QUÊ HƯƠNG 39 NĂM NHÌN LẠI (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

TƯỞNG NIỆM NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975
QUÊ HƯƠNG 39 NĂM NHÌN LẠI

I. HÒA GIẢI – HÒA HỢP DÂN TỘC:

[1] Lời kêu gọi “HÒA GIẢI – HÒA HỢP DÂN TỘC” trên mạngnguyentandung.org vào ngày 21/3/2014 có đăng một bài viết: “Một điều đã kiềm hãm sự phát triển của đất nước Việt Nam.” của Thủ tướng “Y tá” Nguyễn Tấn Dũng: “…Nhưng, đó đã là quá khứ chúng ta đang sống trong thời bình, chẳng lẽ các quý vị đó muốn khoét sâu thêm vào NỔI ĐAU DÂN TỘC sao? Chẳng lẽ muốn con cháu đời sau của mình mãi nuôi THÙ HẬN sao?”

Sau đó, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn là người phụ trách công việc vận động người Việt hải ngoại đã trả lời phỏng vấn trên tờ Thanh niên, với chủ đề ấn tượng “HÒA HỢP TẠO RA SỨC MẠNH CHO DÂN TỘC.” Ông Nguyễn Thanh Sơn không phải là người đầu tiên đề cập tới vấn đề rất nhạy cảm:”HÒA GIẢI – HÒA HỢP DÂN TỘC.”

Tôi hoàn toàn không đồng ý với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn về cái gọi là “HÒA GIẢI – HÒA HỢP DÂN TỘC” & “XÓA BỎ THÙ HẬN”. Lời kêu gọi của quý vị vô cùng “phi lý & lố bịch”, vì tất cả người Việt Nam ở hải ngoại và ở trong nước, dù sinh trưởng ở ba miền khác nhau: BẮC-TRUNG-NAM đều có chung một tổ quốc tên “VIỆT NAM”, cùng một huyết thống “CON RỒNG CHÁU TIÊN”, cùng chia sẻ cái nôi “VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC” đã trải qua 4 ngàn năm văn hiến thì làm gì có vấn đề hận thù chủng tộc cần phải hòa giải – hòa hợp và xóa bỏ hận thù?

Người Việt Nam ở trong nước không thể nào là đối tượng căm thù của Người Việt Nam Tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại. Nói trắng ra là ông Nguyễn Tấn Dũng & Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn muốn kêu gọi đồng bào hải ngoại “Hòa giải – Hòa hợp” và “Xóa bỏ hận thù” đối ĐCSVN độc tài toàn trị, một bọn đầu gấu, sâu dân, mọt nước. Cộng đồng Người Việt Tỵ nạn cộng sản hải ngoại khẳng định KHÔNG CHỐNG TỔ QUỐC & DÂN TỘC VN, chỉ chống Đảng và Nhà nước CSVN buôn dân, bán nước. Bởi vì, nhân dân trong nước là nạn nhân đau khổ đang sống dưới hai tầng áp bức: Bạo quyền cộng sản và tập đoàn tư bản nước ngoài Đại Hàn, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông và Trung Cộng…bốc lột họ đến tận xương tủy. Người chủ nhân của một nước Độc lập – Tư do bị Đảng và Nhà nước CSVN cấu kết tập đoàn tư bản nước ngoài chà đạp nhân phẩm, đánh dập dã man như súc vật, được trả với đồng lương chết đói ngay trên quê hương của chính mình.

Ngày 07/2/2007, một luật sư tên Đặng Dũng từ Sai Gòn gởi cho đài BBC đề nghị Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, một đề nghị nặng tính chất “tấu hài”: cho soạn luật “ÂN XÁ”. Xin trích một đoạn: “Nhà nước chúng ta hiện nay, thường được chỉ đạo cho báo chí nói về những nhà kỹ trị như Lý Quang Diệu, Hồ Cẩm Đào, Chu Dung Cơ, Mahathir hay Bill Gates và tập trung toàn vào chuyện làm sao để nước giàu, kinh tế phát triển. Nhưng, đọc mòn con mắt cũng không thấy báo chí Việt Nam nói về đất nước Nam Phi và NELSON MANDELA với “LUẬT HÒA GIẢI & HÒA HỢP DÂN TỘC” của họ vào năm 1998..” Luật sư Dũng viết tiếp: “Đất nước nầy cần phải có một Đạo luật về “Hòa Giải – Hòa Hợp Dân Tộc”, “Ân xá – Đại Xá” & tha thứ cấp quốc gia…” (ngưng trích)

Đây quả là một đề nghị vừa khôi hài, vừa lố bịch của một luật sư có trình độ như Đặng Dũng. Nên nhớ rằng: Cộng đồng Người VN Tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại, không phải “TỘI PHẠM HÌNH SỰ” để được Đảng & Nhà nước CSVN đại xá hoặc tha thứ. Đạo luật về “Hòa Giải – Hòa Hợp Dân Tộc” và “Xóa bỏ hận thù” do Nelson Mandela đề xướng, dành để tha thứ tội ác của nhà cầm quyền do cựu Tổng thống DE CLERK lãnh đạo, gây ra trước đây: “Cái quyền “ĐẠI XÁ & THA THỨ” thuộc về nạn nhân, chớ không phải kẻ ra tội ác đối với dân tộc.”.

[2] TINH THẦN ĐOÀN KẾT CHỦNG TỘC & XÓA BỎ HẬN THÙ CỦA ÔNG NELSON MANDALA:

Năm 1910, Cộng Hòa Nam Phi (Republic of South Africa) do thiểu số dân da trắng cai trị đất nước nầy bằng chánh sách độc tài và kỳ thị chủng tộc: “Chủ nghĩa Apartheid”. Và trong bối cảnh lịch sử đầy đen tối đó của dân tộc Nam Phi, đã làm nổi bật một gương mặt đấu tranh bất khuất của một tù nhân chánh trị: NELSON MANDELA, người kiên trì chống lại chế độ kỳ thị chủng tộc (Anti – Apartheid Organization) trong suốt 28 năm ròng rã, cô đơn trong ngục tù.

