THÀNH TÍCH CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM (Hứa Hoành)

2trantrongkimLà kẻ sĩ, có nếp sống đạo đức, cụ Trần Trọng Kim làm chính trị theo vương đạo. Đối thủ của cụ, Hồ Chí Minh và những phần tử lãnh đạo cộng sản là đạo tặc, làm chính trị bá đạo. Đạo tặc thắng đạo đức, bá đạo thắng vương đạo trong nhứt thời.

Lịch sử rất công bằng, sẽ thẳng thắn vạch mặt chỉ tên ai vì dân vì nước, ai phản quốc có tội với đồng bào? Cộng sản hiện nguyên hình là tay sai của quốc tế cộng sản, không thuộc thành phần dân tộc, cắt đất, bán nước cho Tàu….Trong khi người quốc gia thất thế, bị VC chửi bới, mạt sát, nhưng chưa bao giờ phản lại quyền lợi quốc gia, lại bảo vệ từng tấc đất của tổ tiên. Thượng nghị sĩ tiểu bang Arizona, Mc Cain nói thẳng vào mặt VC: “Bọn xấu đã thắng trong trận chiến tranh vừa qua.”

Người quốc gia chính thống, có chính nghĩa, cộng sản là tay sai quốc tế, ngụy triều, sự thật đã rõ như ban ngày.

THÀNH TÍCH CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM
(17/4/1945 – 18/8/1945)

Không ai phủ nhận chính phủ Trần Trọng Kim là sản phẩm của Nhựt, do Nhựt đỡ đầu, chỉ tồn tại vỏn vẹn có 4 tháng, trong điều kiện cực kỳ khó khăn, nhưng đã làm được nhiều việc có ích cho quốc gia dân tộc, ảnh hưởng mãi đến ngày nay. Lịch sử của người quốc gia từ trước tới nay, viết về sự kiện nầy rất giản lược. Ban đầu “tạm thời không nhắc tới các sự kiện lịch sử từ năm 1945”, nhưng rồi sau, vì hoàn cảnh chiến tranh Quốc Cộng mỗi ngày một leo thang, các chính phủ miền Nam xao lãng. Chính vì thề, quốc dân đồng bào không thấy được những thành tích và sự quan trọng của các công cuộc được thực hiện dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim. Nhờ sự chuẩn bị nầy mà khi Việt Minh cướp được chính quyền, thừa hưởng cái gia tài về tổ chức thanh niên, làm động lực mạnh mẽ trong công cuộc kháng chiến chống Pháp.

Trong hoàn cảnh hiện nay, việc cũ đã qua hơn nửa thế kỷ, thời gian đã lắng động, lại được ung dung tự do, không bị áp lực, mặc cảm, chúng ta cần có thái độ công bằng để nhìn một sự thật: “Không phải do ngoại bang dựng nên đều là phản động, có tội với quốc dân đồng bào.” Cũng không phải “thân Nhựt” là có tội, là bù nhìn “… Có công hay có tội là do hành động của triều đại đó đối với dân tộc và đất nước. Đảng CS từ trước đến nay chửi bới, mạt sát các chính phủ quốc gia thù nghịch với họ, bằng những lời lẽ thậm tệ, nhưng chính VC là con đẻ, là tay sai của QTCS, đã tuân lệnh ngoại bang, đem chủ nghĩa cộng sản áp đặt vào đất nước ta, tàn sát hàng triệu đồng bào vô tội, phá nát đất nước, luân thường đạo lý, làm cho đất nước ta nghèo nàn lạc hậu. Ngoài ra hiện nay (2001) VC còn cắt đất biên giới, hải đảo dâng cho Tàu, làm điều sỉ nhục cho tổ tiên dân tộc, thì đó là công hay tội của CS?

Hơn nửa thế kỷ qua, CS không chứng minh được rằng chính phủ Trần Trọng Kim có làm điều gì có hại cho đất nước, dân tộc, có giết bất cứ một người dân nào vì chống đối với chính phủ. Tuy nhiên tới bây giờ CS vẫn ngoan cố, vẫn ngụy biện trong lý luận, trong lịch sử. Họ sợ sự thật, sợ lẽ phải. Chế độ CS là chế độ giả dối, sống nhờ bạo lực, dối trá, và đàn áp để tồn tại.

Nếu kể các lý do đã đánh giá thấp chính phủ Trần Trọng Kim, xin nêu lên:

– Thứ nhứt là khuynh hướng phù thịnh. Mỗi lần nhắc tới biến cố Nhựt đảo chính Pháp, và chính phủ Trần Trọng Kim, các người viết sử, các nhà nghiên cứu thường chú trọng đến hành động chớp nhoáng của Nhựt lật đổ Pháp (24 giờ), và “Việt Minh cướp chính quyền.”

– Thứ hai do thiếu tài liệu, các sách sử viết về thời kỳ này, chỉ viết giản lược, sơ sài.

– Thứ ba các nhà viết sử cộng sản luôn che giấu sự thật, những việc làm tốt đẹp của người quốc gia, bịa đặt tội trạng, mạt sát kẻ chiến bại… chỉ có mục đích đề cao công trạng cho đảng CS bằng cách thêu dệt, bịa đặt thêm nhiều sự kiện để tô vẽ “thành tích thần thánh” cho sự thành công của họ. Vì thế họ không nhắc tới những công lao, thành quả của chính phủ Trần Trọng Kim, mà chính họ đã được hưởng lợi sau đó.

