BÊN DÒNG SÔNG BA LÁNG (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

mekong_riverI

MÙA HÈ NĂM 1949.

Năm đó, tôi vừa tròn 9 tuổi. Không may, tôi bị lên ban khỉ. Người cứ gầy tóp xọp thấy phát sợ, tay chân khẳng khiu, đôi mắt cứ lờ đờ như người nghiện hút, mái tóc rụng gần hết, chỉ còn trơ lại cái sọ khỉ với vài sợi loe hoe, phất phơ trên cái mỏ ác làm cảnh cho vui.

Vào mùa hè, trời nắng chang chang, khí hậu oi bức với cái nắng nung người. Ngồi trong nhà, mọi người phải phe phẩy cái quạt mo cau liền tay mà mồ hôi, mồ kê cứ tuôn ra nhễ nhại. Còn tôi, lúc nào cũng bị quấn kỹ trong cái mềm bông như một đòn bánh tét. Các cánh cửa sổ buồng lúc nào cũng bị đóng bít bùng, ban ngày chí những ban đêm vì sợ tôi bị trúng gió độc, khiến tôi lúc nào cũng cảm thấy như bị ngộp thở vì thiếu dưỡng khí; thỉnh thoảng, tôi vừa hất tung cái mềm được chừng vài phút, rồi bất ngờ, mẹ lại vào buồng thăm chừng là tôi bị quấn mền lại như cũ, làm tôi nóng muốn phát điên lên được. Đang nằm thiêm thiếp nửa tỉnh, nửa mê trong buồng, tôi nghe ba má tôi gây gổ nhau ngoài phòng khách. Ba tôi nói giọng khá to:

– Mùa nầy nóng như đổ lửa, tui ở trần trùng trục còn chịu không thấu, mồ hôi tuôn ra chèm nhẹp. Còn bà, trị bịnh cho thằng Phúc cái kiểu gì mà lúc nào tui cũng thấy bà lấy khăn mềm trùm nó kín mít. Cửa sổ buồng đóng lại bít bùng, làm sao nó thở cho được chớ! Ba tôi giọng bực bội, tiếp: Còn nữa, cả tuần nay, tôi chỉ thấy bà cho nó uống toàn sửa bò làm sao thằng nhỏ chịu cho nổi. Tui thấy bịnh ban của nó càng ngày càng nặng thêm, chớ không thấy bớt chút nào cả!”

Má tôi cũng lớn tiếng, nói:

– Ông biết gì mà nói chớ! Tui cho nó uống sửa là có lý do của tui chớ bộ!

– Lý do gì? Cữ kiêng, cũng cữ vừa vừa thôi chớ! Cả tuần nay, thằng nhỏ không có một hột cơm, hột cháo gì trong bụng ráo trọi, sức đâu mà nó chịu đựng cho nổi, rồi ba tôi dịu giọng, tiếp: Sức trẻ con có hạng, tui sợ nó không chết vì bịnh đau ban khỉ mà chết vì kiệt sức đó, bà biết không hả?

– Ông nầy nói nghe ngộ thiệt đó à nghen! Tui làm theo lời ông thầy Xì, chủ tiệm thuốc Bắc “Vạn Thọ Đường” ở ngoài chợ Vĩnh Long đó, ông à! Nếu không tin, ông ra đó hỏi ổng coi!

– Ông thầy Xì dặn làm sao? Bà nói thử cho tui nghe coi có lọt lỗ tai không nè.

– Ông ta nói: bịnh “ban đen” cần phải cữ ăn tối đa, nhứt là cơm. Vì hột cơm cứng, nhai không kỹ có thể làm lủng đường ruột là hết thuốc chữa đó ông à!

– Thôi, cữ ăn cơm nghe cũng tạm được đi! Ba tôi lại bực tức, nói tiếp: Còn cháo thì sao? Cũng cữ ăn cháo luôn, phải không bà?

– Đâu có phải vậy nà, má tôi xuống giọng, nói: Tui cho nó cữ ăn cháo luôn, cho chắc ăn mà!

– Bà kiêng cữ quá mức cho chắc ăn, thằng Phúc phải chết chắc thôi!

– Ông nầy ăn nói tầm bậy quá mạng! Lỡ có người khuất mặt giáng qua đây, lỡ họ nghe được thì lộng giả thành chơn đó nghen ông! Cuối cùng, má tôi giận lẫy, tiếp: Bây giờ ông có giỏi, ở nhà lo cho thằng Phúc đi! Tui đón xe lôi ra bến bắc Mỹ Thuận, gặp mấy đứa bạn hàng để đòi nợ. Gần cả tháng nay, chẳng đứa nào trả tiền cả. Buôn bán thế nầy cũng có ngày cụt vốn. Thiệt bực mình mà!

Ba tôi dặn:

– Lúc trở về, nhớ ghé vô chợ mua con cá lóc thiệt bự để nấu cháo cá lóc cho thằng Phúc ăn mau lấy lại sức nghen bà!

Không nghe tiếng mẹ tôi trả lời, chỉ nghe tiếng đôi guốc dong sơn mài, nện lốc cốc trên nền gạch tàu, đi ra phía trước cửa. Bỗng má tôi dừng lại, nói vọng vào trong nhà: Còn chút xíu là tôi quên! Khoảng vài giờ nữa, vợ chồng anh Ba Thời ở bên Chợ Lách, chở trái cây qua giao cho vợ chồng mình đó nghen! Ba tôi trả lời: Yên chí đi! Chuyện nầy để ở nhà tui lo được rồi.

Chờ má tôi lên xe lôi xong, ba tôi bước vô buồng, mở tung các cửa sổ cho gió mát từ ngoài sông Long Hồ tràn vào, rồi lẩm bẩm một mình:

– Trời nóng thấy mẹ hà, mà bả cứ đóng các cửa sổ bít bùng cả ngày lẫn đêm làm sao thằng nhỏ chịu cho thấu nè trời! Ba tôi đến bên giường đở tôi ngồi dậy, nói: Đi ra ngoài sàn nước để ba lấy khăn ấm lau mình cho con.

Tôi làm bộ hoảng sợ, nói:

– Con không dám ra khỏi buồng đâu! Má thấy là đánh con mềm mình đó, ba ơi!

Ba tôi trấn an, nói:

– Má mầy ra bến bắc Mỹ Thuận rồi, cầu chiều tối mới về nhà. Má mầy có rầy, tao chịu hết trách nhiệm cho.

Và tôi chỉ chờ có thế, lật đật phóng xuống giường, theo ba tôi ra ngoài sàn nước. Gió mát từ sông Long Hồ lồng lộng thổi vào nghe mát rượi. Tôi khoan khoái làm vài động tác hít thở là cảm thấy tỉnh táo ngay. Ba tôi vừa cởi quần áo cho tôi, vừa gọi vọng vào trong nhà bếp:

– Hiền à! Bưng tháo nước ấm ra ngoài sàn nước cho dượng Tư, lẹ lên cháu!

Chị Hiền là con dì Ba – chị ruột của má tôi – quê ở Lấp Vò thuộc tỉnh Sa Đéc, chị ở trọ nhà tôi đi học, đồng thời giúp ba má tôi những chuyện lặt vặt trong nhà hoặc trông chừng nhà cửa khi cả nhà đi vắng. Nghe tiếng ba tôi gọi, chị khệ nệ bưng thao nước ấm ra ngoài sàn nước, đặt xuống bên cạnh tôi. Chị cười, nói:

– Dượng Tư để con lau mình cho nó!

– Thôi được, con vô buồng lấy bộ đồ bà ba của nó để trong tủ có ngăn kéo, rồi đem ra đây cho dượng Tư.

Ba tôi tháo khăn rằn quấn ngang bụng, nhúng vào thao nước ấm, vắt thật ráo nước để kì hờm cho tôi. Cái thao nước ấm phải thay ba lần nước mới làm trôi sạch lớp hờm đóng trên người. Chị Hiền thay đồ cho tôi xong, nồi cháo trắng đang bắt trên cái cà ràng ở trong bếp, đã chín nhuyễn nhừ. Ba tôi nói:

– Con dẫn thằng Út vô bếp, rồi múc cháo ra chén để cho nó ăn với đường cát trắng, chỉ cho nó ăn một chén thôi! Đừng cho nó ăn no nghen con!

Chị Hiền nhìn ba tôi lấm lét, nói:

– Con không dám cho em nó ăn đâu! Dượng Tư cho nó ăn dùm con đi!

Ba tôi ngạc nhiên, hỏi:

– Sao lạ vậy, con?

Chị Hiền thưa:

– Dì Tư hăm con mẻ răng: “Tao mà thấy mầy cho thằng Phúc ăn bất cứ cái gì mà không hỏi qua tao là mầy tới số đó nghe”!”

Ba tôi nghe chị Hiền nói, cũng phải phì cười:

– Coi bộ hai đứa bây cũng ngán bả quá hả?

Tôi cũng nhìn ba tôi cười khúc khích, nói:

– Đâu phải chỉ có tụi con ngán má, ba cũng ngán má quá chớ bộ!

Ba tôi nhìn hai đứa tôi, cảnh cáo:

– Chuyện tao có ngán má mầy hay không là chỉ có người trong nhà biết. Tụi bây mà bép xép với bà con lối xóm là thác với tao đó, nghe rõ chưa!

Nói thì nói vậy, chớ bà con trong cái xóm Thiềng Đức nầy, có ai mà không biết chuyện ba nể nang má tôi hết biết. Rành sáu câu là chú Ba Xị, bạn nhậu của ba tôi mấy năm về trước.

oOo

Cách đây vài năm. Ba tôi kết bạn nhậu với chú Ba Xị, một kiện tướng trong làng nhậu ở xóm Bánh Phòng, giáp ranh với xóm Thiềng Đức. Đêm nào cũng như đêm nấy, cả hai người đưa nhau ra ngoài chợ Vĩnh Long đánh chén với bạn bè đến khuya lơ, khuya lắc mới thấy chú Ba Xị đưa ba tôi về nhà. Má tôi giận lắm, khuyên ba tôi bỏ rượu, lo làm ăn nuôi con mà ông già tôi đâu có thèm nghe.

Thế rồi một đêm nọ. Tôi thấy má đang ngồi bên ngọn đèn dầu, miệng nhai trầu bỏm bẻm, canh cửa chờ cha tôi về. Gương mặt mẹ hầm hầm, còn đôi mắt đằng đằng sát khí; hình như, má tôi quyết ăn thua đủ với ba tôi lần nầy. Thỉnh thoảng, bà đập tay xuống mặt bàn một cái rầm làm tôi cũng điếng hồn. Tôi có linh tính trong nhà sắp xảy ra chuyện chẳng lành, nên tôi không dám đi ngủ sớm và lẻn ra sau sàn nước, núp bên lu nước mưa, chờ ba tôi về.

Gần 11 giờ đêm, vừa thấy ba tôi xuất hiện bên kia cầu Thiềng Đức, tôi vội vàng ôm cây cột nhà tuột xuống cây cầu ván, đi lên bờ, chạy lúp xúp mươi phút là đến cuối đường Trần Minh Tại. Tôi phóng lên cầu chận ba tôi lại để báo cáo tình hình ở nhà cho ba tôi biết, đề phòng má tôi tập kích bất ngờ. Tôi nói:

– Má đang thức chờ ba ở nhà! Con thấy mặt má hầm hầm trông dễ sợ lắm đó! Cẩn thận à nghen, ba!

Ba tôi nghe nói, cười ngất, giọng nhừa nhựa, nói:

– Má mầy chờ tao về để đưa tiền cho tao đi nhậu tiếp đó! Ba tôi bá cổ chú Ba Xị, hỏi: Tui nói như vậy, có đúng không anh Ba Xị?

Chú Ba giọng lè nhè, nực nồng mùi rượu, nói:

– Không biết thời đại nầy là thời đại gì mà mấy bà cứ kêu gào nam nữ bình quyền. Tui nói thiệt với anh Tư nghen, chú Ba xị cầm xị rượu đế đưa lên miệng tu một hơi cho đến khi cạn láng, rồi qăng cái chai xuống sông nghe một cái tủm, nói: Bao giờ tui thấy bầy dê cái của chị Tám Vồ ở trong cái xóm Thiềng Đức nầy, do một con dê cái làm đầu đàn thì tui mới cho con vợ tui cái quyền bình đẳng. Mình có cấm mấy bả ăn trầu đâu mà mấy bả cấm mình nhậu chớ, phải không anh Tư?

Ba tôi vỗ đùi một cái đét, nói:

– Anh Ba nói chí phải! Đàn bà tè không qua khỏi ngọn cỏ mà đòi lên mặt dạy khôn mình đâu có được, phải không anh Ba?

Chú Ba Xị cười sằng sặc, khen:

– Anh Tư nói chí phải! Phải! Phải!…

Thấy cha không quan tâm đến lời tôi nói. Tôi bèn chạy một hơi về nhà theo lối cũ trở vô nhà. Vì căn nhà của gia đình chia ra làm hai phần bằng nhau: phần nằm trên bờ là nhà ngói tường gạch, còn phần nhà sàn cất trên mặt sông, mái lợp tôn, vách ván dùng làm vựa trái cây, từ đó phân phối cho các bạn hàng ở bến phà Mỹ Thuận; cho nên, tuột xuống thì dễ, còn leo lên khó trần thân vì mấy cái cọc tràm đóng rêu xanh trơn như thoa mở. Tôi đang hì hục ôm cái cọc tràm cố leo lên nhà, bỗng nghe tiếng má tôi hét:

– Phúc à, coi chừng té xuống sông bây giờ đó! Đi vô nhà bằng cửa trước đi!

Tôi riu ríu trở lên bờ, mở cửa trước vô nhà thì thấy má tôi ngồi chễm chệ trên bộ ghế trường kỷ, chờ khẩu cung:

– Phúc! Mầy đi kiếm ông gìa tía mầy đó hả?

Tôi chối leo lẻo:

– Đâu có phải vậy má! Con trốn ra ngoài đường chơi đá lon với bọn thằng Tèo. Còn ba đi nhậu với chú Ba Xị ở ngoài chợ, con biết đâu mà kiếm chớ!

Má tôi ra lệnh:

– Thôi, khuya rồi! Đi ngủ đi!

Khi bước vô buồng, tôi đứng dựa bên cái cửa sổ, nhìn ra ngoài đường, thấy chú Ba Xị đang dìu ba tôi vừa về đến nhà. Ba tôi lấy tay đập cửa rầm rầm, hét:

– Má thằng Phúc đâu rồi? Mau ra mở cửa cho tui vô coi nà!

Chú Ba Xị còn hối:

– Lẹ lên đi, chị Tư ơi! Anh Tư cho “chó ăn chè” dài dài ngoài đường rồi đây nè!

Mẹ nghe ba tôi gọi, liền vội vàng chạy ra cửa, nắm tay ba tôi lôi tuột vào trong nhà. Bà dùng chân đá vào cánh cửa đóng lại cái rầm, không thèm mời chú Ba vô nhà chơi như thường lệ. Liền theo đó, tôi nghe tiếng mẹ tôi hỏi:

– Ông còn đủ sức nhậu với tui nữa không vậy, ba thằng Phúc?

– Dư sức qua cầu mà bà! Thêm vài ba xị đế nữa cũng chưa ăn thua gì, bỗng ba tôi ngạc nhiên, hỏi: Mà tui nhậu với ai vậy, má thằng Phúc?

– Nhậu với tui chớ với ai! Má tôi thách: Sao, còn sức dám nhậu tiếp không?

Ba tôi ngạc nhiên, trợn mắt, nói:

– Trời đất quỉ thần ơi! Bà biết nhậu hồi nào vậy hả? Dạo nầy, coi bộ bà lộng hành quá rồi nghen!

Má tôi làm bộ than thở, nói:

– Đêm nào chí những đêm nấy, ông đi nhậu với bạn bè mút chỉ tới khua lơ, khuya lắc mới mò về nhà. Tui ở nhà một mình buồn quá, cũng tập nhậu một mình lai rai, riết rồi thành ghiền lúc nào cũng không hay!

Ba tôi không bằng lòng, nói:

– Ai cho phép bà nhậu vậy hả, má thằng Phúc? Đàn bà mà cũng bày đặt nhậu nhẹt, còn ra cái thể thống gì nữa chớ?

– Ông nói vậy mà nghe được à, má tôi cười, tiếp: Ông thử nhìn trong gương coi! Trong 12 con giáp, ông trông không giống con giáp nào cả, tóc tai bù xù, quần ống thấp ống cao, còn cái áo bốc mùi hèm chua lòm! Thấy phát ớn!

Ba tôi gạt phăng:

– Thôi, bà đừng có nói nhiều lời nữa! Còn món gì nhậu được, đem hết ra đây cho tui nhậu tiếp coi nà!

Má tôi không trả lời, lặng lẽ đi ra sau bếp. Một lát sau, bà trở ra với cái mâm nhôm trên tay, có sắp sẵn chén đũa, một dĩa lươn xào lá cách, khói bốc lên nghi ngút thơm phức và một chai rượu đế với hai cái ly xây chừng. Ba tôi nói như ra lệnh:

– Nè, một cái ly rượu thôi đủ rồi nghe! Tui cấm bà nhậu với tui đó! Bà nghe rõ chưa vậy hả?

Nghe ba tôi nói, gương mặt má tôi đổi sắc. Bà có vẻ hầm lắm, nhưng cố nuốt giận làm vui, tươi cười nói:

– Được rồi, không dám ngồi nhậu ngang hàng với ông đâu, ông ơi!

Trông ba má tôi có vẻ hòa thuận, ngồi ăn uống bên nhau thật vui, tôi cũng an tâm phần nào, chui vô mùng đánh một giấc cho tới sáng bét. Vừa đẩy cánh cửa buồng bước ra ngoài, ra đằng sau sàn nước súc miệng, rửa mặt. Bỗng nghe tiếng ba tôi gọi giật ngược:

– Phúc lại đây, mở trói cho ba coi!

Tôi ngạc nhiên, thấy ba tôi bị ai trói nằm dài trên cái ghế bố như đòn bánh tét. Tôi hoảng quá, gọi mẹ:

– Má ơi! Ai trói trói ba vậy, má?

Vừa lúc đó, má tôi vừa dưới bếp đi lên, nói:

– Ừa, tao trói ông già mầy đó, được không?

Ba tôi xuống nước nhỏ, năn nỉ:

– Thôi được rồi, tui hứa với má thằng Phúc, lần nầy tui bỏ rượu vĩnh viễn. Bà mở trói cho tui đi chớ!

– Cái gì? Mở trói cho ông để tối đi nhậu nữa hả? Má tôi cười đắc thắng, nói: Hồi sáng nầy, tui đã viết một cái thơ rồi đón tàu đò chạy chuyến tài nhứt, nhờ mang qua bên cù lao Tân Phong, mời tía qua đây để ông hứa với tía. Ông hứa với tui nhiều lần rồi mà ông có giữ lời đâu, toàn là hứa cuội!

oOo

Quê nội tôi ở miệt cù lao Tân Phong thuộc xã Đồng Phú, nơi con sông Tiền từ hướng phà Mỹ Thuận chảy xuống tách ra làm hai nhánh ôm lấy cù lao Tân Phong. Một nhánh đổ ra biển Đông bằng cửa Cổ Chiên, còn nhánh kia đổ ra biển bằng cửa Cung Hầu. So với cù lao Bảo và cù lao Minh thì cù lao Tân Phong là một vùng đất mới nổi được phù sa sông Cửu Long bồi đấp từ hơn một thế kỹ nay, đã trở thành một vùng đất lý tưởng để lập vườn, trồng cây ăn trái rất trù phú. Nơi đây là quê hương của loài ốc gạo, đặc sản nổi tiếng của tỉnh Vĩnh Long. Mùa ốc gạo bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 6 âm lịch. Nhưng vào tháng 5 là ốc gạo rộ nhất, no tròn mập đầy vỏ. Mỗi năm, cứ vào mùa hè là ông nội tôi qua Long Hồ đón tôi về cù lao Tân Phong ở với ông bà nội cả tháng mới về. Tôi khoái nhất là được đi theo mấy cô đi bắt ốc gạo, vui hết biết! Dân đi xúc ốc gạo phải canh con nước ròng, bất kể ban đêm hay ban ngày mà thú vị nhất là đi xúc ốc gạo vào những đêm trăng sáng. Họ đi bằng ghe tam bản hoặc xuồng ba lá, cắm sào dọc theo cù lao, thắp đèn bão sáng rực. Thường thì bắt ốc gạo bằng cách dùng rổ, đường kính khoảng 4 tấc. Họ lặn xuống nước dùng tay cào đất cát đầy rổ, rồi trồi lên mặt nước đưa cho người ngồi trên ghe đãy sạch đất cát, còn lại trong rổ chừng khoảng 20 con ốc gạo. Và động tác nầy cứ liên tục cho đến khi nghe tiếng chim bìm bịp kêu, báo hiệu con nước bắt đầu lớn là họ dừng tay. Một chuyến đi như vậy thu hoạch được từ 10 đến 20 kí là thường. Những người già ở nhà lo đan giỏ tre đựng ốc gạo, để giao cho bạn hàng chở ra bến phà Mỹ Thuận, bán cho khách bộ hành xuôi ngược trên tuyến đường từ miền Tây về Sài Gòn và ngược lại. Sau mỗi mùa ốc gạo qua là có vài cặp trai gái nhờ mò … ốc gạo mà nên duyên chồng vợ, như cô Duyên là em họ của ba tôi, kết hôn cùng chú Hai Thâu, quê ở bến đò Đình Khao (Bắc Cổ Chiên).

Khoảng 12 giờ trưa, tôi nghe có tiếng tàu đò cập vào cây cầu ván dưới sông là mẹ tôi dẫn tôi ra đằng sau sàn nước đón ông nội tôi. Hôm đó, ông tôi mặc áo dài đen, khăn đóng, chân mang giày bata màu trắng, một tay xách nửa thùng thiếc ốc gạo, còn tay kia cầm cây baton bằng gỗ mun lên nước bóng láng. Vừa bước lên nhà, ông nội hỏi má tôi ngay:

– Ba thằng Phúc đâu rồi, con?

Má tôi thưa:

– Dạ, con trói ảnh ở nhà trên, chờ tía qua dạy ảnh dùm con. Lúc nầy ảnh nhậu xả láng, nhậu bất kể quân thần, không chịu lo làm ăn gì ráo trọi!

Ông nội có vẻ giận lắm, nói:

– Được đa, để tía lên hỏi tội nó!

Lên đến nhà trên, đích thân ông nội cởi trói cho ba tôi, rồi nói:

– Sao, lần nầy tía qua, con không giỏi chạy trốn nữa đi! Con đã hơn 40 tuổi đầu rồi mà không lo hiệp lực với vợ, lo làm ăn nuôi con. Tối ngày lo đi nhậu nhẹt bê tha như vậy hả? rồi ông nội nổi trận lôi đình, hét: Quốc có quốc pháp, gia có gia uy. Con biết tội rượu chè bị phạt đòn mấy cây baton nầy không vậy, con?

Ba tôi ú ớ, nói:

– Hồi nào đến giờ tía chỉ cấm con cờ bạc, hút xách, đàng điếm. Chớ tía đâu có cấm con nhậu nhẹt, làm sao con biết chớ!

Ông nội tôi cười, nói:

– Như vậy là tía quên cấm con uống rượu, phải vậy không con?

– Dạ, phải đó tía!

– Vậy, bây giờ tía cấm con uống rượu có còn kịp không con?

– Dạ được! Ba tôi xuống nước nhỏ, nói: Con thề với tía từ nay không uống rượu nữa!

– Ai làm chứng lời thề của con? Ông nội tôi hỏi.

