MÙA HÈ ĐỎ LỬA (Phan Nhật Nam): Chương 1

muahedoluaCHƯƠNG I

Nhớ về một Ngày Hè, Vững chắc tay súng

Viết đến:
những Người Lính,
đã cùng qua Mỹ Chánh, La Vang Quảng Trị, Xa Cam, An Lộc, Bình Long, Tân Cảnh, Kontum…
những Người Dân,
đã chết khắp nơi. Chốn không ai biết ở Việt Nam
Năm 1972

Rất nhiều quân lực, binh đoàn của lịch sử thế giới được nhắc nhở sau chiến tích. Có một quân đội bị lãng quên. Rất nhiều đơn vị được tuyên công. Đã có một tập thể bị xúc phạm. Nhiều đoạn quân sử hằng hằng ca ngợi biểu dương. Thật có một đời dài chiến đấu bị xóa bỏ và tàn nhẫn hạ nhục. Đơn vị đó là của Chúng Ta. Tập thể đó là Chúng Ta. Đoạn quân sử bi hùng đó do chính chúng ta viết nên bằng xương máu của triệu người chết thảm, với mỗi Đơn Vị, của Từng Người Lính. Đoạn đường đau thương trầm thống vĩ đại ấy là tất cả Miền Nam, bị đánh vỡ cùng lần với đội quân đã sống, chiến đấu, chết trên vùng đất linh thiêng thân thiết đó, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Hôm nay, Mùa Hè ở Mỹ Quốc, dịp Lễ Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh đã nằm xuống nơi chiến địa tại đất nước vĩ đại này hoặc những vùng lửa đạn trên toàn thế giới, trong đó có quê hương chúng ta, Việt Nam. Chiến trường khắc nghiệt nhất mà Quân Đội Mỹ đã gặp phải trong suốt lịch sử tuy mới mẻ nhưng đầy kỳ tích đáng tự hào của họ. Nhưng cũng chính trên Quê Hương Khổ Nạn ấy, Quân Lực Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã hiện thực nên biểu tượng kiêu hãnh sống động về Người Lính Muôn Thuở ‘’Người Chiến Đấu, Gìn Giữ Tự Do’’. Sự nghiệp Vinh Quang kia, riêng chúng ta, Người Lính Miền Nam đã hằng thực hiện, như một nhiệm vụ tất nhiên theo cùng chiều dài Lịch Sử, nhưng đau đớn thay, chúng ta đã tuẫn nạn cùng lần với Dân Tộc bất hạnh. Người Lính bị tước đoạt vũ khí, bó tay thất trận cùng đành. Lỗi này không do chúng ta vì đã kém chiến đấu hoặc không kiên trì chịu đựng

Nhưng Dân Tộc luôn trường tồn và Lịch Sử hằng vững chắc minh chứng cho lẽ tất thắng của Chính Nghĩa, cho dù có lúc kẻ bạo ngược đoạt quyền, lợi thế, giành về phía chúng quyền ‘’định nghĩa sự thật, xuyên tạc lịch sử’’, vùi lấp người dân vào vũng tối đầy đọa với áp buộc ngụy danh ‘’xã hội, tương lai’’ vô cùng tàn nhẫn