Từ năm 1962, ông bị biệt giam vì tội kích động lật đổ chế độ phân biệt chủng tộc của Đảng Quốc Gia (Nation Party) là Đảng cầm quyền do người da trắng lãnh đạo. Ông được trả tự do vào ngày 11/2/1990 sau 28 năm tù đày dài dằng dặc. Ông trở thành lãnh tụ của Đảng Anti – Apartheid Organization. Tháng 10 năm 1963, giải Nobel Hòa Bình được trao tặng cho Nelson Mandela, Chủ tịch Đảng Quốc Đại Phi Châu (African National Congress) và F.W. de Klerk, Tổng thống Nam Phi về những hoạt động giải thể chủ nghĩa Apartheid tại Nam Phi.

Hôm đó là ngày thứ ba 10 tháng 5 năm 1994: Ngày ông Nelson Mandela nhận chức vụ TỔNG THỐNG NAM PHI và trở thành nhà Lãnh đạo Da Đen đầu tiên của Nam Phi sau 300 năm bị cai trị bởi thiểu số da trắng. Tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất với một niềm tin mãnh liệt vào lẽ phải và sự thật trong suốt 28 năm tù đày đã khiến nhà cầm quyền kỳ thị chủng tộc phải nhường bước giành chánh quyền về cho dân tộc Nam Phi mà không tốn một giọt máu. Ông Nelson Mandela đâu cần đến cái gọi là “CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC” hoặc “ĐẤU TRANH GIAI CẤP” đổ máu dân tộc vô ích giống như tên lãnh tụ thất học và ngu ngốc như Hồ Chí Minh đâu.

Ông Nelson Mandela còn vĩ đại hơn nữa là NHÂN DANH SỰ ĐAU KHỔ của chính bản thân mình trong vũng lầy sôi sục hận thù chủng tộc, ông chẳng những tha thứ mà còn bắt tay với kẻ thù thiểu số da trắng để xây dựng đất nước. Ông kêu gọi “ĐOÀN KẾT DÂN TỘC & XÓA BỎ HẬN THÙ” với 3/4 người da đen bản xứ, cùng với 1/4 người da trắng (gốc di dân đến từ châu Âu vào cuối Thế kỷ thứ 18) cùng nhau bắt tay xây dựng và phát triển Cộng Hòa Nam Phi trở thành một trong những quốc gia giàu có và văn minh tiến bộ nhất Châu Phi. Ông Nelson Mandela đâu cần tập trung KẺ THÙ DA TRẮNG vào các trại tập tung cải tạo, đày ải để trả thù, giống như bọn lãnh đạo ĐCSVN đã từng làm đối với Quân Cán chính Miền Nam Việt Nam đâu.

Khắp nơi trên thế giới, nhiều người kính nể và ngưỡng mộ ông kể cả kẻ thù, gọi ông Nelson Mandala là hiện thân của Thánh GANDHI, người tù nhân chính trị mang mã số 466/64 đã đi vào lịch sử danh nhân thế giới của Thế kỷ XX.

[3] TẠI SAO ĐCSVN KÊU GỌI “HÒA GIẢI – HÒA HỢP DÂN TỘC”:

Lúc cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt còn sống, có trả lời phóng viên Xuân Hồng của đài BBC tại Sài Gòn ngày 17/4/2007 về vấn đề “Hòa giải – Hòa hợp Dân tộc” như sau: “Việt Nam nay đã bắt tay với tất cả kẻ thù trong quá khứ và không có lý do gì người Việt không thể cùng ngồi lại. Hơn 30 năm rồi, năm nay là 32 năm, không có lý do gì giữa chúng ta với nhau không hòa giải được. Kẻ thù của Việt Nam là Pháp trước đây, kẻ thù của VN là Mỹ sau nầy, kẻ thù VN là Trung Quốc đánh biên giới phía Bắc, chúng ta cũng khép lại quá khứ được, thì tại sao chúng ta lại không khép lại quá khứ ấy mà lại đố kỵ lẫn nhau.” Ông Võ Văn Kiệt nói rằng đã bắt tay với tất cả kẻ thù trong quá khứ, thật ra chỉ là ngoa ngôn. Nói trắng ra là lạy Mỹ, lạy Pháp để xin cứu nước, chống sức ép về quân sự, kinh tế và chính trị của đàn anh côn đồ, bá đạo Trung Cộng.

Nguyên nhân nào bỗng dưng ĐCSVN phải nhờ đến Võ Văn Kiệt và Luật sư Đặng Dũng kêu gọi Cộng đồng Việt Nam hải ngoại “Hòa giải – Hòa hợp Dân tộc” một cách trâng tráo và lố bịch như vậy? Sau đây là những nguyên nhân chính có thể đưa đến nguy cơ làm ĐCSVN tan rã như Đế quốc Xô Viết và khối cộng sản Đông Âu vào cuối thập niên của Thế kỷ XX:

• Sự thất bại trong phát triển kinh tế

• Sự điều chỉnh chủ nghĩa Marx.

• Hứa hẹn hão huyền.

• Áp lực tiến trình hiện đại hóa.

• Sự khủng khoảng chính danh.

• Vai trò các lực lượng đối kháng.

Chính danh là gì? Đó là một chủ thuyết của Đức Khổng Tử, một nền triết học chính trị (political philosophy) trong “Kinh Xuân Thu”. Ông cho rằng, việc chánh trị trở nên tốt hay xấu là do người lãnh đạo phải mang lại hạnh phúc cho người dân. Muốn thế, bậc quân vương phải nêu gương tốt về tiêu chuẩn đạo đức căn bản: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín để làm gương tốt cho dân chúng noi theo.

