Ký Sự Tùy Bút: TÌM MỘT QUÊ HƯƠNG 11-20 (Đoàn Văn Khanh)

15.- XÓM ÐẠO VÙNG VEN BIỂN

Theo với đà chiến thắng của Mao ở Trung quốc, tình hình chính trị ở những vùng do Việt Minh kiểm soát cũng bắt đầu có nhiều biến chuyển quan trọng. Mọi sinh hoạt tự do vui vẻ trước đây trong xã hội bị hạn chế dần và nhiều biện pháp kiểm soát người dân được gia tăng. Phong trào Hướng Đạo cũng buộc phải ngưng hoạt động. Riêng vấn đề biên chế trong các cơ quan nhà nước đang gây lo ngại cho một số người sẽ phải nghỉ việc thì hình như lại là một cơ hội tốt cho cha tôi vì trước đây người đã nhiều lần xin nghỉ công tác nhưng đều bị bác, nay lại được cơ quan chấp thuận. Một con chim trời đã bị xén cánh vẫn muốn tung bay và một tâm hồn thơ ngây nhiều mơ ước tưởng tượng chưa biết mình sắp sửa lạc bước vào một khu rừng gai góc của cuộc đời.

Có lẽ cha tôi cũng đã sắp đặt trước đâu vào đó cả rồi nên vừa nghỉ việc là dọn nhà ra họ đạo Gò Xoài, đến ngụ tại nhà chú Năm. Trước ngày cha tôi đến cư ngụ tại họ đạo này thì cũng đã từng có vài người thuộc giới trí thức hay nghệ sĩ từ những phương trời xa lạ, vì hoàn cảnh tản cư mà có lần phải dừng bước nơi đây, nhưng khi đã đi rồi thì vẫn còn lưu lại ít nhiều dấu ấn. Bây giờ đến lượt cha tôi cũng tìm về chốn này như một bến đậu sau những tháng ngày lênh đênh. Cha tôi đi dạy học cho trường trung học tư thục công giáo ở Gia Hựu. Trường mang tên Ðặng Đức Tuấn, vị linh mục có tư tưởng cải cách từ thời nhà Nguyễn, lúc mà Tây hãy còn chưa cai trị đất nước này. Em tôi trở lại với trường cũ, còn tôi bước vào năm đầu tiên bậc trung học tại ngôi trường có cha tôi giảng dạy. Cuộc sống lại có vẻ đi dần vào ổn định và tôi cũng không còn nhớ Bồng Sơn nhiều như trước.

Nhà chú Năm là một trong hai căn biệt thự ở nơi đây. Mới xây cất xong chưa kịp sơn phết thì Khởi nghĩa bùng lên làm gián đoạn công trình cho nên cửa nẻo vẫn còn giữ nguyên màu gỗ. Chú Năm dành cho cha tôi xử dụng căn nhà trên vì gia đình chú thường chỉ sinh hoạt nơi dãy nhà ngang. Tôi đã sống ở Gò Xoài một dạo rồi nên lần trở lại này có cả cha con cùng sống chung dưới một mái nhà, tôi không còn cảm thấy mình là một con chim lạ cho dù trong khu rừng này cũng chỉ có thuần một loài chim hót giọng Bình Định.

Tôi bắt đầu làm quen với bạn bè tại chỗ. Vì hầu hết người trong họ đạo đều là bà con với nhau hoặc coi nhau như bà con nên đều xưng hô với nhau như trong gia đình. Tôi cũng bắt chước đám trẻ trong nhà mà gọi người này người kia bằng chú, bác, cô, dượng, thím, dì…, tùy theo vai vế của họ đối với đám bạn của tôi. Một vài anh chị lớn xưng qua với tôi nhưng bây giờ thì tôi đã hiểu nên không còn xưng qua trở lại. Riêng có anh Ba con bác Hai lại gọi tôi bằng chú nên tôi cũng không tí ngần ngại gọi lại anh ta bằng chú.

Một hôm chị anh Ba nghe tôi và anh Ba đều gọi nhau bằng chú bèn cười ngất rồi hỏi tôi chứ trong hai đứa thì đứa nào làm em. Tôi vẫn không hiểu. Chị phải cắt nghĩa tiếp rằng chú ở đây có nghĩa là chú em, tức là em. Thật là rắc rối quá! Nhưng lần này tôi nhất định không từ bỏ tiếng chú để gọi anh ta bằng anh mặc dù anh ta có lớn hơn tôi thật, chỉ vì lẽ anh ta lại là anh ruột của cô gái bị bệnh kinh phong mà đám trẻ thích chọc ghẹo vẫn chọn làm đối tượng để cấp đôi cho tôi.

Riêng cha tôi từ ngày nghỉ việc cơ quan về đây ở và đi dạy học, cuộc sống cũng có phần thảnh thơi và dễ chịu hơn. Các chú ở Bồng Sơn xa nên ít tới nhưng bây giờ lại có mấy chú dạy cùng trường hay ở trường trung học trong Tam Quan cũng hay ghé chơi. Trong số các chú tôi biết sau này, có chú Thụ là người có nhiều nét đặc biệt nhất.