Bởi Tương Lai luôn thuộc quyền sở hữu của toàn khối Nhân Dân và Lịch Sử là Linh Đài ghi danh tuyên công Người Lính. Những người tuần hành thực hiện sứ nhiệm Bảo Quốc An Dân. Và Chúng Ta quả thật là Người Lính Chính Danh ấy vì đã hoàn tất một cách xuất sắc nhiệm vụ cao quý này trước xác chứng của Nhân Dân. Người Dân Miền Nam Nước Việt, nếu cần diễn đạt chính xác và đầy đủ hơn. Ngày ấy, một Mùa Hè như hôm nay. Mùa Hè 1972. Buổi chúng ta kiên cường chiến đấu và oai hùng chiến thắng. Chúng ta cần nhắc lại đoạn quân sử hào hùng bi tráng này để cùng nhau sống lại ‘’đoạn đường chiến binh’’ đáng tưởng nhớ và đầy tự hào: Tháng Ba, 1972, ba sư đoàn 304, 308, 324B, sáu trung đoàn bộ binh thuộc mặt trận B4, ba trung đoàn chiến xa, hai trung đoàn đặc công và một sư đoàn pháo 130 ly, những đơn vị chính quy của quân đội Bắc Việt đã vào Nam từ những ngày rất lâu, có mặt ở chiến trường Trị-Thiên liền sau năm 1968, khi đã thanh toán (qua tay Quân Lực Miền Nam và Quân Đội Mỹ) toàn diện hạ tầng cơ sở lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam với lần gọi là ‘’Tổng Công Kích, Tổng Nổi Dậy’’, kể từ đêm giao thừa Tết Mậu Thân, 1968. Tháng 4, hai sư đoàn, 320 sư đoàn thép và sao vàng được một trung đoàn chiến xa yểm trợ tấn công vào Tân Cảnh (Dakto), nơi đặt Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Sư Đoàn 22 Bộ Binh với lực lượng tham chiến thực sự chỉ một trung đoàn, tăng phái Lữ Đoàn II Dù. Hướng tiến quân được dọn đường bởi một trung đoàn pháo nặng đặt ở rặng Big Mama Moutain sát biên giới, nơi an toàn, nằm ngoài tầm tác xạ của Pháo Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và chỉ riêng Mặt Trận An Lộc, chiến trường hẹp nhất của quân sử thế giới với chiều dài, từ điểm phòng thủ cực Bắc (Hoành độ 88) đến bãi đáp trực thăng B15 ở cực Nam tại thời điểm tháng 5 (Trước ngày 8.6 ngày An Lộc được giải tỏa với lần giao tiếp ở cửa ngõ Xa Cam, giữa Tiểu Đoàn 6 và 8 Dù) trong khoảng thời gian từ ngày bị vây hãm, tháng Ba 1972, tuyến phòng thủ của quân dân Bình Long đo đúng 800 thước bề dài, 500 thước bề ngang. Trên diện tích chính xác kia, chỉ trong đêm 11 rạng 12 tháng 5 đã chịu đủ 8000 quả đạn pháo cối của lần cường tập hỏa lực để ba trung đoàn bộ binh cộng sản được chiến xa dẫn đầu quyết thanh toán gọn mục tiêu. Nhưng quân dân Bình Long-An Lộc đã thủ thế đứng vững và phản công tất thắng

Mùa Hè 1972, Ba Vùng Đất Nước Miền Nam bừng bừng khí thế kiên cường Giữ Nước và kiên hùng Phá Giặc

Nhưng sau Ngày Hè oanh liệt kia, chúng ta phải chịu thế bó tay cực độ nhẫn tâm do nhu cầu chính trị của giới cầm quyền nước bạn đồng minh, với người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam và khoảng trống quân sự để lại, điển hình với tình trạng khả năng Không Quân (được xem là ưu thế của chúng ta trên lực lượng cộng sản) hoàn toàn tê liệt: Chỉ ‘’Một’’ (viết nguyên chữ) trong số Bảy phi cơ C130 còn có thể sử dụng được. Và cũng chỉ ‘’Một’’ (lại phải viết nguyên chữ) trong tổng số Sáu trực thăng Chinook được xem có khả năng thực hiện phi xuất. Những số liệu này không do chúng ta quá độ bi thảm hóa nên dựng đặt ra mà là chi tiết tài liệu kỹ thuật do chính Tướng Homer Smith, Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ nói cùng Olivier Todd, ký giả người Pháp thuộc khuynh hướng xã hội cấp tiến, không hề chung quan điểm, mục tiêu chính trị với chúng ta, phía Người Việt Quốc Gia. Nạn nhân đầu tiên và khốc liệt nhất từ khi người Pháp vào đặt nền đô hộ ở Đông Dương ở cuối thế kỷ trước. Chúng ta không có, không còn vũ khí để tự vệ vì năm 1973, tiếp sau thắng lợi quân sự vẻ vang kia, chúng ta phải va mặt vào một nền Hòa Bình vô cùng quái dị. Hòa Bình do Hiệp Định Paris cố công tô vẽ mà trong đó ‘’hai bên ký kết chính yếu đã hoàn toàn vắng mặt’’ Vắng mặt có ý thức và đôi bên đều có lợi. Nói theo từ ngữ của người cộng sản. Chúng ta có quá nhạy cảm khi vạch nên điều vô lý kia chăng ? Sự thật tiếp theo đã trình bày toàn thể mức ác độc của âm mưu tồi tệ này. Ngày 30 tháng Tư 1975 không hề là một bất ngờ

