MEKONG SÓNG CUỘN PHÙ SA: Chương 3 (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

Một sân khấu hát bội miền Nam xưa (Tranh trích từ : Monographie dessinée de l'Indochine: Cochinchine do NXB Paul Geuthner xuất bản tại Paris năm 1935.

Một sân khấu hát bội miền Nam xưa
(Tranh minh hoạ trích từ : Monographie dessinée de l’Indochine: Cochinchine do NXB Paul Geuthner xuất bản tại Paris năm 1935).

CHƯƠNG BA
GÁNH HÁT BỘI “SÓNG TRƯỜNG GIANG”

Vào khoảng 4 giờ chiều. Một hồi trống ngạo nghễ không biết từ đâu vang lên vội đến: “Thùng thùng…lắc cắc, lắc cắc… thùng thùng…” làm Bền giựt mình thức dậy, ngơ ngác. Nó lấy tay dụi mắt, đi ra mũi ghe tam bản, ngước mắt nhìn lên thấy tía và ông Tư Long đằng sau lái chiếc ghe cà dom, đang nhịp nhàng vung mái chèo.

Bền hỏi:

-Bộ dân làng đang nổi trống đón mừng tía con mình, phải không tía?

-Tới đâu mà tới! Mình sắp tới quận lỵ Mộc Hóa thôi con, Hai Rồng trả lời rồi nhìn Tư Long nói. Hồi trống nầy, ai đánh mà nghe có hồn quá! Giống như tiếng trống trận của Võ nhạc Tây Sơn mà tôi có dịp thưởng thức lúc ra sông Côn mùa võ tại làng Kiên Mỹ, tỉnh Bình Định là quê hương của nhạc võ Tây Sơn. Tôi nhìn thấy một vị lão võ sư họ Bùi, điều khiển một dàn trống trận gồm 12 chiếc tượng trưng cho thập nhị chi. Đặc điểm của tiếng trống trận Tây Sơn chỉ ba hồi: xuất quân, xung trận và khải hoàn và hoàn toàn không có hồi thu quân như các triều đại lịch sử khác. Vì vậy, suốt một đời điều khiển ba quân, xông pha trận mạc: đánh Nam, phạt Bắc của Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ chưa hề lùi bước trước quân xâm lược nào. Hễ ra quân là phải chiến thắng.

Tư Long nói:

-Hình như là gánh hát bội “Sóng Trường Giang” của ông Bầu Tý, đang trình diễn ở đây thì phải?

-Sao anh Tư biết?

-Cách đây hai năm. Theo lời mời của ông Bá hộ Bảnh, ghe hát nầy có đến kinh Cái Cơ hát cho bà con nông dân ở đó coi. Ông Bầu Tý có hai tay đánh trống ác liệt lắm: một nam, một nữ. Tiếng trống trận vừa khoan hòa, vừa dũng mãnh, kiên quyết như thúc giục ba quân, tướng sĩ của vua Quang Trung xung phong ra trận tiền, tiêu diệt quân nhà Thanh để bảo vệ Tổ Quốc, Tư Long nói: – Chú Hai nói đúng đó! Điều phi thường của tiếng trống trận Tây Sơn là sự phối hợp kỳ diệu giữa tinh thần thượng võ khoan hòa và ý chí chiến đấu kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam mình, làm rệu rã tâm lý cuồng ngạo của kẻ thù dân tộc từ phương Bắc!

oOo

Khoảng cách giữa ghe thương hồ và chiếc “ghe hát bội” của Bầu Tý đang cắm sào trên bến đò quận Mộc Hóa thu hẹp dần. Thằng Bền nhún mình, nhảy lên ghe cà dom, đứng bên cạnh tía. Và mọi người thấy rõ một đôi thanh thiếu niên nam, nữ còn trẻ măng, trạc tuổi thằng Bền. Cả hai đang thi đua biễu diễn tài nghệ trước dàn trống trận trên mui chiếc ghe chài, tay cầm dùi trống lướt uyển chuyển trên mặt trống, phát những âm thanh ngạo nghễ, trầm hùng, khi thì vang rền quyết liệt như thúc giục ba quân xung trận. Động tác múa dùi, đánh trống, phối hợp cùng bộ pháp di chuyển của họ thật linh hoạt đẹp mắt. Khán giả ngồi chật trên cây đúc xi măng và dọc hai bên bờ sông, say mê nghe họ đánh trống.

Tư Long nói:

-Mình cập ghe bên hông ghe của họ, để mình có dịp chén thù, chén tạc với họ tối nay cho vui, chú Hai nghĩ sao?

Hai Rồng gật đầu ưng thuận ngay, nói:

-Được quá đi chớ! Bầu Tý với anh là chỗ quen biết nhau mà.

Khi hai nghệ nhân trẻ tuổi, chấm dứt phần biễu diễn đánh trống. Khán giả đồng loạt đứng dậy vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Ông Bầu Tý xuất hiện, leo lên cầu thang, đứng trên mui ghe chài, tay cầm loa giới thiệu chương trình biễu diễn của gánh hát bội tối nay:

-Kính thưa bà con cô bác: Tối nay là đêm biễu diễn cuối cùng của gánh hát bội “Sóng Trường Giang” tại quận lỵ Mộc Hóa. Thể theo lời yêu cầu của ông Cả Bàn ở ấp Bến Tràm. Toàn ban chúng tôi sẽ diễn vở “Tam Tạng thỉnh kinh” . Quí vị khán giả sẽ thưởng hức màn biễu diễn võ thuật vô cùng ngoạn mục giữa Tôn Ngộ Không do kép trẻ Ba Hiền thủ diễn và nàng Nhện Tinh do đào võ Năm Hậu đảm trách” . Gánh hát bội chúng tôi sẽ mở màn đúng 8 giờ tối. Xin bà con cô bác chiếu cố đến đúng giờ trình diễn. Tôi, Bầu Tý xin thay mặt toàn ban gánh hát bội “Sóng Trường Giang” , chân thành cảm ơn tấm thạnh tình của quý liệt vị dành anh em nghệ sĩ của gánh hát bội chúng tôi. Xin hẹn ngày tái ngộ.

-Đúng là bầu Tý rồi! Tư Long nói, rồi leo lên mui ghe cà dom gọi:- Ê! Anh bầu Tý mạnh giỏi? Tư Long đây nè!

Bầu Tý nhìn thấy Tư Long đang đứng trên mui ghe cà dom, cắm sào bên cạnh gọi mình. Ông Bầu Tý mừng lắm, vội vàng nhảy qua ghe cà dom, ôm chầm lấy Tư Long nói:

-Lâu quá gánh hát bội của chúng tôi, không có dịp ghé qua gia trang của ông Bá hộ Bảnh trình diễn, giúp vui cho bà con mình ở đó. Còn anh dạo nầy thế nào? Có khỏe không? Trông anh có vẻ ốm hơn hai năm trước, tóc lại bạc nhiều đó nghen, anh Tư Long.

-Nói thiệt với anh, bà con nông dân, tá điền của ông bá hộ Bảnh đang lo sốt vó về cái vụ Sana Thạch Sum sắp vượt kinh Cái Cơ, tấn công qua biên giới, “cáp duồn” đồng bào. Không phải riêng tôi, mà ai nấy đều mang một nổi lo. Không biết rồi đây sẽ ra sao! Tư Long nhìn sang Hai Rồng nói:- May nhờ có chú Hai Rồng đây, giúp chúng tôi bảo vệ bản làng, chống với lũ cướp ác ôn Thạch Sum.

Bầu Tý hỏi:

-Có phải Hai Rồng, thần cước trên dòng sông Mekong không? Nếu được người nầy giúp đở, bà con tá điền khỏi phải lo!

-Đích thị là chú Hai Rồng đó! Tư Long nói.

Hai Rồng khiêm nhượng, nói:

-Hai anh quá khen! Võ công của tôi cũng tầm thường! Tôi chỉ biết tận nhân lực tri thiên mạng thôi. Tôi sẽ cố gắng hết mình vì đồng bào.

Bầu Tý móc cái đồng hồ quả quít từ trong túi áo ra, xem giờ rồi nói:

-Bây giờ gần 5 giờ chiều rồi. Tôi cho anh em trong gánh hát lo ăn cơm nước, rồi còn dẫn họ ra chợ, lo hệ thống ánh sáng, sắp xếp ghế ngồi cho gia gia đình ông Cả Bàn và các quan lớn trong quận. Sau khi tấm màn nhung sân khấu khép lại, anh em mình nhậu với nhau một bữa cho thèm.

Tư Long nói:

-Rừng nào cọp nấy, gánh hát bội của anh đã về đến địa phương nầy, bữa nhậu tối nay phải do tôi đãi anh em trong gánh hát!

Bầu Tý nói:

-Người cháu nội đích tôn của ông Cả Bàn tên là Khiêm, vừa tốt nghiệp “đốc tờ” ở bên Tây về, bao giàn gánh hát bội trong hai đêm với giá 200 đồng cho mỗi xuất hát, diễn tại chợ quận cho đồng bào xem. Trước là mừng thượng thọ bát tuần cho ông Cả Bàn; sau nữa là chia vui với gia đình ông có người đổ đạt thành danh. Bữa nhậu đêm nay, phải do tôi đãi mấy anh để chúc mừng cho gánh hát bộ diễn thành công!

Tư Long hỏi:

-Đêm qua gánh hát diễn tuồng gì vậy, anh Bầu Tý?

Bầu Tý nói:

-Đêm qua, tụi tui diễn vỡ tuồng “Kim Thạch Kỳ Duyên” do cụ Bùi Hữu Nghĩa quê ở làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ sáng tác. Phải nói đây là vở tuồng có giá trị văn chương đặc sắc. Nghe nói, năm 1934 có ông Tây tên Mi Đăng (Midan) đã lấy tuồng “Kim Thạch Kỳ Duyên” làm luận án tiến sĩ, viết bằng tiếng Tây được báo giới ca ngợi hết lời. Sau buổi diễn, ông Cả Bàn và đồng bào địa phương vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt và tăng tiền bao giàn một đêm lên đến 250 đồng, khỏe ru bà rù.

-Thôi được rồi, anh bầu Tý! Anh lo công việc của anh đi. Lát nữa, anh em mình sẽ gặp nhau, tha hồ mà hàn huyên tâm sự đến sáng.

