Ký Sự Tùy Bút: TÌM MỘT QUÊ HƯƠNG 1-10 (Đoàn Văn Khanh)

8.- BỒNG SƠN VỚI GIÒNG SÔNG LẠI

Vượt hai ngọn đèo, chúng tôi ra tới Bồng Sơn. Qua khỏi cây cầu dài bắc ngang con sông rộng, xe chạy vào thị trấn. Nhìn thấy giòng sông, tự nhiên tôi có cảm giác như nhìn thấy một cái gì thật êm ả. Về hướng đông là cây cầu sắt xe lửa bắc song song. Xa xa về hướng mặt trời lặn có những chiếc đập thấp bằng cây cọc và bờ cát chắn ngang sông, và sát bờ là những cái guồng xa nước đang quay một cách đều đặn, chậm chạp và hiền hòa. Những guồng xa nước này mang nước sông đổ vào máng dẫn vào các cánh đồng để tưới ruộng tạo cho con sông Lại một hình ảnh đặc biệt mà những con sông khác không có. Hai bên bờ sông là bát ngát rừng dừa xanh mát.

Bồng Sơn là phủ lỵ của phủ Hoài Nhơn. Ngày xưa phủ lớn hơn huyện nhưng bây giờ Cách mạng đã xoá bỏ sự phân biệt phủ và huyện, cho nên phủ hay huyện thì cũng ngang nhau và đều được gọi chung là huyện. Do thi hành chính sách tiêu thổ kháng chiến, các kiến trúc bằng gạch ngói đều đã bị phá hủy chỉ trừ những ngôi nhà có vẽ lá cờ trên góc trái có ngôi sao 12 cánh màu trắng trên nền xanh,và dưới lá cờ có tấm biển nhỏ kẽ mấy chữ: “Tài sản của người Hoa kiều” là còn ngạo nghễ đứng nguyên. Dọc theo đường phố là giao thông hào. Người ta phải bắc những khúc thân cây dừa làm cầu để bước qua. Nhìn cảnh nhà cửa thì bị đập nát, đường sá thì bị đào xẻ ngang dọc, tôi cảm thấy tiếc rẻ và không hiểu nổi vì sao người ta lại tự gây ra khó khăn và khổ sở cho mình. Tây đâu chẳng thấy, chỉ có mình đâm ra vất vả mà thôi.

Ðang buồn nản với nếp sống tẻ nhạt của vùng quê hẻo lánh, nay được ra Bồng Sơn ở, có những sinh hoạt mang tính chất phố phường, tuy không bằng Qui Nhơn, nhưng dù sao vẫn còn hơn miền thôn dã, tôi rất mừng. Phố xá tuy đã bị phá hoại nhiều nhưng trên những đống gạch vỡ, người ta đã dựng lại những căn nhà tranh rộng, thoáng và sáng sủa. Tất cả đều là tiệm buôn bán có người ra vô luôn. Có cả tiệm ăn và khách khứa ăn uống nhộn nhịp. Lại có cả những gánh hàng rong nữa, với những món ăn như phở, chè, bún, lục tào xá…, vừa bán vừa rao. Chỉ thiếu ánh đèn điện ban đêm mà thôi.

Vì Bồng Sơn nằm ngay giao điểm của con đường quốc lộ 1 với những con đường đi lên các huyện miền núi như Hoài Ân, An Lão và con đường đi xuống cửa biển Bầu Tượng và vùng Nước Nhĩ, một vùng nhiều cá mắm nên cũng là nơi trù phú từ lâu. Nay lại có thêm các cơ quan của tỉnh Bình Định và của Liên khu 5 dời về đóng rải rác quanh vùng nên thị trấn Bồng Sơn trở nên như một thủ phủ phồn vinh của Liên khu 5 thời ấy. Dân tản cư từ Qui Nhơn và từ mấy thành phố xa xôi như Huế, Nha Trang, Ðà Nẵng đổ dồn về đây làm ăn buôn bán khiến cho thị trấn trở nên đông vui và sầm uất. Ðây cũng là nơi quy tụ của nhiều giới văn nghệ sĩ trí thức tản cư thời bấy giờ.

Tôi lại được đi học có trường lớp, có bạn bè. Trường học xây bằng gạch kiên cố đã bị phá hủy. Bây giờ người ta cất những gian nhà lá khuất trong các vườn dừa cao và rậm rạp để tránh máy bay. Xung quanh lớp học là các giao thông hào chạy ngang chạy dọc. Hễ mỗi lần có kẻng báo động máy bay, học sinh từ các lớp lại chạy tản ra các giao thông hào. Lúc này máy bay cũng chưa bắn phá gì tại vùng này nên thường thường mỗi lần có báo động, bọn học sinh nhỏ như chúng tôi lại cảm thấy như được thêm một lần ra chơi trong buổi học. Bạn bè cùng lớp nhiều đứa cũng là dân tứ xứ tản cư về đây nên tôi cũng không còn cảm thấy mình chỉ là một tên trọ trẹ lẻ loi.