Theo Điều 1 Nghị Định Thư về Tù Binh: ‘’Hai bên Miền Nam Việt Nam sẽ trao trả cho nhau những Nhân Viên Quân Sự bị bắt giữ’’, Và cũng theo những điều khoản của Nghị Định Thư này, ‘’Nhân Viên Quân Sự’’ có định nghĩa: ‘’Là những người thuộc HAI BÊN MIỀN NAM đã tham dự vào các hoạt động quân sự của một bên và bị bên kia bắt giữ’’ Qua định nghĩa hàm hồ và cực độ biển lận này, những bộ đội, lính tráng, sĩ quan của các đơn vị chính quy cộng sản Bắc Việt trong chớp mắt biến thành, ‘’những nhân viên quân sự thuộc lực lượng vũ trang giải phóng Miền Nam’’ thuần hành và chính thức. Và hệ quả theo chiều hướng lý luận kia, tất nhiên nước Mỹ tự động chấp nhận tính danh ‘’Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, là kẻ thù của nhân dân ta’’ từ bộ máy tuyên truyền cộng sản Hà Nội với số lượng 585 nhân viên quân sự, hầu hết là nhân viên phi hành bị bắn rơi trên đất Bắc, trong số có ba (3) quân nhân của các nước thuộc đệ tam quốc tịch. Hai mươi năm sau kể từ ngày ký hiệp định, nêu khi bị người Mỹ truy bắt về vấn đề ‘’còn giam giữ tù binh (Mỹ)’’. Tập đoàn cầm quyền Hà Nội thế nào cũng lập lại luận cứ của Hiệp Định Paris: ‘’Chúng tôi không tham chiến tại Miền Nam (Theo điều 1 Hiệp Định và Điều 1 Nghị Định Thư Tù Binh. Được chính phủ Mỹ ký kết đồng thuận và chấp nhận thi hành), vậy thì lấy đâu lý do còn khả năng giam giữ tù binh, bởi ‘’Tất cả quân nhân vốn thuộc Không Lực Hoa Kỳ, những người bị bắn hạ trên lãnh thổ Bắc Việt thì đã trao trả hết từ 1973’’. Những người từng giữ chức vụ trọng yếu trong chính giới Mỹ, những Tổng Thống, những phụ tá Harriman W. Bundy, Lodge…Lẽ tất nhiên cũng phải kể đến những trí não ‘’siêu đẳng’’ cỡ Mc Namarra, Kissinger, những nhân vật thế giới nổi tiếng do lương tri, trí năng trong sáng như Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant, Đức Giáo Hoàng La Mã Paul VI cùng những giới chức Tây-Đông, những người đã cố công thúc đầy, vận động để hoàn thành Hiệp Định từ khi mới bắt đầu giai đoạn thăm dò tối mật với bí danh ‘’Kế hoạch Mary Gold’’, chỉ được trình lên bàn Tổng Thống Mỹ Johnson, 1966. Tất cả chuỗi nỗ lực kiên trì vận động đã diễn ra cùng khắp, tại những Thủ Đô chính trị thế giới, để đến đỉnh cao với thành quả ‘’Giải Nobel Hòa Bình’’, trao tặng cho ‘’Kissinger và Lê đức Thọ, hai kẻ có công lao lớn nhất trong tiến trình thương thảo’’ để hoàn thành bước ký kết Hiệp Định ‘’Tái Lập Hòa Bình Tại Việt Nam’’ Hòa Bình Việt Nam cũng là Hòa Bình Thế Giới. Hai người này được tuyên công từ mục tiêu cao quý này. Những người quyền chức, danh tiếng với công cuộc to lớn đáng kính phục kia có bao giờ biết đến, nghĩ ra điều tồi tệ: ‘’Tất cả nội dung lời văn, hình thức diễn dịch, tác động hệ quả của bản Hiệp Định, cuối cùng chỉ là ‘’Văn bản hợp thức hóa về kế hoạch Hóa Không’’ Sự ‘’hóa không’’ quái đảm trước Lịch Sử và Nhân Dân Việt Nam đối với lần vắng mặt cấp kỳ, không để lại chút dấu tích của một ‘’đạo quân xâm lược đi từ Miền Bắc Việt Nam’’ Sự triệt tiêu như chuyện hoang đường về một quân đội thực dân chiếm đóng. Quân đội nhân dân của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Thế Giới nào có mấy ai Thấy ? Nào có mấy ai Tin ? Dân Tộc Việt, Quân Đội Miền Nam căng thân thụ nạn, gánh chịu trò dối trá khinh miệt cực độ tàn nhẫn của toàn thể loài người. Và kết cuộc, Quốc Hội Hoa Kỳ với những người như Thượng Nghị Sĩ W. Fulbright, Dân Biểu Paul Mc Closky quyết tâm cắt đứt 300 triệu quân viện thặng dư vào giờ phút Miền Nam lâm tử, số tiền không bằng phí khoản giáo dục của một thành phố nhỏ ở Dallas. Thành quả này cũng được xem như là ‘’kỳ tích’’ đáng tự hào của Đinh văn Đệ, nguyên Đại Tá Tỉnh Trưởng, Chủ Tịch Ủy Ban Ngân Sách Hạ Viện, do đã có ý kiến mạnh mẽ với Quốc Hội Mỹ: ‘’Không nên tăng viện cho chính phủ Sài Gòn’, 4.1975, lần Đệ cầm đầu phái đoàn Hạ Viện Việt Nam Cộng Hòa sang Hoa Kỳ ‘’xin quân viện khẩn cấp’’ khi chế độ Miền Nam đang trong cơn hấp hối. Trước khi báo cáo ‘’thành tích’’ kia đến Dinh Độc Lập. Nơi có một người ‘’gọi là tổng thống Nguyễn Văn Thiệu’’, (người nổi tiếng khôn ngoan, đa nghi, kẻ đã chọn Đệ làm tay chân then chốt của chế độ), ông ‘’Chủ Tịch Ủy Ban Ngân Sách Hạ Nghị Viện, Đại Tá Đinh văn Đệ’’ tường trình cùng Cục R, lẽ tất nhiên cũng với Hà Nội, phía đường giây liên lạc nối dài và kết thúc quyết định. Đệ là người rất mực thân tín của ‘’Tổng Thống, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu’’ từ một thuở rất lâu