Sau khi Bầu Tý đi rồi, Bền nói:

-Thôi, mình cũng lo ăn cơm chiều đi tía. Tối còn đi xem hát bội nữa.

Tư Long nói:

-Cháu lo hâm lại nồi canh chua cá linh nấu với bông so đũa đi. Ông Tư lo bắt nồi cơm. Canh chua nầy mà ăn với mấm thái là đúng điệu ẩm thực miệt vườn, có từ thời khẩn hoang lập ấp.

-Khỏi nấu cơm đi, ông Tư, Bền nói, cơm nguội còn nhiều lắm! Để dành bụng còn nhậu với ông Bầu Tý nữa chớ!

-Ừ, thằng Bền nói phải đó, anh Tư!

Thằng Bền chuyền nồi canh chua lên cho ông Tư Long bắt lên cái cà ràng, hâm nóng, còn mình lo xắt nhỏ ngò gai, rau om, ớt chín…chờ khi nồi canh chua sôi lên, liền bắt ngay nồi canh ra khỏi bếp, bỏ rau thơm vào. Mùi thơm bốc ra từ nồi canh chua làm ai nay đều cảm thấy đói bụng cồn cào…

Cơm nước vừa xong, Bền thấy ông Bầu Tý hướng dẫn 14 người trong đoàn hát lên chợ quận. Bền xin phép tía tháp tùng theo anh em nghệ sĩ ra chợ chơi cho biết. Hai Rồng nói:

-Xem họ cần gì, con giúp đở họ một tay! Đúng 8 giờ tối, tía và ông Tư Long sẽ gặp con tại sân khấu.

oOo

Mộc Hóa là một trong những quận nghèo nhứt xứ Nam Bộ, nằm heo hút bên tả ngạn, gần đầu nguồn sông Vàm Cỏ Tây. Ngoài những công sở như nhà việc, nhà thương, trường tiểu học, trụ sở cảnh sát là xây bằng gạch, mái lợp ngói đỏ; ngoài ra nhà lồng chợ, các quán cơm, quán cà phê hoặc tiệm chạp phô đều cất bằng ván. Khác với mọi hôm, khoảng 10 giờ sáng là chợ đã tan rồi, không còn người mua kẻ bán rộn rịp nữa, chợ vắng hoe, chỉ còn mấy anh lính cảnh sát mặc đồng phục, ngồi ngáp dài bên ly cà phê trong tiệm nước. Cách chợ hơn 100 thước là đồng không, mông quạnh, cỏ lát xanh ngắt một màu, chạy thẳng tấp tới chân trời xa.

Nhưng, đặc biệt từ ngày hôm qua. Khi ghe hát bội “Sóng Trường Giang” của ông Bầu Tý nổi trống nhạc võ Tây Sơn do hai tay trống cừ khôi trong đoàn là cậu Ba Hiền và cô Năm Hậu biểu diễn, đã làm cho đồng bào sống dọc theo sông Vàm Cỏ Tây vô cùng háo hức, vui mừng không tả xiết, họ ăn mặc chỉnh tề ra đứng dọc bên bờ sông, chào mừng ghe hát. Bọn làm nghề không vốn cũng ngưng hành nghề đạo chích, còn những người nông dân sống trong vùng sâu phải đốt đuốc lội bộ, băng đồng 4, 5 cây số đi xem hát bội.

Ở một địa phương xa xôi hẻo lánh, hiu quạnh gần như cô lập với thế giới bên ngoài. Nhân viên, công chức bị thuyên chuyển về Mộc Hóa, họ đều có chung một cảm tưởng như bị đi lưu đày, vì đường bộ chưa có, chỉ có đường sông mà phương tiện di chuyển duy nhứt là ghe tàu. Cho nên, lâu lắm mới có ghe hát về đây biểu diễn là bà con tấp nập đi xem. Truyền thống mê hát bội đã có mặt trong đời sống văn hóa miệt vườn từ lâu đời, nó theo chân người đi khẩn hoang lập ấp từ đầu thế kỷ 20 cho đến bây giờ. Già trẻ, bé lớn đều mê coi hát bội, ngoài nhu cầu giải trí, tuồng tích còn dạy cho người ta những bài học về nhân, lễ, nghĩa, trí, tín của người xưa để khán giả có dịp suy gẫm về đạo đức làm người. Nghi thức cúng đình luôn luôn gắn liền với các gánh hát bội. Nơi nào có đình là có hát bội đến trình diễn. Như vậy, có thể nói nghệ thuật sân khấu “Hát Bội” đã có mặt trong đời sống văn hóa truyền thống ở vùng đồng bằng sông Cửu Long từ đầu thế kỷ 20. Vì vậy, cái quan niệm cũ rích “xướng ca vô lại” không có chỗ đứng trong di sản văn minh miệt vườn của vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Ngay từ trưa hôm qua, trên bến dưới ghe xuồng vô cùng nhộn nhịp. Những quán cơm, quán nhậu được cấp tốc dựng lên để phục vụ khán giả. Về đêm, đèn “măng sông” được thắp sáng choang như ngày hội lớn trong năm. Cái sân khấu được dựng lên mặt tiền nhà lồng chợ quận. Dân chúng phụ giúp nhân viên gánh hát, lăn tám cái thùng phi dầu hắc của quận, chuẩn bị làm con đường trải đá từ bờ sông đến nhà việc, để làm tám cột dã chiến, trên dùng gỗ tạp gác làm đà ngang, trên lót ván. Tại quận Mộc Hóa vào thập niên 40, nhà đèn của quận chạy bằng dầu “mazout” chỉ đủ cung cấp cho nhà việc, nhà thương, dinh ông Quận, còn đèn đường chỉ có vài ngọn sáng mù mờ, khi tỏ khi lu. Ông Cả Bàn trả 40 đồng tiền điện để tăng cường hệ thống ánh sáng cho đoàn hát: Hai cái máng gỗ đứng đứng hai bên cánh gà, mỗi máng có 4 bóng đèn 100 watts có bịt giấy kiếng màu xanh, hồng và màu vàng. Còn trong hậu trường, phải đốt thêm hai ngọn đèn “măng sông” để cho đào kép hóa trang.

Chưa tới 6 giờ chiều mà bầu không khí dưới bến sông và chung quanh chợ quận vô cùng náo nhiệt. Tiếng người gọi nhau ơi ới, bà con nông dân từ các ấp lân cận và các vùng xẻo sâu cách đó cả chục cây số như ấp Lò Gạch, ấp Cai Quản, ấp Bến Tràm, xóm Hội đồng Chiến…họ đi thành từng nhóm hoặc từng đoàn lũ lượt kéo đến bằng đủ mọi phương tiện di chuyển như ghe, xuồng và lội bộ băng đồng. Các quán cơm, quán giải khát chật nít người ngồi. Còn bọn trẻ con ngồi chồm hổm, vây quanh các gánh cháo, hủ tiếu, chè cười nói ồn ào như vỡ chợ… Một ly nước chanh đường hoặc một chén chè từ 2 xu tăng lên 4 xu. Chém đẹp! Nhưng không một ai than phiền, vì nôn nóng chờ đến giờ gánh hát kéo màn trình diễn. Các ông già, bà lão có nhiều kinh nghiệm đi xem hát hơn; thay vì, vào các quán nước ngồi chờ đợi làm gì cho tốn tiền, họ mang theo chiếu, nóp kiếm chỗ tốt trải ra ngồi chờ. Các ông vấn thuốc rê phì phà kể nhau nghe những kinh nghiệm về đồng áng, còn các bà têm trầu, nhai bỏm bẻm bàn chuyện mối mai con cháu nên duyên chồng vợ…thỉnh thoảng có tiếng trẻ khát sửa, giãy khóc, bà mẹ vạch áo cho con bú tỉnh bơ giữa đám đông người.

Thằng Bền cũng chạy đôn, chạy đáo phụ giúp nhân viên trong đoàn hát treo phong màn vẽ cảnh núi non chập chùng, hiểm trở, rồi lo sắp 3 hàng ghế ngồi ghế ngồi cho quan khách và gia đình họ, ngay trước sân khấu. Ông Bầu Tý kiểm tra lại hệ thống ánh sáng, kéo thử hai tấm màn nhung có trơn tru hay không? Trong hậu trường, ban nhạc công gồm có Hai Võng chơi đờn kìm, Chín Vĩnh chơi đờn cò, Mười Hào chơi đàn ghi ta phím lõm… bắt đầu so dây, chỉnh âm thanh cho đúng. Các vai diễn khác như Đường Tam Tạng, Trư Bát Giới, Sa Tăng… cũng lo mặc trang phục, vẻ mặt hóa trang với sự phụ trách của cô Tám Lựu, chuyên viên hóa trang của đoàn. Còn cậu Ba Hiền thủ vai “Tôn Ngộ Không” đánh côn và cô Năm Hậu thủ vai “Nhện Tinh” đánh song kiếm, dợt võ đằng sau hậu trường để diễn cho ăn khớp. Họ được hóa trang sau cùng vì vai diễn của cặp đào kép nầy chỉ biểu diễn song đấu vào hồi chót của vở tuồng.

Đúng 7 giờ chiều. Bầu Tý cho mở công tắc điện, cháy sáng rực sân khấu, rồi cho nổi trống như đánh trống múa lân, đánh chập chỏa xèng xèng, vui nhộn như ba ngày Tết. Nửa giờ sau, chiếc ghe hầu sang trọng, có tới 4 lực điền chèo, đưa cả gia đình ông Cả Bàn cập bến tàu. Ông Cả Bàn năm nay vừa đúng 80 tuổi, có vẻ yếu đuối lắm, đi phải có người dìu. Bầu Tý vừa hay tin, liền đưa 10 đồng cho Ba Hiền, biểu chạy u ra đằng quán cháo gà của dì Sáu, đặt 6 con gà luộc xé phai trộn rau râm, trước là để đãi khác, sau là để anh em trong đoàn ăn lấy sức.

Bầu Tý còn cẩn thận dặn:

-Nhớ cho bà ta biết, sau giờ diễn sẽ cho người đến lấy nghen, con trai!