Ra Bồng Sơn, cha tôi gặp được một gia đình đồng hương. Bác Tâm, bạn cũ của cha tôi ở Huế dẫn ba con về thăm phía nội, rồi vì chiến tranh nên không trở về ngoài ấy được, nên phải ở lại đây với hai ông bà cụ. Song thân của bác Tâm, ông bà Cả, cũng gốc gác từ Nghệ An. Ngày xưa ông Cả vào làm việc ở phủ này rồi đến khi về hưu đã ở lại đây lập nghiệp luôn. Bà cụ có một cửa hàng tơ lụa tại phố. Có một điểm trùng hợp giữa gia đình ông Cả và gia đình bên nội của tôi. Gia đình ông Cả cũng thuộc bên lương. Bác Tâm ngày nhỏ ra Huế học trường nhà dòng nên đã trở lại đạo và lấy vợ công giáo ở Huế.

Do tình đồng hương lại là bạn thân của con mình nên ông bà Cả và luôn cả những người trong gia đình đối xử với cha tôi rất thân thiết. Thời buổi cách mạng rồi nên những tị hiềm về tín ngưỡng cũng không còn sâu sắc để đến nỗi người cùng một gia đình phải xa lánh nhau. Tôi chơi thân với mấy đứa con bác Tâm như anh em và từ đó, tôi như tìm được một đại gia đình bên nội. Tôi cảm thấy mình cũng gần như có các cô các chú, và các cô chú cũng rất thương anh em tôi giống như mấy đứa cháu khác của mình. Riêng đối với cô Thùy, tôi nhận thấy cô ta có một vài nét nào đó hao hao giống mẹ tôi nên tôi lại càng dễ mến cô ta hơn. Ngày Tết ngày giỗ nào chúng tôi cũng đều có mặt. Chỉ có mẹ tôi bệnh yếu nên không còn đi đâu được cả.

Lui tới thường xuyên nhà ông bà Cả, tôi biết thêm cô bé cùng học chung trường chung lớp với tôi, có cái tên dài lê thê: “Công tằng tôn nữ….,” lại là cháu ngoại của ông bà Cả. Cô Ba có một đời chồng trước thuộc hoàng phái, sinh được cô bé bằng tuổi tôi, khá xinh nên chú Chinh thấy thế vẫn hay nhìn tôi và bảo: “Gắng học giỏi rồi mai mốt chú gả cháu cho”. Tôi thấy người lớn hay nói về những điều mà con nít không muốn người lớn nói. Còn cô bé thì lại sinh hoạt trong Nhi Đồng Cứu Quốc, đó là một điều làm tôi không thích.

Vốn là một huynh trưởng say mê với phong trào Hướng Đđạo, nay đến đất Bồng Sơn này gặp được một số huynh trưởng khác, cha tôi bèn đứng ra tổ chức lại phong trào Hướng Đđạo. Phong trào lan rộng ra vài thị trấn khác như Tam Quan, Bình Dương, những nơi có các cựu huynh trưởng Hướng Đạo đang theo cơ quan làm việc. Mặc dù lúc bấy giờ ở đâu cũng đã có những tổ chức như Nhi Đồng Cứu Quốc, Thiếu Niên Cứu Quốc, và vô số những tổ chức “cứu quốc” khác, nhưng phong trào Hướng Đạo cũng thành lập được một số Ấu đoàn, Thiếu đoàn, và có cả Tráng. Chính tôi cũng sinh hoạt trong bầy Sói Con.

Tôi thấy đám Nhi Đồng Cứu Quốc lúc nào cũng có vẻ kiêu hãnh, nhưng hình như bọn chúng không có những huynh trưởng giỏi. Chúng thích gõ trống ếch ồn ào, thích nhảy “sol do mi”, và chỉ biết ca mấy bài ca đề cao lãnh tụ chứ không giống như Sói Con chúng tôi, yêu thiên nhiên, yêu mến tất cả mọi người và hát những bài hát vui tươi. Còn chuyện yêu nước thì ai mà chẳng yêu nước. Trong một buổi cắm trại làm lễ tuyên hứa để trở thành một hướng đạo sinh chính thức, tôi cũng đã từng nghiêm chỉnh đưa tay lên thề: “Trung thành với Tổ Quốc, giúp ích mọi người, tuân theo luật Hướng Đạo”. Lời hứa đầu đời này đã ghi khắc vào tâm trí tôi, và mãi mãi tôi không bao giờ quên.

Cuối niên học này, tỉnh có tổ chức một đại hội Thiếu Niên – Nhi Đồng toàn tỉnh ngay tại Bồng Sơn, có phát thưởng cho các học sinh giỏi. Tôi hãnh diện trong bộ đồng phục Sói Con lên nhận phần thưởng từ tay chú Ðệ, chủ tịch Ủy ban Hành chánh tỉnh trao tặng, và bắt tay chú Ðồng, Ủy viên Công cán của Chính phủ tại Miền Nam tới dự khán. Chú Ðồng và chú Ðệ đều nhắc nhở thiếu nhi hãy luôn luôn phấn đấu để mãi mãi xứng đáng là cháu ngoan của Bác. Phần thưởng gồm một khung kiếng lộng hình Bác, một quyển sách tư tưởng Mác – Lê nin và một số vật dụng học sinh. Mẹ tôi thấy tôi mang phần thưởng về, vui lắm. Người như có vẻ muốn ôm hôn tôi nhưng người không thể làm như thế được. Phần thưởng mang về trừ mấy món linh tinh tôi đem ra dùng, còn hình Bác và quyển sách tôi xếp vào một chỗ.

—>9.- CĂN NHÀ ÐẦU TIÊN TRONG THỜI BUỔI KHÁNG CHIẾN

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Đoàn Văn Khanh. Bookmark the permalink.