NHỮNG THÁNG NĂM VÔ CÙNG ĐEN TỐI (Tình Hoài Hương): Chương 3

Quệt Nước Mắt Lưng Tròngthh_quochan3

Thành phố Nha Trang thơ mộng đầy cát trắng với những hàng dừa du dương nghiêng mình soi bóng ven bờ biển Nha Trang tuyệt vời, nay đã có nhiều tiếng nổ và tiếng động quái dị lan nhanh theo xe cộ tất tả chạy ngược xuôi. Họ bồng bế nhau dứt khoát ra đi… quay lưng ngoảnh mặt phản bội với quá khứ vàng son đã một thời nâng họ lên đài danh vọng.

Từ nơi chúng tôi vừa vội vàng đến Nha Trang chưa quen thuộc phong thổ, chưa trìu mến luyến lưu gửi lại bạn và tôi niềm tin vui sống, thế mà nay tôi nơm nớp lo âu… mong muốn tất tả rời xa chốn nầy, để thoát thân ra đi chạy trốn, nhưng biết làm sao trốn đi đâu!? Đi đâu? Chính nơi tôi đến và sẽ ra đi trong sự bàng hoàng ngao ngán, phiền muộn lo lắng băn khoăn tột độ dày vò̀ tan nát đau buồn! Tôi cúi mặt loay hoay… len lén đào tẩu chính bản thân, khi nắng chiều sẽ lịm dần vào bóng tối. Nơi sinh mạng con người bây giờ rớt vào cảnh lâm nguy, khẩn cấp, và rẻ hơn cỏ rác. Cảm nghĩ chân tình của tôi thẩm thấu và bùng vỡ qua những đường đạn xuyên trong buồng phổi, trái tim, túi mật lá gan mình.

Một chiều bất ngờ vào 17 tháng Tư tôi gặp Thúy Lan, cô mừng lắm:

– Sao chị không lo ôm con chạy vô Sài Gòn gấp đi. Ở đây sắp mất rồi. Không biết sao?

Tôi khóc ròng. Như ếch ngồi đáy giếng, như trâu chậm uống nước đục, tôi nào hay biết gì về bàn cờ thế cuộc từng giờ chong chóng đổi thay, và sự triệt thoái của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa! Vả lại nếu biết, tôi cũng không thể chen chân đến rừng người ở bến xe, bến tàu, phi trường, hải cảng, hoặc bất cứ nơi nào; để có thể vượt thoát, khi đêm đêm tôi nằm chập chờn trằn trọc trên giường lạ, mơ từng cơn ác mộng mà giật thót người, đã xốc ngược tôi ngồi bật dậy, mồ hôi hột vã ra như tắm, ú ớ gào rú rên la. Tôi chỉ còn hai bàn tay trắng cắp kè kè một nách bốn đứa con thơ, với một mẹ chồng bảy mươi tuổi! Tôi không thể làm gì hơn. Không thể!

Thúy Lan cúi đầu suy nghĩ giây lát. Cô vội lấy giấy bút ra hí-hoáy viết, rồi đưa tôi, dặn dò:

– Chị đưa cháu đến địa chỉ nầy, sẽ có người giúp về Sài Gòn ngay. Đi gấp nha. Chào chị em đi nhe, em rất bận.

Như kẻ chết đuối gặp chiếc phao, tôi không ngớt cám ơn bạn nhỏ. Tôi mừng kinh khủng, cầm chặt tờ giấy, thế mà vẫn sợ rơi, nên đứng lại thở dốc, tôi cẩn thận xếp tờ giấy Thúy Lan viết bỏ trong túi áo, rồi gài cây kim băng to lên túi áo, cho chắc ăn. Tôi cắm đầu chạy mà mừng khôn tả xiết. Tôi đã gặp quý nhân Thúy Lan tận tình giúp đỡ, người bạn sơ giao trong những ngày mẹ con tôi ăn bờ ngủ bụi tại miền cát trắng, như một phép lạ, không một điều kiện, hay do một sợi dây tình cảm luyến ái nào ràng buộc, ngoài lòng nhân và đức ái của cô. Còn tôi, có thể do hồng phước nhân đức của cha mẹ để lại, kiếp nầy cha mẹ tôi ăn ở hiền lành đức độ đã ra tay làm phước nhiều, nên bây giờ con cháu được hưởng lộc chăng!?