– Dạ, má thằng Phúc!

Mẹ nghe ba tôi nói cũng bật cười chọc quê, nói:

– Tui hổng dám làm chứng lời thề ẩu của ông nữa đâu, ông ơi!

– Con vợ mầy nói phải đó! Ông nội suy nghĩ lúc, rồi phán: Phải để cho bà con lối xóm làm chứng nữa chớ!

Ông nội tôi quay sang má tôi nói:

– Con đi lấy một tấm ván, ván gì cũng được và một cục than đem lại đây cho tía!

Một lát sau, má tôi đem đến một tấm ván thông và một cục than đúng theo yêu cầu của ông nội tôi. Ông liền cầm cục than phê ngay mấy chữ trên tấm ván đó như sau: “Con xin thề với tía từ nay trở đi không uống rượu nữa.” rồi đưa tấm ván cho ba tôi, nói:

– Con cầm tấm bảng nầy ra đi ra ngoài đầu cầu Thiềng Đức với tía!

Ba tôi ngạc nhiên, hỏi:

– Ra đầu cầu Thiềng Đức mầm chi vậy, tía?

Ông nội tôi cười, nói:

– Ậy, ra đến đằng đó thì biết chớ gì!

Ba tôi cầm tấm bảng riu ríu đi theo ông nội ra đầu cầu Thiềng Đức. Vừa đến nơi, ông tôi ra lệnh cho ba tôi quì xuống mặt đường, hai tay cầm tấm bảng đưa thẳng ra phía trước, rồi phán rằng:

– Tía phạt quỳ con ở đây để cho mọi người trong xóm làm chứng lời thề của con. Nếu sau nầy, tía có theo ông theo bà mà con còn tái phạm thì đừng có nhìn mặt họ nữa, nghe chưa!

Ba tôi vui vẻ thọ án phạt, quỳ gối suốt hai tiếng đồng hồ tại đầu cầu Thiềng Đức trước con mắt thán phục của bà con trong xóm. Ai cũng khen ngợi cha tôi là đứa con hiếu thảo, tuyệt đối vâng lời cha dạy mà không thấy ai chê cười cả. Quả thật, từ đó về sau, ba tôi bỏ hẳn rượu, một giọt cũng không nhấp môi.

oOo

Sau khi húp xong chén cháo nóng với một muỗng đường cát trắng là tôi lả mồ hôi, cảm thấy khỏe hẵn người thì có tiếng chú Ba Thời ới từ dưới bến sông, gọi vọng lên:

– Chú Thím Tư nó, có ở trên nhà không vậy cà?

Ba tôi nghe chú Ba Thời gọi, lật đật chạy ra sau sàn nước, hỏi:

– Bữa nay, anh chở trái cây gì cho vợ chồng tui vậy, anh Ba?

– Xoài hòn 200 trái, cam mật 300 trái, mãng cầu xiêm 100 trái, chôm chôm tróc 2 cần xé, 35 trái mít tố nữ, bưỡi năm roi 30 trái và vú sửa lò rèn 3 cần xé.

Ba tôi nói:

– Để tui phụ với anh Ba đem lên vựa!

Và phải mất gần một tiếng đồng hồ, hai người mới đem hết số trái cây đó từ dưới ghe tam bản lên trên vựa. Xong rồi, ba tôi mời bác Ba Thời lên nhà trên uống nước trà.

Bác Ba Thời cười, nói:

– Đàn ông ai mà uống rượu, chú Tư! Tui có đem theo một chai rượu nếp than Song Hiệp cất ở dưới ghe để tui xuống dưới ghe lấy lên, rồi nướng vài con khô sặc rằn nhậu lai rai chơi ghe chú Tư!

– Thôi, uống nước trà được rồi, anh Ba ơi! Ba tôi cười buồn, lấy tay chỉ lên tấm bảng đóng trên vách dưới bàn thờ ông bà nội rồi nói: Hồi tía tôi còn sanh tiền, tui có hứa với tía bỏ rượu. Tuy ông già đã quy tiên rồi, mình cũng phải giữ lời để làm gương cho con cái: Quốc có quốc pháp, gia có gia uy mà, anh Ba!”

Thấy tôi đang phụ với chị Hiền lo lau bàn, bác Ba Thời kêu tôi lại đứng lại gần để bác xem tướng. Bác ngắm nghía tôi hồi lâu, rồi bảo:

– Phúc! Tụt quần ra cho bác xem luôn bộ phận dưới rún coi con có bị phá tướng không?

Thấy tôi đứng ngần ngừ chưa chịu tụt quần. Ba tôi giục:

– Tụt quần ra đi con để bác Ba mầy xem tướng toàn phần, coi sau nầy mầy có làm quan , làm tướng gì với người ta không?

Cực chẳng đã tôi phải vâng lời ông già, tôi miễn cưỡng làm theo lời bác Ba Thời bảo. Bác liếc sơ bộ phận dưới rún, rồi lắc đầu nói với ba tôi:

– Tướng thằng Phúc thuộc loại “ngũ trường”: đầu dài, mặt dài, thân dài, tay dài, chân dài cũng thuộc loại quí tướng, nhưng chưa phải thượng thừa.

Ba tôi có vẻ mừng rỡ, hỏi:

– Vậy, tướng “ngũ trường” thế nào mới gọi là thượng thừa hả, anh Ba?

Bác Ba Thời chỉ bộ phận dưới rún của tôi, giải thích:

– Tiếc quá! Bộ phận nầy hơi ngắn đó nghe, nếu dài thêm 5 phân nữa thôi thì sẽ biến thành tướng “lục trường” cho dầu sau nầy ra đời có bị thất thế, thằng Phúc cứ nằm chổng cẳng ở nhà chờ thời cũng có đàn bà nuôi cơm ngày ba bữa không lo gì … đói!

Ba tôi nghe nói, cười ngất:

– Thằng Phúc mới có 9 tuổi, nó chưa “mở mắt” làm sao biết ngắn hay dài chớ, anh Ba!

Bác Ba Thời cười giòn, nói:

– Mà thôi, tướng “ngũ trường” cũng thuộc loại quí tướng rồi. Theo sách “Ma Y Thần Tướng” thì tướng thằng Phúc được xếp vào hạng “Sĩ” trên “Nông, Công, Thương”

ba bậc cũng đủ nở mày, nở mặt với thiên hạ rồi đó, chú Tư à!

Vào tuổi đó, mặc dù chưa hiểu biết gì nhiều; nhưng khi nghe bác Ba đánh giá cao cái tướng “ngũ trường” của mình thuộc diện “Sĩ” là tôi khoái trong bụng rồi. Vì vậy, ngay khi còn ở trường trung học là tôi sớm đi tìm đường công danh. Bất cứ nghề gì có dính líu đến chữ “Sĩ” là tôi nhắm mắt lao vào thử thời vận như nghề: ca kịch sĩ, võ sĩ … may ra có chút tiếng tăm với đời.

– Thôi, kéo quần lên đi con, bác Ba Thời quay sang nói với ba tôi: Ngày hôm qua, má tụi nhỏ xúc được mươi ký ốc gạo ở cuối cù lao Minh, bả dặn tôi đem 3 kí qua biếu chú thím ăn lấy thảo. Tiếc quá, chú đã cai rượu; nếu không, đem luộc hết mớ ốc gạo nầy làm mồi nhậu cũng được lắm đó!

– Nói thiệt với anh Ba, tôi cũng thèm ốc gạo luộc chấm với nước mắm chanh ớt! Mấy hôm trước, vợ tôi mua vài kí ở bến bắc Mỹ Thuận, hết phân nửa là ốc chết.

Ba tôi gọi chị Hiền đang rửa chén ở ngoài sàn nước:

– Cháu Hiền à, vô đây cho dượng Tư biểu!

Chị Hiền nghe ba tôi gọi, lật đật chạy vào, thưa:

– Dượng Tư gọi con có chuyện gì?

– Con đi bắt nồi nước sôi, luộc hết mớ ốc nầy dùm dượng Tư.

– Con thấy dì Tư hấp ốc gạo cách thủy ngon hơn luộc nhiều. Để con đi hấp cho dượng Tư và bác Ba thưởng thức nghe!

– Sao cũng được mà, tùy ý con đi!

Thấy mọi người bận rộn trò chuyện vui vẻ, tôi bèn lẻn qua nhà dì Tám Vồ, cách nhà tôi trên trăm thước ở bên kia đường Trần Minh Tại để đi cầu. Dì Tám nuôi cá vồ để bán, ao cá lớn gần bằng cái sân quần vợt, có đặt ống nước bằng thân cây cao đụt rỗng ruột, bịt lưới sắt hai đầu để nước chảy ra cái mương lớn, ăn thông ra sông Long Hồ nên nước lúc nào cũng trong sạch quanh năm. Giữa ao cá là một nhà cầu công cộng lộ thiên dành cho bà con trong xóm. Nhà cầu gồm có 8 ngăn, chia ra làm đôi: 4 ngăn trước dành cho phái nữ, còn 4 ngăn sau dành cho phái nam. Chung quanh ao cá vồ, dì trồng toàn cây so đũa là một loại cây dễ trồng, lớn nhanh và mạnh. Cây so đũa rất thẳng, thường dùng làm kèo, đòn tay rất tốt. Lá dùng để nuôi bầy dê của dì để lấy sửa, bỏ mối cho mấy tiệm giải khát ở ngoài chợ, còn bông so đũa thì bán cho bà con trong xóm dùng để nấu canh chua tôm rất ngon.

Tôi đang nhìn đàn cá vồ tranh mồi, quẫy đuôi nhào lộn dưới ao, làm nước bắn tung tóe. Bỗng tôi nghe có tiếng bà dì nào đó, ngồi ở ngăn phía trước, lên tiếng:

– Dữ ác hôn! Gần cả tháng nay tao mới thấy cái bản mặt mầy à nghen! Không biết bà mụ ác ôn nào cạo râu tóc của mầy trụi lủi, thấy mà phát ghét!

Nghe dì ta hỏi, tôi bèn mau mắn lên tiếng đính chính:

– Đâu có bà mụ nào cạo đầu con đâu! Tại con bị đau ban khỉ nên tóc rụng tự nhiên thôi mà!

– Ủa, thằng nào vậy kìa! Tao đâu có nói động đến cái bản mặt mầy đâu mà mầy lên tiếng chớ!

Tôi cũng ngạc nhiên, hỏi:

– Dì không nói động tới cái bản mặt của con; vậy dì nói với cái bản măït của ai? Tại đây, chỉ có con với dì thôi mà! Không lẽ dì nói chuyện với ma?

– Tao nói chuyện với ai kệ cha tao, thằng quỉ!

Khi không bị dì ta mắng oan mạng, tôi muốn cự lại thì nghe bà ta hỏi:

– Trong xóm nầy, đứa nào bị đau ban khỉ vậy cà? Có phải thằng Phúc, con anh chị Tư đó phải không?

– Dạ phải, con là thằng Phúc đây dì à! Tôi nói: Nghe tiếng dì quen quen, có phải dì là dì Tư Ngưu ở xóm trên không? Tôi trả lời.

– Tao đây chớ ai mậy!

– Nghe má con nói, dì mới sanh được một bé gái rồi, phải không dì Tư?

Dì Tư Ngưu nói đùa:

– Phải, má mầy định kết làm sui gia với tao rồi đó nghen! Mầy bị đau ban khỉ sao không đi cầu ở nhà, ra đây làm gì? Rủi ro bị trúng gió độc thì sao hả, Phúc?

Dì Tư Ngưu là bạn thân cùng quê với má tôi ở Cái Sơn Bé là một làng nhỏ cách chợ Vĩnh Long chừng 3 cây số. Từ giốc cầu Thiềng Đức đi ngang qua làng nầy thì gặp một ngã ba, rẽ bên trái sẽ dẫn đến bến bắc Cổ Chiên, còn nếu đi thẳng đến làng Cái Sơn Lớn rồi đến làng An Hương, Mỹ An…sở dĩ, dân trong xóm Thiềng Đức đặt cho dì cái tên Ngưu là vì dì khỏe như trâu. Vợ chồng dì sống về nghề bốc vác lúa gạo cho các chành lúa. Vác một bao gạo chỉ xanh ở trên lưng, dì đi nhẹ nhàng như đi chợ.

Biết thế nào cũng bị dì mét lại với má, tôi bèn xuống nước nhỏ:

– Thôi, con đi về nhà trước nghe! Dì đừng có nói lại với má con là dì gặp con đi cầu cá vồ ngoài nầy nghe!

Tôi yên chí trở về nhà. Thấy chị Hiền đang coi chừng cái xửng đang hấp ốc gạo, còn ba tôi đang ngồi nói chuyện với bác Ba Thời, tôi bèn lẵng lặng ra ngoài sàn nước. Thấy mấy cần xé vú sửa “lò rèn” vàng hực trong vựa trái cây, lớp da màu vàng hột gà, mỏng láng như da mặt của một cô gái tới tuổi dậy thì, trông vô cùng hấp dẫn, tôi bèn lấy một trái bự nhất cuộn trong vạt áo rồi lặng lẽ trở vô buồng, lấy tay vò bóp trái vú sửa thật mềm và rút cái cuốn ra thật dễ dàng. Một dòng sửa trắng trào ra, tôi vội vàng kê miệng vào vừa nút vừa nhồi trái vú sửa cho lớp cơm bên trong trào ra, mùi sửa thơm như sửa bò, lớp cơm bên trong có hương vị vô cùng độc đáo ngon ngọt như mật. Ăn xong trái một trái chưa đả, tôi vẫn còn muốn tòm tèm thêm vài trái nữa.

Ăn xong trái vú sửa lò rèn, tôi yên chí đánh một giấc cho tới khi trời chạng vạng. Tiếng gây gổ ồn ào ngoài phòng khách đã đánh thức tôi dậy. Thì ra, ngay khi má vừa bước vô nhà là ba má tôi lại to tiếng với nhau vì tôi. Mẹ có vẻ giận dữ, nói:

– Ông ở nhà coi chừng thằng Phúc như thế nào mà ngay khi về tới đầu xóm, gặp chị Tư Ngưu nói với tui là gặp thằng Phúc tại nhà cầu cá vồ của chị Tám vậy hả?” Má tôi quay sang bảo chị Hiền: Hiền, đi vô trong buồng lôi đầu thằng Phúc ra đây cho dì coi!

Biết trước tránh không khỏi trận lôi đình của mẹ, tôi tự giác mở cửa buồng, riu ríu bước ra ngoài trình diện, nói:

– Thưa má mới về.

– Ai cho phép mầy đi cầu cá vồ vậy hả, Phúc? Má tôi quát: Có phải ông già tía mầy không?

– Dạ, con lẻn trốn đi ra ngoài đó!

– Phúc, bộ ở nhà không có chỗ cho mầy đi cầu sao hả, thằng quỉ nhỏ?

Tôi mỉm cười, thưa:

– Dạ, đi cầu ở ao cá vồ mát mẻ hơn ở nhà nhiều má à!

– Vậy sao? Bộ nhà cầu trong nhà mình nóng lắm sao con? Má tôi lắc đầu, nói: Thôi được, mầy muốn mát mẻ, má cho mầy mát mẻ suốt mấy tháng hè nầy!

Tôi hôm đó, ba má tôi bàn tính với nhau. Má tôi nói:

– Ông Tư à, hay là vợ chồng mình đưa thằng Phúc về dưới miệt Ba Láng ở với anh chị Ba thử coi. Ông nói cũng có lý, về dưới miệt vườn cho nó đổi gió đồng ruộng thử coi; vả lại, anh Ba là thầy thuốc Nam biết cách chăm sóc cho nó. Tui nghĩ, thằng Phúc sẽ chóng bình phục hơn là ở thành phố vừa nóng nực vừa ồn ào. Ông nghĩ chừng nào mình đưa thằng Phúc về dưới được?

Ba tôi yên lặng, suy nghĩ một chút rồi nói:

– Bà nói cũng có lý lắm! Lâu quá, vợ chồng mình bận lo làm ăn, không có về dưới thăm anh chị Ba.”

Thế là sáng hôm sau, tôi được ba má gói ghém một ít quần áo rồi dẫn tôi ra ngã ba Vĩnh Long để đón xe đò đi Cần Thơ. Trong lúc chờ đợi, bỗng ba tôi sực nhớ cần phải mua một ít quà biếu cho gia đình bác Ba. Ba tôi nói:

– Bà với thằng Phúc đi theo tui vô tiệm thuốc Bắc của ông thầy Xì, tui mua vài lít rượu thuốc làm quà cho anh Ba. Còn bà chọn quà cho chị Ba dùm tui nghen!

– Ừa, ông nói phải đó! Má tôi nói: Mua gì thì mua lẹ lên! Chuyến xe đò Nhơn Hòa tài nhất từ Sài gòn về Cần Thơ, sắp sửa chạy ngang qua đây rồi đó!

Khi ba má tôi tạt vô tiệm thuốc thuốc Bắc, ông thầy Xì cũng vừa đẩy cánh cửa sắt qua một bên để mở cửa tiệm. Vừa thấy mặt ba tôi, ông thầy Xì mừng lắm, nói:

– Lâu quá ông chời li, mới thấy vợ chồng nị lến thăm ngộ! Sao, dạo nầy vợ chồng làm ăn có phát tài không?

Ba tôi cười, nói:

– Làm ăn thì cũng tạm được, lình xình như lục bình trôi sông vậy mà.

– Mấy nị li lâu mà sớm quá dzậy? Lịnh li “Thầy Gòn” coi Hồ Quảng hả?

– Đâu có đi Sài gòn. Vợ chồng ngộ đưa thằng Phúc về Ba Láng ở chơi với anh chị Ba của ngộ, cho thằng Phúc đổi gió đồng ruộng vậy mà.

– Vợ chồng nị cần mua gì lem về Ba Láng, biếu ông anh của nị dzậy?

Ba tôi kéo tay ông thầy Xì ra đứng trước nhà, nói:

– Nị làm ơn cho ngộ một lít rượu thuốc đặc biệt, loại dành đàn ông uống mà đàn bà khen hay đó! Anh Ba ngộ thích rượu thuốc của nị lắm!

– Lược rồi, chuyện ló dễ thôi mà! Ông thầy Xì cười vui vẻ, nói: Mấy nị ngồi nhẩm xà. Chờ ngộ li lấy rượu thuốc cho anh Ba nị.

Vài phút sau, ông thầy Xì mang ra một hủ rượu thuốc bằng sành và mấy con cá mặn đưa cho ba tôi, nói:

– Lây là hủ rượu thuốc “Cửu chiến bất bại” của vua Càn Long bên Tàu, ngâm với sâm Cao Ly thượng hảo hạng, hạ thổ lúng 100 ngày. Ngộ mới lào nó lên cách lây 2 ngày. Còn lây là mấy con “hàm dzủy” của ngộ gởi tặng cho anh chị Ba của nị làm món “hàm dzủy chí dục tản” hẩu xực ló!”

Ông thầy Xì quay sang vò đầu tôi, nói:

-Nị cũng có phần nữa ló! Lương Hiếu hầm canh gà ác “bát thảo”, nó lịnh trưa nay mang vô nhà cho nị xực để mau lại sức. Nó lang hâm lại nồi canh mang ra cho nị bây giờ.

Ông thầy Xì người gốc Quảng Đông chỉ có mụn con gái duy nhứt với người vợ sau, sanh trưởng ở bên Tàu. Vì không có con trai nên ông xem tôi như con nuôi. Lương Hiếu lớn hơn tôi độ 1, 2 tuổi gì đó và chúng tôi quen thân nhau dưới mái trường tiểu học của tỉnh Vĩnh Long. Ông ngoại nàng là người gốc tỉnh Sơn Đông, đại danh là Tiêu Võ sư, một trong những cao thủ thượng thừa của Thiếu Lâm Bắc Phái Sơn Đông.

Nghe nói, hơn hai mươi năm về trước. Hai cha con ông từ tỉnh Sơn Đông bên Tàu trôi dạt về Chợ Lớn kiếm sống bằng nghề mãi võ để bán thuốc cao đơn hoàn tán. Một hôm, hai cha con ông quá giang xe hàng từ Chợ Lớn về Vĩnh Long biễu diễn võ thuật vừa bán thuốc; tình cờ, ông thầy Xì đi khám bịnh cho một thân chủ về ngang qua đó, nghe tiếng phèng la, chiêng trống vang lên inh ỏi ở gốc chợ và đám đông đang bu quanh, vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt, ông tò mò ghé lại coi. Ông thầy Xì thấy cha con ông đang biễu diễn tuyệt kỹ công phu “Đàm thoái thập nhị lộ quyền” danh trấn giang hồ từ Hoa Bắc xuống Thượng Hải. Lúc đó, ông thầy Xì mới góa vợ gần hai năm. Ông thấy Tiêu thị tài sắc vẹn toàn bèn đem lòng mến yêu, rước cả hai cha con ông về giúp việc cho tiệm thuốc Bắc của mình. Sau đó xin hỏi cưới luôn con gái của Tiêu Võ Sư làm vợ và sau khi bà hạ sinh ra Lương Hiếu, ông ngoại nàng đột ngột trở về Sơn Đông.

Lương Hiếu trông yểu điệu thục nữ, thân hình mảnh khảnh, tha thướt như cành liểu trước gió, nhưng nam tính nhiều hơn nữ tính. Vì không có con trai để duy trì dòng máu võ thuật của dòng họ Tiêu, nàng được mẹ truyền nghề lúc mới lên 5 tuổi. Lương Hiếu đam mê học võ hơn học văn. Sau hơn 7 năm học võ thuật chuyên cần với mẹ, nàng tiến bộ vượt bực, tinh thông “Đàm thoái thập nhị lộ quyền” và nhuần nhuyễn “Thiếu Lâm-Tung Sơn lục thập tứ cước”. Với trình độ siêu việt đó, Lương Hiếu còn tự sáng tạo nhiều quyền cước, biễu diễn thật đẹp mắt. Chúng tôi thỏa thuận với nhau. Tôi dạy nàng toán, làm văn. Nàng dạy tôi võ thuật, tuy học lóm, nhưng cũng học được vài chiêu để tự vệ, cường thân.

Một lát sau, Lương Hiếu mang cho tôi một thẩu canh gà ác tiềm với thuốc Bắc để trong cái giỏ xách, cho tôi ăn mau lấy lại sức khỏe. Lương Hiếu hỏi:

– Nị li lâu dzậy?

– Ngộ về làng Ba Láng chơi, hết hè mới về.

– Sao lâu quá dzậy? Nàng nói: Bao giờ nị dzìa nhớ lến thăm ngộ nghe!

Tôi gật đầu. Nhận hàng xong, ba má tôi đứng dậy trả tiền, cám ơn ông thầy Xì rồi vội vã dẫn tôi chạy băng qua đường, đứng tại ngã ba đón xe đò. Vừa lúc đó, chiếc xe đò Nhơn Hòa chạy trờ tới thả khách xuống Vĩnh Long, đồng thời rước thêm ít khách về Cần Thơ. Chờ cho khách xuống xe xong, ba tôi bế tôi lên xe, còn má tôi thì lo phụ giúp xách đồ đạt. Sau khi rước thêm được thêm một mớ khách, ngời lơ xe vỗ vào thành xe ầm ầm mấy cái rồi nói lớn:

– Tới luôn bác tài!

