Ký Sự Tùy Bút: TÌM MỘT QUÊ HƯƠNG 1-10 (Đoàn Văn Khanh)

6.- NHƯ CON CHIM NON TRONG KHU RỪNG LẠ

Theo như cha tôi đã sắp xếp đâu đấy với Cha Sở, mỗi tuần vài ba ngày, tôi lên nhà thờ để ngài dạy cho học. Tôi không nhớ ở đây có trường học hay không, vì tôi chẳng học theo trường lớp nào cả. Tôi cũng chưa bao giờ thấy xuất hiện bóng dáng một học sinh nào khác. Chỉ có Cha Sở là thầy giáo và tôi là tên học trò duy nhất. Lớp học là chỗ kê cái bàn ăn lớn và dài ở khu hàng ba thoáng mát. Vào mỗi sáng, ngài thường dạy tôi một bài tập đọc, hoặc ít ngữ vựng tiếng Pháp, vài bài toán, và dĩ nhiên ngài cũng dạy tôi giáo lý nữa. Buổi chiều, nếu không bận công việc, ngài dẫn tôi theo ngài đi đó đây.

Nhà thờ này tương đối lớn so với nhà thờ Kiều Đông mà hồi còn ở huyện tôi vẫn thường đi lễ, nhưng xóm đạo thì cũng nghèo nàn giống nhau. Ngoại trừ nhà Cha Sở và nhà ông Cửu ra, hầu hết nhà trong xóm chỉ là những nhà tranh vách đất lụp xụp. Hầu như nhà nào ngoài các tượng ảnh Chúa, còn treo thêm hai bức ảnh gọi là chết lành và chết dữ. Kẻ lành khi hấp hối được các Thiên Thần đến rước và Chúa trên trời cao dang tay đón về. Kẻ dữ khi chết bị qủy sứ lôi kéo vào hỏa ngục cho lửa thiêu đốt. “Quê hương thật chính là nước Trời,” vị linh mục vẫn dạy tôi như vậy.Tôi chưa muốn tưởng tượng đến Thiên Đường hay Hỏa Ngục. Ðối với tôi, trần gian này vẫn đang còn rất nhiều thứ để cho mình mơ ước hơn.

Cha Sở là một vị linh mục hiền hòa và vui tính, có sở thích câu cá, nhử chim cu và ngài cũng rất mê âm nhạc. Tuy vậy tôi lại thấy ngài chẳng hiểu tôi tí nào. Ngài không bao giờ thích những điều tôi tưởng tượng. Ngài thường dẫn tôi theo ngài đi câu hoặc đi nhử chim cu, thú tiêu khiển của ngài nhưng đối với tôi lúc bấy giờ là cả một cực hình vì tôi không tài nào ngồi yên chờ phao động đậy để biết là cá đã cắn câu, hay núp trong một lùm cây nào đó, nghe ngóng chờ nghe con cu mồi gáy rủ bạn tới để rồi vướng vào bẫy sập và bị bắt. Nhiều khi ngồi cả buổi trời, ngóng đã mỏi cổ, chẳng bẫy được gì, Cha Sở lại vai vác cây sào dài, tay xách cái lồng chim mồi lững thững đi về, lại còn cười ha hả đọc cho tôi nghe:

Trên đời có bốn cái ngu
Mai dong, lãnh nợ, treo cu, cầm chầu

Tôi không biết mai dong, lãnh nợ, cầm chầu là như thế nào mà bị gọi là ngu, nhưng còn cái chuyện treo cu tức là máng cái lồng nhốt con chim cu mồi lên cây chờ cu mồi gáy rủ chim cu trời tới thì tôi tự hẹn với mình sẽ không bao giờ bị vướng vào cái ngu này.

