MEKONG SÓNG CUỘN PHÙ SA: Chương 2 (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

rachkhailuongCHƯƠNG HAI
CHÚ HAI RỒNG,
THẦN CƯỚC TRÊN SÔNG MEKONG

NĂM ẤT MÃO (1915)

Khâm sứ Jean Charles và Toàn Quyền Đông Dương Ernest Roumé ra Nghị định, làm con đường liên tỉnh từ Sài Gòn – Cần Thơ – Rạch Giá. Bến phà Cần Thơ và Mỹ Thuận ra đời vào năm 1918 nối liền hai bờ sông Hậu và sông Tiền, giúp việc giao thông và chuyên chở hàng hóa bằng đường bộ phát triển nhanh chóng. Giới kinh doanh có máu mặt ở tỉnh Cần Thơ bắt đầu chú ý vào ngành vận tải. Vào thập 30, tỉnh Cần Thơ có các hảng xe đò đưa rước hành khách như hãng xe Trần Đắc Nghĩa, Cao văn Trạng, Nam Hòa, Đại Đồng, Vạn Lộc, Ngọc Lợi… lần lượt ra đời cạnh tranh nhau ráo riết. Bến xe đò lục tỉnh lúc đó nằm trên đường Ngô Quyền, chạy thẳng xuống bến sông Cần Thơ. Chỉ có một con đường duy nhất từ trong thành phố ra bên phà Cần Thơ, đều phải chạy qua cây cầu sắt, mang tên Sáu Thanh, bắc qua con rạch Khai Luông. Bên phải cây cầu sắt, cách con đường khoảng 150 thước là một ngôi biệt thự tráng lệ của Sáu Thanh.

Sáu Thanh, chủ hãng xe đò Vạn Lộc là một tay hào sảng, võ nghệ cao cường, đầy thế lực và tham vọng muốn vói tay tới tận Nam Vang, giành độc quyền kinh doanh vận chuyển đường bộ từ Sài Gòn – Nam Vang và ngược lại, nhằm mục đích ngăn chận âm mưu của Má Chín Xồi – ông trùm “xã hội đen” – tại Nam Vang. Tên nầy quyết triệt hạ Sáu Thanh với bất cứ giá nào để dành độc khai thác bên xe đò liên quốc gia tại Nam Vang để chở thuốc phiện từ Nam Vang về Sài Gòn tiêu thụ, đầu độc thanh niên Việt Nam. Sáu Thanh kết nạp dưới trướng nhiều tay giang hồ vũ dũng để bảo vệ các chuyến hàng hóa. Vì vậy, các đảng cướp đường bộ lẫn đường sông nghe danh Sáu Thanh đều phải tránh né, không dám đụng tới.

Quyết ăn thua đủ với Sáu Thanh. Má Chín Xồi bèn cho tổ chức “Đả lôi đài” tại một sân vận động ở Nam Vang vào khoảng giữa năm 1934. Hắn bỏ ra một số tiền lớn nhờ người móc nối với võ sư Na Rặc – Quyền vương Thái Lan – thách đấu với Sáu Thanh. Trận sinh tử đấu giữa Sáu Thanh và Na Rặc đã đi vào lịch sử quyền thuật và Sáu Thanh đã trở thành võ sĩ huyền thoại của Miền Tây Nam Việt vào thập niên 1930.

Trong cuộc đời võ sĩ, Sáu Thanh thường nhắc nhở các huynh đệ: “Khi một võ sĩ thượng đài đừng bao giờ khinh địch, cho dù sức dóc của địch thủ có gầy gò như con mèo, nhưng phải xem nó là một con hổ và phải dốc toàn lực chiến đấu.”

Sáu Thanh phái đàn em thân tín là Hai Rồng, một hào kiệt của miền Tây Nam Việt; sở dĩ có cái tên Hai Rồng vì trước ngực có xâm hình hai đầu rồng: “Lưỡng long tranh châu” rất hùng tráng. Tuy xuất thân từ dân anh chị dao búa ở bến xe đò lục tỉnh, nhưng bản chất anh hùng, trọng nghĩa khinh tài nên rất được giới anh chị tôn làm đại ca. Cùng với Ba Hổ là người anh em kết nghĩa, giúp Sáu Thanh điều khiển hệ thống chuyển vận đường bộ của hảng xe đò Vạn Lộc.

Hai Rồng lên đường qua Nam Vang bằng đường bộ, rồi qua Bangkok, tìm đến lò luyện võ của Na Rặc ở ngoại ô thủ đô. Và có xem trận thi đấu chung kết giải vô địch quyền vương giữa Na Rặc và một võ sĩ mang hai dòng máu Thái – Tàu. Na Rặc bảo vệ ngôi vô địch của mình dễ dàng, bằng cách hạ đo ván đối thủ ở hiệp nhì. Hai Rồng đánh giá võ công điêu luyện của Na Rặc rất cao. Vì vậy, ngày hôm sau, Hai Rồng lập tức trở về Cần Thơ kể lại với Sáu Thanh để tìm cách đối phó với Na Rặc.

Hai Rồng nói:

-Thể lực của Na Rặc rất tốt, ngực nở, bụng thon, tay chân nhanh nhẹn. Đầu cạo trọc chỉ chừa một chỏm tóc ở đỉnh đầu, thắt lại thành bím dài tới tận thắt lưng. Đuôi tóc có một miếng vải đỏ, quấn chặt một lưỡi dao nhỏ mỏng như lá liễu, ẩn trong mấy lọn tóc nên khó nhìn thấy. Đây là ám khí lợi hại, khi hắn nghiêng đầu, quật đuôi tóc vào mặt địch thủ, nếu không tránh được, có thể bị mù mắt như chơi.

Sáu Thanh hỏi:

-Võ sĩ nào cũng có ngón nghề tấn công sở trường của họ để hạ đối thủ trong nháy mắt. Anh Sáu muốn biết tuyệt chiêu của Na Rặc để hóa giải thế công của nó.

-Tôi có xem trận chung kết giải “Vô địch Quyền Vương” tại Bangkok. Na Rặc đã dùng tuyệt chiêu hạ đối thủ trong hai hiệp ngắn ngủi. Đòn tấn công sở trường của Na Rặc là dùng đầu gối và cùi chỏ cực kỳ lợi hại. Vào hiệp đầu, sau khi làm mấy động tác bái tổ truyền thống Thái Lan. Hai võ sĩ đứng hai gốc đài, lao tới húc vào nhau. Na Rặc nhún hai chân phóng người lên, nghiêng người bên phải ra đòn, giống như đòn “Phi tiêu cước” , đánh gối trái bay vào ngực địch. Bất ngờ, trúng đòn “gối bay” với sức mạnh bạt sơn, địch thủ gục liền xuống sàn đấu. Trọng tài phải ngưng ngay trận đấu. Khi tiếng kẻng hiệp hai bắt đầu. Lợi dụng lúc địch thủ còn chao đảo, chưa kịp phản ứng, Na Rặc nhanh chóng bay người lên, dùng hai đùi kẹp cổ, ra đòn “chỏ cặm” . Từ trên đầu, Na Rặc dùng cùi chỏ phải và trái, cặm xuống giữa đỉnh đầu như búa tạ ngàn cân hạ địch thủ đo ván, ngã xuống sàn đấu một cái rầm.”

-Na Rặc quả nhiên lợi hại! Theo sự hiểu biết của anh Sáu, hắn chỉ mới vừa ra hai chiêu trong “Tượng Quyền” đã hạ địch thủ một cách dễ dàng, Sáu Thanh giải thích, Nó cũng giống như giới võ thuật Trung Hoa được chia làm hai phái căn bản: Nam quyền, Bắc Cước. Nội gia Nam Phái đại diện bởi: Võ Đang Thái Cực Quyền, Bát Quái Quyền và Hình Ý Quyền. Ngoại gia Bắc Phái xuất xứ từ miền Bắc, gồm các võ phái lừng danh như Thiếu Lâm, Nga Mi, Không Động …đặc tính ngoại lực cương mãnh, tiến thoái linh hoạt, nhanh chóng đánh bại đối phương. Dù Nam Phái nội gia hay Bắc Phái ngoại gia đều dựa vào những động tác của linh vật như: Long, Hổ, Hạc, Ưng, Xà, Hầu hình. Võ Bình Định, Tây Sơn có Hùng Kê Thần Cước danh trấn giang hồ do Nguyễn Lữ bào đệ của vua Quang Trung sáng tạo, phù hợp với thể lực của người Việt Nam. Còn người Thái Lan dựa vào động tác của voi mà sáng tạo Tượng Quyền mà chủ yếu đòn thế phát sức mạnh cùi chỏ và đầu gối rất lợi hại. Địch thủ của Na Rặc bị đòn gối “Voi lồng xung trận” trúng vào huyệt “Cự khuyết” trước ngực, không tàn phế là may lắm rồi! Mười mấy năm về trước, anh Sáu có xem trận đả lôi đài Quốc tế tại Sài Gòn. Trận chung kết diễn ra giữa võ sĩ Thái Lan và Hồng Kông. Võ sĩ Thái kết thúc trận đấu bằng tuyệt chiêu “Voi bẻ gỗ” tối độc. Hằn đá tung địch thủ bay lên, rồi dùng gối hứng. Địch thu rớt nằm sấp trên gối, võ sĩ Thái liền dùng cùi chỏ, cắm vào huyệt “Mệnh môn” , đánh gẫy cột sống của địch thủ.” (Báo chí Hồng Kông thời đó gọi là đòn: “Elephant pulverizing tree” )

-Muốn chế ngự sức mạnh của “Tượng Quyền” . Anh Sáu sẽ dùng bản lãnh gì để giành chiến thắng?

-Trên sàn đấu, tùy cơ ứng biến, linh hoạt chiến đấu! Đó bản lãnh của “Hùng Kê Thần Cước, Sáu Thanh tự tin nói, Chú Hai và theo anh qua Nam Vang, quan sát trận đấu để rút kinh nghiệm. Còn chú Ba Hổ thay anh Sáu điều hành hảng xe Vạn Lộc.