Hai cái ghế bành có bọc đệm, đặt ngay trước sân khấu dành cho ông Cả Bàn và quan đầu quận Mộc Hóa, thân nhân chia nhau ngồi hai bên và dãy ghế thứ hai, dãy thứ ba dành cho công chức và lính cảnh sát quận. Còn lớp khán giả bình dân đến mỗi lúc mỗi đông đứng, ngồi đặc nghẹt đằng sau ba hàng ghế danh dự hoặc hai bên cánh gà sân khấu. Ông Bầu Tý liền cho gióng ba hồi trống, trước khi kéo tấm màn nhung, trình diễn vở tuồng: “Đường Tam Tạng Đi Thỉnh Kinh.”

oOo

Lớp một và lớp hai do anh Ba Sự thủ vai Đường Tăng phải hy sinh mái tóc chải kiểu “bảy ba” láng cón của mình để diễn cho đạt. Trư Bát Giới do Năm Phệ thủ diễn, còn Sa Tăng do Chín Cảo cao nhòng, đen thui diễn xuất. Còn mấy nàng nhện tinh do chị em nữ nghệ sĩ trong gánh hát ca diễn. Họ toàn là nam nữ nghệ sĩ nghiệp dư, chưa có tiếng tăm gì cả nhưng rất yêu nghề, chuyên đi lưu diễn giúp vui những buổi lễ cúng đình lớn ở Miền Tây như: đình Tân An, Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt, Long Trị…Bởi vì, phương thức tổ chức của gánh hát bội không tập trung nghệ sĩ cùng ăn, cùng ở, cùng tập dợt với nhau như các đoàn hát cải lương. Xong một chuyến lưu diễn, ai về nhà nay lo sanh kế. Bầu gánh giữ phong màn, sơn thủy, y quan, dụng cụ…Theo sự mời mọc của các địa phương, ông Bầu sẽ tập hợp các “bạn hát” lại, thầy tuồng, thầy đờn rồi mướn một chiếc ghe chài làm phương tiện di chuyển, lấy mui ghe chài làm sàn diễn tập. Khi ghe hát cập bến là họ đã diễn ăn khớp rồi. Gánh hát bội “Sóng Trường Giang” cũng không ngoại lệ.

Đứng sau cánh gà, Bầu Tý không ngờ tất cả anh chị em nghệ sĩ trong đoàn ca, diễn, múa, điệu bộ xuất thần, hay quá xá. Quan khách và khán giả bình dân vỗ tay từng chập, hoan hô nhiệt liệt. Trong hậu trường sân khấu, ai nấy đều lên tinh thần, chờ màn diễn then chốt là màn đấu võ cực kỳ sôi động giữa Tôn Ngộ Không và nàng Nhện Tinh để giải cứu sư phụ Đường Tăng. Lớp hai chấm dứt, tấm màn nhung vừa khép lại thì bất ngờ, chị Tám Lựu hớt hơ, hớt hải đi gặp Bầu Tý báo cáo:

-Thôi, chết mẹ rồi ông bầu ơi!

-Chuyện gì thì thủng thẳng nói, làm gì mà la hoãng lên vậy, chị Tám Lựu?

-Tới bây giờ, tui cũng chưa thấy mặt mày thằng Ba Hiền ở đâu để cho tui hóa trang nữa. Lớp ba sắp tới nơi rồi, ông tính làm sao đây, ông Bầu?

-Thôi, chia nhau đi kiếm nó coi! Ông Bầu Tý chợt nhớ nói:- À, tôi nhớ ra rồi! Cách đây gần hai tiếng đồng hồ, tôi có biểu nó chạy u ra quán cháo gà của dì Sáu đặt mua 6 con gà luộc xé phai trộn với rau râm, sau giờ diễn tới lấy, để tôi và thằng Chín Cao ra đó kiếm nó coi! Không có nó thì gánh hát bội “Sóng Trường Giang” sẽ rã gánh tại đây!”

Vừa thấy mặt ông Bầu Tý chạy đến, dì Sáu tru tréo:

-Chèng đéc ơi, nhậu gì mà nhậu dữ ác. Một mình nó ăn gần nửa con gà xé phai trộn gỏi, chơi luôn hai xị rượu nếp than. Ăn nhậu no say rồi gục tại bàn, không để ai làm ăn buôn bán gì hết! Say mèm như vậy làm sao mà diễn tuồng được hả, ông Bầu?

Ông Bầu Tý nói:

-Nó không diễn được đêm nay, tôi cho rã gánh tại nơi nầy, nghỉ hát luôn. Say khướt như vầy, làm sao diễn được lớp ba đây, nè trời?

Chín Cao nói:

-Để tui cõng nó về đằng rạp, rồi liệu tính sau.

Bầu Tý chợt nhớ đến thằng Bền, mắt sáng lên, nói:

-Ê, Chín Cao! Tao thấy thằng Bền, cháu anh Tư Long, giúp mình lo trang hoàng sân khấu, sắp xếp ghế ngồi hồi chiều, tay chưn của nó lanh lẹ, tháo vát. Nhờ nó đóng vai Tôn Ngộ Không thế thằng Ba Hiền được đa.

-Được không đó, cha nội? Ít ra, thằng Bền phải có chút nghề mới diễn chung với con Năm Hậu được; nếu không, nó đá cho hộc máu!

-Thôi, mầy lo cõng thằng Ba Hậu đi xuống ghe chài, cho nó ngủ đi, tao đi kiếm thằng Bền, ông Bầu Tý lắc đầu nói:- Không có chó thì bắt mèo, chớ biết sao bây giờ.”

Lúc đi ngang qua dãy ghế thứ ba, thấy Tư Long đang ngồi bên cạnh Hai Rồng và thằng Bền. Bầu Tý liền ngồi sà xuống bên cạnh, nói nhỏ:

-Thằng Ba Hậu nó nhậu sứa rồi. Anh Tư cho tôi mượn cháu Bền thế nó, đóng vai “Tôn Ngộ Không” lớp ba, được không anh Tư?

-Đâu anh hỏi thử nó coi?

Thằng Bền nghe hỏi, khoái lắm, chịu liền, nói:

-Tưởng gì khó, thủ vai “Tôn Ngộ Không” múa võ, đánh côn vù vù là nghề của con mà, ông Bầu!

-Thôi được rồi, ra sau hậu trường hóa trang cho kịp giờ diễn.

Thằng Bền mặc bộ đồ hóa trang “Tôn Ngộ Không” vô chật cứng, nói:

-Bộ đồ nầy chật quá, làm sao múa côn được, ông Bầu?

-Chú chỉ có mỗi một bộ đồ nầy thôi, ôÂng Bầu đề nghị:- Cháu cởi quần xà lỏn, áo thun, rồi mặc đồ hóa trang vô, thì vừa chớ gì.

Cởi bỏ quần áo lót xong, vận đồ hóa trang vô, cũng tạm thoải mái. Trong khi chị Tám Lưu lo hóa trang mặt mày, vẻ râu, mang hia, đội vòng kim cô lên đầu…ông Bầu Tý hướng dẫn cấp tốc vài động tác như gãi đầu, gãi nách, nhún nhảy, múa thước bản và vài câu nói lối…thì giờ diễn bắt đầu. Ba hồi trống vang lên thùng…thùng…thùng… tấm màn nhung từ từ kéo ra. Năm Hậu đã được hóa trang từ lâu, đang tập dợt đường kiếm của mình cho lão luyện để phục vụ khán giả, nên không biết ất giáp gì cả. Nghe tiếng trống báo hiệu mở màn là lật đật nhào ra sân khấu.

Trên sân khấu, Năm Hậu là nàng “Nhện Tinh” , song kiếm gác tréo sau lưng, hai tay chống nạnh, điệu bộ vênh váo đắc ý, đi qua lại, nhìn Đường Tăng đang bị trói ngô, nằm bên cạnh cái chảo nước một cách thèm thuồng. Y thị vừa định xốc nách Đường Tăng đem đi luộc; bất ngờ, Tôn Ngộ Không từ trong hậu trường, xách cây thước bảng phóng ra sân khấu, điệu bộ hùng dũng, nói:

-Bớ con tiện tỳ yêu quái kia! Muốn ăn thịt sư phụ của lão mổ, để sống lâu ngàn năm, phải hỏi cây côn của ta có đồng ý không cái đã.

Còn Năm Hậu rất ngạc nhiên, vì giọng nói nầy không phải của Ba Hiền, không biết thằng nào nhảy vô đây đóng thế vai của nó? Phản ứng tự nhiên, Năm Hậu hỏi cương, giọng kiêu ngạo:

-Mi là thằng bá vơ nào? Dám cả gan nhào đại ra đây đòi tỉ thí với bà hả, thằng quỷ nhỏ kia?

Thằng Bền trả lời, giọng trêu ghẹo:

-Tao mặc bộ đồ nầy, mi không biết tao là “Tôn Ngộ Không” sao hả, đồ đui?

Năm Hậu tức khí, vói tay ra sau lưng, rút song kiếm một cái rẹt, nói:

-Được rồi, để cho con đui nầy, dạy cho mi một bài học lễ nghĩa.

-Đấu thì đấu, sợ gì chớ! Rủi ro có bị thương, đừng thưa lính bắt tao nghe?

Năm Hậu liền múa song kiếm vù vù, khán giả chỉ thấy ánh kiếm loang loáng dưới ánh đèn màu, lúc phủ kín thân mình, khi che trên đầu, lúc luồn ra sau lưng, chém bên tả, đâm bên hữu. Có lúc, nàng múahai thanh kiếm quay thành hai vòng tròn như hai cái chong chóng. Lúc đang uyển chuyển, đảo thân mình xoay vòng tròn; bất thình lình, nàng hét lên một tiếng, trụ chưn trái, chưn phải co lên, còn hai cánh tay cầm kiếm, dang thẳng cánh tay trái ra, còn thanh kiếm kia chĩa thẳng lên trời, làm thành một gốc 90 độ, trông thật đẹp mắt.

Ngồi dưới hàng ghế khán giả, Hai Rồng phải chặc lưỡi, khen:

-Võ nghệ của cô bé nầy không phải tầm thường. Nhứt định phải có danh sư chỉ điểm đây.

