôi đứng dậy dễ dàng. Sau đó lại thèm ăn. Chánh làm cho tôi tô mì gói. Trong người thấy khoẻ dần. Đền 10 giờ đêm, đi tiểu tiện thấy buốt. Tôi biết là kết quả sạn đã được tống ra. Tôi nói kết quả liền cho anh Xin và Chánh, Đỗ, Từ. Sáng hôm sau tôi cũng báo cho anh Hãn, anh Hiền, anh Sơn biết kết quả của việc uống ngò om chuối hột hết sạn thận.

Ngò ôm có mùi nồng nồng, nó là gia vị chính của ‘lẩu lươn’.

Tôi lành bệnh.

Tôi sợ vẫn còn sạn nên tự làm lấy và uống tiếp 3 ngày như anh bạn Sĩ Quan Truyền Tin.

Hai tháng sau, trong 1 kỳ thăm nuôi, bà xã tôi đã đưa cho tôi một chai Pyperazine Midi. Kiếm được thuốc này cũng là trần ai lắm, vì khi Vẹm chiếm Saigon, thuốc cũng như mọi thứ đã chạy ra chợ trời, không có Pharmacy và cũng không có thuốc nhập cảng. Chai thuốc này tới tay thì tôi đã khỏi bệnh. Tuy nhiên vì lo xa, tôi vẫn mang theo nó qua Bùi Gia Phúc rồi Bùi Gia Mập, và nó theo tôi về lại Saigon.

Đến giờ này tôi chỉ nhớ mang máng anh bạn đã giúp tôi tên Thiết, mà không nhớ họ.

Tôi cám ơn anh bạn Thiết đã giúp tôi lành bệnh ngặt nghèo trong Trại tù T4. Vài ngày sau, tôi kiếm một miếng đất nhỏ cạnh xe GMC đã rã banh còn sót lại, đào một vạc nhỏ, vuông vức, mỗi cạnh 2 mét, để trồng ngò oôm. Tôi nghĩ rằng sẽ rất nhiều bạn bè trong Trại tù T4 bị sạn thận như tôi.

Khoảng 2 tuần sau thì ngò om phát triển và quả nhiên đã có bạn tìm tôi xin ngò om. Cho tới trước ngày chuyển trại, vạc ngò om nhỏ này đã giúp cho trên 40 anh em trong Trại tù T4 bị sạn thận.

Nhưng chuối hột trong trại lại hiếm. Sau này Thạnh, nguyên Đại Uý Hải Quân, nằm cạnh phòng tôi, cũng bị sạn thận phải uống ngò om không qua súc tác của chuối hột nên trên nửa tháng mới bớt đau.

Khi ra tù về Saigon, tôi đã đem kinh nghiệm của mình để giúp ông suôi gia tôi qua khỏi được bệnh sạn thận mà không cần mổ.

Năm 2007, vợ chồng tôi sang chơi với con, cháu ở Houston, đứa con mà tôi đã thuật là nó vượt biên 4 lần mới thoát, và đang làm Programer cho Hãng Shell. Trong một bữa ăn chiều vào tháng 3-07, tôi nghe con dâu chị suôi gia nói chuyện điện thoại với người chị ở Saigon. Cháu được tin mẹ cháu đang nằm ở Bệnh viện Chợ Rẫy chờ giải phẫu vì bị sạn thận.

Tôi kể câu chuyện bệnh của mình và chỉ cho cháu, nếu cháu tin thì một mặt phone cho chị ở bệnh viên Chợ Rẫy biết và đưa mẹ về, một mặt gọi về nhà ở Châu Đốc, chuẫn bị sẵn các việc như tôi nói với cháu để mẹ cháu về là có ‘nước ngò om , chuối hột’ uống liền.

Ba ngày sau tôi hỏi cháu kết quả. Cháu nói mẹ cháu hết đau, nhưng bây giờ vẫn uống, vì chuối hột và ngò om ở quê cháu nhiều lắm.