Ông Trần Trọng Kim là một học giả khả kính, sinh năm 1883 và mất năm 1953, là người có cuộc sống đạo đức thanh bạch, hiện thân của kẻ sĩ còn sót lại. Tuy không đảng phái (Tưởng Vĩnh Kính, trong “Hồ Chí Minh tại Trung Quốc” trang 321 nói “Trần Trọng Kim thuộc đảng Việt Nam độc lập”), nhưng ông được tín đồ đạo Cao Đài ủng hộ nhiệt tình, mặc dù nhà cầm quyền Nhựt tại Đông Dương không đưa hoàng thân Cường Để lên ngôi vua như mong muốn. Là một tôn giáo mới, thành lập từ năm 1926 tại Nam Kỳ, đạo Cao Đài đã đóng góp một phần quan trọng trong công cuộc tranh đấu cho nền độc lập VN, cũng như đạo Hòa Hảo. Năm 1936, giáo chủ Phạm Công Tắc tham gia công cuộc vận động cho chủ nghĩa dân tộc và độc lập VN, dưới sự bảo trợ của Nhựt Bản. Thời gian hoạt động bí mật trong tổ chức “Nội ứng nghĩa binh”“Cận vệ quân” dưới danh nghĩa chính trị của “VN phục quốc đồng minh hội”, gọi tắt là “Phục Quốc Hội” do Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm minh chủ, tín đồ Cao Đài kỳ vọng ngài Cường Để sẽ về lên ngôi vua ở VN. Trong cuộc đảo chính đêm 9/3/45, các đội “Nội ứng nghĩa binh”, “Cận Vệ Quân” của Cao Đài đã đóng góp một phần lớn.

Tóm lược thành quả của chính phủ Trần Trọng Kim, nhà nghiên cứu sử Chính Đạo (Vũ Ngự Chiêu) viết: “….chỉ trong vòng 4 tháng và dưới những điều kiện cực kỳ khó khăn, chính phủ Trần Trọng Kim đã xúc tiến những bước quan trọng để tiến tới một nền độc lập cho VN, Việt hóa một phần tổ chức hành chính thời thực dân Pháp, và thương thuyết để thống nhứt lãnh thổ chính thức trước khi Việt Minh cướp chính quyền vào tháng 8 năm 1945.” (The other side of Vietnamese revolution”, page 14).

Trong hồi ký “Một cơn gió bụi”, chính tác giả Trần Trọng Kim viết về việc nầy như sau: “Chúng tôi hết sức theo đuổi mục đích là hợp nhất tất cả các phần tử quốc dân để củng cố độc lập của quốc gia, và gây mạnh cái tinh thần yêu nước trong mỗi giai tầng xã hội.

“Chính phủ sẽ lập ra một “Kỷ niệm đài” để ghi công các bậc anh hùng vì nói giống, sẽ tìm mọi cách để các chính khách còn phiêu lưu được trở về tổ quốc, sẽ xóa bỏ những hình án bất công, để những người ái quốc còn bị giam cầm trong lao ngục, có thể tùy tài sức mà tham dự vào công cuộc kiến thiết quốc gia.” (Trích “Tuyên cáo của Nội các Trần Trọng Kim”, Hồi ký Nam Đình, trang 207).

Sau ngày 9/3/45, cơn sốt độc lập, tinh thần bài Pháp bùng lên mạnh mẽ chưa từng có. Khắp cả ba kỳ, đâu đâu người ta cũng nghe thấy dân chúng bàn tán về độc lập, tự do một cách công khai, không còn bí mật như trước. Chính phủ tích cực “Việt Nam hóa” nền hành chính do thực dân để lại, dùng tiếng Việt trong giáo dục, tạo cơ hội cho mọi người tham gia chính trị, nhứt là những thanh niên, trí thức thành thị, những người có hấp thụ ít nhiều văn hóa Tây phương tham dự. Trong khi đó, chính phủ Kim gần như bỏ quên các nông dân, thợ thuyền, phu phen, là thành phần chiếm đa số trong xã hội, đang bị nạn đói đe dọa do kinh tế khó khăn. Vì thế, có thể nói chính phủ Trần Trọng Kim kêu gọi đoàn kết quốc gia, nhưng ở hạ tầng xã hội gần như bỏ quên. Chiến tranh, nạn đói, sự nghèo khổ ở nông thôn gia tăng, làm cho tình thế khắp nơi càng ngày rơi vào tình trạng vô chính phủ để Việt Minh núp trong bóng tối, khai thác, lợi dụng, chờ cơ hội. Ba công tác khẩn cấp của chính phủ Trần Trọng Kim đáng ghi nhớ hơn cả là:

– Xóa nạn quốc sĩ:

Chế độ thực dân cai trị trên đất nước đã 80 năm, để lại nhiều tàn tích sỉ nhục miệt thị cả một dân tộc. Các địa danh “Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ”, là những từ ngữ có tính cách kỳ thị, chia để trị của thực dân. Đổi tên nước từ “An nam” thành Việt Nam là biểu thị thái độ của dân tộc, nhắc nhở đến thời kỳ độc lập dưới triều vua Gia Long (năm 1801). Các tiếng “Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ”, sau nầy Việt Minh sử dụng phổ thông cho đến năm 1954.

Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu (3/1945) khi chính phủ chưa thành hình, mỗi miền đều biểu lộ ý thức, dân tộc tính riêng: miền Bắc thích gọi mình là “Đại Việt”, tên nước ta dưới thời nhà Trần, Lê, còn người dân miền Nam thích dùng hai chữ “Việt Nam”. Người gọi Việt Nam là “Empire du Việt Nam” (Đế quốc Việt Nam).

Khi chính phủ Trần Trọng Kim chính thức ra mắt quốc dân (17/4/45), thì cả nước thống nhứt dùng hai chữ Việt Nam. Mãi đến ngày 2/6/45, mới có quốc kỳ chính thức là cờ quẻ Ly trong kinh Dịch, và quốc ca là bài Đăng đàn cung. Miền Nam trước đó, vẫn hát bài “Tiếng gọi Thanh Niên”, đã được hát trong cuộc biểu tình ngày 18/3/45, trước vườn Ông Thượng (Tao Đàn). Việc kế tiếp là đổi tên đường phố, công viên, tượng đài kỷ niệm mà thực dân Pháp đặt ra ở xứ nầy. Đốc lý Hà Nội hạ bệ tượng Paul Bert, Jean Dupuis, thì CS lại cho dựng tượng Lenin, thì ai là vong bản, ai phản quốc?