Thằng Bền cũng đâu có chịu kém. Nó xuống tấn, hai bàn tay nắm chặt cái cán côn tròn bằng gỗ, chĩa thẳng đầu côn ra trước ngực, đảo đầu ngọïn côn quay tròn vù vù, trước chậm, sau nhanh, rồi đập ngọn côn bên trái, bên phải. Bền bật ngữa người ra, thọc đầu ngọn côn ra phía sau; đột ngột đứng dậy, dùng hai bàn tay cầm giữa cái côn, múa thanh côn quay tròn vù vù, che kín ngực, bụng, đầu…Một khán giả tinh nghịch muốn thử tài của Bền, bún liền mấy hạt sỏi nhắm lên người của Bên bay đến. Sỏi trúng vào côn gạt văng trở xuống sân khấu. Bền bất ngờ rùn chưn trái xuống, dũi thẳng chưn phải ra phía sau, nắêm chặt cán côn hướng về phía đào Năm Hậu thách đấu.

Đào nhí Năm Hậu chỉ chờ có thế. Nàng lộn hai vòng, vung tay kiếm, chém tạt hai bên hông địch thủ. Bền liền chống đầu côn xuống đất, bún hai chưn nhào lộn một vòng, nhanh chóng thọc ngược ngọn côn vào huyệt “yêu nhãn” nơi thắt lưng của nàng. Năm Hậu xoay người sang bên trái, quật ngược thanh kiếm, đánh tạt ngọn côn sang một bên. Nàng nương theo đà xoay, thuận tay nàng chém vòng xuống một đường kiếm lên giữa đỉnh đầu của địch thủ. Muốn tránh thế kiếm ác liệt của nàng, Bền nhanh chóng uốn cong người, nắm ngang ngọn côn đở lưởi kiếm nghe một cái kẻng. Hai bên giao đấu tận tình, đường côn và kiếm loang loáng dưới ánh đèn màu, chạm vào côm cốp. Khán giả đồng loạt vỗ tay từng chập, hoan hô tán thưởng. Bầu Tý không ngờ hai cặp đào kép trẻ nầy diễn ăn ý quá chừng, giao đấu tận tình. Ông đích thân đánh trống cổ võ, cả hai hừng chí, quyết ăn thua đủ với nhau, làm anh Ba Sự thủ vai Đường Tăng sợ bị lạc đạn, lăn qua cái phong màn, vô tuốt phía sau hậu trường, báo động:

-Ê, mấy cha nội! Làm ơn kéo màn lại, can hai đứa nầy lại coi! Tụi nhỏ hăng tiết vịt, quên đây là sân khấu hát bội, chớ không phải võ đài. Chúng nó quánh nhau ầm ầm, chạy nhảy làm rung chuyển sàn diễn. Sân khấu mà sập xuống là quê một cục đó nghen, mấy cha!

Bầu Tý nói:

-Kéo màn lúc nầy làm ông Cả Bàn và khán giả cụt hứng là mất hết tiền thưởng, anh em trong gánh hát đói dài dài.

Bầu Tý chưa nghĩ ra cách làm thế nào để can tụi nhỏ lại; thời may, ngoài sân khấu xảy ra một chuyện bất ngờ ngoài ý muốn, làm thằng Bền phải tự động quăng cây côn, chạy ào vô sân khấu hối Bầu Tý kéo màn lại lẹ lên. Bầu Tý không biết chuyện gì, hỏi cho ra lẽ:

-Sao không diễn tiếp, lại chạy vô hậu trường, kêu tao kéo màn. Tại sao vậy hả, Bền?

Thằng Bền dang chưn, đứng chàng hảng, chỉ vào cái đáy, nói:

-Cái quần nầy chật quá, bị tét đáy “lòi cu” ra ngoài rồi đây nè. Khán giả cười ầm lên, làm Năm Hậu mắc cỡ, quăng kiếm chạy tuốt ra đằng sau sân khấu, trốn biệt.

Bầu Tý đứng sau cánh gà, nhìn ra sân khấu, thấy khán giả còn ôm bụng cười rũ rượi, bọn con nít cười bò lăn lộn trên mặt đất. Còn ông Cả Bàn cười đến nổi ho sặc sụa, nước mắt ràn rụa, cười thở hơi lên, cười không kịp thở … Đốc tờ Khiêm ngồi bên cạnh lấy tay vuốt ngực ông nội. Bầu Tý thấy ông Cả Bàn lấy tay chỉ lên sân khấu, nói với Đốc tờ Khiêm chuyện gì không rõ, chỉ ghe loáng thoáng: thưởng…thưởng……thưởng… rồi nghẻo đầu sang một bên. Đốc tờ Khiêm vội vàng bế ông nội lên, chạy vào “Trạm Y Tế” của quận. Khán giả không biết chuyện gì, cũng rời sân khấu, ùn ùn chạy theo, đứng ngoài sân chờ nghe ngóng tin tức.

Khoảng nửa tiếng sau. Tin tức từ trong “Trạm Y Tế” được nhanh chóng lan truyền ra ngoài, làm mọi người sững sờ : “Ông Cả Bàn đã qua đời!” . Đốc tờ Khiêm một mặt cho người đem thi hài ông nội xuống ghe hầu trước. Còn mình, đích thân đến hậu trường sân khấu gặp gỡ Bầu Tý và mọi người trong gánh hát “Sóng Trường Giang” . Thằng Bền khép nép, đứng bên cạnh tía và Tư Long, chờ cơn thịnh nộ của Đốc tờ Khiêm. Nhưng không, ông thân mật đến bắt tay mọi người, rồi vò đầu thằng Bền.

Đốc tờ Khiêm trấn an mọi người:

-Tôi là Cao văn Khiêm, cháu nội của ông Cả Bàn, vừa đỗ bằng Bác sĩ Y Khoa ở Pháp về nước hơn 3 tháng, đang làm việc tại một bệnh viện ở Sài Gòn. Đáng lẽ ra, tôi phải đưa nội về trển chửa trị bệnh ung thư gan. Nhưng, nội tôi nhất quyết không chịu đi, nếu có chết thì chết tại quê nhà. Vì vậy, tôi phải ở lại Mộc Hóa săn sóc cho nội. Tôi biết, những ngày sắp tới đây, nội tôi sẽ vô cùng đau đớn vì chứng bịnh hiểm nghèo nầy. Không ngờ, cái rủi ro của cậu nhỏ nầy trên sân khấu, xảy ra ngoài ý muốn, đã giúp cho nội của tôi ra đi trong tiếng cười vui vẻ, thoải mái. Trước khi lìa đời, nội có trối lại là phải thưởng cho đoàn hát trọng hậu.

Đốc tờ Khiêm liền móc tiền trong túi áo, trao tận tay cho ông Bầu Tý 8 tờ giấy bạc “bộ lư” (giấy 100 đồng) và tặng riêng cho Bền 50 đồng, rồi từ giã mọi đi xuống bến tàu, đưa thi hài của ông Cả Bàn về nhà lo việc ma chay. Chính nhờ vào những tháng ở vùng quê để chăm sóc cho ông nội, Đốc tờ Khiêm mới nhận thấy đời sống bà con nông dân quá nghèo khổ, cơ cực và không có ai chăm sóc sức khỏe khi đau ốm, bịnh tật. Vì vậy, sau khi chôn cất cho ông Cả Bàn xong, Đốc tờ Khiêm bèn từ giã danh vọng, địa vị, tiền bạc. Ông chỉ lấy một phần gia sản của ông nội để lại, đóng một chiếc ghe chài loại trung, có gắn động cơ, trọng tải chừng 3, 4 tấn làm trạm y tế lưu động trên khắp địa bàn vùng sâu, xa xôi cách trở, chửa bệnh miễn phí cho đồng bào. Trên ghe còn có 4 giường nội trú, dành cho bệnh nhân cần ở lại để chăm sóc qua đêm. Phụ giúp với Đốc tờ Khiêm là vợ chồng người tá điền của ông Cả Bàn. Anh Nở lo chạy máy ghe, còn chị lo việc nấu ăn. Nhứt là khi mùa lũ tràn về cái rốn của vùng Đồng Tháp Mười, trạm y tế nổi lưu động bất kể ngày đêm để lo cứu giúp cho đồng bào.

oOo

Ông Bầu Tý và tất cả mọi người đưa tiễn ông Cả Bàn và Đốc tờ Khiêm ra tận bến tàu. Chín Cao nói:

-Đúng là tiền hung, hậu kiết!. Thiệt tui không ngờ ông Đốc tờ Khiêm là người trí thức trẻ tuổi mà rất biết điều.

-Thôi, cái rủi ro của mình, mà lại cái may của ông Cả Bàn. Vả lại, ổng đã 80 tuổi rồi, sớm muộn gì cũng phải chết, “sinh lão bịnh tử” là định luật của thế gian. Có ai mà lột da sống đời đâu nà, ông Bầu Tý nhìn Chín Cao nhắc:- Chú chạy ra đằng quán dì Sáu, mang mấy con gà luộc xé phai trộn rau râm về ghe để anh em nhậu. Còn tụi nầy trở lại chợ quận gom nhạc cụ, trống, kèn đem xuống ghe hát.

-Còn phong màn thì tính sao? Ba Sự hỏi.

Bầu Tý nói:

-Sáng sớm mai, mình trở lại mướn người tháo gở sân khấu, cuốn phong màn, quét dọn chợ lại cho sạch sẽ, rồi trở về Cần Thơ, chuẩn bị tập dợt tuồng mới để trình diễn 3 đêm cho lễ cúng đình Long Tuyền, Bình Thủy vào dịp lễ “Thượng Điền” tháng 4 âm lịch sắp tới đây.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau. Mọi người trở về đến ghe hát, cởi bỏ y phục hóa trang, nhảy xuống sông Vàm Cỏ Tây tắm giặt vừa xong thì Chín Cao cũng mang đồ ăn về tới, gầy sòng nhậu trong khoang ghe chài liền. Tiếng cười nói ồn ào làm Ba Hiền giựt mình thức dậy, ngơ ngác hỏi:

-Tới giờ diễn chưa vậy, mấy cha?

Nghe thằng Ba Hiền hỏi, ai nấy đều cười ngất. Cô Năm Hậu chọc quê:

-Nhậu cho đã, ngủ như chết không biết trời đất gì hết! Vãng hát từ khuya rồi đó, ông anh rể à!

-Ai diễn vai “Tề Thiên Đại Thánh” thế tui vậy?

Ông Bầu Tý chỉ Bền, nói:

-May nhờ cháu Bền, con nuôi của chú Hai Rồng, vào vai diễn thế cho mầy. Nếu không có cháu Bền, tao tuyên bố đoàn hát rã gánh tại đây luôn cho vừa bụng của mầy, thằng mắc dịch! Ừa, mà cháu Bền diễn đạt lắm. Tao cũng không ngờ nữa đó.