Ngoài việc dạy tôi học chữ và dạy cho tôi hiểu giáo lý, Cha Sở còn dạy tôi ký âm pháp và tập hát. Ngài rất thích bài Ðêm Ðông của Nguyễn Văn Thương nên ngài cũng chỉ tập cho tôi có mỗi một bài Ðêm Đông. Tôi cố bắt đúng giọng và giữ thật đúng nhịp để cho mau xong bài tập hát, còn rung cảm với bài hát thì tôi chẳng thấy mình rung cảm tí nào. Riêng Cha Sở thì vẫn không ngớt “…bâng khuâng rã rời… tê tái… nhớ nhung tiêu điều … đìu hiu….. Ðêm đông, ôi ta nhớ nhung đường về xa xa… ta lê bước chân phong trần tha hương…” Hát đi hát lại mãi những câu buồn trong một cảnh sống cũng buồn nản, nhiều lúc tôi cũng cảm thấy muốn biến mình thành “đêm đông” luôn để khỏi phải hát nữa.

Về môn giáo lý thì sau khi thấy tôi có thể đọc vanh vách một số kinh trong quyển nhựt khóa, thuộc Mười Điều Răn Ðức Chúa Trời và Sáu Điều Răn Hội Thánh, Cha Sở bèn cho phép tôi được xưng tội rước lễ vỡ lòng. Sau khi suy nghĩ và cân nhắc rất nhiều về những tội ghi trong mục xét mình xưng tội, tôi đã mạnh dạn xưng hầu hết mọi tội được in trong sách, có lẽ chỉ trừ tội giết người và tội dâm dục là cái tội gì tôi chưa hiểu. Cha Sở vẫn dạy tôi: “Con người vốn đầy tội lỗi. Không phải chỉ có nói hay làm điều tội mới là phạm tội mà chỉ cần nghĩ đến điều tội cũng đã là có tội rồi”. Nghe tôi xưng tội, ngài chỉ biết lắc đầu, nhưng rồi ngài cũng ban phép giải tội cho tôi vì Chúa bao giờ cũng rất nhân từ và luôn luôn tha thứ.

Những ngày không phải lên với Cha Sở, tôi đi theo chơi, coi mấy anh chị con ông Cửu làm việc. Vào tháng nắng, theo mấy anh chị đi coi người ta chặt mía, bó lại, vác về lò, ép lấy nước, cho vào chảo đun, nấu thành đường, tôi mới thấy bao nhiêu là mồ hôi đã đổ chứ không phải là một trò vui như tôi đã tưởng tượng. Chỉ có một công việc nhẹ nhàng nhất thường dành cho trẻ em, đó là cầm cây roi đi sau cặp bò bị thắng vào cần che, thúc cho bò luôn luôn bước làm cho trục che quay đều để cho mấy người ngồi cạnh che đút mía vào ép. Nhưng cứ tối ngày cầm cây roi đi mãi sau đuôi hai con bò theo một vòng tròn cố định thì cũng chẳng còn cái cảnh nào buồn nản hơn. Tuy nhiên món đường non mới nấu quệt lên bánh tráng nướng ngon chẳng kém gì mạch nha.

Mùa xoài chín, tôi lại theo coi bẻ xoài. Người ta không leo lên cây lấy tay hái như tôi tưởng, mà dùng một cái sào tre dài, phía đầu sào được kết thành như một cái lồng có chừa một cửa trống nhỏ bên hông. Người hái xoài đưa sào lên, hướng cho trái xoài lọt vào trong lồng rồi giựt cho xoài rơi vào trong cốt tránh cho xoài không bị rớt xuống đất làm cho dập. Mỗi lần hái xoài, tôi lại được ăn thử loại xoài tiến, tức là loại xoài mà theo lời mấy anh chị nói trước đây chỉ để dành dâng vua. Ðối với tôi, chỉ có mấy trái xoài còn đang xanh mới là chua, còn hễ mà đã là xoài chín thì loại nào cũng ngon ngọt hết.