Tình trạng khủng khoảng chính danh là yếu tố quan trọng nhất làm các lực lượng trí thức chân chính, sinh viên học sinh, cựu chiến binh QĐND, lực lượng công, nông dân…ngày càng lớn mạnh, có nguy cơ làm tan rã Đảng và Nhà nước CSVN. Cứ nhìn tấm hình tên công an Nguyễn Minh Tâm lấy bàn tay bịt miệng linh mục Nguyễn Văn Lý trong phiên tòa ngày 30/3/2007. Đứng phía sau cha Lý là một bọn đao phủ khoác áo thường dân, đã nói lên đầy đủ ý nghĩa: “Khủng bố là cái bản chất thật sự của Chánh quyền cộng sản VN độc tài toàn trị nầy”. Nói theo ngôn từ của Hannah Arendt: “Sự khủng bố toàn diện được bảo đảm bởi sự hổ trợ của đám đông.” (The totality of terror is guaranteed by mass support), cái đám đông đó là: 3 triệu đảng viên cộng sản và lực lượng CAND, lũ thú vật đội lốt con người đang ra sức đàn áp dữ dội nhân dân VN để bảo bệ chế độ buôn dân, bán nước với khẩu hiệu: “CÒN ĐẢNG CÒN MÌNH”.

[4] HÃY HÒA GIẢI – HÒA HỢP VỚI NGƯỜI DÂN TRONG NƯỚC TRƯỚC, RỒI TÍNH CHUYỆN HÒA GIẢI – HÒA HỢP VỚI NGƯỜI VIỆT NAM HẢI NGOẠI:

Vì kẻ thù nguy hiểm nhất của ĐCSVN là nhân dân VN là 85 triệu đồng bào trong nước, chớ không phải riêng Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại. Muốn đạt được mục đích nầy, Thủ tướng “Y tá” Nguyễn Tấn Dũng phải biết làm việc gì ưu tiên rồi:

(1) Cụ thể hóa trong việc sửa sang chính sách là loại bỏ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP năm 1992 phản dân chủ, trước khi nói đến hòa giải – hòa hợp dân tộc. Nói đến “Điều 4 Hiến Pháp” thì cả nhân dân trong nước và Cộng Đồng VN tại Hải ngoại đã nhận ra ngay bộ mặt thật “ĐỘC TÀI HIẾN ĐỊNH” của chế độ. Tất cả cơ chế chính trị nào rồi cũng đến lúc lỗi thời và bị đào thải theo quy luật của lịch sử. Nếu Đảng & Nhà cầm quyền CSVN đi ngược lại nguyên tắc nầy, chỉ biết dùng quyền lực từ nòng súng, roi điện, cùm số 8 và luật lệ rừng rú dùng bạo lực để đàn áp các phong trào đối lập, nó chỉ làm lực lượng đối kháng thêm sức mạnh mà vũ khí của họ là dựa vào sức mạnh tinh thần và ý chí đấu tranh bền bỉ với niềm tin sắt đá: Chính nghĩa tất thắng!

(2) Hòa giải – Hòa hợp với những ai? Đó là những vị Lãnh Đạo Tôn giáo tại Việt Nam như Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Thiến Chúa Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành… và thả ngay tức khắc vô điều kiện những tù nhân lương tâm đã miệt mài đấu tranh kiên cường và bất khuất cho “Tự do – Dân chủ” chống lại bạo quyền cộng sản. Họ đòi quyền sống cho dân tộc VN, những quyền tự do căn bản của con người: “Tự do tín ngưỡng”, “Tự do ngôn luận”, “Tự do hội hợp”, “Tự do biểu tình”…mà trên nguyên tắc là phải HỦY BỎ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP phản dân chủ. Trả tự do cho một mình TS Cù Huy Hà Vũ chưa đủ, còn biết bao nhiêu người khác bất đồng chánh kiến nữa như: Linh mục Nguyễn Văn Lý, Điếu Cày, Tạ Phong Trần, Việt Kang, Đinh Nguyên Kha, Bùi thị Minh Hằng, Đỗ thị Minh Hạnh, Hồ thị Bích Khương…

(3) Tại sao cần phải Hòa Giải – Hòa Hợp với các phần tử trí thức ở trong nước trước? Vì trên đại thể lịch sử thế giới, phần tử trí thức bao giờ cũng là đại biểu của quảng đại quần chúng với nhiệm vụ đề kháng sự áp bức của giai cấp thống trị để bảo vệ quyền sống của giai cấp bị trị. Những biến cố chính trị xảy ra, quá nửa là do phần tư trí thức gánh vác. Vì vậy, quan hệ giữa phần tử trí thức và chánh quyền trong “chính trị sử” luôn luôn diển tiến trên 2 mặt: Chính quyền hợp tác với giai cấp trí thức tất quốc gia hưng thịnh và ổn định. Nếu chính quyền bức bách, gây mâu thuẩn với giai cấp trí thức tất quốc gia sẽ suy vong; vì vậy, chánh quyền nào muốn đất nước hưng thịnh phải biết lắng nghe tiếng nói và nguyện vọng của họ và quần chúng.

(4) Theo quy luật của lịch sử, nói theo ngôn từ nhà sử học Toynbee: “Withdraw and return”. Lịch sử như thủy triều rút xuống rồi dâng lên. Rút xuống do thoái hóa của chính quyền độc tài hủ bại. Dâng lên do lực lượng mới trỗi dậy do kết quả phấn đấu liên tục của phần tử trí thức bất chấp tra tấn và tù đày, đó là thảm kịch của “TỰ DO”. Trong sứ mạng cao cả đó, phần tử trí thức luôn bị giai cấp thống trị thù ghét, đày ải, đồ sát. Thời nào cũng thế, sứ mạng của phần tử trí thức là đi tìm chân lý và phê phán (l’ intellectuele a mission de chercher la vérité et dejuger) với thái độ kiên trì chiến đấu cho chân lý và lẽ phải.

II. XÓA BỎ HẬN THÙ:

Thành thật mà nói, thắm thoát đã 39 năm đã trôi qua, kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hận thù nào cũng phôi pha theo dòng thời gian. Nhưng, Cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, thế hệ di dân thứ nhất tỵ nạn cộng sản tại Hoa Kỳ, Úc, Canada, Pháp…đa số là quân, cán chính của chế độ VNCH trước đây. Chúng tôi sẵn sàng tha thứ, nhưng không bao giờ quên đi tội ác của ĐCSVN đối với dân tộc VN; nếu như, những tên lãnh đạo Đảng & Nhà nước CSVN biết đặt quyền lợi tối thượng của Tổ Quốc & Dân Tộc lên trên quyền lợi của ĐCSVN.