Đúng hẹn. Má Chín Xồi lập lôi đài tại sân vận động ở Nam Vang. Dân Miên từ khắp nơi đổ về. Một số đồng bào lục tỉnh miền Tây Nam Bộ, vượt qua biên giới qua ngã Châu Đốc để cổ võ gà nhà trong trận “Long tranh, Hổ đấu” giữa Sáu Thanh, đại diện cho giới quyền thuật Việt Nam và Na Rặc, đại diện cho giới quyền thuật Thái Lan. Một cái quan tài màu đỏ, được Ma Chín Xồi cho khiêng đặt bên cạnh võ đài, mang ý nghĩa trận sinh tử đấu. Hai địch thủ cùng ký giấy “sinh tử trạng” trước khi bước lên võ đài.

Khi tiếng kẻng của ban trọng tài vừa vang lên, bắt đầu trận đấu. Sáu Thanh vờ hùng hổ lao vào địch thủ, Na Rặc cũng nhào tới chủ quan đầy khinh địch. Na Rặc dùng đòn “gối bay” sở trường của mình định hạ Sáu Thanh trông nháy mắt. Nhưng, bất ngờ Sáu Thanh dừng lại, xoay người sang phải tránh đòn gối. Nương theo đà xoay, Sáu Thanh dùng đòn chân “Câu liêm cước” , đá gót bàn chân phải vào huyệt “Yêu nhãn” (thắt lưng) của địch thủ, Na Rặc mất thăng bằng, ngã chếch phía trước. Sáu Thanh tiếp tục tấn công địch thủ bằng đòn “Diệt mã cước” bằng cạnh bàn vào mặt sau ống quyển của Na Rặc, làm đầu gối của hắn đập xuống sàn đấu. Na Rặc ngửa người ra, bật dậy như lo xo, chưa vũng chân tấn. Sáu Thanh đã hờm sẵn, thoái bộ vài bước, lấy trớn tung ngọn “Bàn long cước” , đá chéo gót chân vào huyệt “Đan điền” (duới rún). Bị trúng đòn, Na Rặc gập người, bay vào dây đài, ngã sấp xuống sàn đấu. Khán giả vỗ tay nhiệt liệt, tán thưởng võ sĩ Việt Nam.

Bị trúng ba đòn “Liên hoàn cước pháp” , Na Rặc lăn ba vòng để né đòn, rồi đứng dậy, dựa vào một gốc quan sát, có vẻ nhợn địch thủ. Sáu Thanh tiếp sát để chuẩn bị đòn tấn công kế tiếp. Bất ngờ, Na Rặc phóng người lên, dùng sức mạnh của gót chân phải, đá vòng từ trên xuống đỉnh đầu của địch thủ. Sáu Thanh thoái bộ tránh ngọn “Đảo sơn cước” vũ bão. Na Rặc dùng gan bàn chân, ra đòn “Trực tiêu cước” , đá thẳng vào ngực địch thủ. Sáu Thanh ngồi thụp xuống tránh đòn, xoay người, quét một đòn “Nghịch tảo cước” làm Na Rặc té bật ngửa. Nhưng, hắn bật dậy như cái lò xo, tiếng kẻng vang lên, chấm dứt hiệp nhứt.

Qua hiệp thứ hai. Na Rặc tận dụng hết tài nghệ thi đấu, nhưng không đánh trúng địch thủ đòn nào. Gần cuối hiệp hai, Sáu Thanh gài bẫy địch thủ, dùng đòn hư chiêu, chân trái đá tạt ngang từ ngoài vào hông địch thủ. Na Rặc nhảy lùi lại phía sau tránh đòn. Ngọn cước đi quá đà, Sáu Thanh cố tình để trống lưng. Na Rặc không bỏ lở cơ hội, bay người tới, dùng chỏ cặm vào huyệt “Đại chùy” sau gáy của địch thủ. Sáu Thanh chỉ chờ có thế, xoay người thấp xuống tránh đòn, bất ngờ phản công nhanh như chớp bằng đòn “Hổ vi cước” đá chọt thẳng gót chân ra phía sau, vào hạ bộ của địch thủ. Na Rặc bị trúng đòn, ngã bật ngữa vào dây đài, bị đánh bật trở lại. Sáu Thanh đứng dậy, dùng quả đấm thôi sơn: “Câu quyền” , đấm móc từ dưới lên vào cằm địch thủ. Na Rặc ngã ngửa xuống sàn đấu, chấm dứt hiệp hai.

Khi bắt đầu hiệp ba. Na Rặc dùng bộ pháp kỳ quặc, di chuyển từng bước như sâu đo, mũi chân trái và phải, vẻ những vòng tròn, nét dọc, nét ngang nguệch ngoạc trên sàn gỗ như vẻ bùa. Sáu Thanh đang tập trung nhãn lực vào đôi mắt của Na Rặc, bỗng hoa cả mắt, chập chờn ảo giác. Na Rặc phân thân ra làm hai, biến hóa thành bốn, thành sáu… hư hư, thực thực, vây kín Sáu Thanh vào giữa để tấn công. Quyền cước của Sáu Thanh bắt đầu rối loạn và trở thành cái bao cát cho Na Rặc tha hồ, đấm đá bằng những đòn tối độc. Sáu Thanh di chuyển vào những gốc võ đài, hai cánh tay che kín mặt, ngực, gồng mình chịu đòn. Lúc tiếng kẻng chấm dứt hiệp ba, Sáu Thanh ngã quỵ xuống một gốc đài, miệng thổ huyết.

Hai Rồng cầm cái ghế đẩu, nhảy lên đài, dìu Sáu Thanh ngồi xuống , dùng khăn lông tẩm nước ấm lau mặt, mồ hôi cho anh Sáu. Hai Rồng hỏi:

-Việc gì xảy ra vậy, anh Sáu?

-Có lẽ, anh Sáu bị nó chơi võ bùa! Anh thấy đến mười Na Rặc vây kín anh vào giữa để tấn công, làm anh hoa cả mắt, Sáu Thanh nói, Thực sự, anh không biết ai là Na Rặc thật để trả đòn. Vì vậy, quyền cước của anh Sáu hỗn loạn, đỡ gạt loạn cả lên.

-Bây giờ anh Sáu tính sao? Hai Rồng đề nghị, Hay là, anh bỏ cuộc trận đấu nay đi. Chờ tái đấu phục thù.

-Không được, thà chết võ đài, Sáu Thanh giọng cương quyết, thà chết vinh không sống nhục! Nhứt định không bỏ cuộc.

Lúc đó vào khoảng 3 giờ chiều. Mặt trời chếch bóng về hướng Tây. Na Rặc ngồi trên cái ghế đẩu ở gốc đài đối diện, cho đàn em tẩm quất, vẻ mặt hiu hiu tự đắc. Cái bóng đen của hắn trải dài, in rõ trên sàn đấu. Hai Rồng mừng rỡ, nói:

-Tôi nghĩ ra cách đối phó với thằng Na Rặc rồi, anh Sáu!

Sáu Thanh hỏi:

-Cách gì vậy, chú Hai?

-Anh có thấy cái bóng của Na Rặc in trên sàn đấu không?

-Thấy, rồi sao nữa?

-Anh Sáu chỉ thấy một cái bóng duy nhứt của Na Rặc thôi, phải không? Hai Rồng giải thích, chỉ có con người thật, mới có cái bóng! Anh tránh nhìn thẳng vào đôi mắt mà nhìn cái bóng của Na Rặc in trên sàn đấu, để biết chính xác điểm đứng và hướng di chuyển của Na Rặc.

Sáu Thanh gật đầu, nói:

-Anh sáu hiểu ý chú rồi. Cám ơn chú nghe!

Sau tiếng kẻng bắt đầu hiệp bốn. Na Rặc đầy vẻ tự tin, dùng bộ pháp sâu đo tiến về phía địch thủ, hắn xoay lưng đối diện với mặt trời. Sáu Thanh dán chặt đôi mắt vào cái bóng của Na Rặc đang chuyển động trên sàn đấu, rồi giả vờ như bị thôi miên, đánh đấm loạn xạ, chờ cho hắn tiến đến vừa tầm đá. Sáu Thanh bất ngờ vùng lên như mãnh hổ, phóng người lên dây đài, mượn sức bật của dây đài bay người lên, xoay người theo chiều kim đồng hồ, tung ra tuyệt chiêu “Hùng kê đoạt mệnh cước” , gót chân phải đá móc vòng thật chính xác vào cổ địch thủ. Tốc độ của ngọn cước nhanh và cương mãnh đến nổi, khán giã chỉ thấy Na Rặc bị văng vào gốc đài, đầu ngoẻo sang một bên rồi từ từ gục xuống như một thân cây bị đốn gẫy. Và cái tên: “Đoạt mệnh truy hồn cước” ra đời từ đó. Về sau, ngọn thần cước vô địch, ông truyền lại cho Hai Rồng. Một thời nổi danh là “Thần cước trên dòng sông Mekong” .

Sáu Thanh chết trẻ vào năm 35 tuổi. Bảng hiệu xe Vạn Lộc cũng biến mất trên tuyến đường Sài Gòn – Cần Thơ. Sau khi Sáu Thanh qua đời, trong chuyến về thăm quê nội ở xã Nhơn Ái, tỉnh Cần Thơ vào năm 1939, Hai Rồng và Ba Hổ tự ý giải nghệ, sống kiếp thương hồ rày nay, mai đó: Đạo nào vui bằng đạo đi buôn / Xuống biển lên nguồn, gạo chợ nước sông.

o0o

Trời vừa hừng sáng, Tư Long đã tới vàm rạch Thủ Thừa. Và từ đó vào quận Thủ Thừa còn non 2 cây số. Quận nay khá lớn vào thời đó, có nhà lồng chợ, nhà giây thép, nhà thương và vài máy xây luá…Bến đò chợ Thủ nổi tiếng phồn thị. Nhờ ở chỗ giáp nước, sông sâu nước chảy và nằm trên thủy trình từ Sài Gòn về lục tỉnh và ngược lại qua các hệ thống kinh rạch chằng chịt như Bến Lức, Thủ Thừa, kinh Arroyo Commerce, kinh Lacombe…và cuối cùng là kinh Tháp Mười trước khi đổ ra sông Tiền, ngang miệt cù lao Giêng.