Chiếc xe đò từ từ chuyển bánh hướng về bến phà Hậu Giang. Đây là lần đầu tiên, tôi được ngồi xe đò đi một chuyến xa nhà như vậy. Khoảng một giờ, xe chạy đến bến phà. Chúng tôi xuống xe, thả bộ xuống phà qua bên kia bờ sông Hậu. Vì con nước ròng chảy xiết ra biển và chở quá tải nên phải mất gần một tiếng đồng hồ, chiếc phà mới vượt qua con sông Hậu và cập được bến bắc bên Cần Thơ. Chúng tôi lại phải đi bộ lên bờ, đón xe lôi vô bến xe lô Hàng Bả Đậu nằm trên đường Nguyễn An Ninh, chạy dài từ cổng bệnh viện Cần Thơ đến rạp cải lương Minh Châu và cách nhà lồng chợ Chợ Cần Thơ khoảng 200 thước. Ba má dắt tôi thả bộ dưới bóng râm của cây hàng bả đậu tìm bến xe lô đi Phụng Hiệp. May quá, một chiếc xe 12 chỗ ngồi sắp rời bến. Trước khi lên xe, ba tôi dặn chú lơ xe:

– Khi nào xe chạy qua khỏi cầu sắt Cái Răng độ 3 cây số thì chú cho tôi xuống xe ở đó nghe!

– Chú muốn xuống Ba Láng hả?

– Đúng rồi đó! Ba tôi nói.

– À, chú đi mấy người?

– Vợ chồng tôi và thằng con trai.

– Chú Hai cho tôi xin 10 đồng!

Nhận tiền xong, chú lơ mời mọi người lên xe ngay, chuẩn bị rời bến. Khoảng nửa tiếng sau, xe vượt qua cây sắt Cái Răng gồm ba nhịp, nối liền hai đầu Quốc lộ 4 là một trong những cây cầu dài nhứt của vùng đồng bằng sông Cửu Long lúc bấy giờ, cách trung tâm thị xã Cần Thơ 6 km về hướng Nam. Có hai ngã đường vào làng Ba Láng: nếu dùng đường bộ thì đón xe lô đi Phụng Hiệp. Còn muốn dùng đường thủy thì xuống xe tại quận Cái Răng tức quận Châu Thành, rồi đi bộ xuống bến đò tại “chợ chồm hổm”, nằm dưới chân cầu cầu sắt Cái Răng để đón đò dọc hoặc đò máy xuôi theo dòng sông Cần Thơ. Khi tàu đò rời cầu Cái Răng độ 3 km thì dòng sông Cần Thơ có một nhánh rẽ chảy về hướng Nam. Đó là sông Ba Láng đưa chúng ta về miệt Ba Láng, Vàm Sáng, Phong Điền…

Ngồi tên xe, gió đồng thổi hiu hiu, tôi ngủ thiếp đi lúc nào cũng không hay cho đến khi nghe tiếng chú lơ xe hét: “Tốp! Tốp! Cho khách xuống Ba Láng bác tài ơi!” làm tôi giật mình thức dậy. Ba tôi bồng tôi xuống xe, còn mẹ tôi phụ xách hành lý. Tôi nói với ba:

– Ba thả con xuống đi! Con đi bộ được mà!

Trước mặt tôi là hương lộ trải đất đá, rộng chừng 4 thước nằm bên phải Quốc Lộ 4, con đường nầy chạy thẳng tấp, xuyên qua cánh đồng, nối liền QL 4 với làng Ba Láng cách đó khoảng 3 km. Ba tôi đón xe lôi đạp trên chạy trên Quốc Lộ để đưa cả gia đình về nhà bác Ba nằm bên nầy dòng sông.

Cánh đồng lúa bạt ngàn dọc theo hai bên hương lộ vào mùa luá chín, nặng trĩu hạt. Vài cánh cò trắng bay lã lơi trong hương lúa êm dịu tỏa ra khắp trong không gian tỉnh mịch, chói chang ánh nắng mùa hè. Những cây so đũa thẳng tắp được trồng dọc theo bên hương lộ đang mùa trổ hoa màu trắng ngần như bông bưởi. Ngồi trên xe lôi, tôi đã nhìn những con đê ngoằn ngoèo, uốn mình chia cắt những ruộng lúa ra làm nhiều mảnh, nối liền hương lộ với với những xóm nhà xa xa được bao quanh bởi những rặng cau, dừa xanh ngắt.

Dân làng trong làng rất hiền hòa, cần cù làm ăn; chớ không phải “Ba Láng” là chơi xả láng, nhậu nhẹt xả láng và cờ bạc xả láng như lời đồn của thiên hạ đâu nghen! Phần đông về nhề nông, rẫy bái hoặc chăn nuôi gia súc như trâu, bò, heo, gà, vịt…Dân trong làng cất nhà dọc theo hai bên bờ sông và chia ra từng xóm nhỏ không cách xa ruộng đồng mấy; hình như, nhà nào cũng như nhà nấy, lợp ngói cũng như lợp lá, chung quanh nhà đều xẻ mương lên líp, trồng đủ loại cây ăn trái: cam, quít, ổi xá lị, xoài, mận, chôm chôm tróc, vú sửa…cuối mé vườn nơi giáp ranh giữa đất vườn và ruộng, họ trồng chanh và tre hoặc tầm vong, vừa làm hàng rào thiên nhiên, vừa có chanh và măng tre ăn quanh năm. Sau nhà, họ thường đào một cái ao lớn nhỏ tùy theo điều kiện chăn nuôi, có đặt ống bọng bằng cây dừa hoặc cau đục rổng ruột ăn thông ra dòng sông Ba Láng và một cái sàn nước để rửa chén bát. Dưới ao thả cá mè vinh, cá he vàng, cá chài…Cạnh con đường đất dọc theo hai bên bờ sông, họ trồng dừa xiêm, dừa lửa hoặc xoài để chống đất lở và luôn có bóng mát cho trẻ con tắm giặt.

Trên đường về gần đến làng, chiếc xe lôi đưa gia đình chúng tôi chạy ngang qua một ngôi trường tiểu học gồm có năm lớp, tuy lợp lá nhưng rất khang trang nằm lặng lẽ dưới tàng cây phượng vĩ đang trổ hoa đỏ thắm. Cuối con đường là bờ sông Ba Láng. Nhà bác Ba tôi ở bên trái con đường và cách ngôi trường làng trên 1 cây số. Bác Ba tôi dạy học ở đấy.

Lúc chúng tôi vừa bước xuống xe lôi, ba tôi trả tiền cho người phu xe xong. Cũng vừa đúng lúc đó, một chiếc ghe tam bản cập sát cây cầu ván để bác tôi bước lên bờ, trên tay còn ẵm theo chú heo con vừa dứt sửa mẹ, mồm kêu eng éc đang vùng vẫy quyết liệt. Bất ngờ gặp nhau tại bờ sông, bác tôi mừng lắm, nói:

– Dữ ác hôn! Cả năm rồi mới gặp lại chú thím đó nghen. Anh chị Ba tưởng chú thím làm ăn phát tài, rồi trốn biệt luôn đó chớ!” bác cúi xuống vò đầu tôi, cười nói. “Tóc tai của thằng Phúc sao trụi lủi vậy nè? Con làm chú ở chùa nào vậy, Phúc?

Ba tôi đở lời, nói:

– Nó bị đau ban khỉ nên tóc rụng trụi lủi đó!

Má tôi cũng cười, nói:

– Mùa nầy ở trên tỉnh nóng nực thấy mồ! Vợ chồng em đưa thằng Phúc xuống đây ở với anh chị cho nó đổi gió đồng nội và nhờ thầy Ba thuốc Nam trị bịnh ban khỉ cho nó dùm vợ chồng em! À, còn chị Ba đâu rồi anh?

– Bả đang ở bên nhà chú thím Tám Đông bên kia sông, để anh Ba gọi bả về!

Nói rồi, bác Ba tôi lấy hai bàn tay bụm lại làm loa, hướng qua bên kia bờ sông, gọi lớn:

– Má thằng Hoàng ơi! Về nhà có khách ở Long Hồ xuống thăm nè!

Nghe gọi, bác Ba gái từ trong nhà đon đả đi ra bờ sông, hỏi vọng qua bên nầy:

– Ai ở Long Hồ xuống thăm vợ chồng mình vậy cà?

– Vợ chồng chú thím Tư chớ ai vô đây!

– Ừa, chờ chút! Tui về liền!

– Bảo thằng Tây Đen bơi xuồng đưa bà về! Tui có chút quà cho thím Đông đây nè!

Một lát sau, tôi thấy thằng bé đen thui, trạc tuổi tôi bơi chiếc xuồng ba lá đưa bác gái qua sông. Nó cắm sào cây tre xuống nước, rồi theo bác gái lên bờ. Bác gái gặp má mừng lắm. Trong lúc ngươi lớn líu lo tâm sự, nó nhìn tôi chăm chăm rồi hỏi bác Ba tôi:

– Thằng nầy là ai vậy, bác Ba?

– À, bác quên giới thiệu cho hai đứa bây làm bạn với nhau, bác Ba vui cười, giới thiệu: Đây là thằng Phúc cháu trai của bác ở Vĩnh Long; còn đây là cháu Tây, con của chú thím Tám Đông, nhà ở bên kia sông là anh em kết nghĩa với bác Ba đó!

Và kể từ hôm đó, thằng Tây Đen nhanh chóng trở thành bạn thân miệt vườn của tôi. Bác Ba đưa con heo sửa cho thằng Tây, dặn:

– Đem con heo nhỏ nầy về đưa cho tía má con! Nói là quà của của bác Ba nghe chưa!

Bác gái thấy vậy hỏi:

– Heo của ai cho ông vậy?

– Của chị Sáu Hộ ở xóm dưới đó mà! Mấy tháng trước, con nọc nhà mình nhảy con nái của chỉ, nó mới sanh được một lứa 10 con. Chị Sáu Hộ cho mình một con gọi là để đền ơn. Tui cho thím Tám con nầy để gầy giống!

– Cũng cái con mẹ Sáu Hộ đó nữa à! Bác gái cười gằn, rồi quay qua dặn thằng Tây: Bữa nay, có bà con ở Vĩnh Long xuống chơi, bác làm một bữa cơm gia đình. Hai bác mời hết ba má qua đây dùng cơm trưa. Dặn má con đừng có nấu cơm nghe chưa!

Thằng Tây chào mọi người, rồi ẵm con heo con xuống xuồng bơi qua sông. Bác Ba nói:

– Thôi, mời chú thím Tư lên nhà uống nước trà nói chuyện. Còn má thằng Hoàng muốn làm cơm đãi khách món gì thì tùy ý nghe!

Má tôi cũng đứng dậy, nói:

– Hai ông ngồi nói chuyện. Tui xuống bếp phụ với chị Ba.

– Nói chuyện gì cũng được, trừ chuyện “mèo mỡ gà đồng” là phạm gia quy đó nghe! Bác Ba gái cảnh cáo.

– Còn ông nói chuyện gì cũng được, trừ chuyện nhậu nhẹt là phạm gia pháp đó nghe! Má tôi nhắc khéo ba tôi.

Chờ bác gái và má tôi đi ra đằng sau bếp rồi, bác trai nói nhỏ với ba tôi:

– Đàn ông lâu ngày gặp nhau mà không nói chuyện đàn bà, nhậu nhẹt thì biết nói chuyện gì nữa nè trời!

– Thì mình nói chuyện làm ăn, dạy dỗ con cái cho nên người cũng được chớ có sao đâu, anh Ba! Nói gì thì nói, ba tôi khều nhẹ bác trai, nói nhỏ: Tôi có mua vài rượu thuốc thượng hảo hạng của ông thầy Xì, mang về cho anh dùng. Anh chỉ nghe nội cái tên thuốc cũng đủ rùng mình rồi!

Bác trai khoái chí, cười híp cả mắt, hỏi:

– Rượu thuốc loại gì mà ghê quá vậy, chú Tư?”

– Cửu chiến bất bại!

– Khiếp vậy à! Nè, nghe tui dặn. Bả có hỏi rượu thuốc trị bịnh gì thì chú là đại là thuốc trị “phong thấp” thôi nghe cha!”

Lúc đó, bác Ba tôi ngoài ngũ tuần nhưng rất tháo vác, ngoài nghề gõ đầu trẻ ra, bác tôi còn kiêm theo thêm nhiều nghề “tay trái” lắm như tự tay chăm sóc 10 công đất vườn chung quanh nhà trồng toàn cam mật lấy giống từ làng Nhơn Ái vùng Phong Điền, ngọt như đường phèn và quít lấy giống từ làng Long Tuyền, ngon ngọt nhứt xứ Cần Thơ. Ngoài ra, bác trai vừa là thầy thuốc Nam kiêm nghề coi tướng số và nghề cuối cùng là nghề nuôi “heo nọc” để che mắt bác gái. Cứ vào mùa bãi trừng là bác trai dẫn con heo nọc giống ngoại quốc đi “nhảy nọc” khắp làng trên xóm dưới. Còn chú Tám Đông, người anh em kết nghĩa với bác trai, ngoài nghề chính là làm ruộng, trồng rẫy còn kiêm nghề thú y, chăm sóc gia súc cho dân làng.

Bữa cơm hợp mặt của ba gia đình và có một người khách đặc biệt là hàng xóm với gia đình bác trai là chú Sáu đan rổ nên có biệt danh là “Sáu Rổ” nhà ở bên kia con đường. Bữa cơm toàn những món ăn đặc biệt của vùng Ba Láng như rùa rang muối chấm với nước mắm me, cá lóc úp thùng thiếc nướng lửa rơm, cuốn với bánh tráng rau sống, chấm mắm nêm. Và có một món tôi thích nhất là chim cu đất rô ti nước dừa, toàn là những món nhậu độc chiêu. Bác trai, chú Tám và chú Sáu Rổ nhậu say bí tỉ. Còn ba tôi, nhất định giữ vững lời thề với ông nội tôi, cứ một mực uống nước trà làm chuẩn. Còn tôi chỉ được ăn canh gà ác tiềm với thuốc Bắc của Lương Hiếu nấu cho tôi ăn để mau phục hồi sức khỏe.

Xong bữa cơm trưa cũng gần đến xế chiều. Ba má tôi sửa soạn ra về. Thằng Tây chèo chiếc ghe tam bản đưa ba má tôi ra chợ Cái Răng, đón xe đò trở về Vĩnh Long. Còn tôi ở lại với gia đình bác Ba cho đến hết mùa hè.

Tối đến, chỗ nằm ngủ của tôi là bộ ván gõ mun đã lên nước đen bóng kê sát vách ván bằng gỗ dầu, dưới cánh cửa sổ của gian nhà trước dùng làm nơi tiếp khách. Bác gái tôi thường ngồi ở đó ăn trầu và tiếp chuyện với mấy bà lối xóm đến thăm.

Đêm đầu tiên thật khó ngủ vì lạ chỗ và vì phần nhớ nhà. Đêm mùa hè ở thôn quê trôi qua thật chậm, khí hậu tuy có mát hơn thành thị nhưng vẫn còn oi bức. Tôi ngồi bật dậy, mở toang cánh cửa sổ cho gió mát lùa vào và cho đến khi cái đồng hồ đờn treo trên vách thong thả buông tiếng gõ ngân nga 11 tiếng, tôi mệt mõi ngủ thiếp đi lúc nào cũng không hay, cho đến khi tiếng gà trong làng dọc theo hai bên bờ sông gáy rộn rã, tôi mới giật mình thức giấc.

Tôi chống tay ngồi dậy, nhìn ánh trăng ảm đạm, mờ nhạt len vào khung cửa sổ. Sương mù trắng đục bao phủ khắp nơi trong khu vườn, dầy đặc đến độ tôi không thấy cây cối gì cả, chỉ nghe tiếng mấy tàu cau cạnh bờ mương bên hông nhà bị gió lay xào xạc, giũ những giọt sương đêm rơi lộp độp trên mái lá và tiếng kêu chim chiếp của một con chim non nào đó chợt thức giấc, cựa mình trong tổ.

Một lúc sau, con nọc và bầy heo bắt đầu kêu ầm ỹ trong chuồng đòi ăn là tôi thấy bác gái đã thức dậy, đốt cây đèn bão ra ngồi ngoài sàn nước, xắt chuối cây để nấu cháo heo…Tôi cũng rời chỗ nằm, đi ra ngoài sàn nước, ngồi bên cạnh bác gái, phụ hốt chuối cây đã xắt lát bỏ vào cái chảo đụn. Trời hơi lành lạnh, bác gái lấy cái áo len choàng lên mình tôi cho ấm.

Khi trời bắt đầu rạng đông, con trăng thượng tuần chưa lặng hẳn, còn hiện lờ mờ ở chân mây là ánh mặt trời đã hừng lên ở hướng đông. Sương mù từ từ loãng dần, tôi có có nhìn thấy trên cây mít tố nữ trồng bên cạnh chuồng heo, một đôi chim chìa vôi rời tổ, cất tiếng hót líu lo, bay lượn khắp nơi trong khu vườn; chốc chốc, lại bay về tổ, giũ đôi cánh ướt đẵm sương mai.

Bình minh, ánh thái dương tưng bừng rực sáng một gốc trời báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Màn sương tan biến dần, bây giờ tôi có thể nhìn thấy rõ hơn cây dương liễu mọc ở cuối bờ ao xa xa, bầy chim sẻ đã dậy ổ kêu ríu rít.

Dưới ao, bầy cá mè vinh, cá he vàng nổi đều lên mặt nước ăn mống. Một đóa sen hồng vừa mới nở đêm qua, lẻ loi nhô lên mặt nước; có lẽ, hương thơm đầy quyến rũ làm ngây ngất một chú chàng hiu đang ngồi chống đôi tay dài khẳng khiu trên một lá sen tròn, trầm ngâm suy tư. Bất ngờ, nghe tiếng cá quẫy đuôi gần bờ ao, nó hoảng hốt phóng mình xuống ao, đánh bõm một tiếng. Mặt nước bị giao động, tạo thành những vòng xoáy từ từ lan rộng ra, tôi có cảm tưởng mặt nước in bóng đám mây hồng bay vắt ngang qua bầu trời, đang trôi nổi bồng bềnh trên mặt nước ao.

Kể ra, bác trai hành nghề lương y mát tay thật. Chỉ một tuần sau là tôi khỏe hẳn người. Ăn uống bình thường không cần cữ kiêng gì cả. Sáng nào thằng Tây cũng bơi xuồng qua chơi với tôi; mặc dầu, nó chỉ lớn hơn tôi vài ba tuổi, nhưng nó thật khỏe, leo trèo, chạy nhảy nhanh như sóc, bơi lội như rái cá miệt U Minh.

Qua đến tuần lễ thứ hai là hai đứa tôi đi vào chương trình học tập: sáng học võ với chú Sáu Đan Rổ, chiều luyện toán với bác Ba. Nhờ chú Sáu chỉ thêm võ thuật mà sau nay có một thời tôi say mê quyền thuật. Chỉ có những buổi chiều nào bác Ba bận dẫn con nọc đi làm việc thì hai đứa tôi mới được thông thả, rong chơi ngoài đồng như săn chim trời, thả diều, đi hớt cá lia thia, gác cu bên cây xoài tượng đằng sau vườn nhà nó, cắm câu, đặt trúm lươn ngoài đồng. Trời đổ cơn mưa chiều thì đêm đến lén đốt đuốc đi soi ếch. Tôi học thằng Tây đủ nghề cả cả nghề đi ăn trộm gà.

Càng ở lâu, tôi càng thương hai bác như cha mẹ ruột. Nhứt là bác gái chăm sóc tôi từng miếng ăn giấc ngủ cũng giống như anh Hoàng – con trai duy nhất của hai bác – đang đi học ở Sài Gòn nên ít khi có dịp về quê làng Ba Láng thăm gia đình. Tôi chỉ sợ khi thấy bác gái nổi trận lôi đình, bác múa cây mác dùng để xắt chuối cây nghe vù vù như Triệu Tử Long, rượt bác trai chạy vắt giò lên cổ… Có một lần, chú Tám Đông chơi bác trai một vố sợ điếng hồn, rồi hai người giận nhau cả tuần lễ.

Chuyện là như vầy:

Một buổi trưa hè, tôi và thằng Tây Đen đang làm toán tập, còn bác trai nằm trên võng ngâm thơ “Lục Vân Tiên”. Bên kia sông, chú Tám Đông đang ngồi chồm hỗm dưới gốc mậm trên bờ sông, bên cạnh cây cầu ván, ngó mông lung qua bên kia bờ sông. Vừa vấn xong điếu thuốc rê đưa lên môi, rồi châm diêm quẹt đốt, phì phà một vài hơi rồi ngả lưng bên gốc mận lim dim đôi mắt, lắng nghe tiếng gió thổi rì rào trên rặng bần xanh dưới mé sông. Chú Tám nhướng đôi mắt nhìn lên tàng cây mận xanh um rậm lá, say sưa nhìn những chùm mận non, vỏ còn xanh xao đong đưa trước gió, bỗng thấy một con sâu đo màu xam xám, nhỏ bằng đầu đũa ăn rời khỏi chùm mận non, đang giẫy giụa dưới sợi dây tơ mong manh như mạn nhện, cố rút mình trở lên tổ; nhưng đã muộn, một con chim sâu mỏ màu nâu nhạt, nhỏ hơn chim sẻ một chút, từ đâu bay sà xuống, móc đôi chân bám vào nhánh cây gần đấy, thòng đầu ngược xuống đất, đảo đôi mắt liến thoắng, nhìn con mồi một cách thích thú, bất ngờ nó buông mình bay vụt tới như mũi tên đớp con mồi, rồi bay vút lên bầu trời xanh bao la mùa hạ. Nó bay liệng một vòng trước khi mất hút bên kia bờ sông. Chú Tám nhìn theo chậc lưỡi, thở dài: “Năm nay, không khéo lại gặp nạn sâu đo nữa rồi”!”

Tiếng võng kẽo kẹt và tiếng hát ru con ầu ơ trầm bổng của chị Chín Dậu hàng xóm, văng vẳng vang lên từ dưới bóng mát của cây vú sửa trước sân căn nhà lá, thấp lè tè của vợ chồng chị:

” Ầu ơ…ơ…Gió đưa bụi chuối sau hè buội
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ…ầu ơ…ơ…””

Nghe tiếng ru của chị Chín Dậu, chú Tám bật cười khan, rồi lẩm bẩm một mình: Nhà nghèo rớt mòng tơi, thằng cha Chín Dậu phải đi làm nghề biển, có khi cả tháng mới về nhà, chớ thằng chả có theo con mẹ nào đâu mà ở nhà cứ ghen bóng ghen gió hoài, giống y chang chị Ba!

Tiếng ru con buồn buồn của chị Chín Dậu hòa lẫn tiếng ve sầu rộn rã, tiếng chim cu đồng gù cúc cù cu, tiếng chim hót lảnh lót từ những rặng dừa, rặng tre già dọc con đường làng hoặc trên một cánh đồng lúa chín nào đó vọng về, tấu thành khúc nhạc đồng quê êm đềm như ru chú Tám Đông vào giấc ngủ trưa hè.

Chú Tám đang thiêm thiếp giấc nồng thì có một người đàn bà gốc Hoa, dáng người mập mạp, nói trọ trẹ được một ít tiếng Việt, đánh thức chú dậy để hỏi đường. Bà ta hỏi:

– Chú Hai ơi! Nhà của thầy Ba có gần lây không?

– Ông thầy Ba nào vậy cà? Chú Tám Đông nói: Vùng nầy có nhiều người tên Ba lắm!

– Cái ông thầy Ba coi tướng số ấy mà, chú Hai! Bà ta nói.

– À, có phải thầy giáo Ba kiêm nghề coi tướng số, đúng không ? Chú Tám Đông hỏi.

Bà ta mừng quá, nói:

– Ấy dzạ, lúng là ông Ba ló rồi, chú Hai ơi!

– Bà kiếm ổng có chuyện gì vậy?