Chúng tôi tha thứ nhưng không thể nào quên được cái ngày 30/4/1975 đẫm máu và nước mắt đó! Cái ngày “BỘ ĐỘI RỢ HỒ” dày xéo tan nát quê hương MNVN. Tôi phải dùng danh từ “Bộ đội Rợ Hồ” mới diễn tả đúng nghĩa cái bản chất man di mọi rợ của nó, chẳng khác gì “Rợ Hung Nô” thời Trung Cổ, nơi nào có vó ngựa quân Hung Nô đi qua, cây cỏ cũng không sống nổi. Trong phạm vi bài nầy, tôi chỉ đề cập đến vấn đề trả thù khốc liệt của cái gọi là “bộ đội cụ Hồ”.

Ngay sau khi tiếp thu Tổng Y Viện Cộng Hòa nói riêng và các Quân Y Viện tại các tỉnh nói chung vào chiều ngày 30/4/1975, bộ đội Rợ Hồ ra lệnh cho tất cả nhân viên từ bác sỹ đến người lao công và thương bệnh binh phải rời bệnh viện ngay lập tức. Tội nghiệp cho những thương binh QL/VNCH đang nằm điều trị là một ngày dài nhất đầy đau đớn, uất hận và hãi hùng. Những thương binh vừa mới tản thương từ mặt trận về vài ngày trước đó: kẻ cưa chân, người bị đạn xuyên lủng phổi, kẻ mù lòa, người đổ ruột mà những vết khâu còn rỉ máu, đang nằm hôn mê trong phòng hồi sinh đều bị bộ đội Rợ Hồ dùng súng lục bắn vào đầu kết liễu đời họ, để lấy chỗ cho bộ đội sử dụng. Những thương binh nào còn lê lết được tấm thân tàn ma dại thì phải bò lết như con thú tật nguyền ra khỏi cổng trại.

Sau ngày 30/4/1975, cả triệu Quân, Cán chính VNCH bị đưa vào các trại tập trung cải tạo là cao điểm của chiến dịch cướp sạch tài sản của gia đình họ. Bộ đội Rợ Hồ để lộ chân tướng là “bộ đội thổ phỉ”, chúng chiếm đoạt tất cả nhà cửa, TV, tủ lạnh…không chừa một thứ gì cả. Hàng ngày, đồng bào miền Nam chứng kiến hằng trăm xe vận tải Molotova và GMC chở “chiến lợi phẩm” về Hà Nội để xây dựng Miền Bắc XHCN. Chiến dịch nầy kéo dài 3 tháng mới chấm dứt. Kế tiếp là giai đoạn đánh “tư sản mại bản”, đuổi hết dân thành thị về vùng “Kinh tế mới” sống chết mặc bây để chiếm đoạt bất động sản, đất đai, nhà cửa…

Đã có quá nhiều tài liệu, hồi ký do những tù nhân chính trị tố cáo tội ác của cán bộ CS đánh đập, tra tấn dã man các Quân, cán chính VNCH trong hệ thống nhà tù, gọi là “Trại tập trung cải tạo”. Tzvetan Todorov đã nói rất đúng: “Chủ nghĩa cộng sản và những trại tập trung cải tạo của nó là thử nghiệm tối hậu về đạo đức con người.” Thật vậy, có một câu chuyện bây giờ mới kể, những ai đã từng đi qua khu kiên giam của Trại tù Thanh Cẩm, khó mà quên được hình ảnh của Linh mục Phạm Thế Hùng với một cái chân phải bị cưa lên khỏi gối. Ngài bị cưa chân 2 lần trong một thời gian rất ngắn tại nhà thương huyện Cẩm Thủy vào năm 1979, chỉ vì một mụt nhọt trên bàn chân, không được cán bộ cho chữa trị. Về sau, vết thương trở thành mạch lương, ăn ruồng trong xương ống quyển. Lần cưa đầu tiên vì lớp da không bọc được đầu xương ống quyển nên phải cưa lại lần thứ hai, cũng được thực hiện bằng LƯỠI CƯA SẮT & CƯA SỐNG (không có thuốc tê hoặc gây mê), giống người ta cưa một ống nước bằng sắt. Ngài chết đi và sống lại nhiều lần trên lâm sàng vì quá đau đớn. Đây là lối hành tội sống cực kỳ dã man và man rợ. Sau khi được trả tự do, ngài đã được Chúa gọi vào năm 1997 tại Sài Gòn.

[1] HÃY XÓA BỎ HẬN THÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHẾT TRƯỚC, RỒI MỚI XIN XÓA BỎ HẬN THÙ VỚI NGƯỜI VIỆT NAM HẢI NGOẠI:

Nhìn lại Việt Nam sau ngày 30/4/1975. tập đoàn lãnh đạo ĐCSVN và bộ đội RỢ HỒ, những con quái thú man rợ, sản phẩm của giống Hồ giao hợp với máy móc, chui ra từ các “XƯỞNG ĐẺ”. Nó vừa có bản chất tàn bạo của ác thú và cái lạnh lùng vô cảm của máy móc. Để trả thù rửa hận những người đã nằm xuống, họ dùng xe ủi đất bulldozer san bằng tất cả nghĩa trang nơi yên nghỉ của những anh hùng tử sỉ, vị quốc vong thân trong cuộc chiến vệ quốc vĩ đại của Quân Lực VNCH.

• Nghĩa Trang Mạc Đỉnh Chi, nơi an nghỉ của Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu, Thống tướng Lê Văn Tỵ, Trung tướng Nguyễn Viết Thanh…

• Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.

• Tất cả các Nghĩa trang của Quân Đội VNCH rải rác khắp 4 vùng chiến thuật cùng chung số phận, họ muốn xóa sạch vết tích của chế độ Đệ I & II VNCH để viết lại lịch sử.