Chú Thụ hình như cũng mến cha tôi lắm. Chú vui tính và thường có rất nhiều truyện tếu để kể cho mọi người cùng cười với nhau. Có một lần tôi nghe chú bảo chú đã chọn nhầm cái nghề “gô-đốt-trơ”. Vì ngỡ rằng chú nói tiếng Pháp nên khi nghe cái từ này có vẻ mới lạ quá tôi bèn giở từ điển ra tra nghĩa. Tôi đã tra hết mấy quyển từ điển mà tôi có thể tìm thấy, kể cả quyển từ điển Larousse của Pháp vẫn không thấy chữ này nằm ở đâu cả. Lần sau gặp chú, tôi đem điều thắc mắc của mình ra hỏi thì chú cười, bảo tôi còn ngu lắm. Tôi loay hoay cả mấy tuần, cuối cùng mới hiểu ra “godautre” chính là “gõ đầu trẻ”, tức là nghề dạy học, và tôi chợt ý thức được sự kém thông minh của mình. Thì ra tôi đã quá giàu tưởng tượng để cao siêu hóa quá nhiều cái trong cuộc đời, trong khi thực tại lại là một cái gì rất đơn giản và tầm thường trước mắt nên nhiều lúc cảm thấy mình như cứ bị chơi vơi trong cuộc sống.

Về sống ở đây tôi cũng thường có dịp xuống cửa biển Kim Bồng chơi. Bọn trẻ như chúng tôi ngoài cái trò tắm biển, nghịch phá, còn cái trò đi bắt còng gió cũng khá vui. Còng gió giống như con cua nho nhỏ, vỏ màu trắng, thường đào hang trên bãi cát. Chúng bò rất nhanh và hễ nghe động là chui ngay vào hang sâu. Muốn bắt chúng người ta đợi ban đêm, hai người cầm một cái lưới giăng ngang, rồi mỗi người nắm một đầu cùng nhau chạy dọc theo bãi biển và kéo cho lưới là là trên mặt cát. Còng đang yên tâm nhởn nhơ trên bãi cát, vừa nghe động chưa kịp chạy về hang thì đã vướng vào lưới. Cái món còng gió xào dầu dừa không biết có ngon thật tình không, nhưng sau khi chạy qua chạy lại trên bãi cát đã nhiều thì nhai con còng rau ráu trong miệng cũng thấy ngon lành lắm.

Dân vùng biển ít khi ăn thịt vì cá bao giờ cũng nhiều và rẻ hơn thịt. Tuy nhiên thỉnh thoảng cũng có được món thịt vích. Ðúng ra thì đây chẳng qua cũng chỉ là một món hải sản đặc biệt mà thôi. Con vích gần giống con rùa nhưng to bằng cái thúng lớn. Người ta không cần phải đánh bắt nó mà chỉ khi nào gặp nó bò lên bờ để đẻ trứng vùi nơi bãi cát thì vài ba người chạy lại lật ngửa nó lên. Vích không còn bò đi đâu được nữa, chỉ còn nằm chờ người ta khiêng về làm thịt. Hèn gì đám bạn trẻ miền biển nơi đây thấy tôi thường hay vụng về lúng túng trong những trò nghịch ngợm như trèo dừa, chèo ghe, bơi lội, vẫn thường hay gọi tôi là “đồ cái thứ rùa lật ngửa.”

Ðằng sau xóm lại có một ngọn đồi mà người ở đây vẫn quen gọi là cấm có rất nhiều cây bụi cho dê ăn lá nên trong xóm có nhiều nhà nuôi dê. Mấy chú bày cho cha tôi cũng nên nuôi một con dê để lấy sữa. Con dê mà chú Sáu nhượng lại cho cha tôi đang mang thai sẵn nên chỉ tháng sau dê đẻ. Hằng ngày chúng tôi lại có thêm món sữa dê ” cây nhà lá vườn ” trong khẩu phần ẩm thực của mình. Tôi có được con dê con để săn sóc chơi.

Cuộc đời có vẻ cũng thanh bình và êm ấm nếu thỉnh thoảng không có máy bay Pháp dội bom bắn phá mấy cây cầu xe lửa vẫn còn chưa sập hẳn, hay là tiếng mõ báo động có tàu Tây đi qua ngoài biển gần bờ. Cha tôi cũng có vẻ thích chốn này. Tôi đang nghĩ đến một ngày nào đó, cha tôi lại cất một căn nhà nơi đây, tôi lại sẽ tạo cho mình một góc thật riêng tư để quên đi những mất mát trong đời. Nhớ lại buổi đầu mới đến đây, tôi dè dặt lắm, nhưng sau một thời gian sống và hội nhập, tôi cũng đã thay đổi và thấy mình cũng có thể chấp nhận nơi này làm quê hương.

—>16.- GIÓ MÙA BIỂN ÐỘNG

Advertisements
This entry was posted in Hồi-ký - Bút-ký, Một thời để nhớ, Đoàn Văn Khanh. Bookmark the permalink.