Ở bên Mỹ, nhiều tiểu bang mùa đông rất lạnh, có nơi xuống âm 10 độ Fahrenheit hoặc hơn. Bắc Cali, vủng tôi sinh sống mùa lạnh cũng nhiều đêm xuống dưới 32 độ F, là dưới O độ Celsius, rất khó kiếm chuối hột. Nếu có thể trồng được chuối hột thì chắc chỉ có Bang Florida, khí hậu tương tự như miền Nam Việt Nam. Ngoài ra, có thể hy vọng trồng được ở 2 Bang Mexico và Arizona, hoặc vùng Nam Cali như San Diego. Về phần rau ngò om thì dễ, vì chợ Việt Nam thường có bán và rất rẻ, có khi chỉ 99 cents một bó nhỏ đủ cho một nồi canh, hay cho một liều thuốc trừ sạn thận. Mùa đông có thể họ trồng trong Greenhouse hoặc nhập từ bên Mễ Tây Cơ.

Gần đây tôi được người cháu tên Hạnh, đã đón tôi ở phi trường San Francisco ngày 31-1-1990, cho tôi một cây chuối hột nhỏ, cao 1 mét. Tôi đã trồng ở góc vườn, nhưng không biết sống được mùa đông hay không.

Viết phần này trong Hồi ký, tôi không có ý làm một thầy thuốc Nam, mà chỉ viết lại chi tiết những việc đã xẩy ra trong cụôc đời mình, qua một giai đoạn tăm tối của lịch sử Việt Nam.

Trong lúc bệnh ngặt nghèo, may gặp được anh bạn Thiết, đúng là ‘gặp thầy gặp thuốc’. Câu nói của anh Hãn khi nhắc lại chuyện này , tôi vẫn còn nhớ: “Ngày anh bị sạn thận chúng tôi thấy anh đau đớn mà đâu có làm gì được. Anh may mắn gặp được ‘ngò om , chuối hột mà hết bệnh’.”

Anh Hiền thì bảo tôi : “Ông may mắn. Tây y muốn chữa trị phải có kết quả xét nghiệm nước tiểu, vì có 3 loại sạn thận. Phải biết chắc loại nào mới cho thuốc đúng để điều trị được.”

(Trước khi kết thúc Phần 16, một lần nữa tôi cám ơn anh Thiết .
QH(nvn)

Chú thích:

(1))Phá đình làm chùa là chuyện Thằng Bờm, tức là người ‘đần’: Phá đình làm chùa, phá chùa làm nhà, phá nhà làm giàn mướp. Năm 1985, Phim Thằng Bờm được đưa ra trình chiếu tại Hanoi. Một tuần sau đám Bộ chính Trị phát hiện ra ‘mấy tên làm phim nó chửi mình’, nên ra lệnh thâu hồi. Những người muốn coi để biết phải lén mướn chui.
Xưa các cụ ta có bài vè chế diễu anh Bờm:

Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu.
Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi ba bè gỗ lim.
Bờm rằng bờm chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi.
Bờm rằmg Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi nắm xôi- Bờm cười
.

Hẹn bạn đọc sau Hồi Ký Trại Tù T4, tôi có Phiếm về chuyện rất ‘bờm’ của mấy ‘tiến sĩ giấy cộng sản’.)

(2)Dự trữ lúa gạo phòng đói. Dự trữ quần áo phòng rét lạnh

(3)Trường Trung học Kỹ thuật Cao Thắng trước 1975,có 2 ngành học.
– Một là học từ lớp 6 đến 12, thi Tú Tài Kỹ Thuật, nếu đậu có thể nạp đơn thi vào Đại Học Kỹ Thuật Phú Thọ ra trường Kỹ sư hoặc Điện, hoặc Cơ Khí, hoặc Hoá….Hoặc có thể thi vào các Phân khoa khác của Đại Học Saigon. – Hai là ngành thợ, học từ lớp 6 đến lớp 10. Lê văn Nuôi học ở lớp này và ra ngành thợ.

—> Phần XVII

This entry was posted in ***Mùa QUỐC HẬN, **Chuyện Tù, 1.Hồi-ký - Bút-ký, Quỳnh Hương. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s