Ngày nay, Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi Cộng đồng Người Việt Nam Tỵ Nạn CS tại Hải Ngoại quên đi hận thù thì trước hết ĐCSVN phải xóa bỏ hận thù với những người đã chết trước:

[2] PHẢI TRÙNG TU NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA:

Nơi an nghỉ cuối cùng của những anh hùng tử sĩ thuộc QL/VNCH đã nằm xuống sau cuộc chiến. Trước đây, Võ Văn Kiệt trả lời phóng viên Xuân Hồng về Nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa: “Trước đây, coi như không muốn thừa nhận nghĩa trang đó là của Quân Đội Miền Nam, cho nên quân sự hóa. Mà quân sự hóa trong xã hội thì nó có thời gian, quân sự hóa người chết cũng mấy chục năm. Bây giờ thấy ra là cũng vô lý. Cho nên cũng có một quyết định tuy trễ, nhưng dù sao cũng rất tốt. Kể cả ông Nguyễn Tấn Dũng, ổng làm tốt hơn tôi cái đó. Lúc tôi làm, tôi chưa làm được cái nầy, quyết định giao lại cho dân sự. Nhiều đơn vị đề nghị trả về cho dân sự. Đấy là quyết định tôi cho là đúng.” Nhắc lại cho Thủ tướng “Y Tá” Nguyễn Tấn Dũng nhớ sự kiện nầy:

Nhân ngày lễ Kỷ niệm 60 năm ngày 6/6/1944 là ngày Quân đội Đồng Minh đổ bộ lên bờ biển Normandie để giải phóng nước Pháp và Châu Âu. Đáp lời mời của Tổng thống Pháp J. Chirac, hơn 20 nhân vật và lãnh đạo quốc gia gồm Tổng thống G.W. Bush, Nử hoàng Anh Elisabeth…và đặc biệt với sự hiện diện lần đầu tiên trong lịch sử của Thủ tướng Đức Schroeder.

Thủ tướng Đức Schroeder đi viếng nghĩa trang LA CAMBE nằm giữa khu tam giác Normandie – Isigni – Bayeux là nơi an nghĩ cuối cùng của hơn 21.000 binh sĩ Đức trên phần đất của Pháp. Chánh phủ và nhân dân Pháp đã hào hiệp nhường phần đất nầy để chôn cất tươm tất KẺ THÙ. Nghĩa trang La Cambe có thảm cỏ xanh um, bóng cây tươi mát, các mộ bia bằng đồng đen nằm trên mặt đất.

Trên mảnh đất nhượng cho Đức nầy, Thủ tướng Đức Schroeder long trọng tiếp đón Tổng thống J. Chirac. Hai vị nguyên thủ của hai quốc gia ôm chầm lấy nhau. Tổng thống Đức Schroeder nhân danh dân tộc Đức, chính thức nhìn nhận những tội ác của chế độ Phát xít Đức và xin NHÂN DÂN PHÁP THA THỨ đã đánh dấu TINH THẦN HÒA GIẢI – HÒA HỢP giữa hai dân tộc PHÁP – ĐỨC. Thât vô vàn xúc động!

Nhượng đất để chôn chôn cất kẻ thù đã từng chiếm đóng và dày xéo quê hương mình, đây quả là một hành động vô cùng nhân đạo của một dân tộc văn minh: “NGHĨA TỬ LÀ NGHĨA TẬN”, mọi thù hận đều được xóa bỏ. Dân tộc Pháp tôn trọng nghĩa trang La Cambe, nơi an nghỉ của những người lính Đức nằm xuống sau chiến tranh vì nó thuộc về quá khứ. Dân tộc Pháp hành xử thật văn minh! Thật cao thượng! Thật nhân đạo! Họ xứng đáng được thế giới ngưỡng mộ và tôn vinh là một trong những dân tộc văn minh nhất thế giới.

Nhân đọc một bài viết của Brennon Jones đến viếng Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa năm 2002, đăng trong International Herald Tribune số ra ngày 28/02/2005. Nhà báo nầy ghi nhận cái cảm giác choáng váng khi thấy cảnh tàn phá, các vết ô uế do gia súc để lại trên các ngôi mộ. Trông thật kinh khủng!

Đã 39 năm trôi qua rồi, tên Thủ tướng “Y Tá” Mafia Nguyễn Tấn Dũng tiến xa hơn Võ Văn Kiệt là ký quyết định số 1568/QĐ đề ngày 27/11/06 chuyển quyền quản lý 58 ha đất thuộc Khu Nghĩa Trang Bình An (tức Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa) từ Quân khu 7 BQP sang tỉnh Bình Dương vào mục đích dân sự để phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bình Dương. Đó chỉ là tấm bình phong che đậy ý đồ nham hiểm của bọn CS Hà Nội nhằm xóa sạch vết tích CHÍNH NGHĨA của QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA để đổi trắng thay đen, viết lại lịch sử lừa dối thế hệ trẻ lớn lên sau chiến tranh.

[3] PHẢI TRÙNG TU LẠI NHỮNG BIA TƯỞNG NIỆM TẠI CÁC TRẠI TỴ NẠN Ở INDONESIA & MALAY SIA:

Đây là những chứng tích bi thảm của cả triệu người Việt Nam đã bỏ nước ra đi tìm “TỰ DO”. Họ phải vượt qua hải trình đầy máu và nước mắt và hàng trăm ngàn người đã ở lại vĩnh viễn dưới lòng biển cả. Họ đã chết vì những cơn bão biển, hải tặc, đói khát và bọn công an biên phòng VC giết người tỵ nạn để cướp của.

Tháng 3 năm 2005, có 142 Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản định cư tại Hoa Kỳ và Úc Đại Lợi đã tổ chức “CHUYẾN ĐI VỀ BẾN TỰ DO 2005” để trở lại thăm các Trại Tỵ Nạn Pilau Bidong thuộc Malaysia và Galang thuộc Indonesia. Phái đoàn 142 người tới đây đã dựng “BIA ĐÀI TRI ÂN VÀ TƯỞNG NIỆM” để ghi ơn các cá nhân và các tổ chức đã tận tình giúp đở và cưu mang những thuyền nhân và để tưởng niệm những thuyền nhân đã bỏ mình trên biển cả.