Tại Thuận Hóa (Huế) Lê Thái Tổ thay thế tên đường Jules Ferry, Trần Hưng Đạo thay cho Paul Bert… Ngoài ra chính phủ Trần Trọng Kim còn mở một chiến dịch đề cao các danh nhân, anh hùng liệt nữ có công với đất nước. Cũng chính chính phủ Trần Trọng Kim là người đặt viên đá đầu tiên trong vấn đề cải tổ giáo dục: mở khoa thi trung học bằng tiếng Việt đầu tiên. Bộ trưởng giáo dục Hoàng Xuân Hãn, cùng các công sự trong hoàn cảnh khó khăn, chỉ tập họp một số nhân tài ở Huế như các giáo sư Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Nguyễn Huy Bảo, Đoàn Nồng, Tôn Quang Phiết, Nguyễn Thúc Hào, Phạm Đình Ái, Nguyễn Dương Đôn… soạn ra chương trình trung học mới, hoàn toàn bằng tiếng Việt (xem quyển Nguyễn Quang Thắng “Khoa cử và giáo dục VN”, trang 316).

Chương trình giáo dục bằng tiếng Việt nầy, tuy cải tổ trong một thời gian ngắn kỷ lục, nhưng ảnh hưởng sâu rộng đến mấy chục năm sau. Nhờ đó, chính phủ Hồ Chí Minh mới có phương tiện để phát động chương trình “bình dân giáo dục”, tuy nhiên chỉ nặng về chính trị, nhẹ về thực chất.

Về thông tin báo chí, chính phủ Trần Trọng Kim đã mở đường cho tự do ngôn luận, tự do thông tin, nghị luận. Báo chí nở rộ từ Nam chí Bắc, công khai bộc lộ tinh thần yêu nước, đối kháng với thời kỳ nô lệ, mất chủ quyền.

– Cứu đói:

Đây là việc làm tích cực của chính phủ, kêu gọi lòng vị tha, nhường cơm xẻ áo thực sự của người giàu. Nạn đói kéo dài từ cuối năm 1944 đến đầu năm Ất Dậu 1945, làm cho VN thêm kiệt quệ, bi thảm. Bao nhiêu tài lực, vật lực đều bị cả Pháp lẫn Nhựt kình chống nhau thu giữ. Đối với chính quyền Nhựt, thủ tướng Trần Trọng Kim đã yêu cầu Nhựt hủy bỏ luật bắt buộc những điền chủ có 3 mẫu ruộng, phải bán lúa cho Nhựt. Thứ hai là khắp cả ba kỳ đều có phong trào “cứu tế”. Tại Bắc bộ, ông Nguyễn Văn Tố, được cử làm Hội trưởng hội “cứu tế miền Bắc”, từ ngày 24/3 đến 24/5/45, thu được số tiền 782.403 đồng, chi ra 593.836 đồng. Theo lịnh chính phủ trung ương, những người quá đói, tha phương cầu thực, được tập trung vào các trại đặc biệt để phát chẩn. Tại Trung bộ, có “Ủy ban trung ương tiếp trợ nạn nhân miền Bắc”, văn phòng đặt tại số 43 đường Paul Bert, do bà Từ Cung làm chủ tịch. Tại Nam bộ, chỉ nội tháng 5, hơn 20 hội chẩn tế ra đời, và trong vòng một tháng, các tổ chức trên quyên được 1 triệu 677 ngàn 886 đồng, mua và chuyển chở 1.592 tạ gạo ra Bắc cho nạn nhân vụ đói “ (Dẫn lại của Vũ Ngự Chiêu “The other side……., trang 96).

Riêng chính quyền trung ương, chính phủ cử ông Bộ trưởng Tiếp Tế là Nguyễn Hữu Thí vào Sàigòn, xúc tiến công việc tải gạo ra bắc. (Vũ Ngư Chiêu, sách đã dẫn, trang 94) Dưới đây là bài phỏng vấn ông Ngô Tiến Cảnh, ủy viên của Ban cứu tế trung ương Hà Nội vừa tới Sàigòn.

“…Chúng tôi vừa tới khách sạn Catinat, thì vừa may gặp ông Ngô Tiến Cảnh ở cầu thang bước xuống. Tuy vội vàng, ông cũng vui lòng tiếp chuyện chúng tôi mười phút ngay nơi phòng khách của khách sạn. Muốn khỏi mất thì giờ, chưa ngồi xuống, chúng tôi hỏi ngay:

– Thưa ông, tình trạng cứu trợ tại miền Bắc ra sao? Xin ông làm ơn nói cho rõ?

Ông Ngô Tiến Cảnh trả lời chúng tôi một cách rõ ràng, khúc chiết:

– Ngay từ đầu tháng Chạp năm ngoái (1944), những người nghèo khổ ở bốn tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, đã bắt đầu bỏ làng, vợ chồng con cái bồng bế đi tha phương cầu thực. Trong những bọn đó, đã thấy có đôi ba người đói chết ở dọc đường. Những thảm cảnh ấy diễn ra hàng ngày càng nhiều, nhứt là từ hồi đầu tháng Hai ta. Mỗi làng trong 4 tỉnh vừa kể trên, mỗi ngày có đến năm chục người chết. Nguyên trong thành phố Hà Nội, cả ngày có từ 500 đến 700 người chết. Trung bình, ở Hà Nội, Nam Định, Vinh và Hà Tĩnh, mỗi ngày gần 5000 người chết đói. Có người ngả ra đám cỏ nhặt lấy nhai nuốt……Trong bụng người chết có khi có cả nút chai, da giày, rơm khô vì họ ăn cả những đồ cho ngựa ăn….” (Trích báo “Sàigòn, đặc biệt cứu tế” số ra ngày 20/5/45, đính kèm).