Sài gòn thất thủ như một điều tất nhiên trước vòng vây gồm bốn quân đoàn và một chiến đoàn đặc nhiệm vừa thành lập với Bí Số 232, quân số lên đủ 150.000 trong toàn bộ lực lượng 152.000 người của chiến dịch Hồ chí Minh, gồm 74 trung đoàn bộ binh, 5 trung đoàn chiến xa, 14 trung đoàn pháo, 33 trung đoàn phòng không, thuần quân đội Bắc Việt với Văn tiến Dũng, Lê đức Thọ, Phạm Hùng…Đến cả Trung Tá Tùng, trung đoàn trưởng chiến xa 203 với chiếc xe tăng số 879, chiếc xe thoát nạn năm trước ở mặt trận An Lộc, Mùa Hè 1972

Sài gòn thất thủ như một lẽ tất nhiên, dầu rằng Sư Đoàn Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến có khả năng chiến đấu vượt trội, cao hơn hẳn những đơn vị gọi là sư đoàn điện biên, sao vàng, thép (do đánh giá của giới báo chí phương Tây, những cơ quan thông tin không hề có chút công bình đối với Quân Lực Miền Nam). Vì quân viện cho tài khóa 1975 chỉ có đúng 475 triệu Mỹ kim. Hãy so với 25 tỷ của năm 1968-1970 và 12 tỷ của 1970-1971, nên chúng ta đã không có đợt bom ‘’Daisy Cutter’’ tăng cường kịp thời giúp Tướng Lê Minh Đảo có thể kéo dài cố thủ, giữ vững Long Khánh. Điều này xác chứng với kỳ tích của Trung Đoàn 43, Sư Đoàn 18 Bộ Binh, một thân đương cự, đánh bật đợt tấn công của một sư đoàn bộ binh cộng sản (sư đoàn 6), đơn vị tiến công dưới yểm trợ của sư 314 vừa bôn tập từ miền Trung, lẽ tất nhiên cũng khởi đi nơi miền Bắc, đơn vị tiền tiêu của chiến dịch 275 do quyết định Tái Lập Hòa Bình Tại Việt Nam: Chính Phủ Liên Bang Bắc Mỹ và Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ‘’cam kết tôn trọng’’ những nguyên tắc sau đây về việc thực hiện Quyền Tự Quyết của Nhân Dân Miền Nam