Vừa chèo ghe đến chợ Thủ, Tư Long chèo ghe dọc theo bến đò, tìm những ghe thương hồ để hỏi tăm tin tức chú Hai Rồng; thời may, gặp một thiếu phụ đang múc nước sông vo gạo đằng sau lái một chiếc ghe tam bản. Tư Long tấp ghe lại hỏi:

-Thím Hai vui lòng cho tôi hỏi thăm.

-Bác muốn tìm ai vậy?

-Dạ, chú Hai Rồng!

-À, chú Hai Rồng hả?” thiếu phụ vui vẻ nói, Chú Hai dẫn thằng Bền đi ra chợ từ hừng sáng, có lẽ cũng sắp về tới nơi rồi đó!

-Vậy thì may cho tôi quá! Tư Long nói.

-Thôi, để cháu chỉ chiếc ghe của chú Hai Rồng, bác chèo ghe qua đó chờ cho chắc ăn nghen, thiếu thụ lấy tay chỉ nói, Bác có thấy đoàn ghe đang cắm sào dọc theo con rạch, bên cạnh cây cầu đúc không? Chiếc ghe của chú Hai là cái thứ ba đó!

Tư Long cám ơn rối rít, rồi chèo ghe qua, cặp sát ghe của Hai Rồng chờ. Tư Long tựa lưng vào cột chèo, vấn điếu thuốc rê đốt, đưa lên môi phì phèo cho ấm. Mặt trời vừa nhô lên khỏi mấy ngọn cau bên kia bờ rạch, ghe xuồng từ các vùng lân can đổ về chật bến. Họ chở theo những đặc sản vùng Đồng Tháp Mười nào là: rắn, rùa, lươn, each, đủ loại cá đồng, cá sông…để chở lên Sài Gòn bỏ mối cho các vựa cá ở cầu Ông Lãnh. Những mặt hàng tế nhuyễn do dân thương hồ chở từ Cam Bốt về, bày bán ở chợ rất được đồng bào ưa chuộng. Các bạn hàng lên, xuống hàng hóa vô cùng huyên náo. Kìa, đoàn ghe lường chở lúa từ hướng sông Vàm Cỏ Đông chậm chạp tiến vào. Nhiều chiếc ghe lườn chở lúa, khẳm đến nổi chỉ còn thấy cái be ghe, miễn cưỡng nổi trên mặt nước. Lúa tập về nay bán cho các chành lúa để xây thành gạo, chở lên sài Gòn phân phối cho các tỉnh khác.

Tư Long hút tàn điếu thứ hai, cha con Hai Rồng cũng vừa về đến bến, tay xách giỏ mây nay ắp thức ăn, xắn quần lội nước ra ghe. Chờ cho hai người trèo lên ghe xong, Tư Long đứng trên ghe, nói:

-Dạ, kính chào chú Hai!

-Ủa, anh là ai, sao lại biết tên tôi? Hai Rồng ngạc nhiên hỏi tiếp, anh tìm tôi có việc gì?

-Chú Hai cho phép tôi lên ghe, hầu chuyện với chú được không?

-Dạ được, xin mời anh lên ghe!

Hai Rồng nắm tay của Tư Long, kéo lên ghe, đưa vào trong khoang, tự tay rót nước trà mời khách, rồi hỏi:

-Xin anh cho biết quí danh và gặp tôi có việc gì?

Tư Long nói:

-Gọi tôi là Tư Long được rồi, quản gia của ông Bá hộ Bảnh ở kinh Cái Cơ. Tôi đại diện bà con nông dân ở đó, nhờ chú Hai giúp đở một việc quan trọng.

-Đồng bào nhờ tôi giúp đở chuyện gì? Hai Rồng khẳng khái nói, nếu đồng bào cần tới tôi. Hai Rồng nầy quyết không từ chối!

Tuy mới sơ giao, Tư Long vô cùng ngưỡng mộ và kính phục Hai Rồng. Tư Long bèn kể lại tất cả những chuyện gây hấn của Sana Thạch Sum về vấn đề biên giới, cũng như trận thư hùng giữa Lý Võ Sư và Thạch Sum cho Hai rồng nghe, rồi kết luận:

-Dân làng đang mong tôi trở về để lấy quyết định: đi hay quyết tâm ở lại.

-Từ đây đến ngày ngày lễ hội Chol-Chnam-Thmey, còn non 2 tháng nữa. Chúng ta có dư thời gian chuẩn bị trận chiến bảo vệ biên giới với Thạch Sum.” Hai Rồng nói. “Nhưng, tôi còn phải đảm đang một trọng trách, hướng dẫn đoàn ghe thương hồ đi Sài Gòn lần nầy là phải tiêu diệt “Bối Ba Cụm” . Bối là bọn cướp đường sông, phát sinh vùng Ba Cụm, đang hoành hành vùng Tân Kiên, Tân Bửu ở Bình Chánh – Gia Định. Chúng nó bơi lặn rất giỏi, mai phục dưới nước, chờ cho ghe thương hồ đi qua, rồi bất ngờ phóng lên ghe, bê hết những món gì chúng muốn lấy, kể cả nồi cơm đang đang sôi. Nhiều chủ ghe khi đi ngang qua Ba Cụm, mặc dầu đã cảnh giác tối đa, cắt cử người thay phiên canh chừng chặc chẽ; vật mà, thoát một cái, bọn bối xuất hiện lấy cắp hàng hóa, rồi lặn vô bờ nhanh như những bóng ma.

Tư Long nói:

-Lúc trước, tôi cũng có nghe danh bọn bối nầy; hình như, bọn Bối Ba Cụm không phải là người Việt mình, phải không chú Hai?

-Anh Tư nói đúng! Bọn chúng đều là người Tàu, nằm trong tổ chức qui mô Thiên Địa Hội, núp dưới danh nghĩa phù Minh diệt Thanh. Về sau, phân hóa thành hai hệ phái: nhóm Phúc Kiến, dưới danh nghĩa Nghĩa Hùng Đoàn là nhóm Kèo Xanh, nhóm Triều Châu dưới danh xưng Nghĩa Hòa Đoàn là nhóm Kèo Vàng. Nhưng trên thực tế, không mấy ai biết rõ thế nào gọi là “kèo Xanh” hay “kèo Vàng” ? Tại Sài Gòn, tay trùm mật thám Savani gài tên Võ văn Thôn ở Mười Tám Thôn vườn trầu làm trưởng ban trừ gian của Thiên Địa Hội, nằm vùng trong nhóm Triều Châu khai báo những ám hiệu và ám ngữ để liên lạc nhau. Vì vậy, một số hội viên quan trọng của hai nhóm nầy, lần lượt sa lưới cơ quan mật thám Pháp.”

Tư Long nói:

-Quê tôi ở quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Hai hội Cờ Xanh” và Cờ Vàng” hoạt động phi pháp, khủng bố, bắt cóc để buộc những thương gia, địa chủ giàu có phải đóng tiền vô quỹ của hội kín. Chúng tranh giành ảnh hưởng và quyền lợi, gây nên những trận đánh long trời lở đất, làm mất an ninh trật tự. Để vãn hồi hòa bình, chánh quyền thuộc địa Pháp mới thành lập một trung tâm hành chánh tại vùng nầy. Do đó, tỉnh Bạc Liêu được thành hình vào năm 1882. Trước đây, tôi bị chánh quyền tỉnh Bạc Liêu ra lệnh tầm nã vì trong một trận xung đột dữ dội, có mấy tên cờ vàng đàn em thân tín của Mã Tắc và một tên phú lít Tây bị hạ sát tại Đồng Nọc Nạn, nên tôi cùng một người anh em kết nghĩa huynh đệ là thầy giáo Lê văn Trí phải trôi dạt về tá túc với ông Bá hộ Bảnh. Có một đêm thanh vắng, tôi đang chèo ghe tại Vàm Lẻo, cửa vào rạch Bạc Liêu. Bỗng nghe có người cất tiếng hát bằng tiếng Tiều, giọng lơ lớ trên khúc sông hiu quạnh. Người bạn đồng hành cho tôi biết, đó là ám hiệu của bọn Thiên Địa Hội để nhận diện nhau.”

Hai Rồng nói:

-Tôi là dân thương hồ nên rành 6 câu những ám hiệu của bọn nầy: Nếu nhìn thấy ghe nào, có cái nón lá úp trên đầu bánh lái đều là người cùng phe. Đi đâu họ cũng mang theo một cây dù đen, xếp gọn lại. Chỉ khi nào cần, họ mới giương dù lên để đồng bọn nhận diện: cán dù màu xanh hay vàng. Lúc di chuyển, xem cán dù móc trên cánh tay, nếu móc quay vô mình là báo hiệu có người đang theo dõi, đừng tiếp xúc, cảnh giác. Vô nhà hội viên, nếu khách dựng dù, trở cán dưới đất sẽ ở lại lâu. Còn nếu cán trở ngược lên là có việc khẩn cấp, phải vội vã đi ngay.

Tư Long hỏi:

-Theo tôi biết, cả hai hệ phái Thiên Địa Hội sở dĩ tồn tại được là nhờ các băng nhóm giang hồ người Việt bản xứ thì phải?