Tại Nam bộ, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh, được bầu làm chủ tịch “Hội chẩn tế miền Nam”, hoạt động tích cực trong giới thương gia, điền chủ, các Hoa kiều buôn bán, cho nên chỉ trong một tháng, thâu được một số tiền rất lớn để mua gạo chở ra Bắc. Tổ chức Thanh Niên Tiền Phong, đã tham gia công tác khó khăn và nguy hiểm để chở gạo ra cứu đói miền Bắc. Hồi ký chính trị Nam Đình viết:

“Hễ mỗi sáng, nhiều đoàn máy bay từ hàng không mẫu hạm đậu ngoài khơi Thái Bình Dương, bay vào VN, đón đoàn xe lửa và xạ kích quân lính Nhựt. Máy bay thật thấp: họ xỉa liên thinh bắn vào từ cửa xe lửa. Nhiều đoàn xe chở đầy gạo bằng xe lửa không thể thực hành được. Còn nói đến xe hơi vận tải, thì chủ xe đòi “giá cắt họng”. Họ viện lẽ “cồn” (alcohol) mắc, và một khi ra đi không chắc trở về nguyên vẹn chiếc xe. Biết đâu xe không bị bắn dọc đường, ở đèo Hải Vân chẳng hạn, xe lật xuống hố?

“……..Thế cho nên mặc dầu xe lửa bị bắn hàng ngày, Thanh Niên Tiền Phong vẫn sẵn sàng hy sinh, tình nguyện hộ tống những “toa chở gạo”. Xe lửa chạy ban đêm. Hễ sáng lại, họ tìm những nơi nào có cây cao bóng mát, kéo những toa gạo vào đó mà giấu máy bay. Chờ trời chiều, gần tới, lại kéo ra tiếp tục lên đường. Những anh em Thanh Niên Tiền Phong không nài cực nhọc, quyết lãnh sứ mạng đưa gạo ra Bắc cứu đói. Ngoài xe lửa, còn có ghe bầu. Ban tổ chức nghĩ rằng chở gạo theo xe lửa, tự nhiên bị máy bay oanh tạc, vì quân lính Nhựt thường núp theo những toa chở gạo. Máy bay Mỹ không cố tính bắn vào gạo làm chi. Họ bắn lính Nhựt mà thôi, mà lính Nhựt núp trong toa chở gạo! Bởi vậy ban tổ chức tính chở gạo bằng ghe, mặc dầu đi đường biển hiểm nghèo hơn. Họ chịu sóng gió mà tránh được nạn máy bay. Máy bay Mỹ không bắn ghe bầu chở gạo. Nhờ vậy Thanh Niên Tiền Phong hộ tống được nhiều ghe gạo ra tới Bắc”. (Hồi ký “Tài liệu lịch sử 1945 – 1954) của Nam Đình, trang 65, 66).

Thiện chí của chính phủ Trần Trọng Kim thật nhiều, gạo ở miền Nam ê hề. Nhiều nhà máy điện ở Sàigòn dùng lúa đốt chạy máy thay thế xăng dầu. Trong khi đó, quá nhiều công việc khó khăn, nguy hiểm như kể trên. Tham vọng của Pháp muốn chiếm lại Đông Dương, thái độ ích kỷ của người Nhựt trong thời kỳ đó, là những yếu tố bất lợi khách quan cho dân tộc VN, nhưng được Việt Minh tận tình khai thác như một cơ hội bằng vàng để phát triển lực lượng, chờ thời cơ cướp chính quyền.

Dân miền Bắc chết đói hàng triệu người, Việt Minh không cứu trợ, lại phá hoại công cuộc cứu tế của chính phủ. Thứ nhứt họ phao tin đồn nhảm rằng các vị cầm đầu những hội cứu tế như bác sĩ Nguyễn Văn Thinh là gian lận tiền bạc. Họ bịa đặt, dựng đứng các câu chuyện xấu xa, gán ghép cho những người làm việc vì thiện chí, khiến các thân hào nhân sĩ miền Nam chán nản. Trong khi ấy, Việt Minh nỗ lực tuyên truyền, hư trương thanh thế (khoác lác về thế lực). Họ lôi kéo được quần chúng nông dân nghèo theo họ bằng miếng ăn. “Hãy phá kho thóc giải quyết nạn đói” là khẩu hiệu của Việt Minh hô hào dân chúng miền Bắc xuống đường. Hàng hàng lớp lớp, hàng ngàn, hàng chục ngàn với dao mác, gậy gộc làm võ khí, kéo vào cướp phá các lẩm lúa của Pháp, của Nhựt, của nhà giàu ở miền Trung du Bắc Việt. Họ hò hét, hô những khẩu hiệu đả đảo…. tất cả trở thành một đội quân ăn cướp, không kỷ luật, sức mạnh nào đàn áp được. Việt Minh cố tạo ra một tình trạng hỗn loạn, vô chính phủ để dễ dàng cướp chính quyền. Việt Minh khai thác lòng căm thù đối với Pháp Nhựt, đối với chính phủ và nhân viên chính phủ thì họ gọi là “bù nhìn”, là “thân Nhựt”, là “tay sai của Nhựt”…….

Nhưng Việt Minh rất quỷ quyệt. Trong khi hô hào quần chúng xuống đường phá các kho thóc, cướp gạo, thực phẩm, thì họ chia cho dân chúng một phần nhỏ, còn bao nhiêu đem giấu, chở lên chiến khu Tân Trào nuôi cán bộ đang thiếu ăn trên rừng. Tới nay ít người biết thủ đoạn của Việt Minh trong hành động nầy.

Chính phủ Trần Trọng Kim thống nhứt đất nước trước “cách mạng tháng Tám.” “Việc thu cả ba Kỳ về quyền trung ương để thống nhất đất nước như khi chưa bị bảo hộ của nước Pháp, là việc rất trọng yếu của chính phủ chúng tôi.” (Trần Trọng Kim “Một cơn gió bụi”, trang 62- 63).