Cũng có lần tôi được theo mấy anh chị lên núi hái sim, hái chà là. Sim và chà là mọc hoang thành từng vùng trong núi nhiều vô kể. Hoa sim có màu tím nhạt thật đẹp và trái sim thơm mềm, nhưng tôi vẫn thích những trái chà là đen bóng ngon ngọt, dù khi hái nó phải len vào giữa bụi, vạch những tàu lá nhọn như gai để hứng cái rổ sát dưới chùm trái chín rồi dùng cây đập bên trên cho trái rụng xuống. Chà là có thể đem phơi khô, cho vào cối giã lấy lớp cơm ngọt bên ngoài cho vào hũ để dành làm món ăn chơi, còn hột thì bỏ đi. Do đó tới mùa, người trong xóm rủ nhau đi hái chà là giống như người ta rủ nhau đi trẩy hội.

Chính nhờ đi theo chơi cùng mấy anh chị nơi đây mà tôi bắt đầu tập hội nhập vào đời sống của người dân Bình Định. Tôi đã thấy thế nào là cuộc sống ở nông thôn với đủ thứ công việc luôn tay luôn chân. Tôi cũng bắt đầu biết dùng tiếng “nẫu” thay cho tiếng người ta, và “qua” thay cho tôi. Và tôi đã ngô nghê xưng “qua” với tất cả mọi người làm cho những người lớn nghe thấy phải bật cười. Phải đến khi được mấy anh chị con ông Cửu cắt nghĩa “qua” có nghĩa là tôi nhưng là kẻ bề trên xưng với người nhỏ hơn mình chứ không phải ai cũng xưng qua được, tôi mới hiểu cái rắc rối của ngôn ngữ. Ðể tránh phạm lỗi lầm, từ đó tôi không bao giờ xưng qua với ai nữa và cũng ngưng bắt chước giọng Bình Định luôn, dù cho có bị chế diễu là trọ trẹ. Tôi cho rằng giọng Bình Định mới đúng là eo éo khó nghe. Nhưng họ đông quá, còn tôi chỉ có một mình nên đành phải nhịn.

Từ ngày về sống ở Ðại An này, tôi mới có dịp ăn những món ăn thôn dã của người Bình Định. Người dân ở đây không hề biết cái bánh chưng mà chỉ biết có đòn bánh tét. Món ăn phổ biến nhất là bánh tráng. Nào là bánh tráng gạo, bánh tráng khoai mì và có cả bánh tráng khoai lang. Người Bình định có thể ăn bánh tráng trừ cơm. Bánh tráng có thể nướng phồng lên và ăn dòn, hoặc cũng có thể cứ để nguyên đem nhúng nước cho mềm lại, quấn với vài cọng rau sống gì đó, chấm với mắm cái có dằm tí ớt cay là đủ rồi. Cá thịt có thể thiếu, nhưng mắm cái là món không thể thiếu đối với người dân quê Bình Định. Ăn xong, uống thêm một tô nước chè tươi hay chè huế là đủ no nê. Người ta còn bảo: xưa Nguyễn Huệ đã nhờ biết dùng bánh tráng và bánh tét làm lương khô cho quân mang theo, vừa gọn vừa tiện cho việc ăn uống lúc đi đường nên quân Tây Sơn đã có thể hành quân một cách thần tốc và chiến thắng quân Thanh.

Nhưng quân Tây Sơn chiến thắng quân Tàu chính là nhờ có võ nghệ. Mấy anh chị con ông Cửu bảo với tôi rằng, Bình Định là nơi phát xuất của quân Tây Sơn nên người dân ở đây ai cũng có võ. Hèn gì tôi thấy mấy anh ấy thỉnh thoảng vẫn luyện võ, múa côn, đi quyền với nhau. Mấy anh chị ấy vẫn bảo với tôi rằng luyện võ cốt để phòng thân, nhưng tôi cho rằng, khi ghét nhau có ai cấm người ta dùng võ để đánh người khác đâu. Cũng vì thế mà từ đó tôi thấy mình bắt đầu nể nang người Bình Định.

—>7.- HOANG ÐẢO ÐẠI AN

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Đoàn Văn Khanh. Bookmark the permalink.