Theo Thông Tấn Xã BERMANA, từ năm 1978 – 1990, đã có 245.133 thuyền nhân đã tới đảo Pilau Bidong. Ngoài ra, còn có tới vài trăm ngàn đồng bào đã may mắn tới được Nam Dương, Thái Lan, Úc Đại lợi, Phi Luật Tân, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore…Mặt khác, theo thống kê của LHQ, có khoảng 50% đồng bào vượt biển đến nơi an toàn, còn hàng trăm ngàn đồng bào chết thảm trên đại dương.

Liền sau đó, bọn cộng sản Hà Nội hoảng sợ phản ứng vội vã bằng cách tạo áp lực với hai chánh phủ liên hệ là Indonesia và Malaysia phá bỏ các “Bia Tưởng Niệm” đã gây nên làn sóng căm phẩn không những trong các Cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản trên khắp thế giới mà cả đồng bào trong nước. Đối với dư luận thế giới, phản ứng của Đảng & Nhà nước CSVN là ngu xuẩn và hèn hạ bị cả loài người có lương tri phỉ nhổ. Bia đá thì chúng mày có thể phá, nhưng tội ác của tên Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo ĐCSVN đối dân tộc thì ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ…

Tóm lại, nếu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn xin Người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản ở Hải Ngoại “Hòa giải – Hòa hợp” & “Xóa bỏ Hận thù” phải có điều kiện:

(1) Phải có một lời thành thật xin lổi tất cả QUÂN CÁN CHÍNH VNCH trước khi nói đến chuyện “Hòa giải – Hòa hợp” & “Xóa bỏ hận thù”.

(2) Hủy bỏ điều 4 Hiến pháp phản dân chủ.

(3) Chấp nhận luật chơi dân chủ ĐA NGUYÊN – ĐA ĐẢNG

(4) Thả ngay tức khắc, vô điều kiện những tù nhân lương tâm, những nhà bất đồng chánh kiến.

(5) Nghĩa trang QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA phải trả lại cho QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA.

(6) Phải trùng tu lại các BIA TƯỞNG NIỆM tại Malaysia & Indonesia.

III. QUÊ HƯƠNG 39 NĂM NHÌN LẠI:

[1] THAM NHŨNG: Tin Montreal – Một tài liệu trong báo Montreal, Canada cho biết: “Một thành viên cao cấp của HỘI ĐỒNG MẬU DỊCH VIỆT – MỸ tiết lộ ĐCSVN được xem là tỷ phú hàng đầu của Thế giới với tài sản ước lượng lên đến 20 tỷ USD. Tài liệu nầy còn cho biết hiện nay có khoảng từ 700 đảng viên có tài sản trên 500 triệu USD, tất cả các tỷ phú này đều là cán bộ cao cấp của ĐCSVN. Có khoảng 2.000 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 200 triệu USD. Tài sản của những đảng viên này được tẩu tán sang Vancouver, Canada, New York, Houston, Bắc và Nam California.

Dân chúng trong nước đã nhìn thấy rõ sự giàu có của giới lãnh đạo ĐCSVN. Họ xây dinh thự nguy nga, lộng lẫy, đồ sộ, xài tiền ăn chơi như nước, xuất ngoại như đi chợ xài cả triệu đô la tiền mặt, vợ con cấp lãnh đạo bay sang Singapore hàng tuần để mua thực phẩm vệ sinh an toàn. Danh sách những tên tư bản đỏ nầy được liệt kê có cả Chủ tịch nước TRƯƠNG TẤN SANG với tài sản khoảng 1.2 tỷ USD. Thủ tướng NGUYỄN TẤN DŨNG 1.5 tỷ USD. Tổng Bí Thư ĐCSVN NGUYỄN PHÚ TRỌNG gần 1 tỷ USD. Số tài sản khổng lồ nầy được họ gởi tại Ngân hàng Thụy Sĩ.

[2] ĐCSVN ĐÃ GÂY RA NỢ CÔNG BAO NHIÊU? Hãy nhìn lên “Đồng hồ nợ công thế giới” tức là GLOBAL DEBT CLOCK (GDC) để xem Việt Nam mình nợ bao nhiêu? Ông Đỗ Thiên Anh Tuấn – Giảng viên Kinh tế Fulbright – cho biết: “Tỷ lệ nợ công của VN năm 2013 theo GDC đưa ra là 49,3% theo IMF.”

Theo TS Phạm Thế Anh – Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội – cho biết: “Hiện nay nợ công đã lên đến khoảng 90 tỷ USD, nếu tính cả nợ doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thì khoảng 180 tỷ USD. Như vậy, chưa tính trả gốc, riêng tiền trả lãi trung bình đã cần khoảng 6 tỷ USD. Theo Ngân hàng Thế giới (WB) ước tính kiều hối gởi về Việt Nam năm 2013 đã đạt được 11 tỷ USD, đưa nước VN vào danh sách những quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất thế giới, chỉ kém Philippines (kiều hối ước tính đạt 26 tỷ USD). Kiều hối gởi về VN những năm qua có tốc độ tăng khá đều so với năm trước, với mức tăng bình quân 1 tỷ USD mỗi năm:

• Năm 2010 là 8 tỷ USD.

• Năm 2011 là 9 tỷ USD.

• Năm 2012 là 10 tỷ USD.

Đây là nguồn tiền của 4,5 triệu Người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản đang định cư tại 100 quốc gia trên thế giới gởi về nước, thực sự đóng góp cho sự tồn tại của ĐCSVN, tiếp tục thống trị, đè đầu cỡi cổ dân tộc Việt Nam, tiếp tục buôn dân bán nước. Với số 11 tỷ USD kiều hối, Đảng & Nhà nước CSVN dùng để trả tiền lãi nợ công 6 tỷ USD, số còn lại chia nhau chui vào túi riêng của các quan chức tham nhũng. Một câu hỏi đặt ra: “Ai giúp ĐCSVN tồn tại suốt 39 năm nay?” Câu trả lời nầy, xin nhường lại cho Cộng đồng Việt Nam Tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại tự trả lời!