Sau khi tuyên bố độc lập ngày 11/3/45, hoàng đế Bảo Đại nêu vấn đề thống nhất lãnh thổ với đại sứ Yokohama…. ông nầy trả lời rằng: “Xin hoàng thượng hãy nhẫn nại. Tình hình quân sự hiện giờ làm cho nước Nhựt phải đặt Nam kỳ như một vùng chiến lược, và phải nắm quyền cai trị xứ đó. Nhưng khi Nhựt đã thắng trận, sẽ giao trả lại cho VN” (Nguyễn Long, Thành Nam “PGHH trong dòng lịch sử dân tộc”, Đuốc Từ Bi xuất bản, năm 1991, trang 340).

Trước tiên Nhựt chịu trả Bắc bộ, nhưng vẫn giữ lại 3 thành phố nhượng địa của Pháp cũ: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng. Khi lấy lại Bắc bộ, triều đình cử ông Phan Kế Toại làm khâm sai, và tại Trung bộ, ông Nguyễn Đình Ngân, Tham Lý VaÏn Thọ viên, làm “Trung kỳ hành chánh thanh tra” (Dụ số 21 của hoàng đế Bảo Đại ký ngày 17/5/45.) (Xem báo “L’Action”, bản sao đính kèm ).

Ngày 14/6/45, nhân lễ “Hưng Quốc Khánh Niệm”, triều đình Huế tổ chức cuộc chạy tiếp sức của thanh niên từ Huế ra Hà Nội, đem “Việt Nam Thống Nhất đại khánh đạo dụ” ra Hà Nội. Đây là lần đầu tiên của Bắc và Trung bộ kể như thống nhứt, dân chúng tỏ vẻ phấn khởi vui mừng. Tờ báo “Dân Mới” số ra ngày thứ tư 20/6/45 đăng tin như sau:

“Nhọ mặt người, ngày 14/6 năm “Độc lập” thứ nhất, một đoàn thanh niên chạy xe máy, chạy lối Hoa Kỳ, đem một đạo dụ về tới phủ Khâm Sai Thăng Long.

Trước khi Đạo dụ vào tới nội địa thành phố, đã có nhiều thuộc viên ở phủ Khâm Sai gọi điện thoại cho các đồng liêu ở các sở, đã có nhiều bạn trẻ loan truyền ra ngoài, đã có nhiều người biết. Biết rằng thế nào từ giờ tới chiều, “Đạo dụ Việt Nam thống nhất” cũng ra tới đây. Biết thế, bao nhiêu cờ đỏ của nước mới, đều chôn chân trước phủ Khâm Sai đông không kém một cuộc biểu tình……

“….Ấy thế, Đạo dụ tới, quan Khâm Sai họ Phan, khấu đầu làm lễ tiếp dụ. Ấy thế rồi cái đoàn thanh niên chạy “dụ” kia, lui ra về, lòng mừng nổi lên bài hát “Anh em ơi!…….”. Thế là từ phút ấy, cái tin “Việt Nam thống nhất”, đã trở nên một việc nằm nơi đầu lưỡi tất cả công dân nước mới. Một cái kinh thành nầy, đêm ấy tưởng có loạn. Loạn vui.

“Cảm động biết là bao, khi ở nhiều gia đình tằn tiện, bữa cơm tối ấy, người ông định mua có một chút rượu ăn mừng vận nước, thì các người con lại đòi góp tiền vào cho thành hẳn một chai lớn. Tin tức đẹp như thế, phải uống chứ!

“Cảm động biết là bao, khi nhiều gia đình người Bắc, người Nam, người Trung lốc cốc tới báo tin cho nhau, thăm nhau, ôm nhau mừng và tủi rằng “bây giờ chúng ta mới lại trở nên một khối”……(Trích báo “Dân Mới” 20/6/45, xuất bản tại Hà Nội).

Như vậy, rõ ràng đến ngày 11/6/45, lễ “Hưng quốc khánh niệm” tại Huế trở thành lễ Việt Nam thống nhứt (Bắc và Trung).

Ngày 13/7/45, thủ tướng Trần Trọng Kim ra Hà Nội thương thảo lấy lại 3 thành phố nhượng địa. Toàn quyền Nhựt đồng ý trao Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng cho triều đình VN ngày 20/7/45. Bảy ngày sau, thủ tướng Kim bổ nhiệm:

– Trần Văn Lai: Đốc lý Hà Nội (thị trưởng)

– Vũ Trọng Khánh: Đốc lý Hải Phòng.

– Nguyễn Khoa Phong: Đốc lý Đà Nẵng. (Chính Đạo “VN Niên biểu, trang 222,tập IA).

Tại Hà Nội, tân thống sứ Nhựt Nishimura có triệu tập tất cả quan lại VN vào ngày 20/3/45, đề cao chính nghĩa quân đội Thiên Hoàng, giải phóng các dân tộc Đông Dương. Các quan lại VN tới dự phiên họp nầy gồm:

– Thân Trọng Hậu: Tuần phủ Bắc Giang

– Thân Trọng Yêm: Tuần phủ Bắc Ninh

– Hồ Đắc Điềm: Tổng đốc Hà Đông

– Dương Thiệu Tường: Tổng đốc Hải Dương

– Trần Lưu Vy: Tuần phủ Hưng Yên

– Từ Bộ Thức: Tuần phủ Nam Định

– Đào Trọng Hương: Bố chính thay Tuần phủ Ninh Bình

– Đàm Duy Huyến: Tuần phủ Hà Nam

– Nguyễn Bạch: Tuần phủ Phú Thọ

– Nguyễn Huy Xướng: Tuần phủ Sơn Tây

– Phan Kế Toại: Tổng đốc Thái Bình

– Nguyễn Trọng Tấn: Tuần phủ Vĩnh Yên

– Trần Lưu Mậu: Tuần phủ Kiến An

– Cung Đình Vận: Tuần phủ Thái Nguyên

– Bùi Văn Thiếp: Tuần phủ Phúc Yên

– Đặng Vũ Niết: Bố chánh

– Đỗ Quang Tiệp: Bố chánh.