1.- Quyền Tự Quyết của Nhân Dân Miền Nam là một điều tối thượng và bất khả chuyển nhượng, được tôn trọng bởi tất cả các quốc gia

2.- Nhân Dân Miền Nam sẽ tự quyết về tương lai chính trị của Miền Nam xuyên qua bầu phiếu phổ thông hoàn toàn tự do và dân chủ

Màn bi kịch tàn nhẫn chính trị đóng lại ở đây. Hậu quả ác nghiệt tất yếu của Hiệp Định Paris 1973 không chỉ hiện thực với Ngày Uất Hận 30 tháng Tư 1975 riêng với Miền Nam, nó tác động lâu dài và cùng khắp, đến nay với những người đã được gọi là ‘’phe chiến thắng’’, ở Hà Nội tại miền Bắc. Điều nghịch lý này đã xảy ra từ giờ thất thủ Sài Gòn, khi Người Lính Cộng Hòa buông súng và bắt đầu cuộc lưu đày nơi những trung tâm nhục hình trải dài khắp nước, tập trung và sẵn có ở miền Bắc nói riêng. Vì khi Người Lính Miền Nam buông súng, không chỉ cư dân Miền Nam, những người dù dưới tác động xã hội, giáo dục riêng biệt và thuộc về nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau, cũng nhận ra điều cay đắng, ‘’lính mình không còn nữa’’. Phải, đối tượng được gọi là ‘’lính mình’’ ấy tuy còn khuyết điểm, chưa hoàn chỉnh, nhưng quả thật họ là ‘’người cánh giữ’’ Miền Nam hơn hai mươi năm qua, kể từ ngày đất nước chia phân, 1954, mà sự phân chia ấy cũng không phải do ai khác mà chính là người cộng sản Việt Nam đã hạ tay quyết định cắt lìa. Và khi Người Lính ấy xuất hiện dưới hình thái não nề của ‘’kẻ tù nhân thất trận’’ nơi những trại tù ngụy danh khắp miền Nam, ở miền Bắc thì cũng là lần chứng tỏ Nguồn Hy Vọng đến từ Miền Nam không còn khả năng hiện thực. Hy Vọng sống đời Tự Do hoàn toàn bị phủ nhận, vất bỏ. Người Việt Miền Bắc hóa ra là ‘’kẻ thụ nạn từ chiến thắng’’ do chính họ đã góp công dự phần áp đặt xuống phần đất ủ mầm hy vọng cho toàn quê hương. Và hiện thực cực độ hào hùng, vô vàn bi thảm của hai nghìn năm Lịch Sử Dân Tộc đã bùng vỡ như cơn địa chấn rung rinh toàn bộ địa cầu, lung mờ càn khôn, úa mầu nhật nguyệt. Người Việt đồng lần phá thân vượt biển, hiện thực lựa chọn cuối cùng:

TỰ DO HOẶC CHẾT

Khi không còn Niềm Tin, Hy Vọng. Sống đáng sợ, tệ hại hơn cái Chết

Người Việt hiểu ra nguyên lý giản dị và cao cả này từ lần người cộng sản ‘’thống nhất nước nhà về mặt nhà nước’’, và hoàn tất mục tiêu ‘’đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào’’. Người Miền Bắc lại càng thấm rõ nghĩa đắng cay. Và chắc rằng cũng đậm nét trong lòng người (gọi là) cộng sản nào còn chút lương tri khi xét lại quá trình ‘’Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước’’ của họ