-Cám ơn cậu Bền nghe!” Ba Hiền nhìn ông Bầu Tý, nói:- Tại tía hết trơn, tui xin tía cho con vợ của tui đi theo ghe hát mà tía hổng cho. Nhớ vợ thấy mụ nội, tính nhậu chơi một ly xây chừng cho đở buồn. Ai dè, bắt trớn chơi luôn nửa lít đế: “Tửu nhập phá thành sầu” mà tía.

-Có nhớ vợ thì cũng nhớ vừa thôi, để dành phần cho con Năm Hậu nhớ chị của nó chớ, ông Bầu Tý đổ quạu, nói:- Tao để nó đi theo mầy, lấy ai chăn bầy gà, vịt và hai con heo ở nhà ăn đây hả? Mầy trả lời cho tao coi.

-Chú Tý nói phải đó! Nhớ vợ dữ he, Năm Hậu nói:- Thôi, thức dậy đi rửa mặt, rồi nhậu tiếp với mấy chú, mấy bác. Ngày kia là về tới nhà, gặp chị lớn của tui rồi.

Bỗng có tiếng người nào đó, đứng trên bến tàu, lên tiếng gọi:

-Bớ ông Bầu Tý, có ở dưới ghe hát không vậy?

Bầu Tý nghe gọi, lật đật buông đũa, đứng dậy, đi ra đằng mũi ghe, hỏi:

-Ai đó kiếm tui giờ nầy, có chuyện gì quan trọng không hả, anh Hai?

-Dạ có, đồng bào có chút lễ vật, nhờ tui mang tặng cho anh em trong gánh hát và có chút chuyện muốn thưa với ông Bầu Tý.

-Vậy thì, mời anh Hai xuống ghe hát đàm đạo. Bầu Tý nói.

Ông ta liền xách hai cái giỏ mây khá nặng, bước xuống cây cầu xi măng, nhảy qua ghe hát, theo ông Bầu Tý đi vô trong khoang ghe. Ông ta mượn mấy dĩa bàn, sắp thịt heo quay, bánh hỏi, rau thơm rồi nói:

-Đây là con heo quay sửa của đồng bào tặng cho anh em nghệ sĩ trong đoàn hát ăn lấy thảo. Luôn tiện, chúng tôi xin ông Bầu Tý và anh chị em vui lòng nán lại, phục vụ cho đồng bào thêm một xuất hát bội nữa, ông Bầu nghĩ sao?

-Vấn đề thù lao đêm hát như thế nào? Để tôi hỏi lại ý của anh em, rồi trả lời liền với anh ngay tại đây.

-Đồng bào địa phương sẽ trả với giá bao giàn là 400 giạ lúa cho xuất hát tối mai. Nếu ông Bầu đồng ý, chúng tôi sẽ đem đi xay thành gạo, vô bao, chở đến tận ghe hát vào chiều mai.

Ông Bầu Tý nhìn mọi người, nói:

-Ai đồng ý diễn thêm một đêm nữa, phục vụ đồng bào với giá bao giàn 400 giạ lúa. Xin đưa tay lên, qua sẽ theo ý kiến đa số!”

Tất cả mọi người đều đồng ý ở lại, diễn thêm một đêm nữa, để đáp lại tấm thạnh tình của đồng bào địa phương dành cho đoàn hát bội “Sóng Trường Giang” và đề nghị ông Bầu Tý chỉ lấy giá bao giàn tượng trưng là 300 giạ lúa được rồi.

Bầu Tý nói:

– “Chúng tôi đồng ý giá bao giàn là 300 giạ lúa. Gánh hát bội chúng tôi sẽ diễn vở “Phụng Nghi Đình” vào tối mai.”

Ông ta mừng rỡ, nói:

-Xin cám ơn ông Bầu Tý và tất cả anh chị em nghệ trong đoàn hát. Vấn đề dọn dẹp vệ sinh tại chợ quận vào sáng mai, để chúng tôi bao sân. Ông Bầu khỏi bận tâm.

-Mời tất cả mọi người nâng ly, cầm đũa nhậu tiếp, để đồ ăn nguội lạnh mất ngon! Bầu Tý nói.

Thằng Bền đứng lên, nói:

-Con không biết nhậu. Xin phép tía và mấy chú bác cho con trở về ghe của mình, kiếm cơm nguội ăn mới chắc bụng.”

Năm Hậu cũng đứng lên, nói:

-Chú Tý cho con xin một ít đồ ăn, đi với anh Bền qua nghe của ảnh, kiếm cơm nguội ăn mới no.

Tám Lựu nói:

-Ừa, để dì Tám lấy dĩa đựng thịt gà xé phai và thịt heo quay để hai đứa qua bên đó ăn với cơm nguội cho thoải mái, để người lớn bên nầy nói chuyện tự nhiên.

Khi hai cô, cậu đi rồi. Bầu Tý nhìn Hai Rồng nói:

-Tui coi bộ hai đứa nầy, lớn thêm vài tuổi nữa sẽ xứng đào, xứng kép lắm đó? Hay là anh để thằng Bền theo tôi học nghề hát bội: “Nhứt nghệ tinh, nhứt thân vinh” mà. Nhứt định, hai đứa nầy sẽ làm bộ môn nghệ thuật hát bội truyền thống, nổi đình nổi đám cho mà coi. Chú Hai Rồng nghĩ sao?

-Tôi sao cũng được, miễn là thằng Bền đồng ý là được thôi!

-Cháu Bền được bao nhiêu tuổi rồi, chú Hai? Bầu Tý hỏi.

-Mười sáu tuổi! Còn cháu Năm Hậu?

-Cháu Hậu nhỏ hơn Bền một tuổi, Bầu Tý cười nói:- Ông bà mình có câu: “Nhứt gái lớn hai, nhì trai lớn một” . Thôi, tụi mình kết làm sui gia được đó, chú Hai.

oOo

Bền thấy Năm Hậu bưng dĩa đồ ăn, theo mình qua ghe cà dom, e ngại nói:

-Tui nghe mấy người lớn nói cái gì là: Trai gái ngồi gần nhau như lửa gần rơm, không cháy thì cũng phực. Thôi, Hậu chịu khó ngồi trên mui ghe, chờ tui hâm nóng nồi cơm, rồi bưng lên mui ghe ăn chung nghen.”

Năm Hậu cưới, nói:

-Bộ Bền muốn cho muỗi thiêu tui hả?

-Đừng có lo, Bền đốt khói ung cho muỗi bay đi hết. Ngồi trên mui vừa ăn, vừa nói chuyện với nhau, thoải mái hơn.

-Ừa, sao cũng được? Bền muốn nhờ Hậu giúp gì không nè?

-Trên ghe còn một hủ mắn thái, rau thơm, ăn kèm với thịt heo quay, bánh hỏi thì đúng điệu lắm, Bền hỏi:- Có cần phải hâm lại nồi cơm không?

-Thôi, khỏi hâm nồi cơm đi, Bền! Bao nhiêu đó ăn đủ cứng bụng rồi, Năm Hậu nói:- Chuyền đồ ăn lên mui ghe cho Hậu, rồi lo đốt khói un muỗi.

Vài phút sau, mâm cơm về khuya đã dọn sẵn sàng trên mui ghe cà dom. Dưới ánh trăng hạ tuần mờ nhạt, Bền thắp lên ngọn đèn bão để giữa ghe cho sáng. Năm Hậu nói:

-Hậu ước gì đêm nay là đêm trăng tròn, bữa cơm tối nay trên dòng sông Vàm Cỏ Tây sẽ đầy thơ mộng, phải không anh?

-Bền lúc nào cũng ăn cơm chung vớí tía, mui ghe chỉ là nơi luyện võ nghệ. Vào những đêm trăng sáng, ít khi tía cắm sào ở các bến đò lục tỉnh hoặc gần quận lỵ, Bền thiệt thà nói:- Tía Hai Rồng thường cắm sào ở các bãi cồn hoặc cù lao hiu quạnh, rồi dẫn Bền lên bờ chỉ điểm võ thuật.

-Hèn chi, đường côn trên sân khấu khi nãy, Bền biễu diễn thiệt ác liệt, Năm Hậu cười nói:- Nếu không nhờ cái quần hóa trang của anh bị tét đáy, thế nào Hậu cũng bị anh dện cho một hèo.

Bền cười hềnh hệch, nói:

-Thôi, bỏ qua chuyện đó đi mà! Nhắc lại hoài, nghe dễ quê lắm nghen, Hậu!

-Người ta nói: “Thầy nào trò nấy” ! Chắc võ công của tía anh chắc phải thuộc hàng cao thủ? Năm Hậu hỏi.

Bền bèn thuật lại gia cảnh của mình, may nhờ có tía Hai Rồng xuất hiện, cứu mình kịp thời; nếu không, chắc đã bị bọn thổ phỉ người Miên “cáp Dồn” rồi từ khuya rồi, chớ đâu còn sống đến giờ nầy. Năm Hậu thương cảm nói:

-Bền và Hậu, hai đứa mình đều là con mồ côi, mồ cút hết trơn. Cha mẹ của Hậu đều chết rồi, may nhờ, ông Bầu Tý cứu thoát chết. Ông ấy rất tốt bụng, nhận chị lớn của Hậu làm con dâu. Ba Hiền là con trai một của ổng.

-Quê quán của Hậu ở đâu vậy? Bền hỏi.

-Chị em củaHậu là gái làng An Vinh, thuộc xã Tây Vinh, quận Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Đàn bà, con gái ở đó đều tinh thông võ nghệ, hầu như cô gái nào cũng biết qua hai môn võ căn bản là múa roi (côn) và đánh quyền: Ai về Bình Định mà coi / Con gái Bình Định múa roi, đi quyền. Năm Hậu kể.

Bền ngạc nhiên, hỏi:

-Là người ở ngoài miền Trung, mà sao Hậu nói rặc ròi giọng miền Nam vậy? Nếu Hậu không nói ra, đố ai mà biết Hậu sanh trưởng ở ngoài ấy.”

Năm Hậu cười, nói:

-Tại nhờ Hậu uống nước phù sa sông Cửu Long đó; vả lại, theo nghiệp hát bội mà nói giọng người ngoài ấy, khó nghe lắm!