Tôi vội về gặp các bạn báo tin là tôi đã có phương tiện di chuyển về Sài Gòn. Đồng thời biết gia đình Trần Văn Ngọc cũng chờ chuyến xe về Sài Gòn có lẽ ngày mốt là xong. Riêng gia đình chị Phan Bàn quyết định chờ tin tức anh Bàn, nên họ ở lại Nha Trang. Tôi vội lo thu dọn mấy túm quần áo mang theo phòng thân. Tôi bịn rịn chào các bạn.

Trước khi lên xe xích lô, tôi mua sáu ổ bánh mì nhỏ xíu (không có nhưn), để phòng hờ. Vì lúc mười giờ sáng nầy các con chỉ ăn qua loa nửa chén canh bún lỏng bỏng nấu với rau muống, thay thế cơm cho cả ngày, tất con sẽ bị đói meo. Trên bước đường lưu lạc từ Nha Trang về Sài Gòn, không biết sẽ diễn ra bao điều âu lo khác, vẫn cần có tiền tôi mới có thể quyết định mọi việc nơi phương xa xứ lạ. Mẹ chồng cùng hai con lớn ngồi một chiếc xích lô. Tôi và hai con nhỏ ngồi một chiếc xích lô khác. Vì đi bộ từ đây đến phi trường quân sự rất xa. Ngộ lỡ bị trễ giờ phi trường khoá cổng, không cho ai vào nữa, thì nguy to. Lần đầu tiên ngồi trên xích lô, các con tôi rất thích thú hí hửng vui mừng, vì ở Đà Lạt các con chưa hề thấy xe xích lô. Đặc biệt ở Nha Trang các chàng trai trẻ làm nghề “chạy xe rong” hồn nhiên vui nhộn, đa số họ ưa rung chuông inh ỏi và ca hát nghêu ngao trên đường đi, nghe thật vui tai.

Xuống xe xích lô tôi vội trả tiền, lật đật chạy tới xuất trình giấy tờ ở trạm gác cổng doanh trại Không-quân Quân sự. Tôi trở lại chỗ mấy bà cháu đang ngồi bên vệ đường lấy bánh mì ra cho bà và mẹ con ăn. Các con ăn hết ổ bánh mì vẫn thòm thèm hoặc còn đói. Bé Tồ đói nên quấy hơn mọi ngày, con cứ rúc vào vú mẹ đòi bú vú da, khổ nỗi từ ngày “chạy giặc” đến giờ, bao nhiêu năng lượng đã cạn kiệt, thì làm sao có thể vắt ra sữa cho con! Tôi muốn mua bánh mì cũng không thấy khu nầy có câu lạc bộ, không một hàng quán, hoặc có người gánh hàng rong đi lại bán dạo ở bên ngoài. À, đây là khu quân sự mà. Khoảng mười lăm phút sau thì đóng cửa cổng gác. Ôi đại phước! Nếu chúng tôi chậm vài phút thì hết cách rồi! Thật là chỉ có Trời có mắt cứu nguy. Tôi dặn dò các con ngồi một chỗ với nhau, không được chạy lung tung, sẽ bị lạc mất.

Chúng tôi được gọi tên vào cổng, họ dồn chúng tôi ngồi xuống một góc ở ngoài sân dưới hàng phượng đỏ rực, (cùng những người lạ khác rất đông chờ đợi gọi tên, để vào trong văn phòng làm việc). Qua những thủ-tục do an ninh Quân-cảnh kiểm soát chặt chẽ, trật tự, cần thiết, cấp bách. Những đoàn dân di tản được lọc lại thành từng gia đình, có mấy quân nhân thư ký đánh máy tốc hành ghi rõ: tên, họ, danh sách chuyến bay. Họ dẫn gia đình tôi qua một phòng trong phi trường. Ở đây đã có rất nhiều người im lặng hoặc rù rì chuyện trò nho nhỏ. Thỉnh thoảng có một quân nhân Việt Nam áo quần tươm tất ra đứng trên thềm nhà gọi từng tốp người có tên trong danh sách đã ghi, dù máy phóng thanh mở hết cỡ mà tôi vẫn nghe không rõ do những chiếc máy bay quân sự luôn gầm rú ngoài phi đạo làm điếc tai.