Thế nên hôm nay, dẫu đã bị tước mất toàn phần vũ khí, không còn dịp trở về cùng đơn vị, sử dụng số quân, trí lực khỏi phải vận động để nhớ đến số súng, khẩu pháo, con tàu, chiếc chiến xa mà mỗi người chúng ta hằng sử dụng, sống cùng. Đã sống rất lâu với tuổi trẻ chỉ có một lần. Lần chúng ta rất mực hãnh diện. Ngày chúng ta là Người Lính thuần thành của toàn Dân Tộc. Người Bảo Vệ và là nguồn Hy Vọng của vạn triệu người. Hôm nay, chúng ta nhớ đến Ngày Hè xưa như dấu ấn vinh quang cay đắng. Phải nhớ như một vết thương luôn mới, còn tươi máu. Vết thương Trái Tim Cao Thượng Người Lính bị xúc phạm

Chúng Ta là những Người Lính nhận trách nhiệm vô cùng trọng đại mà Lịch Sử ký thác, và phải trả giá lần không hoàn tất trọn vẹn nghĩa vụ kia cho đến ngày toàn thắng cuối cùng bằng mạng sống của chính mình. Nhưng chúng ta chỉ thất bại trong cuộc chiến và vĩnh hằng sáng rực với nhiệm vụ cao quý mà toàn Dân Tộc đã một lần trao gởi. Phải chính là Chúng Ta Quân Lực đã chiến thắng từ một ngày Hè dậy lửa lớn năm xưa khi chiến hữu toàn quân còn chắc tay súng. Chúng ta quả thật chỉ bị tước mất vũ khí. Chúng ta không thể đào ngũ, trốn chạy, đầu hàng. Bởi, vẫn hằng có những Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những Chiến Sĩ Quốc Gia chiến đấu trong bóng tối, sự chết nơi chốn lao tù, trên quê hương khô nạn cho dẫu đã hơn hai mươi năm sau. Từ rất lâu. Đang thực hiện. Không một ai hay biết. Chúng ta vẫn chiến đấu như Ngày Hè bất diệt ba mươi năm trước. Chiến đấu với Tinh Thần Việt Nam Cộng Hòa. Không có gì thay đổi

Chúng Ta tiếp tục duy trì, bảo tồn tính chất Người Lính với mức độ sắt son, cao qúy, dẫu hàng ngày vây bọc, công phá bởi muôn ngàn ti tiện, dối trá từ đời sống chính trị lắm mưu mô, nhiều thủ đoạn. Trong đó sinh mạng và giá trị Người Lính bị xài phí vô ích và cực độ phí phạm. Nhưng ‘’Người Lính Không Hề Chết’’, như Chiến Hữu Chuck Bowman, người Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ với hai nhiệm kỳ Việt Nam (1964-1966), sau bao nhiêu năm vẫn kiên trì xác định: ‘’Khi những kẻ (chính trị gia) lợi dụng ‘’hòa bình với bất cứ giá nào’’, cùng những ma thuật hèn hạ của bọn phản chiến để có được thắng lợi đắc cử, thì Việt Nam, Campuchia, Lào lần lượt biến thành những con cừu tế lễ để chúng ‘’có thêm kinh nghiệm chính trị’’. Không như đám tài tử Jame Fonda, Tom Hayden, tôi cảm nhận có một ‘’trách nhiệm mang tính cách đạo đức’’ buộc bản thân phải dự phần vào nỗ lực chung với những dân tộc trên toàn thế giới chống lại ách lệ thuộc cộng sản Việt Nam cũng như Lào, Campuchia lần lượt kinh qua. Hằng mỗi năm, những hứa hẹn giả trá về việc phải hy sinh tự do cho buổi công bình cộng sản, như một chứng ung thư gậm mòn thế giới mà không hề có phương cách thanh toán, loại trừ. (Trả lời phỏng vấn Đại Học Okahoma, 1984) Chúng ta không phải nhắc nhở với nhau như thế vì trận chiến không hề chấm dứt giữa Ánh Sáng và Bóng Tối. Tình Thật và Dối Gạt. Tương Lai luôn có cùng người Trung Chính. Chúng Ta là những Người Lính thắng trận Chính Nghĩa cuối cùng này

pnn_title
Viết để nhớ
Ngày 8 tháng 6.1972-2002
Trước cửa vào AN LỘC
Với Tiểu Đoàn 6 Nhẩy Dù

—> Chương 2
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 2.Một thời để nhớ, Người Lính VNCH, Phan Nhật Nam, Phan Nhật Nam. Bookmark the permalink.