– Không dấu gì nị, từ đầu năm đến giờ, ngộ làm ăn thua lỗ quá ông chời! Nên ngộ mới tìm ông thầy Ba lón vận mệnh cho ngộ, coi ngộ làm ăn bao giờ phát tài. Chỉ có vậy thôi à, chú Hai.

– Vậy sao! Chú Tám mỉm cười, nói: Này, ngộ nói riêng cho nị biết thôi nghe, nhớ đừng nói lại cho ai biết. Nị chịu hứa với ngộ không?

– Ừa, ngộ hứa với nị ló! Bà ta nghiêm chỉnh nói.

Chú Tám làm mặt nghiêm, nói.

– Thầy Ba có biệt tài coi tướng lỗ… rún hết sẩy đó! Mà ổng dấu nghề, không chịu coi cho ai hết!

Bà ta ngạc nhiên, không hiểu chú Tám muốn nói cái gì bèn hỏi:

– Nị nói cái gì, ngộ ằm chí tu lớ! Lỗ rún cũng có chỉ lể coi lược hả, chú Hai? Mà cái lỗ rún nằm ở chên hay ở dưới dzậy?

Chú Tám phì cười , nói.

– Cái lỗ rún là cái lỗ cạn nầy đây nè, bà chị ơi! Chú Tám vừa nói vừa vén vạt áo bà ba, lấy ngón tay trỏ ngoáy vào cái lỗ rún của mình, nói: Cái lỗ rún nằm ở đây nè, thấy rõ chưa!

Bấy giờ bà ta mới biết vị trí cái lỗ rún nằm ở đâu, khoái chí cười híp mắt, nói:

– Cái lỗ rún nằm ở chên thì ngộ cho ông thầy coi lược. Còn cái lỗ ở dưới thì ngộ không cho ông thầy Ba coi lâu!

Chú Tám Đông làm bộ giải thích:

– Con người ta: giàu, nghèo, sang, hèn đều do cái lỗ rún méo, tròn, sâu, cạn mà ra cả. Nếu người nào may mắn có thêm mấy đường chỉ rún nữa là “đại quí tướng” đó”!

Bà ta nghe nói mừng quá, khoe:

– Ngộ cũng có mấy lường chỉ rún nữa ló!

– Chỉ rún của nị hướng thượng hay hướng hạ vậy?

– Ngộ cũng lâu có biết nữa, bà ta kéo vạt áo tàu lên, nói: Lâu nị làm ơn coi dùm chỉ rún cho ngộ li, chú Hai! Ngộ trả tiền cho nị mà!

Chú Tám hoảng quá, khoát tay lia lịa, nói:

– Ngộ đâu có biết coi chỉ rún! Nị phải qua bển nhờ thầy Ba coi dùm cho nị!

– Nhà thầy Ba có ở gần lây không?

Chú Tám lấy tay chỉ qua sông, nói:

– Nhà của ổng ở bên kia kìa!

– Nếu ổng không chịu coi chỉ lỗ rún của ngộ thì làm sao? Bà ta lo lắng, hỏi.

– Thôi, ngộ mách nước cho nị, chú Tám nghiêm nét mặt, nói: Khi nào nị gặp thầy Ba, nị đừng thèm hỏi cái gì hết, cứ việc đi lại cái bộ ván gõ mun rồi nằm dài xuống đó, vén cái vạt áo lên vừa đủ phơi cái lỗ rún ra ngoài, bắt buộc ổng sẽ coi tướng lỗ rún cho nị!

Bà ta nghe nói vui mừng ra mặt, nói:

– Cám ơn chú Hai nghe! Sẵn có chiếc xuồng ở dưới sông, nhờ nị lưa ngộ qua sông lược không?

Chú Tám thấy bà ta trúng kế, hí hửng nói:

– Chuyện dễ thôi! Nị xuống xuồng trước, tôi lên nhà lấy cây mái dầm nghe!

Chú Tám bơi xuồng đưa bà ta qua sông. Xuồng vừa chạm cây cầu dừa để cho bà ta bước xuống là chú Tám vội vã bơi xuồng trở qua bên này. Bà ta gọi vói theo:

– Chú Hai bơi xuồng trở lại cho ngộ trả tiền chớ!

Chú Tám ngoái đầu lại, khoát tay, nói:

– Thôi khỏi! Nị nhớ lời ngộ dặn nghe chưa!

Bà ta gật đầu cám ơn rồi quày quả bước lên bờ, đi thẳng vô cổng. Bác trai đang nằm đu đưa trên võng trước hiên nhà ngâm thơ, còn bác gái đang nấu cháo heo ở bên cạnh sàn nước. Nghe tiếng con phèn sủa ong ỏng trước sân. Bác trai kéo cặp kính lão xệ xuống sóng mũi, nhướng cặp mắt nhìn ra sân. Thấy người đàn bà lạ mặt đi lơn tơn vào nhà. Bác vội vàng bỏ cuốn sách xuống đất, đứng dậy đi ra trước sân, hỏi:

– Xin lổi, chị muốn kiếm ai vậy?

– Ngộ muốn tìm ông thầy Ba!

– Thầy giáo Ba là tôi đây! Chị cần gì tôi?

Mắt bà ta sáng lên, hỏi lại lần nữa cho chắc ăn:

– Nị là thầy giáo Ba thiệt hả?

Bác Ba tôi gật đầu. Bà ta làm y như lời chú Tám dặn, hối hả nắm tay bác Ba lôi tuột vào trong nhà rất ư là tự nhiên. Đến bộ ván gõ, bà tự động nằm dài xuống đó, một tay kéo vạt áo lên, tay kia trật cái dây lưng quần xuống, vừa đủ phơi cái lỗ…rún ra ngoài, nói:

– Ngộ nhờ thầy Ba làm ơn coi tướng cái lỗ rún của ngộ sâu, cạn, chòn, méo. Còn mấy cái lường chỉ rún của ngộ hướng thượng hay hướng hạ dzậy, ông thầy Ba?

Bác trai nhìn ra đằng sau bếp, mặt mày tái mét, ú ớ nói không thành tiếng:

– Chị…chị làm cái gì kỳ cục vậy? Ai nói với chị là tôi biết coi chỉ lỗ rún chớ!

– Chú Hai đang ngồi bên sông kia kìa! Bà ta tiếp tục năn nỉ: Thôi mà, thầy Ba dấu nghề hoài! Làm ơn coi chỉ rún dùm ngộ li mà! Coi luôn cái lỗ ló sâu hay cạn dzậy, ông thầy?

Bác trai rủa thầm trong bụng: “Lại cái thằng Tám Đông mắc dịch, nó muốn phá mình nữa đây mà.” Thật không may! Vừa lúc đó, bác gái từ nhà bếp đi lên; bỗng dưng, thấy một người đàn bà lạ mặt đang nằm dài trên bộ ván gõ, phơi cái lỗ rún ra ngoài cho chồng mình ngắm. Bác chưng hửng, máu ghen ngùn ngụt bốc khói, bác gào lên như sư tử hống:

– Thôi khỏi, để tao coi cho! Con nầy bảnh thiệt đó nghe! Giữa ban ngày ban mặt mà dám trật quần ra cho chồng tao coi cái lỗ…còn hỏi ổng sâu hay cạn nữa chớ! Bác gái quay sang bác trai nghiến răng trèo trẹo, mắt trợn ngược, nói gằn từng tiếng: Tui muốn ông thành thật khai báo, không thì lấy dao phụp sát gốc…chỉ chừa đúng hai phân, vừa đủ để cho ông “đi tè” thôi đó! Nghe chưa ông Ba? Có phải con mẹ nầy là vợ bé của ông không? Nói, nói mau!”

Oan ơi ông địa! Tình ngay lý gian! Bác trai ú ớ, sợ quá nói không thành tiếng vì tang chứng, vật chứng rành rành biết giải thích thế nào cho bà vợ tin bây giờ đây nè trời! Im lặng tức là xác nhận đúng rồi chớ còn gì nữa. Bác gái giận run người, chạy ù ra đằng sau bếp, rút cây mác dùng để xắt chuối cây đang giắt trên vách lá một cái rẹt, rồi chạy trở lên nhà trên, miệng gào:

– Chém! Chém! Chém…bà chém bay đầu hết!..

Thằng Tây Đen lật đật buông viết đứng dậy, nắm tay tôi chạy vụt ra ngoài sân vì sợ vô can bị vạ lây. Còn bác Ba hoảng kinh hồn vía, lôi người đàn bà người Hoa, khách không hẹn mà đến, chạy thụt mạng ra bờ sông. Thật họa vô đơn chí! Bác Ba chạy luýnh quýnh thế nào trợt té nằm dài xuống đất. Bác gái chạy trờ tới, giơ cây “tàn chi quái đao” lên khỏi đầu định phụp xuống. Thời may, chú Sáu Rổ chống cây côn bằng cây tầm vông xuống đất, phóng mình qua bờ rào, kịp thời đở ngọn mác trông thật oai phong ác liệt. Thiệt không hổ danh sư phụ của hai đứa tôi. Trong lúc bác trai sợ quá tè ướt cả quần. Sư phụ tôi thét:

– Sao không chạy lẹ lên, còn nằm dài dưới đất vậy, cha nội! Sư phụ quay sang nhìn hai đứa tôi quát: Còn không chạy tới ôm eo ếch bả, đứng sớ rớ làm gì đó hả?

Hai đứa tôi đồng thanh đáp:

– Đệ tử xin phụng mạng!

Tôi chạy nhào tới ôm ngang eo ếch bác gái ghì lại, còn thằng Tây khỏe hơn nắm chặt tay dao của bác gái. Bác Ba chỉ chờ có thế, lồm cồm ngồi dậy, chạy vòng qua nhà chú Sáu Rổ, tông cửa chạy vô, định chun xuống gầm giường trốn thì thấy bà ta đang nằm bẹp dí dưới đất rồi. Đúng là cảnh oan gia gặp đường hẹp! Bác Ba vội vàng chạy tháo trở ra bờ sông. Không biết quính quáng thế nào mà bác nhảy đại xuống sông Ba Láng, ôm gốc bần chịu trận.

Bên kia sông, chú Đông thấy vậy bèn cười chọc quê:

– Sao không chạy qua nhà hàng xóm trốn, mà lại nhảy xuống sông vậy cha nội? Bộ tưởng bả không biết lội hả, thầy Ba coi tướng số?

Mà bác gái tôi không biết lội thật. Bác chống cây mác xuống đất, một tay chống nạnh, oai phong lẫm liệt như nữ tướng Mộc Quế Anh sắp sửa phá trận “Thiên la địa võng” . Bác gái trợn mắt nhìn bác trai, nghiến răng trông thật bậm trợn, hét:

– Tui biết quá mà! Ông bày đặt nuôi heo nọc đặng có dịp la cà làng trên xóm dưới để kiếm vợ bé. Thầy trò ông thi nhau “nhảy” . Ông ăn ở với con mụ hồi nãy, nó có bầu mấy tháng rồi vậy hả, ông Ba? Nói thiệt đi thì tui khoan hồng!

– Bậy nà, tui có vợ bé hồi nào đâu! Con mẹ hồi nãy trật quần ra, nhờ tui coi mấy đường chỉ…rún thôi mà, bác Ba tiếp tục chối lia lịa: Tui thề với bà, tui mà thấy cái lỗ nào khác ngoài cái lỗ… rún cho tui chết hộc máu tại bến sông nầy cho vừa bụng của bàø!

Bác gái nghe nói, tức quá lại hét lên:

– Cái gì? Coi đường chỉ cái lỗ rún hả? Lỗ rún làm gì có đường chỉ nào mà coi chớ! Thôi, quá ông lắm rồi nghe, ông Ba! Phen nay chứng cớ rành rành ra đó, nhất định tui không bỏ qua dễ dàng đâu. Tui sẽ phụp cái “củ thúi” của ông rồi bằm to, bằm nhỏ nó ra cho vịt nó ăn, tui mới vừa bụng!

Bác trai sợ quá, mặt mày tái ngắt, ôm gốc bần run lập cập vì vừa sợ vừa lạnh khi nhìn thấy đám lục bình trôi bập bềnh ra vàm sông Ba Láng, báo hiệu con nước bắt đầu ròng…

Ngồi bên nầy bờ sông, chú Tám thấy vậy ôm bụng bò lăn ra cười, nói:

– Ê, thầy Ba! Bộ trời nóng lắm sao mà xuống sông ngâm nước lâu quá vậy, cha nội!

Biết bị Tám Đông chơi xỏ, bác trai ức quá mà không làm gì được, bèn chửi toáng cả lên:

– Thằng Tám Đông mắc dịch! Mầy đá giò lái ông đó hả? Thằng quỉ sứ!

Nghe tiếng cười nói ồn ào dưới bờ sông, thím Tám từ trong nhà đi ra bờ sông hỏi cho ra lẽ. Chú Tám to nhỏ với thím Tám một hồi, chỉ nghe thím Tám trách chồng:

-Biết tánh chị Ba hay ghen sảng mà ông còn phá chỉ làm chi vậy cà.

Nói xong, thím Tám lấy cái khăn rằn quấn lên đầu, bước xuống xuồng bơi một lèo qua bên kia sông. Vừa bước lên bờ thím Tám vội vàng kéo tay bác gái vô đứng trước sân, nói:

– Người đàn bà hồi nãy không phải là cái gì của anh Ba cả, mà ảnh làm gì có vợ bé mà chị khéo lo làm chi cho mệt người!

– Làm sao thím biết, con mẹ đó không phải là vợ bé của ổng chớ?

– Làm sao không biết mà còn biết rành nữa cà, thím Tám ôm vai bác gái trấn an, nói: Bà ta đang hỏi thăm nhà anh Ba để nhờ coi tướng số gì đó. Nhè ông Tám Đông thích đùa dai mà bả hỏi thế mới chết người chớ! Ông Tám nhà tôi bèn bày vẽ cái chuyện coi chỉ rún để phá anh chị đó mà. Chuyện chỉ có vậy! Tin hay không tùy chị.

Bác gái nghe thím Tám nói, có vẻ hối hận, nói:

– Ai nói thì tôi còn xét lại, chớ thím Tám nói thì tui tin liền! Thôi, để tui trở ra bờ sông kêu ổng lên!

– Ừa, chị nói phải đó! Anh Ba ngâm nước sông lâu quá, coi chừng ảnh bị cảm lạnh cho mà coi! Thím Tám nói.

Bác gái đi một hơi ra bờ sông. Thím Tám gọi giật ngược lại, nói:

– Làm ơn đưa cây mác cho tôi đi mẹ! Chị xách cây mác theo làm sao ảnh dám leo lên bờ chớ!

– Ừa hén, tui quên! Bác gái nói.

Bác gái đưa cây mác cho thím Tám, rồi đi ra bờ sông gọi chồng:

– Thôi, lên bờ đi tía thằng Hoàng! Coi chừng bị cảm lạnh đó!

Bác trai nghe vợ gọi mừng lắm, lật đật leo lên bờ còn làm mặt giận, nói:

– Bà đó nghen, ghen ẩu hoài có ngày gây án mạng là tù mọt gông đó!

– Ghen mà không ghen ẩu thì đâu phải gọi là ghen, bác gái cười vả lả: Còn thương ông lắm, tui mới ghen chớ bộ!

Bác trai chưa hết giận, nói:

– Thôi, hổng dám đâu! Cám ơn bà nghen!

Chờ bác trai đi một nước vô nhà thay đồ, thím Tám hỏi:

– Còn bà xẩm hồi nãy, bây giờ trốn ở đâu rồi? Chị có thấy bả chạy đi đâu không, chị Ba?

– Ừa, thím hỏi tui mới nhớ! Tui phải đi kiếm bả để xin lổi mới được!

Thằng Tây Đen đứng bên cạnh thím Tám, vọt miệng nói:

– Con thấy bả chạy vô nhà chú Sáu. Chắc bà ta còn trốn ở trong đó!

Bác gái hỏi thím Tám:

– Bây giờ tính sau đây, thím Tám?

– Thôi, việc này để anh Ba dẫn chị qua xin lổi bà ta hay hơn. Thấy chị, bà ta sợ đứng tim luôn thì đổ nợ nữa đó!

– Thím nói cũng có lý! Bác gái nhìn tôi, nói: Con chạy vô trong nhà, mời bác trai ra ngoài nầy cho bác gái chuyện, lẹ lên con!

Tôi chưa kịp chạy vô nhà, đã thấy bác trai đang bước ra khỏi ngưỡng cửa. Thấy vợ và thím Tám đang trò chuyện có vẻ tương đắc lắm. Bác trai hỏi:

– Hai bà đang bàn tính định giở trò gì nữa đây hả?

– Có gì đâu nà! Muốn nhờ ông dẫn tui qua nhà chú Sáu, đặng tui xin lổi bà xẩm. Tui thiệt hồ đồ quá mạng! Bác gái nói.

– Lúc tôi chạy vô nhà chú Sáu thì thấy bả đang trốn dưới gầm giường. Mà chắc gì bà ta còn ở trong đó? Bác trai nói.

– Con dám chắc bà ta chưa dám vọt ra ngoài đâu vì sợ đụng độ với bác gái đó! Thằng Tây nói.

Bác trai nghe vậy, nói:

– Chuyện đời đôi khi nghĩ cũng nực cười! Biết đâu, cái xui của tôi lại là cái hên của người khác cũng không biết chừng à nghen, hai bà!

Bác gái trố mắt nhìn chồng, ngạc nhiên, hỏi:

– Ông nói cái ăn trét hết trơn! Tui không hiểu gì hết vậy, tía thằng Hoàng?

– Có cái gì mà không hiểu, bác trai mỉm miệng cười, nói: Hồi nãy, bà ta nằm dài trên bộ ngựa, lúc bả trật cái lưng quần xuống, nhờ tôi xem đường chỉ rún, tôi thấy cái nầy hơi ngồ ngộ nghe mấy bà…

– Thôi, im cái lỗ miệng lại đi, bác gái nổi sùng, ngắt lời: Nói vậy, phần từ rún trở xuống của bà ta, ông coi hết rồi phải không? Nói, nói mau không thì tôi chém ông bây giờ đó!

Thím Tám chậc lưỡi , hít hà:

– Chời ơi chời! Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ sao nè chời! Mới chết hụt tức thời mà chưa biết sợ sao nè chời!

Bác trai phì cười, nói:

– Mấy bà thiệt nực cười! Nghe chưa hết câu, đoán già đoán non, rồi nổi tam bành lục tặc đòi chém tui. Thiệt lãng nhách!

Bác gái trợn mắt, nói:

– Vậy chớ, ông thấy bả có cái gì ngồ ngộ hả? Nói thử cho tui nghe coi, ông Ba!

– Được rồi, bà ngoáy cái lỗ tai nghe tôi nói đây, bác trai tiếp: Khi bà ta trật cái lưng xuống khỏi cái lỗ rún. Tình cờ tôi thấy eo bụng của bả có một cái nây bụng nổi rõ. Theo tôi biết, sách tướng gọi đó là “ngọc đới yêu vi” chủ về vượïng phu, ích tử.

Thím Tám ngạc nhiên, hỏi:

– Ngọc đới yêu vi là cái gì vậy, anh Ba?

Bác trai giải thích:

– Có là cái đai ngọc trời cho, quấn xung quanh eo bụng của người đàn bà. Đó là ẩn tướng, đại quí cách đó nghe mấy bà!

– Tui thiệt không tin, cái “ngọc đái yêu vi” là tướng vượng phu ích tử đâu anh Ba ơi! Cái tướng đó là tướng phá sản toàn gia, thím Tám cười chọc quê, nói: Anh mà rước bà ta về làm vợ bé, vượng phu đâu thì tui không biết, mà thấy trước mắt là chị Ba sẽ đốt nhà anh ra tro là cái chắc!

– Nói thiệt đi! Có phải ông mê con mẹ đó rồi, phải không ông Ba? Bác gái ấm ức, nói: Nếu ông muốn lấy con mẻ làm vợ bé thì cứ nói thẳng với tui một tiếng, bày vẽ làm chi cái chuyện tướng số hoang đường như vậy chớ!

Bác trai cười trấn an, nói:

– Bà cũng có quí tướng ẩn tàng vậy, có thua sút ai đâu nà! Thằng Hoàng sau nầy đổ đạt thành danh là cũng nhờ tướng vượng phu ích tử của bà đó nghe!

– Tôi có ẩn tướng chỗ nào?ø Hồi nào tới giờ không nghe ông nói đến cà?

– Thì cái nốt ruồi son, nổi cộm bằng đầu đũa dưới ngực trái của bà đó!

– Vậy sao? Bác gái, hỏi: Tại sao tới bây giờ ông mới nói cho tui biết?

Bác trai cười, nói:

– Nói cho bà biết đặng cho bà lên mặt với tôi hả? Tôi đâu có ngu dữ như vậy?

Thím Tám có vẻ sốt ruột, nói:

– Thôi, cái con mẹ á xẩm để anh chị giải quyết! Tui đi về à nghen!

Nói xong, thím Tám bỏ đi te te ra ngoài bờ sông. Bác trai gọi giựt ngược lại:

– Khoang đi về vội, tôi có một đề nghị với thím đây nè!

Thím Tám cực chẳng đã trở vô, hỏi:

– Còn có chuyện gì nữa đây, anh Ba?

Bác trai cười ghẹo, nói:

– Thím nên đứng ra cưới bà ta làm vợ bé cho chú Tám đi! Biết đâu, nhờ phần phước của bà ta mà chú thím làm ăn phát đạt, lúc đó đừng có quên ông mai nầy nghen.

Thím Tám nghe nói đổ quạu, đáp:

– Dạ, tôi không dám nhận phần phước nầy đâu. Thôi, để chị Ba đứng ra cưới bả về làm vợ bé cho anh đi!

Bác gái nghe nói, trề môi hứ nghe một cái cốc, hỏi:

– Sao, ông muốn tôi đứng ra cưới bà ta về nâng khăn sửa túi cho ông không?

Bác trai cười mơn, nói:

– Đùa với mấy bà cho vui thôi! Người tôi muốn cưới bà ta là chú Sáu, chớ không phải ai đâu xa lạ. Mấy bà nghĩ sao?

Bác gái gật đầu, nói:

– Ông ba nói phải đó, thím Tám! Chú Sáu lớn tuổi, sống cu ki như vậy hoài không tiện đâu! Chú cần có một người bàn đời hủ hỉ, an ủi nhau trong lúc tối lửa tắt đèn. Thím Tám nghĩ sao?”

– Biết bà ta có ưng lấy chú Sáu làm chồng không? Đó mới là vấn đề! Thím Tám nói.

– Tưởng gì, chớ chuyện đó dễ ợt! Bác trai nói.

Bác gái nói:

– Ông nói sao dễ nghe quá! Bà ta người Việt gốc Hoa, còn chú Sáu là người Việt Nam. Thím Tám nói đúng đó, ông à!

– Tôi có diệu kế! Mình phải tạo cơ hội bằng vàng cho chú Sáu lấy bà ta làm vợ. Dịp nầy bỏ qua rất uổng!

– Diệu kế của ông là kế gì? Nói thử cho tui và thím Tám nghe coi!

– Kế nay gọi là kế “rung cây nhát khỉ”! Tôi nhờ bà làm cho bà ta hoãng sợ không dám ra khỏi nhà bà ta sẽ trốn qua đêm trong nhà chú Sáu. Lửa gần rơm suốt đêm sẽ phựt. Gạo nấu thành cơm rồi mọi việc sẽ xuôi chèo mát mái thôi! Chú Sáu mà lấy được bà ta là phước mấy đời của chú đó, mấy bà ơi!