Thời gian mỏi mòn chờ đợi dần qua, thoáng chốc gia đình tôi đến lượt được gọi tên. Họ dẫn chúng tôi vào đứng xếp hàng trước một phòng khách rộng đông người gấp hai lần ở ngoài sân. Những dãy phòng ăn thông với nhau có điện giữa ban ngày sáng trưng, có máy lạnh mát rượi. Mặc dù trên đầu phi cơ quân sự không ngớt gầm rú, nhưng nơi đây không đến nỗi ồn ào, chen lấn, mà có trật tự hơn.

Tôi nhìn những mệnh phụ phu nhân rực rỡ xa hoa quần là áo lụa chưng diện trong phi trường, mà bẽn lẽn! Giờ phút vắt giò lên cổ “tẩu thoát thân” nầy, nhưng lắm bà trưởng giả còn có thì giờ phù phiếm tô trét phấn son cẩn thận, mái tóc chải bồng, móng tay móng chân đỏ chói, sai khiến chỉ chỏ “gia nhân” đi sau đuôi mấy bà, có vài người tay đùm tay xách, cong lưng chạy lui chạy tới, khệ nệ khiên vác nhiều chiếc va ly da cồng kềnh khá nặng và đắt tiền mới toanh, thùng giấy to đặt dưới chân họ mới và sạch sẽ. Những người cùng vào xếp hàng ở đây thân tỏa mùi nước hoa ICI, NEBLINA, ODE À L’AMOUR rất thơm. Còn loại túi xách tay là thứ sang trọng mang hiệu: GUCCI made in Ilaly– LOUIS VUITTON Paris – SIENNA RICCHI ở hải ngoại du nhập về Việt Nam.

Tuyệt nhiên không một ai có “tay nải” cũ mèm bẩn thỉu xấu xí dị hợm, khiêm nhường, nghèo nàn coi thô thiển quê mùa hết chỗ nói: như hành trang của tôi. Đến nơi nầy, tôi mới nhận thấy tình cảnh hèn kém chua xót bi thương cùng khổ của mình trong những ngày ly tán trắng trợn phơi bày quá tệ, quả là đáng thương xót xiết đỗi! Tôi lúng túng ngượng ngùng bực bội cúi xuống len lén che dấu gói hành lý thô thiển hèn kém dưới gót chân kẻ làm vợ, làm mẹ: đã mười năm qua vẫn thấp hèn với anh chồng lính. Tôi cảm thấy thật buồn vì số phận mình sao nghiệt ngã, đắng cay, bạc bẽo, khổ cực và phũ phàng tệ mạt đến thế! Tôi đau xót không kém phần tủi hổ̉ (thật phí hoài không gian và thời gian về tuổi trẻ tràn đầy nhựa sống: một thiếu nữ tri thức nổi danh người đẹp biết chừng nào! khi trao thân cho người chồng không danh phận, để rồi anh ấy khép kín và ẩn nhẫn, đã đẫy vợ con đến bước đường cùng nầy!).