Hai Rồng nói:

-Đúng! Các băng nhóm bản xứ nầy xưng hùng, xưng bá chiếm cứ từng vùng, hoạt động theo chủ nghĩa anh hùng cá nhân. Cách đây mấy mươi năm, tại Sài Gòn nổi lên hai tên tuổi lẩy lừng là Nguyễn văn Trước tự Tư Mắt và Phan Phát Sanh tự Phan Xích Long thì nhóm Thiên Địa Hội mới nổi đình, nổi đám. Tư Mắt chỉ là tay anh chị trong làng dao búa, đâm thuê chém mướn lấy nghề cướp bóc làm kế sinh nhai. Tư Mắt tự xưng mình là Thống lãnh Thiên Địa Hội, chiêu dụ được vài tay hảo hán và tập hợp được một số đàn em khá đông dưới trướng. Còn Phan Xích Long là con người có chí lớn, không chủ trương cướp bóc mà chủ trương chống áp bức, bất công xã hội và bọn cường quyền ỷ thế áp bức dân lành. Phan Xích Long cũng xưng là Thống lãnh Thiên Địa Hội. Dân lao động nghèo khổ vùng Chợ Lớn, Cần Đước, Cần Giuộc thuộc địa phận Gia Định, bao gồm vùng Sài Gòn – Chợ Lớn tới giáp ranh tỉnh Long An theo rất đông. Có thể nói, nhóm Thiện địa Hội do Phan Xích Long tổ chức rất có quy củ và bài bản. Vì vậy, khi Phan Xích Long bị mật thám bắt, giam ở khám lớn Sài Gòn, các thuộc hạ của y thuộc vùng Cần Giuộc, Cần Đước, Chợ Lớn đồng loạt nổi dậy, dùng tầm vong vạt nhọn, giáo mác, mã tấu định bao vây khám đường, định phá ngục, giải thoát cho “đại ca” Phan Xích Long. Tuy mưu sự bất thành, nhưng tiếng vang của Thiên Địa Hội làm chánh quyền thuộc địa ăn không ngon, ngủ không yên với bọn chúng. Bọn “Bối Ba Cụm” cũng tự nhận mình là nhóm “kèo xanh” Thiên Địa Hội để gây kinh hoàng cho những đoàn ghe thương hồ từ miền Tây Nam Bộ lên Sài Gòn – Chợ Lớn.

Tư Long nhìn Hai Rồng, e ngại, nói:

-Nếu như, chú Hai vai mang trọng trách, tiêu diệt bọn Bối Ba Cụm để bảo vệ đoàn ghe thương hồ. Tôi có thể neo ghe, cắm sào tại đây chờ chú Hai vài ngày cũng được mà.

-Đối với tôi, việc bảo vệ lãnh thổ vùng biên giới phía Tây Bắc chống bọn Thạch Sum rất hệ trọng. Còn việc tiêu diệt bọn Bối Ba Cụm là chuyện nhỏ. Tôi nhờ chú Ba Hổ làm cũng được mà, Hai Rồng nhìn thằng Bền nói, con ra đằng sau lái ghe, hú chú Ba Hổ qua đây cho tía dạy việc.

Thằng Bền ghe tía nói, liền đi khom lưng ra đằng sau lái, lên tiếng gọi, ghe đang cắm sào kế bên:

-Chú Ba Hổ ơi! Qua đây cho tía con nói chút chuyện!

-Ừa, chờ chút! Chú Ba qua liền!

Khoảng vài phút sau, Ba Hổ chống sào nhảy qua ghe Hai Rồng, đi vào trong khoang. Hai Rồng giới thiệu cho hai người biết nhau:

-Đây là chú Ba Hổ, em kết nghĩa giang hồ với tôi. Còn đây là anh Tư Long, quản gia của ông Bá hộ Bảnh ở vàm Kinh Cái Cơ.

Ba Hổ gật đầu chào Tư Long, rồi hỏi:

-Gần tới giờ nhổ sào lên đường rồi, anh Hai cho gọi tôi, có việc gì quan trọng lắm không?

Hai Rồng gật đầu, nói:

-Anh Tư Long, quản gia của ông Bá hộ Bảnh ở vàm kinh Cái Cơ, nhờ anh Hai lên miệt biên giới Việt – Miên, chống bọn thảo khấu Thạch Sum để bảo vệ tài sản và tánh mạng của đồng bào. Vì vậy, việc tiểu trừ bọn Bối Ba Cụm, bọn cướp đường sông ở miệt Bình Chánh – Gia Định, anh giao cho chú Ba đảm trách. Liệu chú Ba có địch lại tên thủ lĩnh Huỳnh Thanh Long?”

Ba Hổ cười tự tin, nói:

-Theo chỗ tôi biết, võ nghệ của tên Huỳnh Thanh Long cũng tầm thường thôi, nhưng tài lặn hụp thì vô song. Nhưng, tôi có cách triệt hạ hắn. Anh Hai đừng lo!

-Chú Ba nhớ lời anh Hai dặn: Chuyện bất đắc dĩ, phải giết địch thủ là hạ sách, phế võ công là trung sách. Nhưng, thu phục hắn để phục vụ cho đại nghĩa mới là thượng sách. Chú Ba đừng quên rằng, có lần bọn họ đã tham gia vào đội du kích của người anh hùng áo vải Nguyễn Trung Trực đã phục kích và hỏa thiêu chiếc tàu Espérance của giặc Pháp trên sông Nhật Tảo ở Tân An vào năm 1861, gây kinh hoàng cho thực dân Pháp.

-Tôi nhớ lời anh Hai dặn, Ba Hổ hỏi, sau khi thi hành xong công tác, tôi sẽ gặp anh Hai tại đâu?

-Chú Ba cứ về cù lao Ông Chưỡng đợi anh Hai, Hai Rồng dặn dò, nếu như chú Ba thu phục được tên thủ lĩnh Huỳnh Thanh Long cải tà qui chánh, phục vụ cho đại cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp. Anh em mình phải nhờ đến anh ta giúp nghĩa quân đào tạo cấp tốc, lực lượng thủy binh để đột kích các căn cứ hải quân của Pháp.

-Việc nầy, anh Hai để tôi lo liệu. Nhứt định sẽ thành công! Ba Hổ tự tin, giọng chắc nịch tiếp, bây giờ tôi phải hướng dẫn đoàn ghe thương hồ lên đường đúng theo kế hoạch của anh dặn. Hẹn gặp anh tại cù lao Ông Chưởng. Thôi, chúc anh gặp nhiều may mắn!

Mặt trời đã lên khỏi ngọn cau già bên kia con rạch cả sào. Mấy anh em thương hồ đã lần lượt trở lại ghe chuẩn bị nhổ sào rời bến. Có tiếng người gọi ơi ới:

-Anh Hai Rồng ơi! Tụi tui sẵn sàng rồi! Lên đường chưa?”

Hai Rồng, Tư Long và thằng Bền ra đứng trước mũi ghe, vẫy tay chào từ giã mọi người, nói:

-Chú Ba Hổ tạm thay tôi hướng dẫn đoàn ghe thương hồ lần nầy. Tôi còn phải đi ngược lên kinh Cái Cơ có chút việc. Chào tạm biệt! Chúc anh em thượng lộ bình an.

Họ ngậm ngùi từ giã nhau. Hai Rồng đứng lặng lẽ nhìn theo đoàn ghe thương hồ nhổ sào lên đường cho đến khi khuất dạng sau rặng cây mù u, rồi nói với Tư Long:

-Thôi, bây giờ mình cũng sửa soạn đi cho kịp con nước lớn. Anh Tư cột chiếc ghe tam bản của anh đằng sau lái. Thằng Bền chèo mũi, anh Tư phụ với tôi chèo lái.

o0o

Sau khi ghe nhổ sào rời bến. Họ thay phiên chèo xuôi theo dòng sông Vàm Cỏ Tây, đói ăn, mệt nghỉ. Khi ghe đến vàm kinh Lagrane, trời cũng vừa chạng vạng tối, mọi người đều thấm mệt. Họ cắm sào nghỉ qua đêm tại đây. Thằng Bền thắp ngọn đèn bão treo lên cây sào, rồi ra đằng sau lái ghe nấu cơm. Đánh được hơi người, đàn muỗi từ đâu bay túa ra, nhiều đến nổi trông giống như một đám mây màu xám tro di động, bao trùm lấy chiếc ghe. Tiếng muỗi bay kêu vo vo như tiếng của bầy ong bị vỡ tổ. Muỗi bám đầy người thằng Bền, chun vào lỗ mũi, tai, cổ áo, làm nó thất kinh, mở cửa khoang, bò vào bên trong, nói:

-Tía ơi! Muỗi ở đâu bay đến nhiều quá trời, cắn đau quá!

Tư Long cười, nói:

-Chung quanh vùng nầy là lung với đìa, cỏ năng, cỏ lát, lau sậy, phi lao, trâm bầu…mọc đan nhau thành rừng nên muỗi mòng và các loại côn trùng tiếp tục sinh sôi, nẩy nở từ năm nầy sang năm khác, nhiều vô số kể. Trâu bò, heo của điền chủ được ngủ mùng. Còn bọn tá điền nghèo khổ như ông Tư nay, phải dùng lá chuối khô bó dính chùm lại treo giữa chuồng đề ban đêm đàn heo chui vào trong đó tránh muỗi. Ngoài chuồng, còn phải đốt cỏ, rơm, lá cây, xơ dừa để un khói cho muỗi bay dạt xa ra.”

Thằng Bền nói:

-Muỗi ở Đồng Tháp Mười khiếp thật hả, ông Tư!

-Nhưng mà ông Tư có cách trị muỗi cho cháu nấu cơm, Tư long nói, cháu ra đằng sau lái với ông Tư.

Tư Long kéo sợi dây đỏi, cho chiếc ghe tam bản cập sát chiếc ghe cà dom, buộc chặt lại, rổi nhảy xuống ghe của mình để lấy bốn cái thùng thiếc ủ nay cỏ mục, xơ dừa, vỏ bưởi phơi khô, chuyền lên cho thằng Bền, rồi biểu nó lấy mấy cục than hồng bỏ vào trong thùng, đem để ở đằng sau lái và mũi ghe. Vài phút sau, khói bốc lên mù mịt, đàn muỗi tản ra xa…

Gần một tiếng đồng hồ sau. Bền dọn mâm cơm đạm bạc để giữa khoang ghe. Tuy chỉ có mấy con mắm lóc kho tộ, dĩa rau thơm, chuối sống và bần chát mà họ ăn uống ngon lành. Thằng Bền phải nạo hết lớp cơm cháy dưới đáy nồi mới đủ no. Cơm nước xong, Bền lui cui lo dọn dẹp. Tư Long trở xuống ghe tam bản lấy cái nóp, một chai rượu đế Cái Dừng, ngon nhất xứ Đồng Tháp và vài khúc khô lươn ướp sả ớt mang lên mui ghe cà dom vừa nướng khô, vừa nhậu với Hai Rồng, tìm cách đối phó với Thạch Sum.