– Để tui chận phía cửa trước hù bà ta, còn ông lẻn ra nhà sau, gọi chú Sáu ra nói cho chú biết trước ý định của ông để chú yên tâm, bác gái cười chọc quê, nói: Tui mà hù, ông còn sợ té đái, huống hồ gì bả!

Bác trai nói:

– Bây giờ, bà qua đứng trước nhà chú Sáu tiến hành kế hoạch được rồi đó. Còn tôi về nhà lấy một ít đồ nhậu cho chú Sáu lấy gân tối nay. Chú Sáu coi bộ nhát đèn lắm!

Nói xong, bác trai chạy ngay về nhà. Thím Tám và bác gái xách cái mác xắt chuối qua đứng trước sân nhà chú Sáu, làm bộ hét ầm lên:

– Chú Sáu đâu! Mau dẫn con mẹ vợ bé của “thằng chả” ra đây nộp mạng mau! Tui biết con mẻ đang trốn ở dưới gầm giường. Chú mà không mở cửa là tui đốt nhà chú liền ngay bây giờ! Sao, có chịu lôi đầu con mẻ ra đây để tôi hỏi tội hay không?

Có tiếng chú Sáu từ trong nhà, nói vọng ra:

– Ở trong nhà chỉ có mình tui. Bà ta vọt cửa sau chạy ra ngoài đường cái, đón xe lô về chợ Cái Răng rồi!

Bác gái làm bộ giận dữ, hét:

– Được rồi, cho chú bao che con mẻ đi! Tôi ngồi canh cửa chờ! Nó trốn ra ngoài vào giờ dậu, tôi chém giờ dậu. Còn nó vọt ra giờ tý, tui chém nó giờ tý! Nó cóù ngon thì trốn suốt đêm trong nhà chú đi!

Một lát sau, bác trai bảo thằng Tây và tôi bưng nồi cơm, canh và cá mặn chưng với trứng vịt. Còn bác Ba cầm một xị rượu thuốc và xâu khô cá lóc ướp “ngũ vị hương” làm mồi nhậu cho chú Sáu. Chúng tôi đi ngả sau, băng qua ngang con lộ. Thằng Tây lấy tay vạch hàng rào tre cho bác trai và tôi bưng đồ ăn chui qua.

Bác trai rón rén đi ra phía sau nhà bếp, lấy tay đẩy nhẹ cánh cửa, ló đầu vào trong gọi nhỏ:

– Chú Sáu ơi! Chú Sáu!…anh Ba đây nè! Đi ra ngoài nầy lấy đồ nhậu. Mau lên chú Sáu!

Tiếng chú Sáu hỏi vọng ra:

– Có chị Ba theo anh ra ngoài đó không hả, anh Ba? Hồi nãy, chị quát tháo ỏm tỏi ngoài sân, nghe kinh thấy mẹ!

– Yên tâm đi, chỉ có anh Ba và hai thằng đệ tử nhóc của chú thôi! Bác trai nói.

Chú Sáu đi rón rén đẩy cánh cửa sau bếp, đi ra gặp bác trai, giọng run run, nói:

– Anh làm ơn kêu chị Ba về nhà đi! Trời sắp tối đến nơi rồi đó, anh Ba!

Bác trai kéo tay chú Sáu ngồi lên cái chõng tre, kê bên chái hè, nói:

– Chị Ba biết hết mọi chuyện rồi, chú đừng có lo! Cớ sự nầy do Tám Đông bày vẽ để phá chị Ba thôi!

Chú Sáu có vẻ yên tâm hơn, hỏi:

– Như vậy, bà ta có thể ra về được rồi, phải không anh Ba?

– Anh chị và thím Tám thấy chú sống cu ki một mình đơn chiếc, nên anh bày ra kế nầy để giữ bà ta ở lại nhà chú đêm nay, tạo cơ hội ngàn vàng cho chú đó, biết không chú Sáu? Bác trai cười, nói: Đồ ăn và đồ nhậu cho hai người tối nay, còn đây là xị rượu thuốc “cửu chiến bất bại” giúp cho chú ngồi vững trên mình ngựa xông pha chiến trận, đâm tướng đoạt ải mà không sợ “hộc máu trước cửa thành” đó nghen, chú Sáu!

– Cám ơn lòng tốt của anh chị Ba và chị Tám. Nhưng từ khi Sương Mai chết đi rồi, tôi thề ở độc thân suốt đời không lấy vợ nữa, anh Ba ơi!

Bác trai chậc lưỡi, nói:

– Sương Mai chỉ mới là yêu của chú thôi mà! Cổ đã qua đời cách nay mười mấy năm rồi; chẵng lẽ, chú ở vậy suốt đời sao, chú Sáu?

– “Thú thiệt với anh Ba! Tôi không còn lòng dạ nào nghĩ đến một người đàn bà khác trong lúc nầy đâu!

– Bây giờ, ý chú muốn như thế nào?

– Anh cho tôi mượn chiếc xe đạp để đưa bà ta ra ngoài lộ cái đón xe lô. Xế chiều rồi, lở chuyến xe là tôi phải đèo bà ta ra chợ Cái Răng, rồi đạp xe trở về, mệt lắm!

Bác trai gật đầu, nói:

– Thôi được, để tôi ra nói với bả! Còn chú chuẩn bị đưa bà ta trở về nhà đi là vừa!

Một lát sau, chú Sáu mở toang cánh cửa đưa bà ra sân. Vừa trông thấy bác gái cầm cây mác xắt chuối cây là bà hoảng hồn đứng thối lui lại, nép mình sau lưng chú Sáu. Bác gái lật đật quăng cây mác xuống đất, đi đến nắm tay bà ta một cách thân thiện, nói:

– Ngộ thiệt hồ đồ, ghen ẩu làm cho nị hoảng sợ. Ngộ biết rồi, nị không phải là nhân tình, nhân ngãi gì của chồng ngộ đâu. Thành thật xin lổi nị nghe!

Thím Tám nói vô:

– Chuyện nầy do ông chồng tôi, chọc phá anh chị Ba thôi mà. Chị bỏ qua cho!

– Ông chồng nị chơi ác với ngộ quá ông chời li! Ngộ mà chạy không kịp, bà già nầy chém cho ngộ một dao, chết cha ngộ rồi, bà ta quay qua bác gái, nói: Nị làm ngộ sợ lến té lái ướt cái quần hết chơn!

Chú Sáu tức cười, nói:

– Chị Ba làm ơn cho cô ta mượn cái quần khác mặc tạm, chớ cái quần bả đang mặc, thúi ình ai mà chịu cho nổi.

– Thôi được, ngộ về nhà lấy cái quần sạch cho nị mặc tạm, bác gái nhìn bà ta, nói: Đứng đây chờ ngộ một chút nghe!

Bác gái đi về nhà. Một lát sau, bác trai dắt chiếc xe đạp trở qua với bác gái. Trong lúc chờ bà ta vào nhà trong thay đồ. Chú Sáu nói với thím Tám:

– Nếu trể xe đò, tôi phải đạp xe đưa bà ta về thẳng chợ Cái Răng. Chị cho thằng Tây Đen qua ngủ ở đây, coi chừng nhà dùm tôi.

Thằng Tây lẹ miệng nói:

– Sư phụ an tâm! Con và thằng Phúc qua ngủ coi chừng nhà dùm cho sư phụ!

Trước khi rời nhà, chú Sáu còn ngoáy đầu lại dặn dò:

-Đừng quên cho mấy con chim ăn nghe tụi bây!

Nhưng, vào khoảng 6 giờ chiều. Tôi và thằng Tây đi bắt cào cào, châu chấu đem về cho mấy con chim ăn vừa xong thì thấy sư phụ cỡi xe đạp cũng vừa về đến cổng. Chuyện đời, đôi khi cái xui của người nầy mà là cái hên của người khác. Không ai dè, bà xẩm trốn dưới gầm giường trong nhà của sư phụ lánh nạn mà bốn năm sau đó, bà ta trở thành thím Sáu. Có lẽ, nhờ hạp tuổi mà cả hai càng ngày càng làm ăn trở nên khá giả.

oOo

Bác gái sau khi nge lời khuyên của thím Tám, nghe cũng có tình có lý bèn gật đầu ưng thuận. Nhưng chỉ được vài hôm là bác gái đổi ý, càng ghen bạo hơn nữa và qua nhà chú thím Tám, tâm sự:

– Tui nói thiệt với chú thím Tám nghen! Sao tui nghi ông Ba có vợ bé quá đi. Chú thím nghĩ coi: những người đàn bà kêu ổng dẫn heo nọc đi “nhảy”, toàn là mấy con mẹ đàn bà giá chồng ở cuối làng mình, gần miệt Vàm Xáng, vậy mới ngộ chớ!

Thím Tám lại trấn an:

– Chị nay khéo lo chuyện bao đồng nữa rồi. Nuôi heo là nghề của chị em mình. Tôi có thấy đức ông chồng nào chịu khó thức khuya, dậy sớm, nấu cháo heo tiếp tay với chị em mình đâu nà. Ông Tám nhà tôi và ông Ba nhà chị đều làm biếng thấy mồ. Có nhờ đi đốn chuối cây về tụi mình xắt mà cũng làm ầu ơ dí dầu, đi cả buổi trời; tưởng sao, chỉ vác về một cây chuối lớn bằng cái…bắp đùi!

– Tui đồng ý với thím là như vậy, bác gái ngắt lời, nói: Nhưng ông Ba nhà tui thì khác à nghen! Cứ mỗi lần nghe mấy người đàn bà giá chồng kêu ổng dẫn con heo nọc đi nhảy nái là hấp tấp dẫn con nọc xuống ghe tam bản, nhổ sào đi mất biệt tới tối mò mới về nhà. Vừa leo lên giường là ngáy như sấm. Tôi hỏi chú thím: con nọc nó nhảy mà tại sao ổng lại mệt chớ?

Chú Tám cười, nói:

– Chị Ba sao đa nghi quá! Con nọc nó nhảy, ảnh cũng phải coi chừng chớ bộ!

– Ổng trông chừng mấy con mẹ đàn bà giá thì có, bác gái nói: Thôi, bây giờ tui tính như vầy nghen: chú có cách nào làm cho nọc “ế độ”, rồi tui sẽ tìm cách nói với ổng bán quách con nọc đi, vậy là hết chuyện! Sao, chú Tám có giúp tui được không?

– Tui thì có cách rồi đó! Ý kiến của bà thì sao? Có nên giúp cho chị Ba không? Chú Tám hỏi ý kiến vợ.

– Ừa, tui đồng ý với ông là nên giúp chị Ba bảo vệ hạnh phúc gia đình, để chị khỏi ngồi ở nhà ghen bóng ghen gió, rồi ốm o gay mòn khổ cái thân, thím Tám nói: Nhưng chuyện nầy, phải tuyệt đối giữ bí mật, đừng có hé môi với ai! Anh Ba mà biết được là ảnh cạo đầu khô của ông đó!

– Chuyện nay bà khỏi lo mà, chú Tám quay sang bác gái, nói: Vụ nầy để tui tính cho. Nhưng chị phải kín miệng nghe, chị Ba!

-Được rồi mà, tui hứa với chú thím!

Sáng hôm sau, đích thân thím Tám bơi xuồng qua sông, đi thẳng ra sau sàn nước, đưa cho bác gái hai gói thuốc bột gói trong miếng giấy nhật trình. Thím Tám dặn:

– Nè, chị Ba! Khi nào chị thấy ảnh sửa soạn dắt con nọc đi làm việc thì chị trộn một gói thuốc vào cái ảng cháo heo cho nó ăn, rồi ngồi ở nhà bình tỉnh chờ kết quả!

– Chỉ có một gói thôi sao? Có chắc ăn không đó thím Tám?

Thím Tám cười, nói:

– Một gói là đủ làm con nọc phát điên rồi. Chị giữ gói còn lại để phòng hờ!

Tối hôm đó. Cơm nước vừa xong, bác trai thắp ngọc đèn dầu, rồi nằm trên võng đưa kẽo kẹt, đọc thơ “Lục Vân Tiên” . Bác gái ngồi trên bộ ván ngựa vừa ăn trầu, vừa vá áo. Bỗng bác gái lên tiếng hỏi:

– Hình như, ngày mai ông có hẹn với bà nào ở ngoài vàm sông Ba Láng, phải không ông?

Bác trai bỏ cuốn sách trên ngực, trả lời:

– Phải, con nái của bà Năm Đan đó mà. Nó đang thời kỳ động đực. Sáng mai, bả cho người chèo ghe vô đây chở tôi và con nọc ra ngoài đó! Mà việc nầy, tôi đã nói với bà mấy hôm trước rồi mà, sao còn hỏi hoài vậy cà?

Bác gái kéo xệ cặp kính lão xệ xuống sóng mũi, nhìn bác trai, hỏi móc lò:

– Tui nghe người ta nói, bà Năm Đan nào đó vừa chết chồng hồi năm ngoái. Bà ta còn mướt lắm, phải không ông Ba?”

– Việc đó mắc mớ gì tôi! Bà hay hỏi cắc cớ, làm sao tôi trả lời được chớ!

– Có chớ sao không! Có nên tui mới hỏi: bả động đực hay con nái động đực vậy hén?

– Bà lại nói chuyện tào lao binh nữa rồi! Tôi không thèm nói chuyện với bà nữa! Bác trai quay qua hỏi tôi: Phúc, sáng mai có muốn đi ra ngoài vàm chơi với bác không hả?

– Dạ, đi chơi thì con chịu liền! Tôi mừng quá, trả lời ngay.

Trời vừa lờ mờ sáng. Bác gái đã lo xong nồi cháo heo đặc biệt cho con nọc. Tôi cũng thức dậy phụ với bác gái, lấy gàu múc nước dưới ao rửa chuồng. Tôi thấy bác gái lấy một gói thuốc bột trong túi áo bà ba ra, bỏ vào trong nồi cháo heo đã để hơi nguội, nhưng vẫn còn bốc hơi nghi ngút. Bác ngẫm nghĩ thế nào, rồi lấy thêm một gói nữa trút hết vô nồi cháo, quậy đều. Con nọc đứng chờ sẵn ở trong chuồng, thức ăn vừa nguội, đổ đầy trong cái ảng là nó nhào tới táp lia lịa.

Bác gái nhìn nó ăn, miệng lẩm bẩm:

– Bữa nay, tao cho thầy trò mầy chết cả đám, tao mới vừa bụng!

Một lát sau, có tiếng bác trai ở trong nhà, hỏi vọng ra:

– Con nọc ăn xong chưa vậy bà? Ghe người ta đang chờ tôi dưới sông đó!

– Dạ xong rồi! Ông ra ngoài nầy dắt đệ tử của ông xuống ghe đi, bác gái vỗ đầu tôi, nói: Đi chơi vui vẻ nghe con! Nhớ đừng tắm sông, coi chừng “ma da” kéo giò đó! Có đói bụng, nói bác trai đưa đồ ăn trưa cho con.

Sáng nay, bác trai ăn mặc cũng khác hơn ngày thường: tóc chải bẩy ba, xức “brờ dăng tin” óng mượt, con ruồi đậu cũng muốn trợt, còn bộ bà ba bằng lụa lèo, ủi lán cón làm bác gái ghi ngờ thêm, hỏi móc:

– Bộ bữa nay ông đi ăn giỗ hay ăn đám cưới nhà của ai vậy, ông Ba?

Bác trai nín thinh không thèm trả lời, rồi đi lại mở cửa chuồng, một tay dắt con nọc, còn một tay nắm dắt tôi đi thẳng xuống bờ sông. Người chèo ghe giúp đưa con nọc xuống ghe tam bản rồi quay mũi ghe hướng ra vàm Ba Láng chèo đi. Khoảng một giờ sau thì tới nhà của bà Năm Đan; hình như, con nọc bị thấm thuốc “tăng lực” quá đô, mắt nó đỏ ngầu, mồm chảy nước dãi, còn cái đuôi ngay chừ như cái cán chổi. Bà Năm Đan đang ngồi trên cái băng đá kê bên cạnh cây xoài cát, cành lá um xê và nặng trĩu quả gần chạm mặt nước. Thấy mấy đứa trẻ con trong xóm vào trạc tuổi tôi đang bơi lội, đùa giỡn dưới sông. Bọn nó chia thành hai phe, lặn xuống nước móc sình ném vào nhau làm nước sình bắn tung tóe. Tôi cũng muốn nhảy xuống sông tham gia cuộc chơi với họ. Tôi nói:

– Con muốn tắm sông, bác Ba!

Bác trai trừng mắt nhìn tôi, nói:

– Muốn tắm sông thì chờ về nhà tắm với thằng Tây, nghe chưa!

Tôi tiu nghĩu, nói nhỏ với một đứa trong bọn:

– Chút nữa nhớ hái cho tao vài trái xoài, quăng lên ghe cho tao nghe!

– Mầy muốn mấy trái? Nó hỏi.

Tôi ra đưa hai ngón tay ra dấu, rồi theo bác trai và bà Năm Đan đi thẳng lên nhà trước. Chú chèo đò dắt con nọc lên sau đi ra thẳng ngoài chuồng heo phía sau nhà, gần bên chái bếp. Vừa thấy con nái đang đứng trong chuồng, mắt con nọc long lên như muốn đổ hào quang, móng chân của nó cào trên mặt đất, hất cát bụi bắn ra phía sau nghe rào rào; hình như, nó lấy trớn rồi bất ngờ lao vút tới như cơn lốc, sợi dây vuột khỏi tay người chèo ghe, làm anh ta té chúi nhủi xuống mương. Con nọc lấy đầu hất tung cánh cửa chuồng xông đại vào, dồn con nái vào một gốc chuồng liền chồm lên mình con nái, dùng hai chân đè đầu con nái xuống một cách hung bạo…tôi chỉ thấy cái đuôi ngay chừ của nó quật lên quật xuống như cái chày giã gạo.

Bà Năm Đan nhìn nọc nhảy cũng thất kinh hồn vía, ôm chặt cứng bác trai mà chậc lưỡi hít hà, nói:

– Con nầy là con heo nọc hay con cọp vậy, cha nội? Thôi, làm ơn kéo nó ra dùm đi, kẻo chết con nái của tui đó!

Bác trai cũng cắc cớ, hỏi lại:

– Em muốn qua kéo con gì ra đây hả, em Năm?

– Anh Ba nay ăn nói vô duyên quá hà! Em mét chị Ba cho anh coi à nghen! Bà Năm Đan nhìn bác trai nguýt dài, rồi hứ nghe một cái cốc, mắng yêu: Đúng là thầy nào trò nấy mà!

Tình hình trong chuồng có vẻ căng lắm! Con nái chịu hết nổi lối tấn công thô bạo của con nọc, nó nằm bẹp dí xuống mặt đất, mồm kêu eng éc như bị thọc tiết…Dì Hai Ngô kẹp con gà trống thiến trong nách, đứng bên kia hàng rào chăm chú theo dõi. Dì hào hứng quá xá, con gà bị kẹp cứng trong nách làm nó ghẹt thở, chết lúc nào mà dì cũng không hay; thình lình, con nái vùng lên, tông chuồng, chạy bán sống bán chết ra ngoài đường, gặp nhà ai nó cũng lủi vô trốn. Con nọc rượt theo bén gót làm. Có ít nhứt 5, 6 căn nhà lá trong xóm bị con nái và con nọc chạy xông vào làm bàn ghế, tủ thờ, giường chõng…văng tứ tung, cả xóm náo động. Cuối cùng, phải nhờ mấy anh lực điền dí con nọc chạy xuống mương mới trói nó lại được. Bác trai phải đi xin lổi từng nhà, hứa sẽ bồi thường thỏa đáng; sẵn dịp, có mấy người lái heo ở chợ Cái Răng ghé qua xóm nầy mua heo, bác trai giận quá, bán quách con n?c liền tại chỗ, lấy tiền đền thiệt hại cho bà con trong xóm.

Bà Năm Đan cũng cụt hứng, mời bác trai ở lại dùng cơm trưa nhưng bác trai nằng nặc đòi về nhà. Bà đành phải đưa tiễn bác cháu tôi ra tận bờ sông. Khi bước lên chiếc ghe tam bản, tôi thấy có 4 bốn trái xoài vừa chín bói, đầu no tròn và ngã màu vàng nhạt, nhựa màu trắng như sửa tươm ra. Đây là loại xoài cát ngon ngọt, hương vị đậm đà, thịt chắc, không có sơ như xoài “thanh ca”, rất nổi tiếng ở vùng bắc Mỹ Thuận, Sầm Giang, Cái Bè thuộc tỉnh Mỹ Tho. Tôi để dành mang về làm quà biếu bác gái và thằng Tây Đen ăn sống với nước mắm đường. Vì bận về, ghe chèo nước ngược, phải mất gần 2 tiếng đồng hồ mới về đến nhà, mặt trời cũng gần đứng bóng. Bác gái thấy bác trai mặt buồn so, mỉm cười, hỏi:

– Sao, hôm nay ông trở về nhà sớm quá vậy cà? Còn thằng đệ tử của ông đâu? Không thấy ông dẫn nó về vậy, ông Ba?”

Bác trai lắc đầu thở dài, nói:

– Không biết bữa nay, con nọc ăn phải cái giống gì mà nó sung sức quá mạng. Vừa thấy con nái vừa mới đẻ một lứa của bà Năm Đan là xông đại vào trong chuồng, chồm lên mình con nái nhảy hùn hục thấy mà phát ghê! Con nái chịu đời không thấu, phải tông chuồng chạy thụt mạng ra ngoài đường. Con nọc rượt theo, chạy xông đại vô nhà hàng xóm làm đổ bể đồ đạt trong nhà của người ta. Tôi giận quá, bán quách nó cho một “công xi” heo ở chợ Cái Răng lấy tiền đền cho người ta, cũng đủ bay mất tờ giấy “bộ lư” (giấy bạc 100 đồng thời đó) chớ ít ỏi sao!

Bác gái nghe bác trai nói như mở cờ trong bụng, nói:

– Đúng y chang là thầy nào, đệ tử đó mà! Còn kêu ca cái gì nữa chớ!…

oOo

Kể từ hôm đó. Bác trai từ giả vĩnh viễn nghề nuôi heo nọc, lẫn nghề coi tướng số. Suốt ngày lo chăm sóc vườn cây ăn trái sau nhà và đặt hết tâm trí nghiên cứu thuốc Nam để chửa bịnh miễn phí cho bà con trong làng Ba Láng. Mấy năm sau đó, bác trai nổi tiếng là một trong những danh y xuất sắc của miền Tây Nam Bộ. Còn bác gái lo phát huy chăn nuôi bầy heo thịt, gà vịt và ao cá để lấy huê lợi nuôi anh Hai Hoàng ăn học ở Sài Gòn. Đêm nào trăng thanh gió mát là bác trai rũ rê chú Tám và chú Sáu đi giăng câu, vừa nhậu lai rai vừa bàn quốc sự. Còn thằng Tây dạy tôi đủ nghề mưu sinh miệt vườn như: chèo ghe, bơi xuồng, cuốc đất trồng cây, leo dừa… cả cái nghề đi ăn trộm gà, thế mới kinh chớ!

Tôi còn nhớ đêm đó. Ngoài trời tối đen như mực. Cái đồng hồ treo trên vách vừa buông một tiếng “bon” khô khan làm tôi giật mình thức giấc, ngồi bật dậy như cái lò xo, đi nhón gót ra phía cửa, nhẹ nhàng đẩy hé một cánh vừa đủ lách mình ra ngoài. Tôi chạy thẳng ra bờ sông, thấy thằng Tây đang ngồi trên xuồng bên cạnh cây cầu ván. Thấy tôi, nó giục:

-Sao trể quá vậy? Thôi xuống xuồng mau lên!”