Tuy nhiên lúc tôi ngồi bó gối trên nền gạch, vò đầu bứt tóc bứt tai suy đi nghĩ lại cho cùng thì… bộ áo tác chiến của chồng tôi và những bộ quân phục mà những quân nhân đang mặc trên người kia, nào có khác chi nhau!? Đó là niềm vinh dự tự hào rất kiêu hãnh của người lính oai dũng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (và dĩ nhiên cả cô vợ lính hân hạnh tự hào về phong độ: quốc hồn quốc túy, quốc sử, quốc ca, quốc thiều, quốc huy, quốc thể, quốc gia Việt Nam); đồng thời mỗi một người không phân biệt cấp bậc quan hay lính: họ đều gánh vác trên vai tất cả trọng trách, nghĩa vụ, bổn phận làm trai phải trả nợ núi sông, và quyết giữ gìn quê hương Việt Nam an thịnh trường tồn. Thế nên chồng tôi cùng lớp lớp thanh niên trai tráng đã ở lại “tử thủ” Đà Lạt! Nếu có người đi di tản về Sài Gòn đông đúc kinh khủng, ấy là do ai ai cũng mong Mỹ và Quân-lực Việt Nam Cộng Hoà ra tay làm việc nghĩa cứu vớt mình vượt thoát nhanh ra khỏi vùng đất khốn đốn, (nơi có nguy cơ khói lửa chiến tranh ập vào, hoặc có thể sẽ bị xâm chiếm, bị bom đạn tàn ác dội lên đầu không tiếc thương). Khi sống còn thì ai ai cũng có cơ may phục hồi cuộc sống và danh dự. Thế thôi.

Lần chót, chúng tôi được gọi ra ngoài sân bay đứng chờ gần chiếc phi cơ quân sự khổng lồ quay cánh quạt vù vù. Họ đang gọi tên những tốp dân đã ghi danh trước tôi đi lên chiếc phi cơ nầy. Mặt đất rung chuyển dữ dội, tóc tai quần áo mọi người bay phần phật. Hai tay các con nắm chặt lấy hàng dây thép gai, hoặc những cột trụ rào sơn màu trắng xanh xanh đỏ đỏ. Đây là lần đầu tiên trong đời các con tôi được thấy tận mắt những chiếc phi cơ to tướng gần thật gần. Các con vui mừng chạy ra dán mũi sát vào cửa kính, con ở lì một nơi chằm chằm nhìn những chiếc phi cơ bay lên, đáp xuống. Chốc chốc các con lại hí hửng chạy vào chỗ tôi ngồi: con khoe đã thấy nhân viên hàng không lo tới tấp bốc hàng, con líu lo nói chuyện lạ xảy ra những gì ở đâu đó. Bé Bi chạy tới một chiếc thùng gỗ trèo lên đứng ở đó, để nhìn những chiếc máy bay cho rõ, rồi con lại tụt xuống đất, chạy đến chỗ gần cánh cửa sắt. Bé Bi dù sống cảnh di tản màn trời chiếu đất, ăn uống thất thường, nhưng vẫn còn là đứa trẻ có hai má đỏ rực chưa quen ở xứ nóng, bé bụ bẫm, tròn trịa mủm mỉm xinh xắn, bé Bi mặc bộ đồ bay màu xanh da trời, (giống y đồ bay của pilot) nên ai nhìn bé Bi cũng thấy cháu hồng hào ngộ nghĩnh dễ thương.

Chiếc phi cơ khác từ từ quay đi ra phi đạo, thì gió từ những cánh quạt ào ào thổi, làm cho mọi người đứng bên hàng rào muốn té nhào. Không hiểu sao lúc đó Bé Bi ở đâu chui ra khỏi hàng rào, và nắm lấy tay một bà Mỹ mặc áo đầm vàng, bà có đôi mắt xanh ngọc, mái tóc vàng hoe. Bà ta ngạc nhiên ngập ngừng chốc lát, rồi đặt chiếc va ly xuống đất, bà lấy trong giỏ xách một hộp bánh ngọt đưa cho bé Bi, bà chỉ tay về phía cửa kính bên trong hàng rào, nơi mọi người đang ngồi hoặc đứng chờ đợi chuyến bay. Nhưng thằng bé không nghe, không hiểu, hoặc mãi nhìn những chiếc phi cơ, mà nó nắm chặt váy đầm bà Mỹ kéo rị lại. Bà Mỹ trắng nầy cứ nhìn bé Bi và nhìn quanh quất hoài. Có lẽ bà Mỹ nghĩ con cái nhà ai bị thất lạc trong lúc cả nước hổn độn chạy loạn?! Đến phiên bà Mỹ tiến bước ra cổng phi trường xa xa hàng rào, để lên chiếc máy bay kia, thì thằng bé nhà tôi vẫn túm chặt váy áo bà Mỹ líu ríu đi theo bà. Nhưng thằng bé Bi bước đi, mà luôn luôn ngoái cổ lại đăm đăm nhìn chiếc phi cơ đáp xuống trên phi đạo.