[3] TỆ NẠN BẰNG CẤP GIẢ LAN TRÀN TẠI VN: Có vẻ như Việt Nam đang lạm phát văn bằng, kể cả văn bằng Tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân. Một chuyện lạ, nước vẫn nghèo mà văn bằng tiến sỹ đầy đường đầy phố, nhưng chẳng thấy phát minh gì, chỉ thấy thật giả, vàng thau lẫn lộn không biệt nổi. Tệ nạn nầy có phần là do các Đại học Quốc tế vào liên kết với Đại học Việt Nam, chỉ cần người học tại VN theo đủ thời gian chưa tới 2 năm và đóng một số tiền, thế là được cấp bằng Tiến sĩ. Nhưng, trình độ thực sự chẳng có gì hết, dù là trình độ Anh ngữ.

Một thảm họa nữa, còn vì cơ chế đòi hỏi cán bộ phải có văn bằng mới lên cao được. Thế là cán bộ rủ nhau đi mua bằng, kể cả mua bằng dỏm. Xin kể trường hợp điển hình: “Ông Trần Đình Sơn – Hiệu trưởng trường Cao đẳng nghề Du Lịch Đà Lạt – vừa bị Thanh tra Bộ Văn Hóa – Thể thao và Du lịch kết luận là dùng bằng thạc sĩ dỏm. Theo đó, căn cứ vào kết quả thanh tra, ông Sơn sử dụng bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh do Đại học Công nghệ Paramount University of Technology, cấp ngày 7/12/2010.

[4] NGU DÂN DỄ TRỊ: Vào thập niên 80-90 những tệ đoan xã hội đầy dãy từ Bắc vào Nam thì bộ máy tuyên truyền nhà nước mở hết công xuất gọi đó là tàn dư Mỹ – Ngụy, gọi đồng bào tỵ nạn cộng sản lưu vong ờ hải ngoại là bọn đĩ điếm, thích bơ thừa, sữa cặn, bọn phản quốc ôm chân đế quốc. Nhưng, quê hương sau 39 năm nhìn lại nạn trộm cắp, cướp giật ngoài đường phố, băng đảng hoành hành như nắm rộ sau cơn mưa, các động mãi dâm mọc tràn lan từ thôn quê đến thành thị. Đủ thứ dịch ôm như bia ôm, cà phê ôm, hớt tóc ôm, tắm ôm…mỗi năm cả nước có khoảng 2.000.000 ca nạo phá thai ở lứa tuổi vị thanh niên…

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Đoan nói: “Tình hình đời sống xã hội thời gian gần đây có nhiều diễn biến hết sức phức tạp. Đạo đức xã hội xuống cấp đáng báo động, xuống cấp ở mọi lãnh vực, kể cả “Y ĐỨC & GIÁO DỤC”. Vậy, vì sao lại xuống cấp thê thảm như vậy? Đó là do giáo dục giáo dục học đường không tốt, tác động tới xã hội. Giáo dục không đạt được 2 tiêu chuẩn “ĐẠO ĐỨC” & “LUÂN LÝ”.

ĐCSVN dùng “học phí” để hạn chế giáo dục, đó là đặc điểm của chính sách “NGU DÂN DỄ TRỊ”. Học phí tăng hàng năm bất cần tình trạng nghèo đói của nhân dân như thế nào. Kể từ năm 2007, Bộ Giáo Dục – Đào Tạo về đề án học phí sẽ tăng ờ các cấp từ 4 đến 10 lần. Mức học phí cho niên học 2013 – 2014 được ấn định như sau:

• Nhà trẻ: 1.500.000 dồng / tháng.

• Mẫu giáo: 1.400.000 đồng/ tháng.

• Tiểu học: 2.900.000 đồng/ tháng.

• Trường THCS & THPT là 3.000.000 đồng tháng.

• Đại học từ 65.000.000 đồng tới 74.000.000 đồng/ năm.

Trong khi đó, tiền lương một y tá tốt nghiệp hạng giỏi chỉ có 3 triệu/ tháng, công nhân bốc vác chỉ có 1.5 triệu/ tháng, tài xế xe đò liên tỉnh khoảng 3.5 triệu/ tháng thì lấy tiền đâu lo học phí cho con?

[5] NỔI BUỒN NÔ LỆ: Hình thức buôn nô lệ vào thế kỷ 21 vẫn còn tồn tại ở nước VNCS. Thủ đoạn bốc lột sức người lao động nghèo tinh vi, tàn nhẫn hơn, ĐCSVN gọi là XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG. Con người được xuất khẩu ra nước ngoài như con cá ba sa, con tôm, con tép…chỉ khác nhau là con người XKLĐ không cần phải..đông lạnh mà thu lợi nhiều hơn, một hình thức kinh doanh xương máu của dân nghèo không cần vốn.

Theo báo cáo của “WALK FREE FOUNDATION”, “THE GLOBAL SLAVERY INDEX 2013” thì Việt Nam có 248.705 người được xem là nô lệ thời hiện đại mà tổ chức nầy gọi là “tội ác được bảo vệ”. Từ khi VNCS được vào WTO, xem như cơ hội bằng vàng cho việc XKLĐ ồ ạt ra nước ngoài hàng năm, con số nầy tăng lên đến mức độ chóng mặt là 4.500.000 người có mặt trên 100 quốc gia khác nhau.