Hai Rồng cầm chén rượu nhấp môi mà đôi mắt đăm chiêu nhìn dòng sông lộ vẻ ưu tư về trận thư hùng sắp tới với Thạch Sum.

Hai Rồng nói:

-Trận quyết đấu với Thạch Sum là trận đấu sinh tử. Tôi chưa nghĩ ra cách nào phá phép gồng của nó, dùng tuyệt chiêu quyền cước không thể tranh thắng được mà trận đấu nầy, tôi phải thắng; vì nếu bị đánh bại, đồng bào ta sẽ bị chúng “cáp Duồn” không chừa một mạng. Bây giờ, tôi mới nghĩ ra cách “thủ huề” mà thôi.

Tư Long hỏi:

-Chú Hai đấu kiểu “huề vốn” là đấu làm sao? Thật tôi không hiểu thấu!

Hai Rồng nói:

-Đánh nhau dưới sông, thủy chiến là nghề của tôi; may ra, tôi có thể đánh bại địch thủ. Nếu không, tôi sẽ khóa chặt tay, chân Thạch Sum cùng chết dưới nước với tôi. Chỉ còn cách đó thôi!

-Chưa cần thiết phải hy sinh như vậy đâu, Tư Long cảm động nói, còn nước còn tát, cùng lắm là cả dân làng đồng một lòng tử chiến với bọn cướp.

-Nhưng, tôi hỏi anh Tư, Hai Rồng ngắt lời hỏi, liệu dân làng có đủ sức đối phó với bọn cướp Thạch Sum không?

Tư Long nghe hỏi, nín thinh. Hai Rồng nói tiếp:

-Tôi đã đi qua nhiều vùng dọc theo biên giới Việt – Miên, từ Tịnh Biên, An Phú, Hồng Ngự…và từng chạm trán nhiều phen với các đảng cướp người Miên khét tiếng. Chẳng những họ giỏi võ mà còn khát máu nữa. Sau khi cướp sạch tài sản của đồng bào, lùa trâu bò đi thì chúng đốt nhà. Ai chạy không thoát thì bị chúng “cáp Duồn” , trẻ con bị chúng nắm hai chưn xé tét làm đôi, thiệt vô cùng dã man, Hai Rồng nói, chỉ có cách đó mới giết được Thạch Sum và làm chúng mất tinh thần. Chúng ta sẽ thừa thắng xông lên, tiêu diệt chúng nó. Nhưng, với điều kiện là dân làng phải biết chút ít võ nghệ. Anh Tư nghĩ sao?

-Anh em lực điền đều có sức khỏe; tuy rằng, họ không có nghề võ, nhưng họ có tài mọn ném lao, phóng chĩa để mưu sinh từ thuở nhỏ, Tư Long nói, không phải tôi nói khoe tài, một con cá cờ bằng bàn tay đang lôi dưới nước, cách tôi từ 10 đến 20 thước, không thế nào thoát khỏi ngọn chĩa của tôi phóng ra.

-Nếu được như vậy thì hay lắm! Tôi vừa nghĩ ra cách tiêu diệt chúng nó, Hai Rồng tính nhẩm, tính ra chúng ta còn tròm trèm gần 2 tháng. Chừng đó thời gian, tôi và cháu Bền có thể huấn luyện võ nghệ căn bản cho anh em lực điền đủ sức chiến đấu với bọn cướp Thạch Sum, mạnh dùng sức, yếu dùng mưu. Thôi, mời anh Tư cạn ly nầy rồi đi ngủ sớm!

Tư Long nói:

-Chú Hai đi ngủ trước đi. Tôi uống cạn ly nầy sẽ đi ngủ sau.

o0o

Từ khi vợ qua đời ở Đồng Nọc Nạn, cách đây mười mấy năm rồi. Dù sống ở nơi nào, Tư Long có thói quen ngồi uống rượu một mình, khi thì ở bờ ao sau nhà, khi thì ngồi trên bờ đê trong những bổi chiều tà, chờ ngắm trăng lên, vừa nhậu lai rai, vừa suy gẫm việc đời cho qua ngày đoạn tháng.

Nói chung, đời sống của người nông dân miền Tây Nam Bộ đều có giống như vậy, riết rồi thành nề. Cả ngày làm việc quần quật trên ruộng lúa, hết cày rồi bừa, gieo mạ xong thì chờ ngày đi cấy. Khi lúa bắt đầu trổ bông là phải coi chừng nạn sâu ray phá hại mùa màng. Lúc hột lúa chín vàng, sắp đến ngày gặt là sợ sợ lũ chim trời ở đâu kéo về phá lúa.

Hồi năm ngoái, lúc lúa đang trổ đòng đòng xanh mơn mởn; nào ngờ, chỉ trong vòng một, hai đêm bị lũ chuột đồng, cào cào, châu chấu cắn phá tiêu điều. Hết lũ giặc chim, chuột…đến lũ giặc cướp từ bên kia biên giới kéo sang đốt phá làng mạc, cướp của giết người. Vì vậy, đời sống của người nông dân miền Tây Nam Bộ rất cơ cực, lầm than, gặp mùa nước nổi thì trắng tay thao thức cái ăn. Nhứt là những đất mới khai phá như vùng đất trũng Đồng Tháp Mười nầy:

“Trên trời muỗi kêu như sáo thổi
Dưới nước đĩa lội như bánh canh”

Ban ngày, họ phải tranh đấu thật vất vả với thiên nhiên. Họ đã đổ mồ hôi, máu và nước mắt trên luống cày, dưới ánh nắng mặt trời mùa hạ như đốt cháy da người và nước ruộng đồng nóng gần bỏng da. Mỗi buổi chiều tàn, nắng nhạt dần trên thửa ruộng là họ đã nhìn thấy những dòng khói lam chiều mong manh từ những mái tranh nghèo, ẻo lả bắt đầu bay lên bầu trời như nhắc nhở những người thân thương, trở về bên mái ấm gia đình. Hạnh phúc làm sao khi nhìn thấy bóng dáng người vợ hiền chập chờn bên bếp lò, bập bùng ánh lửa rơm, chuẩn bị bữa cơm chiều. Vì vậy, họ yêu bóng đêm! Bóng đêm êm đềm làm sao! Họ trút bỏ được bộ áo bà ba đóng phèn dầy cộm, nhầy nhụa mồ hôi lúc ban trưa, trên thửa ruộng bùn lầy để quây quần bên cùng vợ con bên ngọn dầu mù u hắt hiu, dùng bữa cơm chiều muối dưa đạm bạc. Và hạnh phúc của họ thật đơn giãn như cuộc đời của họ: “Trúng mùa!” chỉ có vậy thôi.

Còn những chàng lực điền độc thân vui tính, tụm ba, tụm bảy ngoài bờ sông, bờ ruộng, bờ đê đốt lửa rơm nướng con cá, con lươn, rắn, chuột…rồi xúm nhau nhậu, hết lít nầy đến lít khác. Vào những đêm trăng sáng tỏ hoặc những đêm trăng thanh gió mát, họ rủ rê nhau đi giăng câu. Tôm cá mắc lưới, bắt được con nào là nướng liền tại chỗ, chia nhau nhậu cho đến khi “hoắc cần câu” , mặc cho ghe trôi đi đâu thì đi, muốn tắp vô bến nào thì tấp. Đến khi tỉnh rượu thì chèo ghe về nhà, chuẩn bị ra đồng cày tiếp.

Ông Tư Long ngồi trầm ngâm uống rượu một mình trên mui ghe, nhớ lại những ngày vui đã qua cùng người bạn đời trong mái ấm gia đình; bỗng đâu, có tiếng chuông chùa từ một thôn vắng xa xôi nào đó vọng lại, những hồi chuông công phu trầm trầm ngân nga kéo dài lê thê trong không gian tĩnh mịch, khi thì dồn dập đổ liên hồi, quyện vào không gian tĩnh lặng của một ngày sắp tàn, âm thanh huyền hoặc len lỏi vào tận tâm hồn làm ông chợt thức, trở về với thực tại.

Con trăng hạ tuần uốn cong như cái lưỡi liềm, treo vắt vẻo trên bầu trời lấp lánh muôn ngàn vì sao. Ánh trăng nhợt nhạt, bàng bạc mơ hồ, tỏa ánh sáng lung linh trong màn sương đêm trắng đục như khói đốt đồng tỏa ra, bay la đà trên sóng nước. Tư Long nhấp nhấp môi một hớp rượu đế cay xè, trong lòng bồn chồn lo lắng…

o0o

Trong khoang ghe, thằng Bền đang cuộn mình trong nóp, bỗng thương cha, nhớ mẹ cũng trăn trở không ngủ được. Nó chui ra khỏi nóp, rón rén bò lại phía cửa sổ, chống cái phên cửa lên, tựa cằm lên khung cửa, nhìn mông lung ra bờ sông. Phảng phất đâu đây mùi hương bông lục bình tỏa ra từ trên sóng nước thơm ngát. Nó nhìn xuống dòng sông, một đám lục bình lẻ loi bị sóng đánh, dạt vào mạn ghe, mang theo một đóa hoa mới nở với những búp non màu phơn phớt tím, bám đều đặn trên một cuốn hoa màu xanh của dọt cuối non. Thấy bông lục bình, Bền lại nhớ đến lời mẹ hiền: “Mẹ đặt tên cho bông lục bình là “hoa thương hồ” vì nó sống trôi nổi theo dòng nước, sáng đầu sông, chiều cuối sông, nhưng hoa vẫn nở và tự vươn mình lên giữa mùa giông bão, lướt trên sóng to, gió lớn mà đi. Nó có khác gì thân phận của dân thương hồ như chúng ta đâu.”