Tôi cúi đầu vạch áo cho bé Tồ mút vú da, khi ngẩng lên nhìn ra hướng phi cơ, ngay từ đầu tôi thấy có đứa nhỏ con ai hình như giống con trai của mình, mà đang nắm chặt váy của một phụ nữ Mỹ, khiến váy đầm bà ta giảng dài ra lôi theo thằng nhỏ?! Thật tình ban đầu tôi cứ tưởng nó là con của bà Mỹ kia, tôi không hề nghĩ đó là bé Bi. Quay lại nhìn lui nhìn tới, nhìn quanh, thì quả thật tôi thấy thiếu mất bé Bi, nó không còn đứng trên cái thùng gỗ, hoặc bên hàng chắn rào cùng hai anh của nó nữa. Tôi hốt hoảng bỏ thằng bé Tồ đang cắn kéo cái vú của tôi dài ngoẵng ra đau điếng.

Tôi đứng phắt dậy, hoảng hốt kêu réo to thật to:

– Bé Bi. Bé Bi. Úi Trời ơi! Mẹ đây nầy con.

Khổ nỗ̉i thằng bé không thể nghe được, vì tiếng phi cơ nổ ầm ầm, inh ỏi gầm rú. Đồng thời lúc đó con trai trưởng của tôi là bé Dzũng nghe tôi la hét, con quay lại nhìn thấy tôi cứ chỉ chỉ tay về hướng bé Bi. Bé Dzũng cũng thấy bé Bi ngố ngáo từ từ theo đoàn di tản đi ra ngoài chiếc C 130 khác. Bé Dzũng hoảng hồn, con nhanh nhẹn bò lòn qua lớp hàng rào sắt, con tức tốc chạy chạy… chạy rõ nhanh tới bên bé Bi. Bé Dzũng lôi giật thằng em đứng khựng lại. Thằng bé Bi xiểng liểng suýt té, nó ngơ ngác nhìn lên bà Mỹ, nó vội buông váy của bà ta ra. Hai anh em túm cánh tay nhau cúi cong lưng cùng tất tả chạy về chỗ cũ. Hú hồn hú vía! Tôi mừng rỡ điên người mà khóc hụ hụ hụ…, vừa bai bải la mắng mấy đứa con trước mặt mọi người lạ. Tôi không hề biết xấu hổ, chỉ vì tôi sợ mất con. Kể từ giờ phút đó, tôi lấy một sợi len dài cột cườm tay đứa nầy dính với cườm tay đứa kia, và bắt các con ngồi bệt xuống nền gạch, ở yên một chỗ, không được đứng dậy xớ rớ dòm ngó chi cả, cho chắc ăn. Tôi giữ các con chằn chằn sát bên.

Thật ra, nào biết đâu bé Bi lúc đó mới năm tuổi, nếu con đi với bà Mỹ, thì sau nầy con không thể biết cha mẹ là ai! Ở nơi xứ văn minh tột đỉnh giàu sang vinh phú kia, có thể đời con sẽ ấm êm sung sướng hạnh phúc, hơn ở với cha mẹ chăng?! Cũng có thể ngược lại. Nhưng… Thôi con ơi, nếu con ở nơi quê hương với tổ tiên ông bà cha mẹ, có đói khổ nghèo hèn, cũng còn mẹ cha anh em ruột thịt: yêu thương con, chí tình đùm bọc, ủi an, sum họp bên nhau. Sau nầy nếu gia đình mình có may mắn trở lại giàu sang sung túc như xưa. Hoặc vô phúc mà lâm vào cảnh hoạn nạn đói khổ, thì mình cùng chia sẻ ngọt bùi, cùng dắt díu nhau bước trên con đường gian truân. Mẹ không thể rứt ruột đem con thơ đi bỏ chợ bơ vơ lạc lõng ở xứ người lạ hoắt cho đành. Xin lỗi con.