Chúng tôi bơi ngược ra dòng sông Ba Láng. Tôi bơi đằng mũi, còn nó bơi đằng lái. Dòng sông nước chảy thật êm trong bóng đêm, chỉ còn nghe tiếng mái dầm khua sóng nước; thỉnh thoảng, tôi bắt gặp ánh đèn dầu nhà ai đó leo lét trên bờ.

Sau gần giờ bơi không ngừng, độ chừng sắp đến vàm sông Ba Láng, nó bảo tôi lơi mái dầm, rồi lái mũi xuồng tấp vào cây cầu đúc xi măng. Tôi cắm sào ngồi trên xuồng chờ, còn nó quẩy lên vai một bao bố khá to, đi lên bờ trước nghe động tỉnh; một chập sau, tôi nghe ba tiếng chó sủa dưới gốc cây xoài trên bờ sông, đúng là ám hiệu của nó, tôi lật đật đi lên bờ. Cả hai men theo bờ tường gạch khoảng 3 thước bề cao, đầu tường có gắn miểng chai, khoảng vài mươi thước có gắn một bóng đèn điện tỏa ánh sáng lờ mờ, hắt xuống bờ cỏ dại dưới chân tường. Cuối cùng, chúng tôi dừng lại trước cổng ngôi biệt thự cổ kính được khép kín bằng hai cánh cửa sắt kiên cố. Tôi nép mình sát bờ tường, nghiêng đầu nhìn vào bên trong ngôi biệt thư đồ sộ. Bỗng có một con chó “béc giê” cao lớn từ đâu phóng ra, chồm lên cánh cửa sắt, muốn phóng lên tân công chúng tôi. Thằng Tây nhanh chóng móc trong túi áo bà ba một cục thịt bò, ném vào bên trong. Con chó phóng mình lên, một tiếng phập khô khan vang lên và miếng thịt bò tẩm thuốc “tăng sức” nằm gọn trong mõm của nó…

Khoảng 15 phút chậm chạp trôi qua, tôi đang ngủ gà ngủ gật, bỗng giật mình thức dậy vì nghe có tiếng chó tru khác thường bên trong ngôi biệt thự vang lên từng chập. Thằng Tây lật đật mở bao bố, kéo con chó cái nhà nó ra khỏi bao. Kể ra thằng Tây khỏe thật đó! Một tay ôm con chó, còn tay kia vịn chấn song sắt, đu mình lên để ném con chó vào bên trong. Con chó “béc giê” đuổi theo, cả hai chạy mất hút vào trong bống tối…

Thằng Tây nói nhỏ bên tai tôi:

– Bây giờ tụi mình yên tâm luồn vào trại gà, tha hồ mà bẻ cổ.

– Trại gà nằm ở đâu?

– Mầy cứ đi theo tao!

Nó dẫn tôi đi trở lại lối cũ một khoảng khá xa, rồi bất ngờ dừng lại bảo tôi:

– Mầy ngồi bên ngoài tường chờ tao! Nhớ đừng có đi đâu nghe chưa!

– Còn mầy đi đâu?

– Tao leo tường vô bên trong một mình được rồi!

Nói xong, nó rút một bó hành lá giắt trong lưng quần, vò nát trong hai bàn tay, mùi hành lá bốc lên khá nồng nực. Sau đó, nó gấp bao bố lại làm tư, quăng nằm vắt ngang qua bờ tường có gắn miểng chai rồi phóng người lên, hai bàn tay bám chặt bờ tường, rướn mình lên băng qua tường, nhẹ nhàng rơi xuống đất như một tay leo tường khoét vách chuyên nghiệp. Tôi ngồi bên ngoài chờ nó sốt cả ruột, vừa sợ ma vừa sợ người khác bắt gặp. Cây chuối hột ở bên kia bờ mương vặn mình trổ buồng, rít lên những âm thanh trèo trẹo như tiếng nghiến răng của ma quỷ làm tôi sợ rởn tóc gáy, hai hàm răng khua vào nhau lộp cộp, trán toát mồ hôi lạnh ngắt. Khoảng một giờ sau, tôi nghe tiếng thằng Tây ở bên trong, gọi nho nhỏ, vừa đủ cho tôi nghe:

– Ê, Phúc! Mầy còn đứng ở ngoài đó không?

– Tao ở đây! Tôi giục nó: Mau lên rồi còn về!

– Xong rồi! Tao ném gà ra ngoài ghe!

Thằng Tây bắt đầu ném gà ra ngoài bờ tường, tôi đi lượm, gom lại thành đống. Thu hoạch 42 con gà tất cả, con nào cũng bị nó bẻ gẫy cổ. Con trăng hạ tuần con như cái lưỡi hái, tỏa ánh sáng lờ mờ. Thằng Tây cũng dùng phương pháp cũ để phóng ra bên ngoài, phụ với tôi lượm gà cho vào bao bố, Xong xuôi, nó cột miệng bao lại, quẩy lên vai, chạy một mạch ra bờ sông. Tôi chạy lúp xúp đằng sau nó. Khi sắp nhổ sào rời bến, tôi chợt nhớ con mực của nó. Tôi hỏi:

– Ê, Tây! Còn con chó mực của mầy đâu?

– Thây kệ nó đi! Nó biết đường về nhà mà, lo gì!

Trên đường bơi xuồng về nhà, nó tấp vô xuồng vô một con rạch nhỏ, độ chừng không xa nhà lắm. Dọc theo ven bờ là những rặng dừa nước và cây bần mọc xen kẽ nhau dầy đặc, cành lá um tùm. Không biết đom đóm ở đâu bay về hằng hà sa số, đậu vào những lùm cây, chiếu ánh sáng lập lòe làm thành hai chuổi sao trời dài trên cả trăm thước. Thằng Tây tấp xuồng vào một gốc bần gần đó, rồi thắp một cây đèn bão, móc vào cây sào; hình như, nó đang chờ đợi một ai thì phải. Tôi ngồi trước mũi ghe, gió đồng nội mang theo hương mạ non và mùi cỏ dại dịu dàng, thoang thoảng tỏa ra khắp nơi. Tôi cảm thấy lành lạnh. Đã gần 3 giờ sáng. Sao yên lặng quá! Tôi nghe rõ mồn một tiếng cá quẫy đuôi, đớp mồi bên bờ lau sậy và tôi ngáp dài, buồn ngủ làm sao….trong cái không gian tĩnh lặng đó, bỗng có tiếng mái chèo khua nước nhịp nhàng, vang lên từ phía xa xa trong con rạch, mũi ghe hiện rõ dần qua lớp sương đêm mờ ảo. Dáng đứng một thiếu nữ tha thướt, đầu dội chiếc nón lá, đang vung mái chèo hướng về phía chúng tôi. Nàng cho ghe tấp vào gốc bần cạnh đó, rồi lên tiếng hỏi bâng quơ:

– Cậu nào có tiền cho chị mượn coi?

– Chị cần mượn bao nhiêu? Thằng Tây hỏi lại.

– Một tờ giấy bộ lư! (giấy bạc 100 đồng)

– Chị mượn bao giờ trả?

– Bao giờ Tây ăn trầu mới trả!

Sau khi trao đổi vài câu mật mã để nhận diện nhau. Nàng đổi thái dộ, dịu dàng hỏi:

– Hùng Phong đó hả? Còn cậu nhỏ nầy là ai vậy?

– Thằng nầy là em họ, em mới kết nạp chừng hơn tháng nay. Đêm nay là chuyến công tác đầu tiên của nó!

– Vậy sao! Chị chúc mừng em đó!

Thằng Tây bốc thơm tôi:

– Thằng nầy hoạt động tích cực lắm đó! Đồng chí nhớ ghi công cho nó nghe!

-Được, chị đặt bí danh cho cậu em nầy là “Hùng Dũng” . Chị sẽ báo cáo với cấp trên ghi công trạng của Hùng Dũng!” Nàng hỏi: Sao, chuyến làm ăn đêm nay có khấm khá không?

– Báo cáo đồng chí! Thu hoạch tổng cộng 40 con, vừa gà mái dầu vứa gà trống thiến. Con nào con nấy mập ú! Xin đồng chí kiểm nhận cho!

Nàng gật đầu khen:

– Hai em hoàn thành công tác của cấp trên giao phó, khá lắm! Thôi, đưa hết số gà nầy cho chị để chở vô bưng kẽo trể!

Sau khi nhận gà xong, nàng quay mũi ghe, chèo trở vô con rạch. Còn thằng Tây chèo ghe đưa tôi về nhà trước. Tôi tò mò hỏi nó:

– Người đàn bà hồi nãy là ai vậy, Tây?

Nó trả lời gọn lỏn:

– Đồng chí!

– Mầy chỉ giao cho đồng chí 40 gà. Còn hai con kia mầy dấu ở đâu?” Tôi hỏi.

– Dưới chỗ tao ngồi! Nó nói: Tao đưa mầy về nhà trước! Sáng mai, chú Sáu chở hàng ra chợ Cái Răng. Tao qua chở mầy ra đám ruộng sau nhà tao.

– Để làm gì vậy?

– Tao làm gà nướng đất sét ăn bồi dưỡng. Còn một con tao để dành cho chú Sáu là sư phụ của tụi mình! Nó nghiêm chỉnh dặn dò tôi: Đừng hé môi với ai chuyện ăn trộm gà nghe!

– Mầy yên chí đi! Nhóc con!

Cho mãi về sau nầy, tôi mới biết rằng: Nguyễn Chánh Tây – bí danh Hùng Phong – là đoàn viên “Thanh Niên Xung Phong” thuộc quận Cái Răng. Đó là lần công tác đầu tiên cũng là lần cuối cùng của đồng chí “Hùng Dũng” là tôi. Vào lứa tuổi lên mười, tôi đã sớm giác ngộ cách mạng bằng cách đi “chôm gà” của nhân dân để vỗ béo bộ đội cụ Hồ!…

Tờ mờ sáng hôm sau. Đúng hẹn, thằng Tây bơi xuồng qua sông, xin phép bác Ba chở tôi qua nhà nó đi ra ruộng thả diều. Nó buộc chiếc xuồng dưới chân cầu ván, dẫn tôi ra phía sau vườn còn ẩm hơi sương, đi vòng vo theo con đê, uốn mình chia cắt ngang dọc ruộng lúa vừa làm ranh đất, vừa giữ nước. Bờ đê là nơi hẹn hò lý tưởng của lũ trẻ chăn trâu thả diều vào những ngày lộng gió. Con đê cũng như con đường mòn, một lối đi tắt gần nhất, nối liền những xóm làng dọc theo con sông Ba Láng với những thôn xóm dọc theo bờ rạch ở trong sâu. Vào những mùa nước nổi. Con đê là nơi gia cầm, gia súc được bà con nông dân đưa lên đó tạm trú cho đến khi nước rút. Trai gái trong làng cũng không bở cơ hội, thường lén lút bơi xuồng ra con đê, hẹn nhau lên đó biển hẹn non thề. Họ đã yêu nhau qua mùa nước nổi vô cùng thơ mộng và lãng mạn.

Dọc theo bên bờ đê, nhiều loại rau dại mọc hoang xen kẽ với cỏ lát. Rau mọc ở môi trường thiên nhiên nên gọi chung là “rau trời”, hàng ngày không thể thiếu trên mâm cơm đạm của người nông dân: rau tía, rau muống đồng, rau sam, rau đắng đất, rau diệu, cải trời…tôi vừa đi vừa thò tay xuống bờ ruộng hái những đọt rau muống nước. Thằng Tây chỉ cái bụi chuối bên cạnh khóm tre già, cái lều chăn vịt được cất trên một mô đất khá cao, mái lợp bằng lá dừa nước và bốn cây cột bằng tre tầm vong xiêu vẹo, bốn bên trống trải để đón gió đồng nội, rồi nói:

– Đó là cái lều chăn vịt của ông Ni Khrôm! Tụi mình lại đằng lều, tao làm món “gà nướng thùng thiếc” đãi mầy một chầu, gọi là bồi dưỡng cho chuyến công tác tối qua. Ngon hết sẩy nghe Phúc!

– Còn hai con gà đâu mà mầy nướng?

– Tao dấu hai con gà trong lều hồi tối hôm qua!” Thằng Tây nói: Mầy dừng có lo, gà chết cách đây có vài tiếng đồng hồ, chưa có sình thúi đâu mà sợ! Tao đã làm sạch sẽ đêm qua rồi!

Cái lều chăn vịt nhỏ nhoi của ông già Miên tên Ni Khrôm lọt vào giữa cánh đồng lúa chín bạt ngàn. Vài thửa ruộng đã được gặt sớm còn trơ lại những gốc rạ vàng óng ả. Trong căn lều, rơm được ông già đã phơi kỹ, trải đều trên mặt đất, lớp rơm mới phủ lên lớp rơm cũ làm thành tấm đệm rơm, bề dầy cả thước. Đứng dưới gốc tre già, tôi đã nhìn thấy xa xa những cây cau già gầy, suôn đuột như cố vươn thẳng lên bầu trời trong xanh, chói chan ánh nắng ban mai. Hàng cau vây quanh một cái xóm nhỏ gồm vài căn nhà lá thấp lè tè, đang thả những làn khói trắng mong manh, nhè nhẹ bốc lên từ những mái lá đơn sơ. Thằng Tây bươi đống rơm dấu ở một gốc lều, xách một cái thùng thiếc mang ra ngoài bụi tre, lấy ra hai con gà đã mổ bụng, làm lông sạch sẽ đặt xuống đất. Nó lấy hai thanh tre đã vót nhọn hai đầu, lụi vào mình con gà, còn đầu kia cắm xuống đất, rồi úp cái thùng thiếc lên trên. Nó nói:

– Tao có một thằng bạn thân cùng làng. Bây giờ, tao phải chạy vô xóm trong kêu nó ra chơi. Tao nhờ mầy, lấy vài bó rơm khô trong lều, chất chung quanh cái thùng thiếc rồi châm diêm quẹt đốt, đừng để cho nó tắt. Một lát tao trở ra liền!

– Hột quẹt đâu? Tôi hỏi.

Thằng Tây đưa một hộp quẹt cho tôi, lật đật chạy ngay vô trong xóm. Còn tôi làm theo lời dặn của nó. Ngọn lửa cháy phừng lên độ vài phút, tiếng mở tươm ra xèo xèo trong cái thùng thiếc, mùi thịt gà nướng tỏa ra thơm phức làm tôi cảm thấy đói bụng. Con chó mực ở trong nhà đánh hơi cũng chạy ra, ngồi bẹp bên cạnh tôi, chờ chia phần.

Bỗng đâu, một con trốt xoáy từ ngoài ruộng lúa cuồn cuộn bay vào trên sân, nó cuốn lá tre khô, rơm, rác cùng với cát bụi bốc lên khỏi mặt đất ào ào. Con trốt di chuyển theo hình cái phễu bay vòng quanh cái lều. Con mực ngẩng đầu lên nhìn; bất ngờ, nó nhảy dựng lên, đuổi theo con trốt vừa sủa ầm ỹ; hình như, nó cảm thấy một bóng ma vô hình nào đó cuốn theo con trốt. Khi con trốt xoáy trở ra ruộng lúa, tôi thấy mơ hồ một dãy lụa trắng mờ ảo, cuốn hút theo cơn gió xoáy, bay về hướng cây da sà, rồi biến mất ở chân trời. Khoảng nửa giờ sau. Tôi thấy thằng Tây cầm một cái giỏ xách và người bạn trẻ, chạy trên con đê trở ra lều. Nó giới thiệu với tôi:

– Đây, bạn tao tên Sok Khrôm! Còn đây là Phúc, cháu của bác tao đó!

Tôi kể chuyện lạ vừa mới xảy ra hồi nãy cho tụi nó nghe, bị thằng Tây cười chọc quê:

– “Làm gì có ma cỏ hiện ra giữa ban ngày mà mầy sợ ! Mầy nhát như thỏ đế!

– Mầy thấy con trốt bay về hướng nào? Thằng Sok Khrôm hỏi tôi.

Tôi lấy tay chỉ về hướng cây da sà, xa tít ở chân trời. Nó nói gọn lõn:

– Cây da sà đó bị trời đánh mấy lần đó! Mùa mưa năm rồi, có người đào được một lưỡi tầm sét của thiên lôi ở dưới gốc cây da.

Thằng Tây lên tiếng:

– Tao cũng nghe nói! Nhưng, tao không tin. Con người làm gì có linh hồn chớ!

– Còn tao tin là có! Những người chết oan ức, linh hồn của họ không siêu thoát, thằng Sok Khrôm kể: Chuyện nầy tao nghe tía tao kể lại. “Cây da đó tự nhiên mọc lên giữa cánh đồng nầy, không biết bao đời rồi. Đất lành chim đậu, hằng trăm con chim trời đủ loại về làm tổ trên cây. Dưới bóng mát của cây da sà, trở thành điểm hẹn của bà con nông dân, thường rủ nhau đến đó ăn cơm nước, nghỉ trưa, đụt mưa hoặc trao đổi kinh nghiệm về mùa màng, rẫy bái…

Thằng Tây ngắt ngang câu chuyện; có lẽ, nó không muốn cho tôi biết câu chuyện thương tâm mà Sok Khôm sắp kể cho tôi nghe. Thằng Tây bỏ cái giỏ xách xuống đất, lấy một nắm rơm khô rãi thêm chung quanh thùng thiếc làm ngọn lửa cháy bùng lên mãnh liệt. Còn Sok Khrôm bẻ vài tàu lá chuối trải dưới đất rồi lấy ra một mớ rau thơm đủ loại, vài trái ớt hiểm, một gói muối ớt trộn với sả bằm, một miếng chanh từ trong cái giỏ xách ra, sắp trên lá chuối. Chờ cho ngọn lửa rơm cháy gần tàn, thằng Tây lấy một nhánh tre gạt tro chung quanh thùng thiếc, dùng lá chuối nhấc cái thùng thiếc lên để qua một bên. Hai con gà đã chín vàng, da căng mở bóng lưởng, bốc khói thơm nức. Thằng Sok Khrôm nhấc hai con gà đặt lên mấy tàu lá chuối.

– Ê, Sok Khrôm! Đưa cho mượn cây dao coi! Thằng Tây nói.

Sok Khrôm lấy con dao giắt ở trong lưng cho nó mượn. Thằng Tây lấy dao chặt mỗi con gà ra làm hai phần bằng nhau. Nó lấy một miếng lá chuối, gói một nửa con gà với cái đầu rất cẫn thận, nói:

– Phần nầy, tụi mình mang về biếu sư phụ ăn bồi dưỡng! Nó chia phần còn lại cho mỗi đứa một nửa con gà, nói: Ăn đi tụi bây, đểâ nguội mất ngon!

Tôi xé cái đùi gà đưa lên miệng nhai bỏm bẻm như mấy bà già ăn trầu. Con mực đang nằm bên cạnh tôi, ngẫng đầu lên, thè cái lưỡi đỏ hỏn, liếm mép, nhìn tôi đòi phần. Tôi vỗ đầu nó mấy cái, nói:

-Lát nữa sẽ có phần xương cho mầy!

Thằng Tây bẻ cái cổ gà với cái đầu quăng cho mực, nói đùa:

– Nhứt phao câu, nhì đầu cánh! Ưu tiên cho mầy đó!

Con mực tha cái cổ gà lại đằng bụi tre gai. Tôi lấy con dao cắt một nửa cái phao câu, quăng thêm cho nó. Tôi cười, nói đùa:

-Kể ra, mầy có công hơn tao, nghe mực! Ăn luôn cái phao câu nầy dùm tao luôn đi!

Bữa tiệc thịt gà trước lều chăn vịt chơ vơ giữa cánh đồng lúa chín bạt ngàn, những thân cây lúa cong oằn, nặng trĩu hạt vàng óng. Trên đầu tôi là khung trời trong xanh bát ngát mùa hạ, từng dạt mây trắng lững lờ, uể oải trôi về hướng tây và dưới vòm lá tre già gió thổi xào xạc, những thân tre cọ xát vào nhau phát ra những tiếng kẽo kẹt như tiếng võng trưa hè. Gió đồng nội thổi lồng lộng qua căn lều trống trước, trống sau, mang theo hương lúa nồng ấm dịu dàng, pha lẫn mùi cỏ dại, mùi đất bùn. Tôi lơ đãng nhìn về phía cây da sà đứng lặng lẽ giữa cánh đồng đằng phía chân trời xa. Tôi yêu cầu thằng Sok Khrôm:

– Mầy kể tiếp tao nghe tiếp những gì đã xảy ra dưới gốc cây da sà kia đi, Sok Khrôm!

– Cách ba, bốn năm gì đó, Sok Khrôm kể: Một buổi sáng tinh mơ, người ta phát hiện dưới gốc cây da sà, một xác người đàn bà bụng mang dạ chửa bị treo cổ. Cái lưỡi thè ngoài cả tấc. Còn đôi mắt bị hai đôi đủa đâm vào, máu còn theo hai đôi đũa rỉ ra ngoài. Trông thật ghê rợn!

– Cô ta bị ai giết?

– Cán bộ Việt Minh giết!

– Sao mầy biết cổ bị cán bộ Việt Minh giết chớ?

– Sau khi giết cô ta, cán bộ Việt Minh lấy máu của nạn nhân giết vào vạt áo sau lưng hai chữ, thay cho bản án tử hình.

– Hai chữ gì vậy?

– Việt gian!

– Bọn Việt Minh căn cứ vào đâu mà bảo cô ta là Việt gian chớ? Tôi hỏi.

– Có chứng cớ hẵn hòi nên mới bị giết! Thằng Tây cướp lời.

– Chứng cớ gì đây? Tôi tức giận, hỏi.

– Cán bộ nằm vùng ở chợ Cái Răng phát hiện cô ta mua len về đan cờ “tam tài” nên cô ta bị theo dõi. Trước khi kết án tử, cán bộ lục soát trên cái xuồng của cô ta, phát hiện mấy chục cuộn len chỉ có ba màu: xanh, trắng, đỏ! Nó vội vàng kết luận: Chỉ có lá cờ “tam tài” của thực dân Pháp mới mang ba màu đó!

– Nếu như, cô ta mua len đó về đan áo ấm cho đứa con sắp sửa chào đời của cô ta thì sao chớ? Tôi hỏi.

– Thiếu gì màu sao không chọn, mà lại chọn màu của lá cờ “tam tài” chớ!

Thấy tình hình hơi căng giữa tôi và thằng Tây, Sok Khrôm dàn hòa, nói:

– Thôi, bỏ chuyện đó đi. Ăn thịt gà xong đi, tao còn bận đi chăn trâu cho ông già tía tao!

Ngay ngày hôm đó, cả làng Ba Láng xôn xao về trại gà của ông Cả bị ăn trộm gần cả trăm con. Ai nấy đều phục lăn mấy thằng ăn trộm gà giỏi thiệt là giỏi. Và vài ngày sau đó, cả miệt Vàm Xáng, Phong Điền đồn ầm lên là trại gà của ông Cả bị mất trộm đến cả ngàn con. Hôm sau, trời vừa chạng vạng tối. Tôi để ý, thấy bác trai đong gạo vào một cái khạp nhỏ để ngoài hiên nhà, rồi mới đóng cửa then gài.

Quá nửa đêm, có tiếng người nói chuyện lao xao ngoài sân. Tôi đẩy cái phên cửa nhìn ra ngoài. Dưới ánh trăng lưỡi liềm lờ mờ, tôi ngạc nhiên thấy thằng Tây đang lom khom bưng cái khạp gạo trút vào cái bao chỉ xanh để dưới đất. Xong đâu đó, một đàn ông và một đàn bà mặc áo dạ hành xuất hiện, có thể là người đàn bà tôi gặp tối hôm qua. Người đàn ông vác bao gạo lên vai, chạy bay xuống bờ sông. Tôi bèn thò đầu ra ngoài cửa, gọi vói theo:

-Ê, đồng chí Tây! Mầy ăn cắp gạo của bác tao hả? Thằng Tây nghe tôi gọi giật ngược, nó đứng khựng lại, quay đầu nhìn tôi nói: Thằng quỉ làm tao hết hồn!