Từ đó về sau, mọi việc nội trị đều thuộc quyền Khâm sai, (27/4/45).

Tân thị trưởng Hà Nội Trần Văn Lai, được bổ nhiệm hơi muộn, nhưng đã tích cực triệt hạ ảnh hưởng văn hóa Pháp như: đổi tên “Vườn hoa cóc phun” thành công viên Ba Đình, triệt hạ tượng “Đầm xòe” tức Liberté ở cửa Nam……

Ngày 3/8/45, thủ tướng Kim từ Hà Nội về Huế báo tin lên hoàng đế Bảo Đại “Nhựt đồng ý trao trả Nam bộ cho triều đình”. Mãi đến ngày 14/8/45, cố vấn Yokahama mới tuyên bố trao trả Nam bộ cho VN để thống nhứt. “Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ hòa ước 1862 (Hòa ước Nhâm Tuất 1862 nhường Nam Kỳ cho Pháp), và 1884. Bổ nhậm Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam bộ (Dụ số 108 ngày 14/8/45).

Để thấy rõ chính phủ Trần Trọng Kim hoạt động tích cực cho việc thống nhứt đất nước, xin độc giả đọc một đoạn hồi ký của tác giả Nam Đình, người có mặt tại Huế lúc ấy: “Chính phủ Trần Trọng Kim mấy lượt đến văn phòng viên đại sứ Yokohama, yêu cầu giao Nam Kỳ lại cho VN (thời gian từ 8/8 đến 14/8/45), đặng thống nhứt lãnh thổ, họ vẫn làm ngơ.

“Trong khi đó, chính phủ Trần Trọng Kim đã dự bị rất chu đáo: Nguyễn Văn Sâm đã túc trực tại Huế gần 3 tuần rồi. Những chỉ thị và Dụ đặt Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam bộ, cũng đã làm xong, giờ chỉ còn chờ……giờ lên đường về Nam.”

Thủ tướng Trần Trọng Kim chờ đợi từng giờ…..

Tình hình chính trị càng lúc càng rối ren thêm……

“Công cuộc thống trị của Nhựt rất quỷ quyệt và ích kỷ sau khi lật đổ chính quyền Pháp ở đây, họ áp dụng triệt để chương trình của Pháp, dẫu rằng sắp đầu hàng không điều kiện. Phải ở Huế trong lúc đó, mới thấy lòng tham lam và ích kỷ của Nhựt. Tình cờ tôi (Nam Đình, tác giả hồi ký) lại được ở gần Nguyễn Văn Sâm lúc nầy, nên mỗi ngày tôi nghe rõ tin tức lắm. Sáng, trưa, chiều, tối…….Thủ tướng Trần Trọng Kim đến gõ cửa có vấn Yokohama liền liền. Rồi ngày này sang ngày nọ. Mỗi lần đi về thủ tướng Trần Trọng Kim không quên cho Nguyễn Văn Sâm hay.

“Mười giờ sáng (14/8/45), Yokohama trả lời: “Thủ tướng Trần Trọng Kim lập tức về cho Nguyễn Văn Sâm hay. Tức thì hành lý cất lên chiếc xe Ford P.I……..Hai giờ chiều Khâm sai Nam bộ lên đường, đem chiếu nhà vua về Nam……” (Trích “Tài liệu lịch sử 1945/1954”, Hồi ký Nam Đình, trang 185, chúng tôi hiện có trước mặt tham khảo.)

Khi đã đồng ý đầu hàng rồi, chính quyền Nhựt ở Đông Dương, ngỏ ý muốn giúp hoàng đế Bảo Đại để giữ trật tự, sợ Việt Minh nhân cơ hội hỗn loạn như vô chính phủ, sẽ nổi lên cướp chính quyền. Sự kiện này, chính nhà báo Nam Đình đã chứng kiến khi ở tại Huế với luật sư Trịnh Đình Thảo, bộ trưởng tư pháp, kể lại:

“Một giờ trưa ngày 12/8/45, một đại tướng Nhựt ngồi xe hơi vào thành, đến Bộ tư pháp ở Huế, xin nói chuyện với ông Trịnh Đình Thảo, bộ trưởng Tư pháp, “một chuyện khẩn cấp”. Tình cờ, buổi trưa hôm đó, tôi (Nam Đình) đang dùng bữa (ăn cơm) với ông Trịnh Đình Thảo.

Cơm nước xong, Trịnh Đình Thảo tiếp viên đại tướng Nhựt. Câu chuyện tóm tắt như vầy: “Tôi thay mặt cho Bộ tham mưu Nhựt, từ Sàigòn vào đây, để nhờ Bộ trưởng đưa tôi vào yết kiến hoàng đế, đặng hỏi ý kiến ngài: “Có muốn cho quân đội Nhựt giữ gìn trật tự trên toàn cõi lãnh thổ VN không? Nếu hoàng đế muốn dẹp hết những đảng chính trị, lăm le đoạt chính quyền, thời quân đội Nhựt sẵn sàng.

– Sao đại tướng biết?

– Bộ tham mưu chúng tôi đã được phúc trình khắp nơi gởi về nói rằng “Việt Minh đã huy động lực lượng trong bóng tối, chờ ngày cướp chính quyền.

Lẽ ra thì trả lời dứt khoát cho đại tướng Nhựt, để ông ta trở về Sàigòn, nhưng Trịnh Đình Thảo không muốn chịu trách nhiệm một việc định đoạt quan trọng như vậy, nên nói:

– Để tôi hỏi thủ tướng.

Viên đại tướng nài nỉ gặp hoàng đế Bảo Đại nội trưa nay. Thế rồi Trịnh Đình Thảo kêu dây nói (điện thoại) vào lầu Kiến Trung, bày tỏ sự tình. Vua Bảo Đại chịu tiếp, nhưng yêu cầu Trịnh Đình Thảo cùng đi với viên đại tướng. Mười phút sau, tới lầu Kiến Trung…….Viên đại tướng Nhựt lễ phép cởi mở gươm dài để phòng ngoài, và cho biết rằng: “trong mình không có võ khí nào nữa”, rồi mới chịu vào trong phòng khách.