Đợt người di tản thứ ba đã tuần tự được gọi tên lên phi cơ. Tôi lo lắng nghĩ vơ nghĩ vẩn và cảm thấy bồn chồn nóng ruột lạ lùng, chỉ sợ bị sót tên, hoặc vì lý do nào đó, bị đình chỉ chuyến bay. Thì chết thôi! Hai sĩ quan Không-quân đã đọc danh sách lúc nãy đích thân dẫn đoàn người di tản, trong đó có tên gia đình tôi là tốp cuối cùng mang số chuyến bay 449 A. Tôi để bà nội, các con, đi trước, cườm tay các con vẫn cột sợi len dùng dằng níu kéo nhau run run con leo lên chiếc phi cơ C–130 “hả toác hoác mồm”. Lúc ở xa xa trong khu hành lang tôi nhìn thấy chiếc phi cơ nhỏ, nhưng khi đến bệ cầu thang sắt nối liền với đuôi phi cơ, thì thấy phi cơ nầy to lớn lạ thường. Từ đuôi máy bay dọc theo lòng phi cơ có bốn hàng ghế, hai hàng ghế giữa đâu lưng vào nhau, bốn hàng ghế đệm bọc nhung màu huyết dụ rất êm đang mở “cái đuôi hoác mồm ra”, để lần lượt đón từng gia đình trèo leo lên phi cơ vẫn nổ máy ầm ầm. Chiếc máy bay nầy sẽ mang chúng tôi ra khỏi vùng đại nạn khói lửa binh đao. Biết đâu nơi Nha Trang sẽ diễn ra bao đau thương tàn khốc nay mai!?

Các con đứa nào đứa nấy tóc tai quần áo ướt nhẹp mồ hôi, hai má đỏ rực vì nóng, đã được tháo sợi dây len “chắc cú” ra rồi, các con thoải mái cứ chồm lên nhìn qua những ô cửa, vui vẻ hí hửng cười nói tía lia, lí lắc, huyên thuyên. Nhiều lần mỗi khi đi đâu chơi, tôi đều mua dự phòng bánh mì kẹp gà, ba tê, thịt nguội, hoặc chuối, nước lọc, đựng trong giỏ xách để cho các con ăn. Nhưng bây giờ sống trong cơn hoạn nạn, lại bất ngờ được ra đi quá đột ngột, không thể chuẩn bị chu đáo, nên mọi thứ đều thiếu thốn. Bé Tồ lúc đó quậy tưng trời, tôi mệt hết sức, phần vì tiếng động cơ gầm rú đinh tai nhức óc khiến con sợ hãi, phần vì nóng nực kinh khủng, mồ hôi con vã ra như tắm, ướt hết áo quần, vì lúc đó trong phi cơ chưa mở máy lạnh. Phần nữa là con đói bụng đòi bú. Khổ nỗi hai bầu vú tôi nhăn nhúm teo tóp sát vào xương sườn, thì còn gì có sữa cho con! Chẳng cần biết xấu hổ khi tôi vạch áo trước nhiều người lạ, để vắt hai đầu vú teo tóp hoài vẫn không còn một giọt sữa. Bé Bo cứ chui rúc đầu vào tìm vú mẹ, bú bú, mút mút, day day… con nhả vú ra, vật vã khóc la. Con lại giẫy nẩy lên, chướng quá chừng.

Chính lúc đó có một người đàn bà trung niên qúy phái, thanh lịch, ăn mặc gọn gàng trang nhã, bà ngồi đối diện với tôi, bà ấy cầm cái quạt giấy quạt hoài cho mẹ con tôi. Sau đó bà đưa cho tôi ổ bánh mì:

– Chị đút cho cháu ăn… Có lẽ cháu đói bụng.