II

Sau mùa hè năm đó, rồi những mùa hè kế tiếp, tôi đều khăn gói về làng Ba Láng ở với gia đình bác Ba để tránh cái nắng nung người, cái ồn ào của thành phồ vừa luyện thêm môn toán để chuẩn bị thi cuộc thi tuyển vào trường trung học Phan Thanh Giãn ở Cần Thơ. Nhờ vậy, mà mùa hè năm 1953. Tôi và thằng Tây đều may mắn trúng tuyển. Má tôi và thím Tám chuẩn bị chỗ trọ cho hai đứa tôi ở Xóm Chài bên kia sông Cần Thơ, gia đình của cậu mợ Hân, bà con bạn dì với má tôi. Ngày hai buổi phải qua hai chuyền đò ngang để đến trường. Mỗi buổi chiều khi tan học về, trời đẹp không sóng to gió lớn, tôi nhờ thằng Tây ôm sách vở và quần áo về nhà trọ trước, còn tôi lội băng ngang qua sông Cần Thơ để rèn luyện thân thể. Mỗi cuối tuần, hai đứa tôi về làng Ba Láng. Cuối tháng, tôi trở về Long Hồ thăm ba mẹ và Lương Hiếu.

Thế rồi, mùa xuân Ất Mùi (1955). Dòng sông Cần thơ đã để lại trong lòng tôi một kỹ niệm khó quên của tuổi học trò. Tết Nguyên Đán năm đó, chú Chín Hào, tài xế xe hàng chở gạo trên tuyến đường Cần Thơ – Sài Gòn, láng giềng của gia đình cậu mợ tôi ở bên Xóm Chài, được nghiệp đoàn xe vận tải Miền Tây chỉ định, hướng dẫn đoàn lân của tỉnh Cần Thơ múa trong ba ngày Tết theo phong tục tập quán cổ truyền của dân tộc. Muốn cầm đầu đoàn lân không phải là chuyện đơn giản, phải là cao thủ võ lâm. Nghe nói, thân phụ của chú Chín là cao thủ múa lân trên giàn “Mai Hoa Thung” với các bộ pháp tuyệt chiêu như: “Lân xuất động”, “Lân qua cầu” …và ông có thể cầm đầu lân vừa múa, vừa leo lên cây tầm vông có chiều cao 9, 10 thước để đớp tiền lì xì của các thân chủ.

Thỉnh thoảng, chú Chín Hào thấy tôi và thằng Tây luyện võ, đánh côn trước sân nhà. Chú thích lắm bèn chỉ điểm thêm cho hai đứa tôi vài thế múa lân căn bản từ bộ “Đinh Tấn” chuyển sang “Trung Bình Tấn” hoặc “Trảo mã Tấn” vững như núi, rồi khi chuyển sang “Kỳ Lân Bộ”, “Văn Tự Bộ” hoặc “Tiểu Khiểu Mã” thật uyển chuyển linh động, nhẹ nhàng như dòng nước chảy. Người cầm đầu lân múa phải hội đủ tiêu chuẩn: vận động viên, nghệ sĩ và cao thủ Thiếu Lâm.

Sau một vài tháng tập luyện, chú Chín Hào thấy tôi và thằng Tây sử dụng cước pháp từ “Lý triền cước”, “Lan môn đăng cước”, “Tiền tảo cước” …khá linh hoạt, chú bèn đề nghị chúng tôi tham gia đoàn lân “Việt Võ Đường” của nghiệp đoàn xe vận tải Miền Tây do chủ hảng xe đò Nam Hòa và Ngọc Lợi đở đầu. Hai đứa tôi đồng ý liền: thằng Tây giữ chân giũ đuôi cho chú Chín Hào múa, còn tôi thủ vai “Ông Địa” . Tết năm đó, Trưởng Ty Thanh Niên tỉnh Cần Thơ là ông Năm Hân thiết lập một võ đài trên bến tàu ngay đầu đường Ngô Quyền, bên cạnh chợ Cần Thơ để cho các võ sĩ các lò Sài Gòn và lục tỉnh đến tranh tài cao thấp.

Ngày 30 Tết năm đó. Tôi trở về Vĩnh Long để cùng gia đình cúng giao thừa. Trưa mồng 1, tôi lật đật trở qua Cần Thơ để chuẩn bị chuyến lưu diễn theo chương trình vạch sẵn: Mùng 2, đoàn múa lân “Việt Võ Đường” lên đường xuống thị xã Sóc Trăng biễu diễn. Mùng 3, lên Long Xuyên. Mùng 4, trở về biểu diễn tại tỉnh nhà cho bà con xem. Thành công về mặt tài chánh rất đáng kể, khiến cả đoàn lên tinh thần và rất phấn khởi.

Sáng mùng 4, đoàn múa lân chúng tôi múa dọc theo con đường Phan Đình Phùng, từ rạp hát cải lương Minh Châu đến ngã tư Ngô Quyền, rồi quẹo phải, thẳng ra đến bờ sông Cần Thơ. Và tại đây, trong lúc đoàn “Việt Võ Đường” đang múa trước tiệm “Hải Ký Tửu Lầu”, giây phút gây cấn nhất là lúc chú Chín Hào vừa múa vừa leo lên cây tầm vông cao cở 5 thước để lấy cái bao lì xì màu đỏ treo tòn teng dưới bó cải sà lách, bị gió thổi đong đưa trên từng lầu thứ hai; bất ngờ, chạm tráng với đoàn lân râu bạc “Tinh Võ Đường” ở Chợ Lớn xuống biểu diễn tài nghệ, họ theo đường Minh Mạng từ rạp chiếu bóng Trung Ương đi ra. Họ nổi trống ầm ỹ để thị uy làm chú Hào cảm thấy nhợn. Chú cho anh em thúc trống đón mừng và múa cái đầu lân hướng về lân râu bạc, cúi đầu xuống, vái đủ 3 cái ra chiều thần phục, rồi cho toàn bộ anh em trong đoàn lân “Việt Võ Đường” rút lui có trật tự, nhường địa bàn hoạt động cho đoàn lân “Tinh Võ Đường” .

Tôi không hiểu ất giáp gì cả và thấy Ông Địa khoái chí nhảy cà tưng, hất ngược cái quạt giấy, ra dấu đuổi chúng đi chỗ khác chơi một cách trịch thượng làm tôi sôi máu. Tôi vất cái đầu Ông Địa xuống đất, thuận tay chụp lấy cây côn xông tới. Thằng Tây cũng múa tít cây côn xông vào trận đấu để yểm trợ. Tôi chống đầu cây côn dưới đất, bay người lên, phóng một cước như vũ bảo làm cây cờ hiệu có thêu mấy chữ “Tinh Võ Đường” gẫy làm đôi. Lập tức, các vận động viên của đối phương, rút gươm giáo…vây hai đứa tôi vào giữa. Anh em trong đoàn “Việt Võ Đường” cũng vác binh khí xông tới. Trận hỗn đấu ác liệt sắp bùng nổ thì tên thủ vai Ông Địa bất ngờ hét lên một tiếng thật to, lệnh cho bộ hạ của hắn ngừng tay. Hắn vạch đám đông, đến đứng trước mặt tôi, lấy tay chỉ lên võ đài thách đấu tay đôi.

Tôi gật đầu chấp nhận tỉ thí với hắn, rõ ràng là điếc không sợ súng. Tôi đưa cây côn cho thằng Tây, rồi cởi áo quăng xuống đất, hiên ngang bước lên võ đài trước. Lúc đó, tôi có biết đâu rằng: tên thủ vai Ông Địa là người chỉ đạo võ thuật trực tiếp của đoàn lân “Tinh Võ Đường” là đại sư huynh của họ, nên tôi vẫn bình tỉnh chờ hắn bước lên võ đài giao đấu.

Vì vậy, khi trận đấu bắt đầu cho đến khi dứt hiệp ba. Tôi bị hắn dợt cho tơi bời hoa lá, lỗ mũi xịt máu, mặt mày sưng húp mà tôi chưa đụng tới sợi lông chưn của hắn, đừng nói chi đánh hắn trúng một đòn. Thằng Tây hoảng quá, nó dìu tôi xuống một gốc đài, nói:

– Chú Chín Hào bảo tao nói với mầy nên chịu thua đi! Mầy không phải là địch thủ của nó đâu. Nếu tiếp tục đấu vài hiệp nữa là mầy không chết cũng mang bệnh hậu cho mà coi!

Tôi vẫn ngoan cường, nói:

– Tao thề không đầu hàng thằng chệt nầy! Vì danh dự của giống nòi, dầu có chết tao cũng phải tiếp tục trận đấu. Đất nước nầy là của chúng ta, tao nhất định không để cho một thằng chệt thúi nào hiếp đáp người Việt Nam mình!

Vừa khi tiếng kẻng bắt đầu hiệp bốn, tôi nói:

– Mầy bước xuống võ đài đi! Tao biết lo liệu!

Lúc đó, tôi cảm thấy toàn thân ê ẩm, đứng hết muốn vững, đầu óc choáng váng như người say rượu. Tôi vịn dây đài cho khỏi té xuống sàn đấu. Tôi tức muốn ói máu khi nhìn thấy thằng chệt thúi mặt mày hiu hiu tự đắc, diệu võ dương oai, đang biễu diễn công phu thượng thặng của “Tinh Võ Môn” . Hắn từ từ tiến về phía tôi như mèo vờn chuột; thình lình, hắn hét to lên một tiếng để thị uy, rồi toàn thân hắn nhẹ nhàng phóng lên trên không, hai cánh tay dang rộng ra giữ thăng bằng; bất ngờ, hắn xoay người sang phải, lưng đưa về phía tôi, chân phải của hắn duỗi thẳng, đá móc gót chân vào cằm tôi theo thế “Lăng không hậu liêu cước” . Tôi dùng hết toàn lực đưa cánh tay phải chận cú đá ngàn cân của hắn và trả đòn thần tốc. Từ phía sau lưng của hắn, tôi phóng người tới, ngũ trảo của bàn tay phải xòe ra như 5 cái móc sắt, quằm trúng phóc vào hạ bộ của hắn đang để trống, bàn tay trái bấu lấy cổ của hắn, dằn mạnh xuống sàn đài một cái rầm. Tôi tung ra quái chiêu “Kim kê áp noãn” nhanh quá, không ai nhìn thấy rõ tôi dùng chiêu gì mà chuyển bại thành thắng trong chớp mắt. Khán giả dưới võ đài vỗ tay hoan hô ầm ỹ làm tôi lên tinh thần, bàn tay phải xiết thật mạnh và tôi có cảm tưởng hai hòn bi của hắn nát vụn ra…Hắn giẫy đành đạch trên sàn đấu, miệng gào lên kêu cứu:

– Sư phò cứu ngộ! Nó bóp bể hai trứng dzái của ngộ dzồi!

Tôi khoái quá, kề miệng vào tai hắn, nói nhỏ:

– Tiểu nà má! Nị muốn tả ngộ sẩy hả? Ngộ phế võ công của nị, cho nị hết lấy vợ luôn!

Và khi buông bàn tay phải ra, hắn phải đi lum khum như ông già chống gậy, còn hai bàn tay bụm lấy hạ bộ, mặt mày nhăn nhó như khỉ bị cho ăn ớt. Tôi đạp vào mông đít hắn một cái thật mạnh làm hắn té nằm dài xuống sàn đấu. Các chú bác trong đoàn lân “Việt Võ Đường” chạy ào lên võ đài, công kênh tôi trên vai giữa tiếng hoan hô nhiệt liệt của đồng bào. Sau nầy, tôi mới hiểu ra “Luật giang hồ” trong giới múa lân được phân chia đẳng cấp rõ rệt tùy theo màu râu của đầu lân. Lân râu bạc là “Lân đại ca” vì các vận động viên trong đoàn đều những tay võ nghệ cao cường dưới sự chỉ đạo võ thuật của Ông Địa. Còn những đội lân râu xanh, râu hoe… hễ thấy đội lân râu bạc xuất hiện là phải tự động xếp thành đội ngũ chỉnh tề, nổi trống đón mừng và cuối đầu xá 3 cái theo đúng nghi thức, rồi nhường địa bàn hoạt động cho lân râu bạc. Nếu hai con râu bạc tình cờ chạm trán với nhau trên một địa bàn, nhất định một trận thư hùng sẽ xảy ra để phân định ngôi thứ trong chốn võ lâm.

Mùa hè năm 1956, tôi không về làng Ba Láng mà lên Sài Gòn học hè để luyện thêm môn toán và lý hóa để chuẩn bị thi lấy bằng “Trung học Đệ Nhất Cấp” . Ngày tựu trường năm đó, tôi rất buồn không còn gặp thằng Tây nữa. Tôi có về làng Ba Láng gặp chú thím Tám hỏi cho ra lẽ. Chú Tám chỉ trả lời quanh co là hắn đã bỏ nhà theo…gái ở miệt Cái Nươc, Năm Căn gì đó. Nhưng, bác Ba cho tôi biết là thằng Tây đã thoát ly gia đình theo anh ruột của nó là Nguyễn Chánh Nam vô bưng biền chống Mỹ cứu nước rồi.

III

Mùa hè năm 1961. Sau khi thi đổ bằng Tú Tài I, tôi trở thành SVSQ khóa 12 Thủ Đức. Trong suốt 14 năm binh nghiệp, tôi lăn lộn trên khắp chiến trường Đồng Bằng Sông Cửu Long, khi thì Sư Đoàn 21 / BB, khi thì Sư Đoàn 9 / BB… nhưng tôi chưa hề chạm trán với thằng Tây ngoài mặt trận, cho mãi đến ngày 3 tháng 5 năm 1975. Lúc đó, Miền Nam Việt Nam hoàn toàn rơi vào bọn Cộng Sản Bắc Việt. Tôi đã đưa bà xã từ Chương Thiện về ngôi nhà của chúng tôi bên bờ sông Long Hồ.

Tối hôm đó, sau khi cơm nước xong. Tôi đang sắp xếp công việc nhà cho bà xã, thay tôi chăm sóc gia đình để chuẩn bị đi trình diện “học tập cải tạo” thì một chiếc xe jeep dừng ngay trước nhà. Tôi nép mình sau cánh cửa nhìn ra, thấy một tên Việt Cộng mặc đồ đen, đội nón tay bèo, vai mang túi dết, một khẩu K54 đeo ngang thắt lưng, có vẻ không phải làmột tên du kích tầm thường. Hắn đi thẳng vào nhà, gõ cửa. Thấy bà xã tôi từ trong nhà đi ra, hắn hỏi:

– Đây là nhà của thằng Phúc ở Chương Thiện, có phải không?

– Phải rồi sao? Vợ tôi giọng run run, hỏi tiếp: Ông tìm ảnh để trả thù?

– Phiền chị nói với nó là có thằng bạn học cũ ở Ba Láng đến thăm.

Nghe giọng nói quen quen, tôi lách mình qua cánh cửa, đứng trước mặt hắn, hỏi:

– Bạn là Tây Đen, có phải không?

Thấy tôi, hắn mừng quá, nói:

– Thì tao chớ ai vô đây nữa chớ!

Tôi nói thẳng, trước khi mời hắn vô nhà:

– Mầy đến thăm tao với tư cách một người bạn học cũ thì tao tiếp. Còn muốn kiếm tao để tuyên truyền về chủ nghĩa Cộng Sản thì cảm phiền mầy chờ dịp khác.

Hắn thân mật vỗ vai tôi, nghiêm chỉnh nói:

– Từ ngày tao rời trường xưa và bạn cũ đi làm “cách mạng”, tao chỉ mong có ngày còn sống để gặp lại nhau. Bữa nay là ngày vui bạn bè đoàn tụ, cấm nói chuyện kẻ thắng người bại.

– Mầy có biết bác Ba gái bị chết trong lúc tết Mậu Thân hay không? Tôi hỏi.

– Biết chớ! Tao còn biết bác trai đã bán nhà đất cho “sư phụ” . Hiện giờ bác ở Khánh Hội phải không?

– Đúng vậy, tôi nói: Còn chú, thím Tám bây giờ ra sao rồi? Mầy có về Ba Láng cho tao gởi lời hỏi thăm nghe.

– Từ hôm Miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, tạo bận rộn quá. Chắc tháng sau, tao mới về Ba Láng thăm ông bà già được đó!

– Anh Tây ăn cơm chiều chưa để tôi dọn cơm? Vợ tôi xen vào, hỏi.

– Cám ơn chị! Trong khi chờ đợi qua phà Mỹ Thuận, tôi đã ăn cơm chiều rồi.

– Thôi, em làm món gì cho anh và nó nhậu, rồi tôi quay sang thằng Tây, hỏi: Tối nay, mầy muốn ở lại đây với tao không?

Hắn lắc đầu, nói:

– Một lát nữa tao phải vọt qua Cần Thơ. Sáng mai, tao còn phải họp với Quân Khu 9.

Thằng Tây tự động đứng dậy, thắp nhang lên bàn thờ ba má tôi, rồi kéo tôi ra ngoài sân, nói:

– Mầy chỉ có một con đường để lựa chọn là phải trốn ra nước ngoài. Nếu đồng ý, tao liệu cách giúp mầy. Không chờ tôi trả lời, hắn nói luôn một hơi:

-Trưa mai, tao sẽ lái xe jeep trở lại, đón vợ chồng mầy xuống Bến Tre, nhờ tàu đánh cá đưa mầy ra biển Đông. Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ vẫn còn lảng vảng ngoài khơi. Mầy tính sao?”

Tôi lắc đầu, trả lời một cách dứt khoát:

– Cám ơn lòng tốt của mầy. Nhưng, tao không muốn nhận sự giúp đở gì của mầy cả. Còn nhớ đến thằng bạn cũ, đến thăm tao là đủ rồi.

Hắn có vẻ bực, nói:

– Miền Nam Việt Nam đã được “lực lượng vũ trang cách mạng” hoàn toàn giải phóng rồi, vĩnh viễn không còn chỗ đứng cho bọn Ngụy Quân và Ngụy Quyền Sài Gòn nữa. Vậy thì, mầy còn ở lại đây làm gì nữa chớ!

– Bọn Cộng sản Bắc Việt chỉ mới tạm thời chiếm được Miền Nam, nhờ sự yểm trợ tối đa của cả khối “Cộng Sản Quốc Tế”, nhất là bọn cộng sản Nga – Tàu và sự tiếp tay của bọn người ngu xuẩn “ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng sản”, nhưng chưa chắc gì đã chiếm được lòng dân,” tôi nói: Mầy đừng quên rằng, tiêu chuẩn chiến thắng của một cuộc chiến tranh vào thời đại ngày nay đã biến đổi hẳn. Chiến thắng không hoàn toàn đặt trên mục tiêu quân sự là đã làm tan rã được bộ máy chiến tranh của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa mà phải nâng lên một tầng nhận thức cao hơn nữa là: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn toàn mất hết uy thế chánh trị chưa? Nếu chưa, thì bộ máy chiến tranh chỉ tạm thời suy yếu đi mà thôi…”

Thằng Tây ngắt lời, cay cú, hỏi:

– Mầy muốn nói, “Mùa xuân đại thắng” chưa phải là chiến thắng sau cùng của lực lượng vũ trang cách mạng?

Tôi vẫn giữ vững lập trường, nói:

– Đúng vậy! Cuộc chiến nầy chưa kết thúc hẳn đâu. Một ngày nào đó, người lính Việt Nam Cộng Hòa khôi phục lại “Chánh nghĩa Quốc Gia”, dựa vào uy thế đó để tập hợp hàng ngu,õ dấy lên mặt trận khác, tiếp tục giải quyết những vấn đề Quốc – Cộng còn bỏ dở.

Thằng Tây cười gằn, nói:

– Mầy nói với tao những điều nầy thì không sao; dù sao, chúng mình vẫn là những người bạn thân cũ. Nhưng, mầy nói những điều nầy trong những trại tù cải tạo thì coi chừng no đòn đó!

Sau Tết Bính Thìn (1976) khoảng một tháng. Trong lúc tôi đang làm trồng rau muống trong vườn rau xanh sau trại tù cải tạo, nguyên là Quân Lao cũ của Quân Lực VNCH trước đây, một tên bộ đội gọi tôi ra nhà thăm nuôi gặp thân nhân. Ai có đủ quyền lực đi thăm nuôi tôi vào ngày lao động giữa tuần như thế nầy? Tôi vừa đi vừa tự hỏi. Hắn không dẫn tôi đến nhà thăm nuôi mà đưa vào văn phòng làm việc của thượng úy Lê Minh, chính ủy của trại tù cải tạo. Thấy tôi bước vào văn phòng, một tên cán bộ đội nón cối, mặc quân phục, mang quân hàm đại úy, rời khỏi ghế ngồi tiến đến bắt tay tôi. Tưởng ai khác thì ra là thằng Tây Đen. Gặp lại sau mười tháng mà trông gương mặt của hắn trong có vẻ mệt nhọc, hốc hác và bèo nhèo. Thằng Tây tháo cặp quân hàm đại úy để xuống bàn, mời tôi ngồi xuống cái ghế đối diện, rồi báo cáo vắn tắt về tình hình cụ thể Miền Nam sau ngày “giải phóng”:

– Có lẽ, mầy nói đúng đó! Chiếm Miền Nam thì dễ, nhưng cai trị được dân Miền Nam hay không là một chuyện khác. Chánh quyền chuyên chính vô sản được cũng cố bằng bạo lực từ nòng súng. Thật sự, đó là chế độ “công an trị” . Dân thành phố bị cưỡng bức đi vùng kinh tế mới để dễ bề cướp đoạt tài sản của họ. Trại cải tạo mọc lên khắp nơi. Cả nước bây giờ là một nhà tù vĩ đại.

Tôi hỏi lảng sang chuyện khác vì sợ tai vách mạch rừng:

– Chú và thím Tám có khỏe không?

– Má tao chết rồi, thằng Tây giọng buồn buồn, tiếp: Tuần rồi, tao có về làng Ba Láng thăm nhà. Tía tao đi gác cu đằng sau cây xoài tượng, bắt được vài con cu đất rô ti nước dừa, biểu tao đem vô trại cải tạo thăm mầy.

– Thím Tám mất vì bịnh gì vậy? Tôi quan tâm, hỏi.

Thằng Tây không trả lời câu hỏi của tôi mà thò tay trong túi dết, lấy ra một gói lá chuối được buộc giây lạc cẩn thận đưa cho tôi. Tôi thật sự cảm động, nói:

-Khi nào mầy gặp lại ông già, cho tao gởi lời thăm chú Tám nghe!. Đó là lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau. Tháng 7 năm 1976, tất cả tù cải tạo trong trại nầy được di chuyển ra Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Và tôi tiếp tục gở thêm 8 cuốn lịch nữa qua 4 trại khác nhau…

IV

Thế rồi, mùa hè năm 1984. Tôi bất ngờ được trả tự do và rời khỏi trại tù cải tạo 90A/ 2 NT/ KI thuộc tỉnh Thanh Hóa, khăn gói trở lại quê cũ. Sau 9 năm tù cải tạo, tất cả đều thay đổi. Những của cải vật chất thuộc về của tôi trước đây, nay đã thuộc về tay cán bộ cộng sản, kể cả… bà xã của tôi nữa.