[6] NGÀN GIỌT LỆ RƠI TRÊN NỔI ĐAU DÂN TỘC: Sau 39 năm “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến lên xã hội chủ nghĩa”, rồi chuyển sang “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” ĐCSVN đã và đưa đất nước và dân tộc đến tận cùng của sự nghèo khó và lạc hậu. Vì vậy, người phụ nữ VN đang đua nhau tìm cách thoát khỏi cảnh đời quá cơ cực, bất công và tương lai mù mịt ở trong nước, bằng cách nhắm mắt, đưa chân lấy bừa chồng nước ngoài, bất kể họ mang quốc tịch nước nào, gây thành phong trào kết hôn với người nước ngoài để hy vọng có thể đổi đời. Tội nghiệp, nhiều cô gái vị thành niên phải khai gian thêm tuổi với giấy tờ giả mạo. Hầu hết, những cuộc hôn nhân dị chủng nầy đều qua trung gian, môi giới của bọn buôn người, đã gây ra những cảnh éo le, lỡ khóc, lỡ cười vì chú rể là người bị bệnh tâm thần, tàn tật, bại liệt cả tay chân và lớn tuổi hơn cả cha mẹ vợ.

Hiện tượng gái miền Tây đua nhau lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore đã rung lên hồi chuông báo động. Nhiều cù lao nên thơ giữa dòng sông Hậu như cù lao Tân Lộc thuộc huyện Thốt Nốt, tỉnh Hậu Giang và cù lao Dung nằm ở hạ nguồn sông Hậu, tỉnh Sóc Trăng đã mang một cái tên mới: “ĐẢO ĐÀI LOAN”.

Một nỗi đau quốc nhục khác là hình ảnh phụ nữ và trẻ em VN bị coi như một món hàng được bán đấu giá trên trang WEB Ebay. Trong khi đó, đài Truyền Hình NBC đã trình chiếu một phóng sự về tệ nạn buôn bán trẻ em VN trong một động mãi dâm tại khu đèn đỏ Toul Kork, Nam Vang mà có những trẻ em mới lên 5, 6 tuổi đã làm chấn động lương tâm nhân loại…

IV. KẾT LUẬN:

Là người Việt Nam, ai chưa mất gốc mà không có khát vọng muốn trở về cố quốc thăm lại bà con mồ mả ông cha, bạn bè thân thuộc…ôi con cáo chết ba năm còn muốn quay đầu về nước, con người ta dù cho sống phiêu bạt nơi xứ người, còn có chút tình tự quê hương, không làm sao quên được nguồn gốc xứ sở của mình: “Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi” (con ngựa rợ Hồ ở phía Bắc nước Tàu thấy gió Bắc còn cất tiếng hí. Con chim đất Việt, phía Nam nước Tàu, chọn cành hướng về phương Nam mới chịu làm tổ) huống chi làm người Việt mà lại quên quê cha, đất tổ ư?”

Những người lính già thuộc thế hệ di dân thứ nhất của người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản càng thấm thía sâu xa nỗi buồn cô độc nơi xứ người, đó là biến thái của căn bệnh hoài nhớ (nostalgia) về nguồn gốc của mình, đúng hơn là căn bệnh của thế kỷ (le mal du siècle) mà căn bệnh của nó phát nguồn từ căn bệnh hoài nhớ quê hương (le maladie du pays).

Trước đây, nhiều người lính già đồng hương với tôi thường than thở rằng: “Hoa Kỳ là thiên đường của tuổi trẻ học hỏi tiến thân làm vẻ vang Việt Tộc nơi xứ người. Nhưng, nó là địa ngục cô đơn của những người Việt cao niên như anh em mình.” Điều này có lẽ đúng, vì con cháu của họ lớn lên thành nhân chi mỹ thì ít khi sống gần ông bà cha mẹ. Nên việc săn sóc ông bà cha mẹ…họ phải nhờ đến hệ thống nhà già chăm sóc dùm.

Vì vậy, có một số người già muốn trở về Việt Nam an hưởng tuổi già bên cạnh anh chị em và các cháu chắt. Họ những tưởng đã tìm lại được thiên đường đã đánh mất sau ngày 30/4/1975. Nhưng, chỉ được vài ba năm thì họ trở qua Mỹ, chấp nhận sống trong cái địa ngục của tuổi già mà họ đã bỏ chạy trước đây. Điều nầy có thể giải thích theo ngôn từ của Simon Weil: “We must prefer real hell to an imaginary paradise” (Phải chọn địa ngục thực sự thay cho thiên đường ảo).

Nguyên nhân nào khiến người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản tại Hải Ngoại chọn lối sống dững dưng đối với quê hương? Nó gần giống như tâm trạng của nhà thơ JOSEPH BRODSKY, ông không muốn trở về thành phố quê hương St Peterburg yêu dấu của ông và ông đã thể hiện tâm trạng của ông qua 2 vần thơ: “Neither country nor churchyard will I choose / I’ ll come to Vasilevsky Island to die” (Tôi sẽ không chọn quê hương và cả phần mộ nhà thờ / Tôi sẽ đến đảo Vasilevsky để chết). Và cái đảo Vasilevsky của Joseph Brodsky vẫn bàng bạc mơ hồ trong tâm thức của những người bạn già đang chờ ngày về cội, được gởi nắm tro tàn ra biển lớn…vì quê hương sau 39 năm nhìn lại, chế độ CHXHCNVN đã trở thành một chế độ kinh dị và kinh tởm nhất thế giới…

Nguyễn Vĩnh Long Hồ

This entry was posted in * Mùa QUỐC HẬN, * NV Long Hồ, Bình-luận - Quan-điểm, Nguyễn Vĩnh Long Hồ and tagged . Bookmark the permalink.

One Response to QUÊ HƯƠNG 39 NĂM NHÌN LẠI (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

  1. con cháu vua HÙNG says:

    Người trong nước không dám nhìn lại 39 năm vì dỉ vãng ở sau lưng quá hải hùng,thê thảm không nên để con cháu thấy,bây giờ ráng sống chung với lũ hay triều cường dẩu biết rằng lủ nầy là lũ bùn nhơ,rác rưởi,ô uế,,,”,thực dân nội địa”tạm gọi như vậy đi,,,tội ác hay lổi lầm sẽ có ngày thượng đế phán xét trừng trị,,,mong ngày đó tới gần để thấy được là dân VIỆT vẩn còn đại phước,tổ tiên hay thánh hiền không bỏ quên suốt 39 năm kể từ cơn địa chấn 30/4/75

    Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s