Bền thò tay ra ngoài khung cửa sổ, định ngắt đóa hoa lục bình dâng lên bàn thờ của cha mẹ; hình như, đóa hoa cũng có linh hồn, cũng biết sợ hãi, run rẩy trong lòng bàn tay của Bền. Và không hiểu vì sao, nó cũng động lòng trắc ẩn, lấy bàn tay vẫy nước cho đám lục bình trôi theo dòng nước.

Thấy tía nuôi đang ngủ ngon giấc, ngáy vang như sấm, Bền đi ra đằng sau lái, nay cánh cửa khoang sang một bền, vừa đủ lách mình chui ra ngoài. Nghe tiếng động, Tư Long quay đầu nhìn lại, thấy Bền đang leo lên mui ghe.

Tư Long nói:

-Khuya rồi, sao cháu chưa đi ngủ?

-Dạ, cháu chưa buồn ngủ nên leo lên đây nói chuyện với ông Tư cho vui, Bền hỏi, con kinh nầy tên gì vậy, ông Tư?

-Đây là con kinh Lạc Giăng (Lagrange), một trong những con kinh lớn nhứt của vùng Đồng Tháp Mười, bề rộng trên dưới 20 thước do sáng kiến của ông Tham Biện ở Tân An tên Lagrange. Đất vét từ lòng kinh đấp lên hai bên bờ cao như con đê là loại đất sét màu vàng xám, không trồng trọt gì được; vì vậy, dân cư sống sống dọc theo con kinh đào nầy rất thưa thớt. Cứ vài trăm thước mới có một mái nhà lá thấp lè tè, trước mỗi căn nhà lá là có con xuồng cắm sào dưới dòng kinh, Tư Long nói, cháu có thấy mấy ngọn đèn dầu leo lét phía xa xa trong con kinh đó không?

-Dạ thấy, vùng nầy sao buồn quá hả, ông Tư!” Bền hỏi. “Đất không trồng trọt được, dân làm sao sống?

-Họ sống không được bằng cách nầy, phải xoay sở bằng cách khác, trời sanh voi, sanh cỏ mà cháu; vả lại, thiên nhiên cũng đãi ngộ vùng Đồng Tháp. Ở vùng nầy là vùng đất trũng, toàn là cây tràm, cây đước, chen chúc với cây dừa nước, mù u, bần xanh, lau say, chưn bầu, cóc kèn…hợp thành những đám lá tối trời như vùng U Minh ở Cà Mau. Vì khí hậu quanh năm ẩm thấp nên nhiều loại côn trùng sinh sôi nẩy nở nhiều vô số nhứt là muỗi mòng. Ở đâu có côn trùng là ở đó có vô số cá đồng như cá lóc, cá bông, cá sặc, lươn, rắn. Ngoài ra họ còn vét đìa hoặc đào ao nuôi cá. Chỉ cần treo một vài ngọn đèn bão, móc trên mấy ngọn sào, cắm vào giữa đìa vào ban đêm sẽ có hàng đàn con thiêu thân lao vào ngọn, rớt xuống đìa làm mồi cho cá. Hằng năm, trước mùa nước nổi là họ tát đìa bắt cá bán cho các vựa cá ở chợ Thủ làm mắm hoặc làm khô cũng đủ sống suốt năm. Hồi ông Tư mới đến vùng nầy có lắm đìa, không biết có từ bao giờ: một cái đìa mẹ có có nhiều đìa con san sát chung quanh đìa. Có những cái đìa có loại cá bông gấm, cá lóc có râu mình có vằn hoặc đen ngòm, bóng lưỡng, có dài gần nửa thước, cân nặng 5, 6 kí lo là thường.

Bền nhìn Tư Long hỏi:

-Ông Tư à, hồi sáng này, ông Tư bàn chuyện gì với tía con mà sao có vẻ quan trọng quá vậy?

-Chuyện dân làng ở kinh Cái Cơ và Hố Cái Bác nhờ tía cháu giúp đở chống lại bọn cướp Thạch Sum dang hoành hành ở vùng nầy. Mà nầy, cháu có biết võ nghệ không vậy?

Bền khiêm nhượng, nói:

-Dạ, cháu cũng biết chút đỉnh, nhờ tía nuôi cháu dạy.

-Ừa, vậy cũng tốt!

Thấy khói từ trong các thùng thiết loãng dần, bầy muỗi quay trở lại tấn công, tôi có chuyện nầy muốn hỏi cháu.

Bền hỏi:

-Chuyện gì vậy, ông Tư?

-Dóc dáng của chú Ba Hổ giống như một công tử bạch diện thư sinh, trói gà không chặc, làm sao địch lại tên Huỳnh Thanh Long, thủ lãnh của bọn Bối Ba Cụm?

-Ông Tư đừng có lo! Chú Ba Hổ nổi danh là “Thần Châm” . Mũi châm của chú vừa cứu người, vừa diệt trừ kẻ gian ác. Tài búng châm của chú Ba, quỷ khóc thần sầu. Một mũi châm được chú Ba Hổ búng ra khỏi bàn tay đều trúng phóc tử huyệt của địch thủ. Một con ruồi đậu trên vách, cách chú Ba chừng 10 thước, cũng chưa chắc thoát khỏi mũi châm của chú. Thần Châm Ba Hổ là chú đó! Ông Tư yên chí đi, Bền hào hứng kể tiếp, sau trận đấu với võ sư Na Rặc, ông Sáu bị trọng thương, tía và chú Ba dìu ông Sáu ra bến tàu Nam Vang để về Việt Nam bằng ghe buồm. Má Chín Xồi cho 6 cao thủ võ nghệ cao cường, đuổi theo truy sát tới tận bến tàu. Chú Ba Hổ liền búng ra một loạt 6 mũi thần châm, nhằm vào yếu huyệt chỉ làm họ bị tê liệt, không động thủ được.

-Chú Ba có truyền nghề búng mũi châm cho cháu không vậy, Bền?

-Dạ có, nhưng phải khổ luyện chừng 10 năm nữa, họa may mới được như chú.

Tư Long khuyết khích:

-Có công mài sắt, có ngày nên kim mà cháu! Lo gì không thành công!

o0o

Trời vừa hừng sáng, có đôi chim vành khuyên ở đâu bay đến, đậu trên mui ghe, âu yếm rĩa lông cho nhau, rồi cất tiếng líu lo. Tiếng gà rừng cất tiếng gáy rộn rả từ thôn xóm xa xa vọng, báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Bền vừa thức giấc đã thấy ông Tư Long và tía đang ngồi uống nước trà đàm đạo có vẻ rất tương đắc.

-Bền à, thức dậy rửa mặt ăn sáng, con nước sắp lớn rồi đó, Hai Rồng nói, phần cơm trong nồi để trên cái cà ràng là phần của con đó.

Thằng Bền ăn vội vã hết phần còn lại cho xong bữa là mấy con chim bìm bịp ẩn mình trong mấy buội ô rô ở hai bên bờ sông kêu dậy ổ. Con nước đã bắt đầu lớn, mấy giề lục bình bập bềnh trên sóng nước, trôi trở vô.

Tư Long nói:

-Từ đây, chèo tiếp tục theo thủy trình trên nầy, vượt khoảng 20 cây số sẽ đến vàm Kinh 12, nằm bên tả ngạn sông Vàm Cỏ Tây, mình cắm sào nghỉ trưa tại đó rồi tiếp tục chèo thêm 10 cây số nữa sẽ đến quận Mộc Hóa. Chúng ta nghĩ qua đêm tại bến đò ở chợ quận.

Hai Rồng hỏi:

-Từ Mộc Hóa đến vàm kinh Cái Cơ và sông Long Khốt còn bao nhiêu cây số nữa hả, anh Tư?

-Dạ, còn khoảng 40 cây số nữa sẽ đến nhà ông Bá hộ Bảnh.

-Như vậy là xế trưa ngày mai là chúng ta sẽ về đến nơi, phải vậy không?

-Dạ, trể lắm là chiều ngày mai!

-Thôi, mình nhổ sào lên đường là vừa.

o0o

Nhờ gặp con nước lớn thuận buồm xuôi gió, khoảng xế trưa là ghe đã đến ấp Cai Quản trên vàm Kinh 12, bên tả ngạn sông Vàm Cỏ Tây. Mọi người đều dừng tay chèo, cắm sào nghỉ trưa, lo nấu cơm nước.

-Cháu Bền bắt nồi cơm dùm cho ông Tư nghen, Tư Long quay sang Hai Rồng nói, để tôi thả bộ vào trong ấp Cai Quản tìm mua vài con gà luộc để dùng tạm trưa nay và cơm chiều. Khoảng một giờ hơn là tôi trở lại ghe.”

Tư Long lên bờ đi rồi, Bền hỏi Hai Rồng:

-Theo lời ông Tư kể, con thấy võ nghệ của Thạch Sum không phải tầm thường. Tía cho con đi theo, giúp tía một tay nghen, tía.

-Mạnh mình dùng sức, yếu dụng mưu, tùy cơ ứng biến để hạ địch thủ. Cái lo của tía là không phải là đối đầu với Thạch Sum mà là dân làng không biết một chút võ công. Nếu như, trong lúc chúng ta tấn công vào sào huyệt của họ ở bên kia biên giới. Thạch Sum cho thuộc hạ đánh úp dân làng thì sao? Vì vậy, tía muốn con giúp dân làng lo phòng thủ tốt hơn để tránh kế “Điệu hổ ly sơn” của Thạch Sum. Tía cũng đang lo không biết chú Ba Hổ đủ bản lãnh khuất phục tên Huỳnh Thanh long, thủ lĩnh của bọn “bối Ba Cụm” không?”