Tôi nghẹn đắng cổ chua xót lí nhí cảm ơn bà, cầm ổ bánh mì kẹp thịt xé nhỏ ra, đút từng miếng cho con ăn. Bé Tồ nín khóc, mặc dù con vẫn nấc lên từng hồi. Con ăn ngấu nghiến gần hết một phần tư ổ bánh mì, con thút thít đẫy tay tôi ra, bé Tồ đưa phần bánh mì còn lại cho các anh nó. Mấy anh em ỏn ẻn cười hì hì… liếc nhìn bà ấy, rồi các con thay phiên nhau mỗi đứa e dè cắn một miếng bánh mì nhỏ, nhai bỏm bẻm. Lát sau thì trong khoan tàu mở máy lạnh mát rượi, thế là bé Tồ dụi đầu vào ngực tôi vừa nấc nấc mà ngủ vùi. Người đàn bà thân thiện mỉm cười nhìn chằm chằm mấy đứa nhỏ. Giọng miền Nam ngọt ngào, bà ấy nhỏ nhẹ:

– Các con của chị rất đẹp và ngoan thiệt.

Tôi e ấp mỉm cười. Bà ấy lại lúi húi lục tìm trong giỏ xách sang trọng ra một hộp bánh Coffee Milk biscuits to, và chai nước lọc, bà đưa cho tôi. Giỏ xách của bà bây giờ đã xẹp lép. Thật bất ngờ, dù tôi không bảo, nhưng ba đứa con lớn vẻ mặt rạng rỡ, hớn hở, vui vẻ, hí hửng nhìn nhau, chúng vòng tay cúi rạp đầu sát xuống gần đùi nó, để nói:

-“Cháu cảm ơn bà” rất to.

Chúng bắt chước nhau giống như chú khỉ; khiến ai nấy ngồi chung chuyến máy bay đều cười ồ. Các con ngồi ngay ngắn từ tốn ăn uống gọn gàng xong. Tôi nhìn người đàn bà xa lạ lại ấp úng lí nhí cám ơn, lặng lẽ cúi đầu xuống trên mái tóc thằng bé nhỏ mà quệt nước mắt.

* * *

Tôi nghĩ mãi không ra và không thể nào ngờ là mình có diễm phúc vinh dự đến thế nầy: Khi xế chiều có ông sĩ quan Không–quân Việt Nam ở Nha Trang gọi tên tôi (đứng đầu danh sách gia đình tôi) ông đưa cho tôi tờ phê duyệt “Thuận” do vị một Trung-tá ấn ký (tôi không thể nhớ rõ tên vị ấy). Ôi! Trí óc của tôi lúc đó thật tồi, tôi chỉ biết lo lắng về riêng “cái tôi” hiện tại là: làm sao mình có thể “đào tẩu” ra khỏi vùng đất chứa nhiều súng đạn và hận thù!, mà không hề nghĩ đến ai- thì bây giờ tôi biết làm thế nào nhớ rõ tên họ và ân tình không thể trả đền nầy! Trên tờ giấy ghi “thuận” không hề có con dấu: “Nhất thế. Nhì Thân. Tam ngân. Tứ chế” gì cả.

Thời gian loạn lạc thất điên bát đảo nầy; thật sự tôi biết chắc chắn một điều là: trong trường hợp hổn loạn cao độ, thì dù ai di chuyển bất cứ phương tiện nào gần hoặc xa, đa số ai có thế lực, có “chi địa, chi vàng” thì mới có thể thoát thân. Tôi không phủ nhận trước ngày gia đình tôi di tản khỏi Đà Lạt, thì có xe hơi, nhà lầu rủng rỉnh tiền bạc leng keng trong túi như ai! Ấy thế mà chính lúc nầy chúng tôi nghèo rớt mồng tơi, nhưng vẫn có người chính thức công nhận cho chúng tôi đường hoàng leo lên “tàu bay free”! Ôi! Sung sướng làm sao! Hạnh phúc vô ngần khi tôi ngồi trong lòng phi cơ, cảm thấy như đời bay bổng lên đào nguyên tiên cảnh. Ơn cứu mạng nầy gia đình tôi xin vô vàn tạ ơn “người”.