-Bền nghe nói Bình Định là “Miền Đất Võ” . Một võ sư người Bình Định đã lưu danh thiên cổ tại một ngọn núi phía Bắc chợ Hà Tiên, gọi là núi “Ngũ Hổ” . Quê nội của Bền ở cuối con kinh Vĩnh Tế ăn thông với sông Giang Thành rồi chảy vào Đông Hồ, trước khi đổ ra biển Hà Tiên. Ông nội kể lại rằng:- Những người dân địa phương sống trong những xóm nhà hai bên ven sông Hà Tiên thường đến chân núi đó để lấy nước ngọt trong một cái giếng, đầy ắp quanh năm, đem về nhà uống. Bỗng một hôm, cả xóm báo động vì có một người trong xóm đi lấy nước ngọt từ sáng sớm tới chiều tối mà chưa thấy trở về. Anh em lực diền trong làng bèn tập hợp lại, đốt đuốc sáng rực một gốc trời, vừa đánh phèng la, đập thùng thiếc, vừa la hét ầm ỹ vang động dưới chân núi, để thú dữ tránh xa họ. Khi đến gần cái giếng, họ nghe tiếng bầy cọp rống à…um vang lên một cách rùng rợn. Họ hồn vía lên mây, bỏ chạy thục mạng về làng. Từ đó, không còn ai dám léo hánh đến cái giếng đó lấy nước ngọt nữa. Thế rồi một hôm, có một chiếc ghe bầu từ miền Trung ghé Hà Tiên, xin đồng bào tiếp tế nước ngọt trước khi vượt biển ra đảo Phú Quốc. Không may cho họ, gặp mùa hạn hán, nước ngọt không đủ dùng có đâu tiếp tế cho họ. Cuối cùng, họ phải liều mạng đến cái giếng ở dưới chưn núi lấy nước ngọt, bất chấp lời cảnh giác của dân địa phương về bầy cọp rừng đang hoành hành vùng đó. Một người đàn ông tình nguyện, gánh một cặp thùng thiếc bằng cây côn sắt, đi về phía giếng lấy nước ngọt và cho mãi đến xế chiều mà chưa thấy ông ta trở lại chiếc ghe bầu. Những người cùng đi trên chiếc ghe bầu, vầy đoàn với người trong làng đi tìm. Khi đến gần giếng nước, họ chứng kiến một cảnh tượng đầy hãi hùng. Trước mắt họ, cây cối ngã nghiêng, máu cọp rải rác khắp nơi. Ba xác cọp to lớn bị dập vỡ sọ chết. Còn người võ sĩ Bình Định vẫn đứng sừng sững, tay cầm cây côn sắt chĩa thẳng ngay đầu con cọp đầu đàn. Người và cọp nhìn nhau trừng trừng không nhúc nhích cục cựa gì hết; thì ra, người võ sĩ Bình Định và con cọp đầu đàn đã chết từ lúc nào. Ông không có nước uống nên chết vì bị kiệt sức. Từ đó, dân làng gọi đó là núi “Ngũ Hổ” vì võ nghệ và sức mạnh của người võ sĩ Bình Định còn mạnh hơn bốn con cọp dữ.”

Năm Hậu nói:

-Đường côn Bền múa khi nãy trên sân khấu, giống như đường roi tuyệt kỹ vang danh đất Thuận Truyền rất phổ biến tại Bình Định thì phải?

-Bền chỉ khổ luyện theo sự chỉ dạy của tía, tuy chưa đạt hết phần căn bản. Nhưng, đủ sức tự vệ bản thân, Bền nói:- Mấy năm về trước, tía Hai Rồng cũng đã từng lặn lội ra Bình Định tìm thầy bái sư, trau dồi thêm kỹ năng chiến đấu.”

Thấy trời đã khuya, Bền nhắc:

– Thôi, mình ăn chút gì đi, khuya lơ, khuya lắc rồi đó!

oOo

Đêm trên sông Vàm Cỏ Tây thật tĩnh mịch, con trăng hạ tuần thả xuống dòng sông một thứ ánh sáng nhợt nhạt mơ hồ. Trong cái không gian tĩnh lặng, chỉ còn ghe tiếng mái dầm của những thuyền giăng câu đêm, khua trên sóng nước, lẫn lộn với tiếng sóng vỗ rì rào vào be ghe. Tiếng con cú nào đó ẩn mình trong lùm cây, cạnh con đường làng, rúc lên từng chập nghe đến rợn người.

Lẫn trong tiếng gió thổi xào xạc, lướt qua mấy rặng mù u, dừa nước, trâm bầu… dọc theo bờ sông là tiếng mẹ ru con “ầu ơ” … lẫn tiếng võng đưa kẽo cà, kẽo kẹt văng vẳng vang lên từ một chiếc ghe thương hồ cắm sào gần đó giữa đêm khuya. Lời ru con nồng ấm, mộc mạc, âm điệu chân quê ngọt ngào, chan chứa tình mẫu tử thiêng liêng:

Má thương con ruột thắt gan bào
Tía con bỏ má, má nào bỏ con
Thương nào bằng nổi thương con
Con ơi đừng khóc má buồn tủi thân…”

Nàng bỗng đổi giọng ru con, thương thân trách mình phận bạc, mới ra cớ sự như vầy:

“Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp như cơm khét dành khi đói lòng
Nơi thương tía má biểu không
Nơi chẳng bằng lòng tía má biểu ưng.”

Một người giăng câu đêm, cắm sào gần đó gần đó, đoán biết rõ phần nào gia cảnh của người đàn bà đó, hằng đêm buông lời hò ghẹo:

Bậu ơi! Đừng chê qua nhỏ thó làm qua buồn tình
Vậy chớ, con thằn lằn bao lớn mà nó ôm cột đình sát đeo hò…ơ…

Thiếu phụ trên ghe thương hồ, hò đáp lại, chọc quê anh chàng giăng câu si tình nào đó:

“Chuối non dú ép chát ngầm
Trai tơ đòi vợ khóc thầm suốt đêm
Khóc rồi bị má đánh thêm
Vợ đâu mà cưới nửa đêm cho mầy…hò ơ..

Hồi đó, chợ quận Mộc hóa có một căn nhà lầu duy nhứt của Hương cả Cần cất bên dòng sông Vàm Cỏ Tây, con gái lớn của Hương cả Cần rất đẹp mà cũng rất kiêu. Có khách thương hồ trồng cây si, thường cắm sào dưới bến nước trước căn nhà nàng. Nhưng, nàng đâu có màng. Chàng bất mãn, hò chọc tức:

Nhà bậu giàu, thịt thà đầy mâm, đầy thớt
Phận qua nghèo, trớt quớt con cu
Một mai bóng xế trăng lu
Thịt thà bậu hết, con cu qua còn.

Về sau, Hương cả Cần ham giàu nên gả nàng làm bé cho một “Xì thẩu” giàu có ở Chợ Lớn. Anh chàng bèn hò nhắn:

Lấy Tây, Tây về nước
Lấy Chệt, Chệt về Tàu
Lấy Tây, lấy chệt làm gì?
So bề nhân ngải sao bì với qua
.

Điệu hò ru con và điệu hò huê tình lãng mạn đuổi nhau trên sông rạch vùng đồng bằng sông Cửu Long hoặc trong mùa cày, cấy trên đồng ruộng, nó tồn tại mãi mãi với thời gian và trở thành bất tử trong kho tàng văn chương miệt vườn. Riêng điệu hò ru con đã gieo hạt và thấm sâu vào tuổi thơ từ lúc tuổi nằm nôi cho đến trưởng thành về tình yêu quê hương xứ sở, tình tự dân tộc.

Lời hát ru con ngọt ngào của người mẹ nào đó; bất chợt, gieo vào lòng Hậu một nổi buồn tê tái, làm buốt giá tâm hồn. Nàng khát khao được rúc đầu vào lòng mẹ nồng ấm, được nghe những lời hát ru trìu mến “à ơi” của mẹ năm xưa. Hậu nhớ mẹ, nhớ cha rồi bật khóc nức nở…

-Lời ru con của ai, nghe sao buồn quá! Bền cũng nhớ mẹ nhớ cha như Hậu vậy đó, Hậu biết không? Bền nhìn Hậu, nói:- Quê hương của Hậu ở ngoài miền Trung xa lơ, xa lắc. Tại sao lại Hậu lại trôi dạt vào tận trong nầy vậy?

Năm Hậu ngồi gục đầu trên gối, mắt mơ màng nhìn xuống dòng sông mênh mông, rồi bắt đầu kể:

-Cha mẹ của Hậu, người gốc gác làng An Vinh, xã Tây vinh, quận Tây Sơn thuộc tỉnh Bình Định. Anh, chị và Hậu người nào cũng cũng được cha mẹ truyền dạy võ nghệ. Thời trai trẻ của cha mẹ, nổi tiếng bất bại trên sàn đấu. Ngoài ra, cha lại giỏi về nghề thuốc chuyên trị nội thương, trật đả, té gẫy tay chân, đau lưng, nhức mỏi…Vì vậy, mỗi năm sau vụ mùa là cha mẹ đưa các con lên ghe bầu, xuôi buồm xuống Quy Nhơn, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết…để hát “Sơn Đông Mãi Võ” bán thuốc và chửa bệnh cho dân nghèo không lấy tiền. Bao giờ bán hết thuốc thì trở về lại Bình Định.”

Bền hỏi:

-Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, người ta phân biệt ghe và xuồng rõ ràng. Ghe có nhiều loại như ghe tam bản, ghe chài, ghe lườn, ghe cà dom, ghe ngo…Ở Rạch Giá, quê của Bền, còn có một loại “ghe xiệp” thường ra biển đánh bắt cá gần bờ và cào hến bán cho các trại chăn nuôi vịt. Nhưng, không biết hình thù chiếc ghe bầu ở ngoài ấy ra làm sao?

Năm Hậu nói:

-So với những loại ghe xuồng trong miền Nam, được đóng toàn bằng gỗ cao cấp như sao, dầu, cà chít…thiệt vững chắc, có khả chịu nước và sóng lớn. Nhưng, những chiếc ghe bầu ngoài miền Trung đan bằng tre, rồi dùng dầu chai trét các khe hở, nên trông thật mỏng manh và thô sơ. Vậy mà mỗi năm, có nhiều chuyến ghe bầu từ ngoài ấy, căn buồm theo cơn gió mùa chở dầu chai, dược liệu, đồ gốm, đồ khảm xà cừ…vào trong miền Nam bán, mỗi chuyến đi kéo dài độ vài tháng.”