Bền đề nghị:

-Từ đây đến ngày tết Miên “Chol-Cham-Thmey” còn khoảng 2 tháng nữa. Chừng đó thời gian, đủ để hai tía con mình huấn luyện căn bản võ thuật cho họ để tự lực chiến đấu với bọn cướp Thạch Sum. Tía nghĩ sao?

-Tía cũng ý nghĩ nầy. Nhưng thôi, chờ khi đến gặp dân làng, tía mới có nhận định chính xác để tìm cách giúp đở họ.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau. Tư Long mang về giỏ xách đồ ăn, vui vẻ nói:

-Thiệt là may! Trên đường đi vô làng, tôi gặp một vài anh em lực điền vừa mới tát đìa, bắt cá vừa xong, đang ngồi tụm ba dưới bóng cây ô môi, làm món cá lóc nướng trui rất độc đáo. Họ lựa những con lóc bự, nặng hơn một kí, rồi dùng những thanh tre lụi qua mình con cá, cằm xuống đất, lấy cỏ, rơm, sậy, nhánh cây khô chất chung quanh đốt cho ngọn lửa cháy bùng lên. Chờ đến khi lửa tàn, cạo sạch lớp vảy bị cháy khét bên ngoài, tôi nài họ lại 4 con cá lóc nướng trui bự tổ chảng với giá 5 cắc bạc. Họ còn tặng cho tôi nắm rau thơm đủ loại, một gói muối ớt và một chai rượu đế để nhâm nhi với bạn bè.

Tư Long vừa nói, vừa lấy mấy tấm lá chuối trong giỏ xách trải trên khoang ghe để xấp bốn con cá lên còn bốc hơi nghi ngút, rồi dùng đũa rọc theo sống lưng, tách mình con cá ra làm đôi, thịt cá phơi trắng ngần trông thiệt bắt mắt. Tư Long hỏi:

-Tôi còn vài hủ mắm thái cá lóc của chị Bảy Bến Tràm, nỗi tiếng khắp vùng Đồng Tháp để ở dưới ghe tam bản, để tôi lấy cho chú Hai và cháu Bền dùng thử.

Nói xong, Tư Long kêu thằng Bền đi ra đằng sau lái, kéo sợi dây đỏi cho chiếc ghe cập ghe cà dom, rồi nhảy xuống gọn gàng, chui vào trong khoang, lấy ra một keo mắm thái, bần chát, khế chua, đọt chọi chuyền tay cho Bền mang vào trong khoang trước, mình leo lên sau.

Đồ ăn bày ra sẵn sàng, cơm cũng vừa chín tới. Cả ba người quay quần bên mâm cơm đạm bạc. Hai Rồng gấp một miếng cá lóc nướng trui, kẹp với rau thơm bỏ vào miệng nhai, rồi khen hết lời:

-Tôi đã từng thưởng thức cá lóc nướng bọc đất sét nướng lửa rơm, nướng thùng thiếc ở miệt U Minh. Nhưng cá lóc nướng lửa rơm của bà con nông dân vùng nầy thật ngon hết sẩy.

-Món ăn dân dã nầy, tuy đơn giản thiệt, nhưng khi nướng cá cũng phải có kinh nghiệm. Phải canh lửa sao cho rơm vừa đủ chín con cá. Lửa lớn quá sẽ làm cá bị cháy khét, còn lửa yếu thịt cá sẽ nhão nhẹt. Phần ngon nhứt vẫn là ruột cá, nếu chưa chín sẽ có mùi tanh, ăn mất hứng, nhậu mất ngon, Tư Long giới thiệu món mắm thái của chị Bảy ấp Bến Tràm, nghề làm mắm cá lóc thấy đơn giãn nhưng cũng lắm công phu. Con cá lóc phải còn tươi sống, rồi ướp gia vị “gia truyền” rồi đem ủ vài ngày. Con nào chết phải dạt ra ngay vì nó ăn muối nhiều nên cá sẽ mặn, thịt bở và con mắm không đỏ. Mấy hôm trước, trên đường xuống chợ Thủ Thừa, tôi có tạt qua Bến Tràm, ghé nhà chị Bảy Mắm mua vài kí mắm thái để ăn dần.

Cơm nước xong, Tư Long giúp Bền dọn dẹp xong thì trời cũng đã trưa. Bền nói:

-Tía và ông Tư nghỉ lưng một chút, chờ con nước lớn rồi lên đường.

Tư Long nhắc Bền:

-Vào năm 1931, chánh quyền thực dân Pháp có ra quy định áp dụng cho các ghe, tàu. Nói chung là phương tiện di chuyển đường sông thuộc Nam Kỳ Lục Tỉnh: Tất cả ghe thuyền loại cỡ từ 3 cây chèo trở lên đều phải vẽ số do chánh quyền cấp. Số ghe bao gồm số thứ tự , viết tắt là No, sau đó là các ký hiệu của địa phương. Thí dụ, chiếc ghe thứ nhứt của tỉnh Rạch Giá được viết tắt là RP1 (Rạch Giá Province 1). Chẳng hạn, chiếc ghe thứ 2 của tỉnh Bến Tre được ghi tắt là BP2 (Bến Tre 2)…”

Bền thắc mắc, hỏi:

-Còn như những tỉnh có những chữ cái trùng nhau như Bến Tre, Bạc Liêu hay Châu Đốc, Cần Thơ thì làm sau phân biệt được?

-Việc nầy chánh quyền địa phương có quy định về màu sắc sơn “con mắt ghe” để dễ phân biệt, không nhầm lẫn.

-Anh Tư nhắc tôi mới nhớ. Chiếc ghe cà dom của tôi chỉ có hai cây chèo lái nằm ngoài quy định của chánh quyền, Hai Rồng nhắc Bền, chiều nay, mình sẽ nghỉ qua đêm tại bến đò Mộc Hóa. Con nhớ lời ông Tư dặn nghe, kẻo gặp lôi thôi với chánh quyền địa phương đó! Bởi vì, cột chèo thứ ba để cho con chèo mũi phụ với ông Tư và tía mà thôi.

-Dạ, con nhớ rồi!

o0o

Gác mái chèo mũi lên mui ghe xong, Bền ngồi xếp bằng yên lặng trước mũi ghe thưởng thức cái không gian yên lặng, mát dịu. Từ khi cha mẹ chết, rồi theo tía nuôi Hai Rồng sống lênh đênh kiếp thương hồ, trôi nổi bồng bềnh trên sóng nước. Đây là lần đầu tiên, Bền mới có dịp chèo ghe lênh đênh theo con sông Vàm Cỏ Tây đi vào vùng đất trũng Đồng Tháp Mười, nó giống như một cái lòng chảo chứa nước lũ đổ về vào mùa nước nổi, nhìn thấy tận mắt hệ thống kinh đào chằng chịt, những vạt tràm xanh ngút ngàn nằm ven sông, ăn sâu vào trong các ngách sông Vàm Cỏ Tây trên vùng đất trũng hoang sơ nầy: Trên tràm xanh ngắt một màu. Giữa lúa ma là giống lúa không ai trồng, tự nó mọc vươn lên vào giữa tháng ba, tháng tư. Vào mùa mưa dầm hoặc nước nổi dâng lên đến đâu, cây lúa vươn lên đến đó, có khi cao gần ngất ngưỡng trên 2, 3 thước không cần ai chăm sóc, gởi lúa cho trời, đến tháng 10 khi mùa nước lên cao điểm thì lúa chín cho những hạt gạo màu đỏ tươi. Lúa ma mọc chen với cỏ lác, lau, sậy… dưới nước là quê hương đủ loại tôm cá, rắn rùa…” . Thỉnh thoảng, Bền bắt gặp những căn nhà lá sống chung với lũ lụt, thấp lè tè, nấp sau những rặng tràm ven sông.

Bền cảm thấy mình như đi vào một thế giới hoàn toàn xa lạ, yên tỉnh lạ lùng khi vượt qua những cánh đồng tràm hoang dã hàng trăm năm với những bưng trấp, lung đìa, bàu sen là quê hương của đủ loại chim trời làm tổ quanh năm như: trích mồng đỏ, le le, cồng cộc, điên điển, gà nước… mà thú vị nhứt là ngắm nhìn những đàn những đàn sếu đầu đỏ bay rợp trời vào lúc hoàng hôn và hàng ngàn con trích đầu đỏ cất gáy lảnh lót và nhảy múa trên các lung sen vào lúc bình minh.

Con Kinh 12 dài khảng 30 cây số, chạy thẳng tắp từ đầu sông Vàm Cỏ Tây đến đầu con kinh Bà Bèo, cách quận Cây Lậy khoảng 6 cây số. Trước đây, con kinh 12 rất hẹp bề ngang, do ghe xuồng tấp nập vận chuyển hàng hóa, thủy sản từ Mộc Hóa đến quận Cai Lậy nằm trên Quốc Lộ 4 nên Tham Biện tỉnh Mỹ Tho cho xáng thổi vào, nạo vét lòng kinh cho sâu và rộng hơn. Tuy chợ Mộc Hóa tan sớm vào khoảng 10 giờ là không còn ai buôn bán nữa. Nhưng, ghe xuồng về đến đầu con Kinh 12 cũng đã xế trưa. Thằng Bền nhìn thấy những chiếc xuồng ba lá mõng manh di chuyển thành đoàn. Xuồng ba lá được cấu tạo bằng ba tấm ván ghép lại gồm hai tấm ván be và một tấm ván đáy và một bộ thanh gỗ cong làm thành khung để kết hợp ba tấm ván dính chặt vào nhau. Dưới những khung gỗ cong là “lỗ lù” giúp nước chảy gom lại giữa khoang xuồng để dễ tát. Xuồng ba lá hoặc ghe tam bản là phương tiện di chuyễn tiện lợi nhứt. Ở vùng nầy, nhà nghèo tới cỡ nào cũng có tối thiểu một chiếc xuồng ba lá dùng để di chuyển trên sông rạch, trên ruộng ngập nước dùng để mưu sinh như giăng câu, chài lưới, chuyên chở hàng hóa hoặc để thăm viếng nhau. Xuồng ba lá còn được gọi là “đôi chân của dân miệt vườn” không có chiếc xuồng kể như người cụt chưn. Cùng với vó bè vùng sông nước, đồ nghề kiếm thêm con cá, con tôm của người già, đàn bà, trẻ con sống dọc theo kinh rạch, đã nên một khung cảnh nên thơ độc đáo của miệt vườn miền Tây Nam Việt.