Khấp khởi vui mừng khôn xiết khi đã ngồi an toàn yên ổn ở một nơi sang trọng thế nầy, tôi nhìn lui nhìn tới không thấy ai lưu ý đến mình, tôi len lén thò tay xuống nhéo ở bắp đùi mình mấy cái, xem thử mình có nằm mơ, hoặc thân mình có đau điếng vỡ mộng hay không!? Bởi vì tôi vẫn chưa dám tin chắc là mình sung sướng hạnh phúc may mắn được hãng Hàng-không Quân-sự “biếu” cho tờ giấy chứng nhận được “đi không”, “đi chùa” tuyệt vời như thế nầy.

Lòng tôi rối bời sầu nhớ hình ảnh đóa hoa hồng tươi thắm óng vàng đang gục đầu bên ngăn kéo kỷ niệm bảng lảng dáng hoàng hôn hắt hiu hư ảo thuở nào! Ôi! Đó là những đóa hồng nở rộ thắm tươi trong trái tim nhân-ái hiếm thấy. Tôi không “nịnh” những chàng phi công bay bướm làm gì! Vì sự thật không cần biết tôi là ai, họ tận tâm giúp đời vô vụ lợi, tấm lòng họ tận-hiến cho bổn phận, trách nhiệm, danh dự và nghĩa vụ cứu người. Những vị ân nhân đức độ mà tôi không hề biết mặt nhớ tên. Những người tình cờ tôi biết một lần, sơ sài chỉ quen một ngày, rồi xa nhau muôn thuở, không bao giờ tìm thấy lại, nhưng suốt đời tôi vẫn luyến nhớ thầm mong có ngày hân hạnh tái ngộ. Tôi xin trân trọng cúi đầu tạ ơn vị Trung-tá Không quân (tôi không hân hạnh nhớ tên “ngài”). Tôi vô cùng cảm-kích những tấm lòng cao cả của các vị Không-quân. Cảm ơn gia đình ông bà Niềm, cô Thúy Lan vô vàn. Cám ơn người đàn bà thanh lịch qúy phái ngồi trên phi cơ đã cho các con tôi một miếng khi đói. Ân tình nầy suốt đời tôi không thể trả đền, xin trọn kiếp mang theo kính nhớ trong lòng. Biết làm sao bây giờ! Dù mai sau nếu gia đình tôi sẽ trở lại sung túc giàu sang như thuở xưa, hoặc tôi chỉ là một người vợ lính quèn hèn mọn tầm thường: tôi nguyện sẽ cố gắng viết những bài văn (dù hay hoặc dỡ), tôi thành tâm tạc cốt “tình chung một khắc, nghĩa dài trăm năm” để ca tụng những vị anh hùng có nhân cách thầm lặng xã thân giúp đời vô vụ lợi. Một lần nữa tôi không bao giờ và chẳng thể nào quên: những người đã âm thầm lặng lẽ ưu ái ban tặng free đặc ân cao qúy tốt đẹp cho riêng gia đình tôi, và cho Đời. Nguyện xin Thượng Đế trả công bội hậu ban đến họ được vui vẻ bình an hạnh phúc trường tồn.

Chiếc “mõm hàm ếch” từ từ khép miệng lại, nhốt trọn mấy trăm dân di tản vào trong lòng phi cơ. Phi cơ bay hoài và an toàn hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, phía dành riêng cho khu phi cơ quân sự cũng ồn ào, náo nhiệt đông đúc kinh khủng. Chúng tôi được leo lên một chiếc xe bus chở free ra lối Bảy Hiền.

Tình Hoài Hương
Kính mời quý độc giả xem tiếp
chương 4:
Quốc Hận Đen: 30 Tháng Tư
Bách Niên Thương Hải Biến Vi Tang Điền
Trân trọng

<—Chương 2

This entry was posted in * Mùa QUỐC HẬN, Bạn đọc viết, Hồi-ký - Bút-ký, Tình Hoài Hương. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s