-Thường mùa gió nào, gia đình Hậu mới xuôi vào Nam, còn theo mùa gió nào mới quay trở về miền Trung? Bền hỏi.

-Hậu nghe cha nói, đợi gió mùa Đông Bắc thổi mạnh vào phương Nam khoảng tháng 10 đến tháng giêng. Sau khi bán hết hàng, họ cắm sào quay quần bên nhau từng nhóm nhỏ năm, bảy chiếc tại một bến nước nào đó cho có bạn ghe, rồi lên bờ làm thuê, làm mướn hoặc hành nghề chuyên môn như chạm trổ, nấu ăn trong các hàng quán…đợi gió mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 9 năm sau, bắt đầu thổi ngược lên mạn Bắc là họ chở theo các sản trong Nam như mật ong, dừa khô, gạo thóc, đường…nhổ sào rời bến, trở lại miền Trung.

-Tại sao chị em của Hậu trôi dạt vào tận nơi nầy? Còn tía má của Hậu bây giờ ở đâu? Không rước con cái về ngoài ngoải?” Bền hỏi.

-Mỗi năm, cha mẹ Hậu đều đưa hết con cái theo ghe bầu vào trong Nam buôn bán. Nhưng cách đây hai năm, anh trai của Hậu, mới vừa cưới vợ, nên không theo gia đình vào Nam. Đây là chuyến đi định mệnh, cha mẹ Hậu bàn tính giong buồm xuống tận đất mũi Cà Mau, tìm vùng đất mới để lập nghiệp. Nhưng, khi ngang qua cửa biển Mỹ Thanh thuộc vùng duyên hải tỉnh Sóc Trăng, chiếc ghe bầu mỏng manh bị cơn bão biển quật rã ra từng mảnh. Chị em Hậu nhờ ôm được cột buồm đã gẫy, bị sóng đánh, tắp vô bờ biển quận Vĩnh Châu; may nhờ, ghe hát bội của ông Bầu Tý đi ngang qua đó cứu nạn, bảo bọc cho tới bây giờ và nhận chị Tiền làm dâu con.

-Hậu có nghe tin tức gì của tía má không?

-Bặt vô âm tín, Hậu hy vọng, nói:- Biết đâu, cha mẹ Hậu còn sống sót, đã trở về ngoài ấy rồi cũng không chừng.

-Tại sao Hậu không về ngoài chuyến coi cho biết? Bền hỏi.

-Chị em Hậu nghèo lắm, không có tiền bạc gì hết! Làm sao mà trở về quê? Hậu nói:- Chuyến nầy, Hậu bán hai con heo cũng được sáu chục đồng, cộng với tiền thưởng mấy đêm hát tại mộc Hóa, chắc tạm đủ làm lộ phí trở về quê nhà. Trước hy vọng gặp lại cha mẹ, sau thăm gia đình của anh mình.

-Bền muốn mua hai con heo đó, Hậu chịu bán không? Bền nói nửa đùa, nửa thiệt:- Nhưng mà, Bền chỉ có 50 đồng, tiền của thầy thuốc Khiêm thưởng khi nãy, còn nợ 10 đồng, cho thiếu nghen.

-Khi nào Bền định bắt heo hả?

-Chừng nào cưới vợ sẽ cho người đến bắt, được không?

-Vậy, chừng nào Bền cưới vợ?

-Ai mà biết!

-Sao lại không biết chớ?

-Tại vì, tui không biết người ta có ưng làm vợ tui không?

Hậu phá lên cười, tát yêu vào má của Bền, nói.

-Quỷ vật anh! Mới có bi lớn mà biết “dê” gái rồi! Tui không bán heo cho Bền, mà còn mét tía của Bền nữa đó!

-Nói giỡn thôi mà, bộ giận thiệt hả, Hậu? Bền móc trong túi áo, tờ giấy bạc 50 đồng, còn mới cáu cạnh, đưa cho Hậu, nói.:- Hậu giữ số tiền nầy để làm lộ phí về quê. Mong Hậu gặp lại tía má.

Hậu cảm động, nói:

-Thôi, Bền cho Hậu mượn! Khi nào gặp lại nhau, Hậu sẽ hoàn lại, chịu không? Chịu thì Hậu mới lấy!”

-Ừa, như vậy cũng được. Nhưng, Bền biết tìm Hậu ở đâu? Đừng như, “Tìm ai như thể tìm chim. Chim bay biển Bắc, Bền tìm biển Nam” đó nghen.”

-Bền cứ về sông Ngã bảy Phụng Hiệp, hỏi thăm cô Hậu lái đò hoặc nhà của ông Bầu Tý thì ai cũng biết.

-Hậu vào nghề lái đò trên dòng sông Ngã Bảy Phụng Hiệp từ bao giờ vậy?

-Bằng mọi cách để có tiền trở về quê. Sau mùa gặt mướn hồi năm ngoái, Hậu để dành một ít tiền đủ mua một chiếc ghe tam bản cũ. Thế là, cuộc đời Hậu gắn bó đời mình vô chiếc ghe và trở thành cô lái đưa đò chuyên nghiệp trên dòng sông Ngã Bảy để kiếm cắc vô, cắc ra phụ với chú Tý. Chú ấy rất tốt bụng lắm, mà anh rể cũng chịu khó làm ăn, còn Hậu ai kêu gì làm nấy. Ngày nào trời mưa giông, Hậu ở nhà học nghề hát bội với ông bầu Tý, Hậu cười, nói:- Tuy lênh đênh phận gái đưa đò, nhưng ai cũng nể nang. Nghe danh gái Bình Định nầy, các băng cướp đườngng sông đều chạy mặt hết trơn, hết trọi.”

-Bộ ở sông Ngã bảy Phụng Hiệp cũng có bọn cướp đường sông sao, Hậu?

-Ở đâu mà không có bọn giết người, cướp của nầy chớ! Hậu nói:- Cách đây mấy tháng, trước Tết Nguyên Đán. Bọn cướp đường sông khoảng 20 tên do hai anh em Tư Búa và Bảy Mã Tấu làm thủ lãnh. Chúng thường xuất hiện hoạt động trong khu tam giác kinh Cái Côn và Cái Trâm và khúc sông Hậu khoảng cuối cù lao Mây, chận đánh cướp táo bạo các ghe thương hồ, chở đầy ắp hàng hóa theo hai con kinh nầy đi vào sông Ngã Bảy Phụng Hiệp để buôn bán. Trong số nạn nhân nầy có Bác Hai Thìn là anh họ của chú Tý bị Bảy Mã Tấu chém trọng thương và bị cướp sạch các tài sản. Ngoài ra, còn mấy vụ đánh cướp táo bạo khác trên con rạch Cái Thiên. Trong số nầy, có vợ chồng anh Can đi ăn đám cưới về, khi bơi xuồng ngang qua ấp Mái Giầm; bất ngờ, Bảy Mã Tấu và đám bộ hạ chèo ghe vượt lên, cập vào chiếc xuồng của vợ chồng anh Can, cướp hết nữ trang của chị Can. Vì vậy, chị em của Hậu phải ra tay trừ khử bọn chúng.

-Mãnh hổ nan địch quần hồ, làm sao hai chị em của Hậu đánh cho lại bọn thổ phỉ nầy chớ? Bền hỏi.

-Đêm 23 Tết, có hai ghe thương hồ cắm sào trên con kinh Cái Côn, chờ sáng vô chợ Phụng Hiệp bóc dở hàng hóa. Chú Tý dàn xếp với người chủ ghe, đồng ý để cho hai chị em Hậu bảo vệ dùm cho họ. Chị Tiền nằm phục trên mui ghe trước, còn Hậu nằm phục trên mui ghe sau. Quả nhiên, lúc nữa đêm về sáng, bọn chúng xuất hiện, di chuyển bằng xuồng ba lá, chia làm hai cánh tấn công: Tư Búa và 2 tên thuộc hạ tấn công ghe trước, còn Bảy Mã Tấu và 2 tên khác lo tấn công ghe sau, đụng độ với Hậu. Đây là lần xuất trận đầu tiên, chiến đấu sanh tử thực sự của chị em Hậu, Năm Hậu nói:- Tiếng tăm của gái Bình Định đi liền với thành tích trong giao đấu chống kẻ ác. Hậu thấy Bảy Mã Tấu để lộ sát khí, quyết giết kẻ phá hoại kế hoạch ăn hàng của bọn chúng. Hậu buộc phải giở tuyệt kỹ, sử dụng đòn “Bát” đánh bạt thanh mã tấu chém từ trên xuống, rồi nhanh chóng trở đầu ngọn côn, ra đòn đánh nghịch, điểm mạnh vào “sa mở” của Bảy Mã Tấu. Hắn hự lên một tiếng, hộc máu mồm. Hậu liền chống đầu côn trên mui ghe, phóng người lên tung ngọn “song cước” vào cổ và ngực của Bảy Mã Tấu. Bị trúng đòn, hắn rớt xuống nước nghe một cái ùm. Hai tên bộ hạ phóng mình xuống kinh, dìu hắn vào bờ, chạy biến vào trong bóng đêm. Trận thư hùng giữa Tư Búa và chị Tiền rất quyết liệt, ngoài sức mạnh và võ nghệ khá cao cường. Hắn múa cây búa nghe vù vù, chém vào hai bên sườn của chị Tiền, khí thế vô cùng ác liệt. Chị phải dùng đòn “Triệt” để phá đường búa chém tạt ngang sườn. Tư Búa xoay người quật ngược lưỡi búa chém tạt ngang cổ địch thủ. Chị Tiền né đòn, giả đò té ngửa trên mui ghe. Tư Búa mừng quá, hai bàn tay nắm chặt cán búa, dùng hết công lực giáng xuống đầu địch thủ. Chị Tiền nhanh chóng lăn mình qua một bên, lưỡi búa trợt mục tiêu, dính chặt cứng trên mui ghe, hắn không cách gì rút lên được. Chị Tiền đứng bật dậy như cái lo so, ngọn côn phăng tới đầu hắn thế mạnh như vũ bão. Tư Búa nhắm mắt chờ chết. Nhưng, khi đầu ngọn côn vừa chạm nhẹ vào mục tiêu. Chị Tiền đã thu côn về, tha chết. Tư Búa xúc động trước lòng nhân từ của chị Tiền, thề cải tà quy chánh, giải tản băng cướp đường sông.