Viên đại tướng đặt lại câu hỏi khi nãy.

Vua Bảo Đại trả lời:

– Muốn giữ trật tự, tự nhiên phải đổ máu. Trẫm không muốn thấy màu người Việt chảy thêm nữa.

Câu chuyện càng lúc càng quan trọng thêm. Một giờ sau, viên đại tướng mới chịu ra về.

Tìm hiểu lý do, về câu chuyện nầy, thì dường như họ tuân lịnh từ bên Đông Kinh, muốn vua Bảo Đại đứng ra yêu cầu quân đội Nhựt giữ gìn trật tự. Như vậy họ mới có quyền can thiệp vào nội bộ VN, một khi họ đã đầu hàng Đồng minh rồi.

Trong khi đó, Nhựt hoàng cũng như chính phủ, đang bối rối về vấn đề đầu hàng. Làm sao giải thích cho dân chúng thỏa mãn? Trong khi đó, tinh thần dân rất cao “Thà chết chớ không chịu đầu hàng”. Đúng lúc ấy, tư lịnh quân đội Nhựt ở Đông Dương hỏi ý kiến Đông Kinh: “Phải có thái độ nào đối với chánh phủ Việt Nam khi họ đòi thống nhứt Nam kỳ?”

Ngày 14/8 chánh phủ Nhựt được Mỹ chấp thuận đầu hàng, để Nhựt hoàng ra ngoài hàng ngũ tội phạm chiến tranh. Tức thì họ ra lịnh cho đặc sứ Yokoyama trả Nam kỳ đặng thống nhứt lãnh thổ VN……

Đã đến lúc không còn giữ lại được, Nhựt mới chịu buông Đông Dương, phó mặc tình hình biến chuyển sau nầy. Như vậy, Nhựt không thành thật trả độc lập cho VN” Lịch sử cận đại, có 3 biến cố quan trọng, đó chính là cơ hội để Việt Minh thành công trong tiến trình “phát triển lực lượng lớn mạnh, cướp chính quyền, rồi tiến hành cách mạng vô sản, núp dưới chiêu bài kháng chiến chống Pháp.”

Ba cơ hội đó là:

– Nhựt đảo chánh Pháp đêm 9/3/45.
– Nhựt đầu hàng Đồng minh 15/8/45.
– Pháp tái xâm lăng, và Việt Minh nhân cơ hội ấy, mượn chính nghĩa “kháng chiến” để tiến hành “cách mạng vô sản ở VN”.

Khi Nhựt đảo chánh Pháp, Việt Minh chực chờ từ trong bóng tối để hành động. Họ đang ở thế “ngao cò tranh nhau, ông câu đắc lợi”. Lúc ấy, trung ương đảng CS họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh) 3 ngày sau khi Nhựt đảo chánh, tung khẩu hiệu “kháng Nhựt”. Họ hô hào nhân dân chống lại chánh quyền bù nhìn do phát xít Nhựt dựng nên, phát động vũ trang đoạt chánh quyền.” (Tưởng Vĩnh Kính, sách đã dẫn, trang 323). Sự thật, khi hô hào “kháng Nhựt”, thì mục tiêu thật sự của Việt Minh nhắm tới không phải là phát xít Nhựt mà chính là lực lượng Pháp Việt. Nói rõ hơn, Việt Minh nhắm vào tàn quân Pháp để cướp khí giới, và các tổ chức thân Nhựt của Việt Nam. Điều đó thật trớ trêu. Ông Hồ muốn lợi dụng hoàn cảnh lịch sử nầy mà không muốn cá nhân, hoặc đảng phái quốc gia nào lợi dụng hoàn cảnh như ông ta. Để thi hành chánh sách hai mặt, Hồ Chí Minh liền điều đình với Thiếu tá Reul, tư lịnh quân Pháp tại Cao Bằng để “hợp tác”. Hành động nầy diễn ra tại Sóc Giang ngày 25/3/45. Lúc đó ông Hồ cho lực lượng mình bí mật tấn công đám tàn quân Pháp để cướp khí giới. Ngoài ra ông còn kêu gọi binh lính VN trong quân đội Pháp rã ngũ, theo VM. Âm mưu của VM không phải chống Nhựt mà lợi dụng hoàn cảnh để ngụy trang, tạo thêm sức mạnh cho họ, mặc dầu đã ký hiệp ước “hợp tác chống Nhựt” với Pháp. VM còn cho đánh tàn quân pháp tại Na Dương, tại Đồng Cách….hai bên đều thiệt hại nặng, và rút lui qua Trung Hoa. Theo Võ Nguyên Giáp, từ trước đó, lực lượng Việt Minh không quá 1000 người, sau đêm 9/3/45, lực lượng Việt Minh tăng lên 5000 người, (sách đã dẫn). Hồ Chí Minh học sách của Trung Cộng “lợi dụng chiến tranh xâm lược Nhựt vào lục địa Trung Hoa, để phát triển lực lượng riêng mình, đặng chống lại quân đội và chính quyền Quốc Dân Đảng. Hô hào , “chống Nhựt” nhưng Hồ Chí Minh lại đi đêm với Nhựt (sai Hoàng Minh Giám thương lượng), hoặc hành động song hành với Nhựt, để tỉa đám tàn quân Pháp đặng cướp khí giới. Đồng thời, Việt Minh cũng tìm cách ám sát, thủ tiêu những phần tử thân Nhựt, chớ không có hành động chống Nhựt cụ thể nào.