Tiết xuân là mùa bông lục bình, màu tím biêng biếc nở rộ, sắc hoa đẹp dân dã mộc mạc, nhưng không kém phần thơ mộng như cô gái quê không son phấn kiêu sa mà vô cùng quyến rũ, nó trang điểm cho những dòng sông quê hương thêm phần lãng mạn, làm rung động bao trái tim thi nhân mặc khách, khi lặng lẽ thả thuyền lênh đênh trên sóng nước hay trong cơn mưa chiều giăng kín mặt sông, để tìm nguồn cảm hứng thi ca. Từng giề lục bình trôi bồng bềnh trên mặt nước, sinh sôi nẩy nở thiệt mãnh liệt, nhiều đến nổi làm khúc kinh rạch vùng Đồng Tháp tắc ghẽn giao thông. Dân cư sống dọc theo hai bên bờ rạch, thay phiên nhau vớt lục bình ném lên bờ, đắp chung quanh gốc cây ăn trái như xoài, đu đủ, mảng cầu, sầu riêng… lớp trước chưa mục thành phân xanh, lớp sau bám vào đó mà mọc thành dãy màu xanh rì. Còn trên bờ là mùa bông so đũa, những cây so đũa cao ngất ngưỡng 9, 10 thước, mang những chùm bông màu trắng, đôi khi màu hồng pha sắc tím, kết thành chùm 3, 4 cái. Trái nhỏ và rất dài như đậu đũa treo lòng thòng bị gió thổi đong đưa. Khi trái chín nở bung ra thành hai mảnh, để. những hột nhỏ như hột đậu rơi xuống đất, trổi dậy thành những cây con, mọc chung quanh cây mẹ vào mùa mưa năm đó.

Mùa bông so đũa nở rộ rất ngắn, khoảng chừng một tháng thì mùa cá linh sắp sửa đi qua. Mỗi năm, cứ độ tháng 10 là nó theo con nước từ Biển Hồ đổ về nhiều vô số kể, lội đặc lền kinh rạch từ Hồng Ngự đến Mộc Hóa. Đến tháng hai năm sau, chỉ còn sót lại những đàn cá linh ham vui, lạc lối về, vẫn còn bơi lội dung dăng trên sông rạch miền Tây Nam Việt. Cá linh mà nấu canh chua bông so đũa với trái me non, ngon hết biết! Thằng Bền thấy tía nuôi chèo chống cật lực trên dòng sông Vàm Cỏ Tây với ông Tư Long, mồ hôi lúc nào cũng tuôn ra nhễ nhại như tắm, đêm trằn trọc thao thức suy nghĩ tìm cách đối phó với Thạch Sum cứu giúp dân làng. Biết tía thích món ăn dân dã nầy, Bền bèn xăn quần cao khỏi gối, ôm cây sào sào tre, tuột xuống nước, leo lên bờ con Kinh 12, đi về phía cái vó bè gần đó để hỏi mua cá linh.

Bền nhìn thấy một cụ già, tóc bạc phơ, râu dài tới ngực, đã qua rồi cái thời trai trẻ vật lộn với con trâu đi trước, cái cày theo sau, nắng mưa dãi dầu trên đồng ruộng hoặc lặn lội trong rừng tràm ngập nước đốn cây, tát đìa bắt cá, chống xuồng đi thu hoạch lúa ma để gia đình mưu sinh. Đứng bên cạnh cụ là thằng bé mình trần trùng trục, đen đúa đang phụ giúp ông, kéo khung cần vó khá cồng kềnh lên khỏi mặt nước, những con cá linh, tôm, tép… từ cái giỏ buộc dưới rún vó, nhảy bắn lên để cố thoát thân. Thằng bé lật đật nhảy xuống xuồng ba lá, cắm sào cạnh cây cầu dừa, chống xuồng đến, tháo cái giỏ ra, trút cá vào cái thùng thiếc, rồi buộc cái giỏ dưới cái rún vó như cũ. Nó nói:

-Ông nội ơi, cá đầy ắp thùng thiếc rồi! Nghỉ tay đi nội.

-Ừa, thôi được! Mình ăn không hết, làm mắm cá linh để dành mùa khô có cái mà ăn, ông cụ hỏi, chiều nay mầy định làm món gì cho nội ăn đây hả?

-Cá linh hai món: kho rục với mía lau ăn với rau thơm và nấu canh chua với bông so đũa.

-Ừa, được đa! Ông nội cũng khoái mấy món nầy lắm đó!

Những con cá linh còn mắc lưới vó, cố giẫy giụa thoát thân. Bỗng một con chim bói cá đang đậu yên lặng, thu mình trên rặng mù u gần đó, nó đột ngột vẫy đôi cánh nhỏ xíu, lao vào miệng vó nhanh như mũi tên. Trong ánh nắng gắt ban trưa, sáng lóa đến chói mắt từ dòng kinh hắt lên, cũng nhìn thấy vảy con cá linh loang loáng bạc, quẫy đuôi trong mỏ con chim bói cá, đang bay vút lên bầu trời xanh…

Thằng Bền tiến đến gần ông cụ, khoanh tay lại, lễ phép hỏi:

-Xin bán cho con một cắc bạc cá linh, được không ông?

Ông lão nghe thằng Bền hỏi, cười ngất, nói:

-Một thùng thiếc cá linh, qua bán chưa đến một cắc bạc. Cháu định mua về làm mắm cá linh hả?

-Dạ, con chỉ cần vài kí cá linh đủ nấu nồi canh chua với bông so đũa cho bữa cơm chiều nay. Tía con thích món canh chua nầy lắm!

-Thôi khỏi, qua cho không! Muốn lấy bao nhiêu thì lấy, ông gọi thằng cháu nội đang cắm sào chiếc xuồng tam bản bên cạnh cây cầu dừa, Cu Tèo à, mang thùng cá lên bờ cho ông nội.

Thấy người lạ hoắc đang đứng xớ rớ bên cạnh ông nội. Nó hỏi:

-Ai vậy hả, ông nội?

-À, cậu nầy định mua vài kí cá linh nấu canh chua với bông so đũa. Nhưng, ông nội cho, chớ không có bán.

Cu Tèo đặt cái thùng thiếc xuống đất, nói:

-Ở vùng nầy, cá linh giá bèo lắm. Ăn không hết, làm mắm không hết, phải đem làm phân cá để bón cây thuốc lá. Anh muốn lấy bao nhiêu thì lấy, tui cho anh.

Bền mừng lắm, nói:

-Để tui chạy u về ghe lấy cái rổ cái đã, nghe bạn.

-Thôi, khỏi đi anh! Tui cho anh luôn cái rổ cũ, Cu Tèo nói, để tui vô nhà lấy cái câu liêm, giựt vài nhánh cây xuống, tuốt lấy bông so đũa cho anh.”

Thoáng một cái, Cu Tèo đã hái xong một mớ bông so đũa, chất đầy trong cái rổ cá linh đưa Bền, hỏi:

-Ở dưới ghe, anh có sẵn me chín, ngò gai, rau mò om, cần dầy lá, ớt chưa?

-Chỉ có me chín mà thôi!

-Anh chờ chút nghen, tui ra vườn hái rau cho anh! Cây nhà lá vườn thiếu gì rau dùng để nấu canh chua.

Thằng Bền nhận đủ hết vật liệu, cám ơn hai ông cháu nhà quê tốt bụng, rồi ôm cái rổ cá linh và bông so đũa, hấp tấp đi về ghe. Thấy ông Tư Long đứng đằng sau lái ghe, có vẻ như trông ngóng mình thì phải. Bền gọi:

-Ông Tư ơi! Con về tới rồi đây nè!

Tư Long hỏi:

-Ủa, sao không nghỉ ngơi mà đi đâu vậy, Bền?

-Dạ, con đi mua cá linh nấu với bông so đủa đãi tía và ông Tư chiều nay.

-Thôi, lên nghe chiếc ghe tam bản, lo nghỉ ngơi rồi lo nấu bữa cơm chiều đi cháu! Con nước sắp lớn rồi, ông Tư và tía cháu sắp nhổ sào lên đường.

-Từ đây đến quận Mộc Hóa còn xa không, ông Tư?

-Còn khoảng 8, 9 cây số nữa. Mình chèo ghe tới đó trước 4 giờ chiều. Qua đêm tại đây, sáng mai tiếp tục cuộc hành trình.

Bền trèo lên ghe tam bản, đem rổ cá linh ra đằng sau lái, bỏ đầu, bỏ ruột, bỏ đuôi, rồi đem mớ bông so đủa rửa sơ, để nguyên giọt mật trong vắt trong túi mật của nó. Chính giọt mật ngọt nầy làm cho nồi canh chua có hương vị vừa ngọt ngào pha chút vị đăng đắng của trái khổ qua, ngon tuyệt vời. Xong đâu đó, Bền bắt nồi nước trên cái cà ràng, nhúm lửa đun nước cho đến khi sôi sùng sục mới bỏ mấy trái me chín vào, lấy đũa dầm me cho đến khi tan hết lớp cơm, vớt bỏ hột, cho cá linh làm sạch vào nồi. Chờ cho cá chín, nêm thêm chút muối hột, đường tán cho vừa ăn, rồi đổ bông so đũa vào nồi. Khi nồi canh chua vừa chín tới là chiếc ghe cà dom đã nhổ sào, hướng tới vàm Kinh 12, nơi gặp gỡ con sông Vàm Cỏ Tây… Bền chui vào khoang ghe đánh một giấc ngon lành, không còn biết trời đất gì hết…

—>Chương 3
<—Chương 1

This entry was posted in Nguyễn Vĩnh Long Hồ, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s