-Lòng dạ chị của Hậu tốt thiệt! Bền phục sát đất! Mong có ngày Bền gặp chị Tiền để xin bái sư!

Trong khoang ghe chài, mọi người say túy lúy. Hai Rồng và Tư Long đứng dậy kiếu từ , trở qua ghe của mình. Dì Tám Lựu đứng đằng sau lái ghe hát, hú:

-Năm Hậu ơi! Về ngủ đi cháu, khuya rồi đó!

-Dạ, con về liền, Năm Hậu nhìn Bền bịn rịn, nói:- Thôi, Hậu về nghen, chúc Bền ngủ ngon!

Năm Hậu đứng dậy, cúi đầu chào chú Hai Rồng và Tư Long, nhún mình nhảy qua ghe chài một cách nhẹ nhàng. Nhìn bước chân của Hạu chạy thoang thoáng trên mui ghe. Hai Rồng gật gù, khen:

-Con gái Bình Định có khác!” Hai Rồng quay qua, hỏi Bền:- Ông bầu Tý muốn tía cho con gia nhập gánh hát bội của ổng để học nghề. Nhứt nghệ tinh nhứt thân vinh. Bảo tồn nền “Văn hóa truyền thống Dân Tộc” cũng là một cách phục vụ đất nước. Ý con thế nào cho tía biết?

Bền trả lời liền, một cách dứt khoát:

-Cái chí của con là đi theo tía, lớn lên tung hoành ngang dọc ở chốn chiến trường, giúp dân, giúp nước. Ánh đèn sân khấu không phải là nơi con biểu diễn võ nghệ để cho thiên hạ mua vui; vả lại, cái mạng của con là do tía cứu sống. Con vì háo danh, bỏ tía mà đi là bất nghĩa.

Tư Long nghe khoái quá, nói:

-Làm trai phải như vậy mới đúng! Thà chết ở chiến trường, da ngựa bọc thây. Chớ không phải hấp hối ở trong tay đàn bà, lũ trẻ nâng đỡ có đáng gì đâu?

Hai Rồng cảm động, nói:

-Cứu con là chuyện tình cờ, đừng nặng tình nghĩa quá! Hãy sống thật theo hoài bão của mình. Sau nầy, khi trưởng thành, con biết mình muốn gì, cứ mạnh dạng ra đi, không ai trách con đâu. Hồi nãy, tía nghe ông bầu Tý và mấy người trong ghe hát kể sơ qua thân phận của cháu Hậu, nghe cũng tội nghiệp lắm. Cháu muốn về quê ngoài Trung hy vọng gặp lại cha mẹ, còn sống sót sau cơn bão biển. Vì vậy, sau chuyến lưu diễn lần nầy, mọi người đồng ý, gom góp một ít tiền cho cháu Hậu làm lộ phí về quê nhà.

-Con cũng biếu cho Hậu 50 đồng, tiền thưởng của thầy thuốc Khiêm cho con, Bền cười ngắc nghẻo, nói:- Không dè, nhờ cái quần tét đáy, mà ghe hát được thưởng khẳm tiền. Ai cũng vui vẻ hết, phải không tía?

Hai Rồng vỗ vai thằng con, nói:

-Thôi, trời khuya rồi! Hãy đi ngủ, mai chờ con nước lớn, mình chèo ghe lên đường.

oOo

Trời vừa rạng đông, tiếng gà gáy rộ bên kia sông. Bền đã ghe tiếng mái chèo khua nước rộn ràng, tiếng người cười nói lao xao trên sông Vàm Cỏ Tây. Bền đã thức dậy, chống cái phên cửa lên, chỉ nhìn thấy cả một khúc sông chìm trong sương mù nhạt nhòa, trắng đục, bay la đà như mây trắng trôi trên sóng nước giống như một cảnh tiên trong một bức tranh thủy mạc. Sương mù bay giăng kín bến tàu, Bền có cảm tưởng bức màn sương được vén lên cho ghe, xuồng từ trong đó trôi ra, cập bến, cắm sào để lên hàng. Từ đằng sau lái, chiếc ghe hát đã nổi lửa từ bao giờ, thả ra những làn khói bếp mỏng manh, uể oải bay lên chìm trong sương mù. Tiếng của dì Tám Lựu oang oang, gọi:

-Ông Bầu Tý mời quý vị qua ăn sáng, rồi còn lên đường cho kịp con nước lớn.

Bền đánh thức tía và ông Tư Long dậy:

-Tía ơi, ông Bầu Tý mời tía và ông Tư qua bển ăn sáng.

Hai Rồng thức dậy, nói:

-Ừa, con qua bên đó trước đi! Tía và ông Tư rửa mặt rồi qua sau.

Bền vốc nước sông, súc miệng, rửa mặt, rồi leo lên mui ghe, đã thấy Năm Hậu chống roi, đang đứng chờ mình trên mui ghe hát từ lúc nào. Bền liền phi thân qua ghe hát. Năm Hậu thấy Bền, mừng lắm, bẽn lẽn, nói:

-Hậu có vật nầy tặng Bền làm kỷ niệm, trước khi chia tay.

-Hậu tặng cho Bền cái gì đây? Bền hỏi.

Năm Hậu lấy một quyển tập học trò từ trong túi áo bà ba, đưa cho Bền, nói:

-Bổn chánh đã mất trong cơn bão biển. Còn đây chỉ là bổn sao, căn cứ vào những động tác của Hậu, chị Tiền vẽ lại. Nét vẽ nguệch ngoạc không được đẹp lắm, chỉ là hình ảnh tượng trưng các bài quyền An Vinh và đường roi Thuận Truyền bí truyền mà chị em Hậu tiếp nhận từ tía, má truyền lại. Trông đường côn mà Bền múa trên sân khấu đêm qua, cũng đủ biết Bền đã có căn bản võ thuật. Cuốn sách nầy sẽ giúp Bền coi theo đó, trau dồi thêm tài năng. Hậu chúc anh siêng năng tập luyện sẽ thành công, còn đây là cây roi gia truyền của gia đình Hậu. Bền giữ lấy để tập luyện.

Bền cám ơn, bỏ cuốn tập vào trong mình, hỏi:

-Roi và côn khác nhau chỗ nào? Cây nầy gọi là roi mà sao không gọi là côn?

-Cây roi được làm từ một thân cây dẻo, có sức đàn hồi như thân tre đặc ruột hoặc cây mây già chẳng hạn, chiều cao bằng thân người dùng roi.

-Cám ơn Hậu nghen, Bền có vẻ buồn buồn, hỏi bâng quơ:- Không biết tới bao giờ, mới gặp lại Hậu?

Hậu nhìn xuống dòng sông, nói:

-Giề lục bình trôi sông kia là thân phận của hai đứa mình. Gặp nhau rồi lại chia tay. Bền trôi lên hướng Tây, còn Hậu sẽ dạt về phía Đông. Bao giờ gặp lại nhau? Cái đó, còn tùy thuộc vào duyên phận hai chúng ta. Thôi, mình vào trong khoang ghe đi, Bền. Họ đang chờ tụi mình đó!

Khoảng vài phút sau, Hai Rồng và Tư Long vô tới. Mọi người quay quần bên nồi cháo đậu đỏ và mấy dĩa dưa mắm, cá cơm kho tiêu và trứng vịt muối, đó là bữa ăn sáng đơn giản cho anh em trong gánh hát; thỉnh thoảng, Năm Hậu lén mắt nhìn Bền, đôi mắt huyền long lanh hai giọt lệ mỏng manh. Bền cũng thấy lòng mình xao xuyến trước giờ sắp chia tay.

Bữa điểm tâm vừa xong, mọi người vừa buông đũa, hớp vài ngụm nước trà. Bỗng có tiếng chim bìm bịp, ẩn mình trong các buội ô rô hai bên dòng sông Vàm Cỏ Tây, cất tiếng kêu rộn rã: “bìm bịp…bìm bịp…bìm bịp…” . Nó là loài chim có bộ lông vũ màu nâu, ức cổ màu đen và rất đỗi thân thương của dân thương hồ, có nhiệm vụ canh con nước lớn dùm cho họ. Mấy anh em nghệ sĩ hát bội, đều lên mui ghe chài, tiễn khách.

Mọi trở lại chiếc ghe cà dom, tra mái chèo vào quai dây luộc, điều chỉnh lại cho vừa tầm trên hai cột chèo đằng sau lái, còn Bền lo phụ trách mái chèo đằng mũi. Chờ xong đâu đó, Hai Rồng gọi Bền:

-Bền à, xong chưa? Nhổ sào đi con!

Bền nhổ cây sào tre tầm vông, gác lên mui. Hai Rồng và Tư Long vun mái chèo. Chiếc ghe cà dom từ từ tách rời ghe hát, trôi đi về miệt biên giới Việt – Miên. Bền quày đầu, nhìn lại, thấy Năm Hậu đứng một mình trước mũi ghe hát, đang lấy tay áo quẹt nước mắt…cảnh biệt ly nào cũng gieo lòng kẻ ở, người đi một nỗi buồn man mác. Lòng Bền lại lưu luyến cái bến nước, nhớ người bạn diễn một đêm trên sân khấu, vừa mới quen nhau đã vội xa nhau. Biết bao giờ gặp lại nhau trên bến nước, con sông nào? Năm Hậu đứng lặng nhìn chiếc ghe chở người bạn sơ giao, khuất dần vào sương mù…

Những tình cảm mơ hồ thường thoảng qua trên bến nước xa lạ, đã gieo vào khách thương hồ hoặc nghệ sĩ sống lênh đênh trên sóng nước một chút gì mộng mơ, lãng mạn đầy thi vị. Đôi khi, họ gắn bó suốt đời với kỹ niệm nào đó, không dễ gì quên; vì vậy, mỗi lần ghe thương hồ có dịp trở lại bến cũ, lòng họ lâng lâng một cảm giác vui sướng của một người lưu lạc tha phương được trở về thăm lại cố hương…

—>Chương 4

This entry was posted in Nguyễn Vĩnh Long Hồ, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s