Lợi dụng hoàn cảnh dân quê Bắc Việt chết đói hàng loạt, Hồ Chí Minh khích động căm thù, lôi kéo họ đứng về phía VM. Hàng hàng lớp lớp dân quê đều theo VM xuống đường: một trăm, rồi một ngàn, rồi hàng vạn người, đều tràn xuống đường, võ trang gậy gộc, dao mác, tầm vông…….để thị oai. Mọi người tự phát hăng hái tham gia các cuộc tuần hành biểu dương sức mạnh ấy đến mức không có gì kềm chế nỗi. “Tức nước vỡ bờ”, Việt Minh biết cách lợi dụng tâm lý ấy, để tạo thành sức mạnh riêng của họ: sức mạnh của phá hoại. Họ hô các khẩu hiệu đã được mớm trước:

– Mở kho lương thực để giải quyết nạn đói.
– Phá kho thóc của địch!

Trong lúc đó, nhiều cán bộ bịa đặt những tin tức tham nhũng, để bôi lọ chính phủ Trần Trọng Kim trong việc cứu tế, phát chẩn. Cùng một nguyên nhân, những người quốc gia và CS có phản ứng khác nhau.

Trong khi đó, vào tháng 4/45, tại Tỉnh Tây, Trung Quốc, ông Hồ tìm cách tiếp xúc với đại diện của Đồng minh, để xin viện trợ. Trong hồi ký của thiếu tá Patti có kể lại ông Hồ gặp ông ta, rồi mô tả tình cảnh dân quê miền Bắc cơ cực, chết đối hàng loạt để moi tiền viện trợ của Mỹ như sau:

“Ông Hồ mô tả bằng một giọng đầy xúc động. Giọng ông buồn rầu và mệt mỏi nói rằng đời sống khó khăn mà người dân quê Bắc Việt phải chịu đựng trong mùa động trước đó. Vụ lúa tháng 10, bị bão tàng phá, đê vỡ, nước lụt tràn ngập. Những thiếu hụt lương thực, thuốc men, áo quần và phương tiện vận tải mùa đông……Những thiếu hụt về lương thực, kèm theo nạn đầu cơ tích trữ, làm cho tình hình trở nên hết sức gay go vào tháng giêng. Sức khỏe người Bắc kỳ và Trung kỳ xấu đi nhanh chóng. Nhiều người ốm đau, hay quá yếu không thể làm việc được. Gia súc không được chăm sóc và thiếu ăn, chết rất nhiều. Hệ thống đê điều phức tạp, không được sửa sang vì ngân sách bị cạn. Những tuyến đường sá lớn cuối cùng cũng bị ngập lụt…….” (Khánh Toàn tuyển dịch, Toàn Cảnh, 71).

Chiếm được chính quyền rồi, Hồ Chí Minh có cứu trợ nạn đói không? Ông có cho sửa đê, cầu cống hay phá nát tất cả, gọi là “tiêu thổ kháng chiến”? Ông nói thì khác, mà khi làm lại khác. Đó là chánh sách trước sau như một của Việt Minh cộng sản.

Trong thời gian Nhựt thay Pháp cai trị, Hồ Chí Minh lo xây dựng căn cứ địa, vùng giải phóng. Ông Tưởng Vĩnh Kính, sách “Hồ Chí Minh tại Trung Quốc”, trang 323 viết: “…..Dưới sự bảo hộ của Nhựt Bản, Việt Nam chỉ càng thêm bi thảm và tuyệt vọng và đây chính là “chiếc nôi êm ấm” để cho VM phát triển thế lực.” Ở một đoạn khác, Tưởng Vĩnh Kính viết: “Việt Minh không những lợi dụng tình trạng đói khổ của dân chúng VN để phát triển thế lực, mà đồng thời còn lợi dụng biến cố quân Nhựt gây ra, làm cơ hội khuếch sung vũ lực và xây dựng chính quyền địa phương.” (Sách đã dẫn, trang 323).

Thời gian nầy, Việt Minh tổ chức vững vàng các căn cứ địa, rồi đổi làm “khu giải phóng”. Lương thực lấy ở đâu để nuôi quân trong rừng?” Đó là số lương thực mà cán bộ Việt Minh xúi giục quần chúng xuống đường “phá kho thóc giải quyết nạn đói”, chỉ cho dân một phần, còn bao nhiêu chở đem lên “khu giải phóng”, chiến khu nuôi cán bộ đang đói. (”The August Revolution….” Vu Ngu Chiêu, page 11).

Từ tháng 6/45, khu giải phóng chiếm một khu rộng lớn khắp các tỉnh miền thượng du Bắc Việt, như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên. Tại mỗi “khu giải phóng”, Việt Minh tổ chức chính quyền theo kiểu cộng sản: lập “Ủy ban nhân dân”. Về quân sự, có “giải phóng quân”. Nơi nào chưa có chính quyền nhân dân, Việt Minh dùng khủng bố để cai trị. Họ ám sát, thủ tiêu các phần tử không hợp tác, hoặc lưng chừng, hoặc chống đối. “Các phần tử của đảng phái khác hoặc không thuộc đồng đảng (CS), hoạt động trong phạm vi thế lực của mình, đều bị Việt Minh giết hại thê thảm. “Những người bị thảm sát đều bị Việt Minh gán tội “Việt gian”, “Làm gián điệp cho địch, hoặc “thân Nhựt”…..Cách thức đó cũng lại hoàn toàn giống Trung Cộng trong “khu giải phóng của họ”. (Tưởng Vĩnh Kính, sách đã dẫn, trang 329).

Cơ hội thứ hai là khi Nhựt đầu hàng, tình trạng rối loạn gần như vô chính phủ. Việt Minh chực chờ từ trong bóng tối, nhảy ra cướp chính quyền.

Khi Pháp trở lại xâm lăng, Việt Minh sát hại các đối thủ, độc quyền kháng chiến, mượn thế chính nghĩa, để rồi âm thầm tiến hành cuộc cách mạng vô sản. Chiến thắng rồi, độc lập không thấy, chỉ thấy tiếp nối chiến tranh. Con đường kháng chiến quẹo sang ngõ rẻ khác tức đưa cuộc “cách mạng vô sản đến thành công.”

Hứa Hoành

This entry was posted in * Hứa Hoành, 5.Tài-liệu - Biên-khảo. Bookmark the permalink.