Tối hôm đó, tôi tạm trú gia đình chị Hiền gần bến phà Mỹ Thuận. Chị cho biết, sau ngày ba má tôi qua đời, chị tiếp tục theo nghề cũ của ba má tôi, sống cũng tạm được. Tôi có hỏi về Lương Hiếu. Chị Hiền nói:

– Sau khi hay tin cậu cưới vợ. Con Hiếu đòi cạo đầu đi tu. Chị khuyên hết lời, nó mới bỏ ý định đó, nhưng thề không lấy chồng nữa.

Tôi ngắt lời, vồn vã hỏi:

– Lương Hiếu bây giờ đang ở đâu vậy?

– Nó hiện mở võ đường ở Singapore, chị cười, nói: Bây giờ cậu mới nhớ đến nó hả? Nhưng, cũng chưa muộn lắm đâu! Chị mới nhận được thơ của nó gởi cho chị cách đây hơn tháng. Hiếu có nhắc đến cậu nữa đó!

– Chị cho em mượn xem được không?

– Được, cậu chờ chị đi lấy! Em cứ giữ lá thư nầy, đọc để nhớ đến nó!”

Nội dung bức thơ có đoạn làm tôi phải phì cười: “…sau khi định cư ở Singapore được một năm thì ngộ lấy chồng. Thằng chồng đầu tiên của ngộ không biết làm ăn gì hết. Tối nào nó cũng đi nhảy đầm bỏ ngộ ở nhà một mình. Ngộ giận quá, đá nó gẫy cẳng. Xuất viện, nó bỏ nhà trốn đi mất biệt. Hai năm sau, ngộ lập gia đình với thằng chồng nhậu, say mèm tối ngày. Ngộ khuyên nó không chịu nghe, còn chửi lại ngộ, thế tức chớ. Ngộ đánh nó một trận phù mõ, gẫy hai răng cửa. Nó sợ quá, bỏ nhà đi luôn. Ba mớinăm sau, ngộ lập gia đình lại với một tay có máu mê cờ bạc, bị ngộ bẻ lọi 10 ngón tay, nó bèn ly dị với ngộ …À, thằng Phúc đi tù về chưa? Nị cho ngộ lởi thăm nó nghe!…”

Đọc xong bức thơ, chị Hiền đưa cho tôi một cái hộp nhỏ được gói giấy cẫn thận. Chị nói:

– Trước khi vượt biên bán chính thức, Hiếu có để lại món quà nầy nhờ đưa lại cho em.

– Cái gì đây?

– Thì cứ mở cái hộp ra mà xem.

Tôi ngạc nhiên đến độ sững sờ thấy một xâu 25 khâu vàng y, mỗi cái một chỉ, đựng trong cái hộp. Chị Hiền cười, nói:

-Sau khi biết vợ em lấy chồng khác. Hiếu nhờ chị giữ số vàng nầy trao lại cho em để tìm đường vượt biên.

Tôi rất cảm động, không ngờ nàng lại nặng tình như thế. Tôi biếu chị Hiền vài chỉ vàng, nhưng chị không chịu nhận. Sáng sớm hôm sau, tôi đi xe ôm ra bến phà Mỹ Thuận, đón xe đò trở lên Sài Gòn thăm bác trai. Nhà bác Ba nằm sâu trong một xóm lao động ở Kánh Hội. Bất ngờ, thấy tôi đột ngột xuất hiện trước, bác mừng quá ôm chầm lý tôi, nói:

– Trời đất ơi! Mầy đó hả, Phúc!

Gặp lại người bác thân thương. Tôi mừng quá, đáp;

– Còn là thằng Phúc đây mà, bác Ba!

Thấy thằng cháu ốm đói, gầy quá, mồ hôi thấm ướt vạt áo sơ-mi màu trắng để lộ cả bộ xương sườn, trông thật thê thảm. Bác ứa hai hàng nước mắt, nói:

– Thôi, còn mạng trở về là được rồi! Chuyện vượt biên để bác Ba tính cho!

Tôi theo bác bước vào trong nhà. Căn nhà hầu như trống trơn, chỉ có một cái tủ thờ bằng gỗ mun có cẩn ốc sa cừ là đáng giá, một cái chõng tre kê sát vách, một cái bàn vuông bằng ván thông và bốn cái ghế ngồi ọp ẹp. Trên cái vách bằng ván dầu ám khói loang lổ, ngăn đôi nhà bếp với phòng khách, trên vách có treo vài cái hình kỹ niệm của gia tộc và có cả ba má tôi nữa. Bác hỏi:

– Ăn cơm chưa? Nếu chưa, bác đi hâm cơm nguội với cá kho tộ cho con dùng đở đói. Chiều nay, bác cháu mình vô Chợ Lớn dùng cơm Tàu, bác đãi!

– Thôi mà, khỏi đi bác Ba! Lúc qua phà Mỹ Thuận, con đã ăn hai dĩa cơm sườn nướng rồi. Bây giờ vẫn còn no cành hông!

– Chuyện vợ chồng của con ra sao rồi? Thấy tôi chỉ cười gượng, không trả lời. Bác an ủi: Hỏi thì hỏi vậy, chớ bác biết hết rồi: nước mất thì nhà tan là cái chắc! Thôi, qua Mỹ làm lại cuộc đời!

– Còn anh Hai Hoàng? Bây giờ ảnh ở đâu?

– Thằng Hoàng hiện định cư ở tiểu bang California. Đang làm giấy bảo lãnh bác qua Mỹ theo diện ODP gì đó!

– Bác Ba còn nhớ gia đình chú Tám Đông, nhà bên kia sông Ba Láng không?

Nghe tôi nhắc đến chú Tám Đông là bác Ba bật cười ngất, nói:

– Ai chớ Tám Đông, cái thằng mắc dịch đó! Làm sao tao quên được cho được. Năm nào chú cũng khăn gói lên Sài Gòn ở chơi với bác cả tháng mới trở về Ba Láng. Tao muốn giữ nó ở luôn trên nầy, bạn già hủ hỉ có nhau. Nhưng chú không chịu vì sợ mồ mả vợ con khói nhang lạnh lẽo, không người chăm sóc.

– Thím Tám qua đời con biết. Còn anh em thằng Tây thì sao? Tôi ngạc nhiên, hỏi.

– Cũng chết ráo trọi hết rồi, bác trai, tiếp: Chuyện dài dòng lắm, khi nào con có dịp về dưới, chú Tám sẽ kể cho con nghe! Cách đây vài tháng, bác có nhận thư của chú ấy. Trong thơ có hỏi thăm con.

Thấy bác vui, tôi hỏi:

– Bác gái qua đời đã quá lâu rồi. Sao bác không tính chuyện tục huyền để có người bầu bạn lúc tuổi già?

– Trong lòng bác, không có người đàn bà nào có thể thay thế bác gái của mầy cả. Vả lại, vài năm nữa tao sang Mỹ theo diện ODP đoàn tụ gia đình rồi. Bước thêm một bước nữa làm chi cho rắc rối cuộc đời, bác nhìn tôi giọng nghiêm chỉnh, nói: Còn mầy, có tính đến chuyện vượt biên không?

Tôi bật cười ha hả, nói:

– Hổng dám ở lại Việt Nam để xây dựng “xã hội chủ nghĩa” đâu, bác ơi!

– Mầy được thả ra khỏi trại tù cũng kịp lúc, bác trai nói: Cậu Tư Oai, em ruột của bác gái mầy ở Cần Thơ đã chuẩn bị tàu bè xong cả rồi, định cuối tháng nầy đánh. Sao, mầy có muốn đi chuyến nầy không?

– Dạ, con đi liền!

– Gia đình cậu Tư, vợ con thằng Hoàng và mầy khoảng 10 người, bác trai hoan hỉ, nói: Có mầy cùng đi trong chuyến nầy là tao an tâm, thằng Hoàng biết được cũng mừng lắm!

– Cậu Tư Oai định đánh chuyến nầy ở bãi, bến nào vậy, bác Ba?

– Thật sự, tao cũng không rõ lắm, bác nhìn tấm lịch treo tường nói: Hôm nay, mới đầu tháng 6. Khoảng 10 ngày nữa, cậu sẽ lên trên nầy đón vợ con thằng Hoàng. Cậu sẽ nói rõ chi tiết hơn.

Đúng hẹn. Tuần sau, cậu Tư lên Sài Gòn. Chị Hoàng và cháu Dũng từ Tây Ninh xuống, cùng gặp nhau tại nhà bác trai trong ngày. Tôi giúp cậu Tư hoàn chỉnh kế hoạch vượt biên bằng đường biển. Sáng sớm hôm sau. Bác trai đưa tất cả ra xa cảng Miền Tây và từ giã nhau ở đó. Trước khi lên xe, bác đưa cho tôi số bạc 10 ngàn đồng (1 cây vàng) để trao tận tay cho chú Tám Đông. Buổi chiều, chúng tôi về đến nhà cậu Tư Oai ở Bình Thủy. Thím Tư chuẩn bị cơm chiều xong là ba cậu em cũng vừa về đến nơi. Cậu Tư giới thiệu:

– Đây là cậu Phúc, cháu gọi dượng Ba bây bằng bác đó. Cậu đi tù cải tạo mới được trả tự do.

Ba em gật đầu chào tôi, rồi hỏi:

– Anh Phúc đi tù cải tạo được mấy năm?

– Gần 9 năm, vừa mới được trả tự do cách đây khoảng 2 tuần lễ.

– Anh Phúc sẽ đi vượt biên cùng chuyến nầy với tụi bây, cậu Tư nhìn con trai lớn, hỏi: Việc tàu bè đến đâu rồi, tụi bây?

Minh thưa:

– Việc đóng tàu sắp xong, chiều dài khoảng 15 thước, được ngụy trang thành tàu đánh cá. Hôm nay, chú Bảy Lành cho hạ thủy lúc 9 giờ sáng. Chú chở tụi con chạy thử máy dọc theo cù lao Ông Chưởng. Tàu chạy ngon lành nghe cha!

Tôi lấy 20 khâu vàng từ trong túi quần ra, đưa cho cậu Tư, nói:

– Tôi xin đóng góp 2 cây vàng để cậu mua xăng nhớt, lương thực.

Cậu Tư Oai không khách sáo, nhận hai cây vàng vui vẻ, nói:

– Xăng nhớt, lương thực đã chuẩn bị đầy đủ hết rồi. Tôi sẽ đưa 2 cây vàng nầy cho anh Bảy Lành để trả công đóng chiếc tàu.

Tối hôm đó. Cậu Tư cho tôi biết:

– Ngày 30 tây, nhằm ngày 20 tháng 5 âm lịch. Lợi dụng trời tối không trăng, sẽ vượt qua cửa biển Định An dễ dàng hơn. Cậu Tiến đã nghiên cứu kỹ đường đi nước bước rồi. Ngày 25, cậu sẽ về đây để lấy quyết định sau cùng. Như vậy, cháu còn thông thả vài ngày để lo công việc của cháu.

– Cậu Tư an tâm! Cháu sẽ trở về đây vào ngày 26 tây, có thể sớm hơn cũng không chừng.”

Tôi xin phép cậu Tư Oai, ra viếng mộ của bác gái đằng sau vườn.

oOo

Sáng hôm sau. Minh lấy Honda chở tôi bến xe lam gần ngã tư cầu Tham Tướng, đáp xe lô đi Cái Răng. Đến Cái Răng, tôi tản bộ vào nhà lòng chợ, mua 2 kí lô thịt heo quay và vài ổ bánh mì để ăn trưa với chú Tám, rồi đi thẳng xuống bến đò. May quá, có một chiếc “tắc ráng” đã đầy hành khách sắp rời bến. Tôi chạy bay xuống cầu tàu, réo bác tài công:

– Còn chỗ đi Ba Láng không, bác tài?

– Còn, nhảy lên tàu lẹ đi cậu!

Tôi lật đật nhảy xuống mũi tàu. Nhìn vào trong khoang, hành khách chật ních, tôi phải leo lên mui, đi ra đằng sau lái, ngồi gần bác tài công, gạ chuyện:

– Từ đây về Ba Láng khoảng bao lâu vậy, bác tài?

– Từ 45 phút đến 1 tiếng, tùy theo con nước, bác tài nhìn tôi quan sát, rồi hỏi: Hình như, cậu không phải người miệt nầy?

– Tôi vừa ở Sài Gòn về Ba Láng thăm gia đình, tôi hỏi: À, bác biết chú Tám Đông ở Ba Láng không?

– Ai? Tám Đông hả? Biết chớ sao không! Bạn già của tôi mà.

– Bác làm ơn cho tôi xuống bến Tám Đông nghe!

Chiếc “tắc ráng” chạy cập sát bờ vì chở quá khẳm, mực nước sông leo lên gần be tàu. Mỗi lần có con tàu khác chạy ngược chiều là mặt sông nổi sóng, bắn nước tung tóe vào trong tàu. Tôi quay lưng ra nhìn dòng sông Ba Láng thân thương, dòng sông mang nhiều kỹ niệm của tuổi học trò. Tôi nhúng bàn tay xuống nước, vốc một bụm rửa mặt, thấy mát lạnh. Dọc theo hai bờ sông là những rặng bần xanh vẫn còn đó, nối tiếp vươn lên từ phù sa. Cây bần tựa lưng cùng cây dừa nước, cả hai gắn bó nhau cả một đời bám đất để giữ phù sa, ngăn sóng to gió lớn, be bờ cho người nông dân Miền Nam an cư lập nghiệp. Thấp thoáng trên rặng bần xanh lá, tôi thấy những tổ chim vòng vọc, giống như một quả bưởi nho nhỏ, treo lủng lẳng trên cành bị gió đánh đong đưa. Giống chim vòng vọc luôn luôn xây tổ gần tổ ong vò vẻ, nhờ đàn ong bảo vệ để sinh tồn.

Bỗng, bác tài vỗ vai tôi, nói:

– Sắp đến bến sông nhà Tám Đông rồi đó cậu!” Bác tài hú anh lơ ngồi ở trên mui: Hai à, rút cây sào lẹ lên! Tàu cập bến nhà của Tám Đông đó!

Tàu từ từ gảm tốc độ, anh lơ chống cây sào tre khá dài xuống sông. Chiếc “tắc ráng” còn trớn rướng tới làm cây sào cong lại. Khi mũi chiếc tắc ráng vừa chạm cây cầu ván là dừng hẵn. Tôi đứng dậy hỏi:

– Bao nhiêu tiền đây, bác tài?

– Cậu trả cho 15 đồng được rồi!

Trả tiền xong, tôi leo lên mui, đi ra phía mũi tàu. Một tay xách túi đồ ăn, còn tay kia vịn cây sào, tôi bước lên cây cầu ván đóng rêu xanh trơn như thoa mở làm tôi suýt té mấy lần. Tôi bước lên bờ, đi thẳng vào nhà, gõ cửa gọi:

– Chú Tám ơi! Có ở trong nhà không?

– Đứa nào gọi tao vậy cà?

Một giọng nói yếu ớt từ trong nhà hỏi vọng ra, rồi có tiếng dép kéo lê trên cái nền nhà bằng đất chỗ lồi chỗ lõm. Chú Tám đứng trước cửa, nhìn tôi trân trối. Đã trên 20 năm rồi không gặp; không ngờ, chú lại sa sút đến thế: mái tóc bạc trắng phau, con mắt bên trái kéo mây, má hóp, lưng còng. Tôi nắm lấy bàn tay gầy guộc của chú Tám, hỏi.

– Chú Tám còn nhớ con không?

Chú nhìn tôi đăm đăm, cố nhớ. Nhưng rồi, lại lắc đầu thở dài, nói:

– Cậu là con cái nhà ai? Sao tôi không nhớ vậy cà?

Tôi ôm đôi vai gầy của chú, nói:

– Con là thằng Phúc – Lê Trường Phúc – nhà của bác Ba cháu ở bên kia sông. Con là bạn của thằng Tây đây nè! Chú nhớ ra chưa?

– Trời ơi! Mầy đó hả Phúc? Chú mừng quá, ôm tôi khóc ròng, nói: Chú Tám nhớ ra rồi! Thằng Phúc, cháu của anh Ba Giáo, thằng Tây nó chết rồi con ơi!

Thấy chú khóc, làm tôi cũng mũi lòng:

– Bác Ba đã nói cho con biết hết rồi!

– Bác Ba của con khỏe chớ?

– Dạ khỏe, bác nhắc chú hoài. Năm nay, chưa thấy chú lên Sài Gòn thăm bác.

– Năm nay, chú đau rề rề hoài! Chắc sống nay chết mai cũng không chừng, chú nắm tay tôi, nói: Thôi, đi vào nhà con! Đứng lâu mõi chưn!

Mọi vật bày trí trong nhà vẫn y như hồi đó, nhưng cũ kỹ hơn nhiều. Riêng cái tủ thờ tổ tiên đặt chính giữa nhà, có thêm mấy tấm ảnh bán thân của thím Tám và anh em thằng Tây. Tôi ngồi xuống ghế, chú rót nước trà trong cái bình tích, mời:

– Uống nước trà đi con, trà của bác Ba con gởi cho chú hồi hôm Tết. Ngon lắm đó!

– Chú để con tự nhiên, tôi để cái xách tay đồ ăn lên bàn, nói: À, con có mua 2 kí thịt heo quay và mấy ổ bánh mì để chú cháu mình ăn trưa.

Chú chậc lưỡi, nói:

– Vừa đi tù về làm gì ra tiền! Sao không để dành xài?

– Đồ ăn nầy, có đáng là bao nhiêu đâu, chú Tám, tôi lấy gói bạc trong túi quần, đặt vào tay chú, nói: Đây là số bạc 10 ngàn đồng, bác Ba dặn con phải đưa tận tay cho chú.

Chú Tám cầm gói bạc trong tay, ứa hai hàng nước mắt, nói:

– Chú nợ bác Ba con nhiều lắm! Không biết đến bao giờ mới trả được. Có lẽ, phải chờ kiếp sau.

– Chú à, thím và anh em thằng Tây qua đời trong trường hợp nào vậy? Tôi hỏi.

Chú Tám hớp một ngụm nước trà thấm giọng, rồi bắt đầu tâm sự:

– Nếu như Miền Nam Việt Nam mình bị “giải phóng” trể một tháng thì má của thằng Tây đâu có chết tức tưởi như vậy. Sau ngày giải phóng chưa đầy một tháng, thím mầy bị đau bụng dữ dội. Lúc trời gần sáng, chú cấp tốc chèo ghe đưa bả ra chợ Cần Thơ. Rồi từ đó, chở bả vô bịnh viện bằng xe lôi. Chú bồng bả, chạy một mạch vô phòng cấp cứu. Một y sĩ cách mạng hướng dẫn chú làm thủ tục giấy tờ nhập viện. Nhìn cái bản mặt của hắn là chú thấy cả một bầu trời u ám. Da mặt của hắn sần sùi, nám đen, nám đỏ. Còn mái tóc bù xù vàng hoe như cỏ úa; có lẽ, nó bị chất độc màu da cam cũng không chừng. Nhìn nó cười mà chú rởn tóc gáy, cái hàm răng vẩu với hai cái răng nanh nhọn hoắc, thấy mà ghê! Hắn gọi hai người y tá đặt bả lên cái băng ca, khiêng vô phòng phẩu thuật. Hắn phụ trách ca mổ nầy.

– Thím bị bịnh gì mà phải mổ vậy, chú Tám? Tôi cũng nóng ruột, hỏi.

Chú Tám kể tiếp:

– Khoảng một giờ sau, một cô y tá từ trong phòng mổ chạy ù ra, vừa chạy vừa khóc. Chú lật đật chạy theo gọi: Cô y tá ơi! Làm ơn cho tôi hỏi thăm!” Cô ta đứng lại hỏi:

-Người đàn bà đó là gì của ông? Chú đáp: Bả là vợ tôi đó!

Cô mời chú vô văn phòng, đóng cửa lại, rồi cô ấy mếu máo nói: Bà chị đã chết trên bàn mổ rồi, ông anh ơi! Lúc đó, chú điếng hồn, gào lên: Sao, cái gì? Tại sao bả chết tức tưởi như vậy chớ? Cô chán nản, thở dài, nói:

-Không biết tên y sĩ cách mạng nầy tốt nghiệp ở trong cái hang động nào ở ngoài Miền bắc XHCN. Tôi nói với hắn, bà bệnh nhân bị đau ruột thừa cấp tính. Nhưng hắn bảo lá gan của bà bị ung sờ, rồi quyết định mổ bà như mổ heo. Hắn móc hết ruột, gan, thận… của bà đem ra ngoài nghiên cứu. Xem chán, hắn nhét trở vô bụng bà chị, rồi kết luận là lá gan của bà chị bị ung sờ đến thời kỳ thứ 10, hết thuốc chửa. Vậy là xong một kiếp người thứ 39!”

Tôi ngắt ngang câu chuyện, hỏi:

– Bệnh “ung sờ gan” là bệnh gì vậy, chú Tám?

– Cô y tá đã có 20 năm kinh nghiệm trong nghề dưới chế độ cũ, còn không biết bịnh đó là bịnh gì thì làm sao chú biết được chớ!

– Còn anh Nam và thằng Tây chết ở đâu, hồi nào vậy?

Chú Tám chỉ biết lắc đầu thở dài, nói:

– Hai cái thằng “ôn hoàng dịch lệ” nầy ngu lắm! Năm 1979, bọn Bắc Bộ Phủ vừa phát động cuộc chiến tranh xâm lược Campuchia bằng chiêu bài bịp bợm “Nghĩa Vụ Quốc Tế” cái con mẹ gì đó, là tụi nó xung phong đi liền. Tập đoàn Lãnh đạo Đảng CSVN khốn nạn, tụi nó “mượn dao giết người”, mượn tay Khờ Me Đỏ trừ khử lực lượng võ trang thuộc Mặt trận Giải phóng MNVN trước đây. Tính đến bây giờ đã có mấy chục ngàn cán binh bị tử trận ở Campuchia rồi. Hai anh em nó bị bọn Khơ Me Đỏ “cáp duồng” vào mùa xuân 1980 tại Tà Keo. Chú phải sang tận đó mang xác hai anh em nó về quê nhà, chôn bên cạnh má nó phía sau vườn, nói đến đây, chú Tám tủi thân, ôm mặt khóc ngất một hồi, rồi nói tiếp: Chưa hết, sau khi tụi nó chết độ vài tháng. Ba mẫu ruộng của gia đình chú do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cấp theo luật “Người Cày Có Ruộng” bị chính quyền cộng sản địa phương lấy nốt giao cho “Tập đoàn sản xuất xã” . Giải phóng rồi gia đình chú tan nát hết, con ơi!

Không muốn khơi dậy mối phẫn hận trong lòng chú. Tôi nói:

– Mặt trời sắp đứng bóng rồi đó chú Tám. Chú cháu mình ăn cơm trưa xong, xế chiều, con còn phải trở về Cần Thơ.

– Sao về sớm vậy? Ở chơi với chú đêm nay! Sáng sớm, chú sẽ bơi xuồng đưa cháu ra chợ Cái Răng, đón xe lam về Cần Thơ cũng không muộn mà!

– Được, con sẽ lại với chú đêm nay! Con đang chuẩn bị một chuyến đi xa, không bao giờ mới gặp lại chú Tám.

– Phải như vậy chớ, chú vui vẻ, nói: Thôi, mình ăn cơm trưa đi cháu! À, biết nhậu lai rai không?

– Con chơi xả láng với chú bữa nay, mai đi sớm!

– Đại trượng phu phải vậy mới được chớ!

Chú bày thức ăn ra bàn và một chai rượu đế. Hai chú cháu vừa ăn vừa nói chuyện. Tôi hỏi thăm sư phụ “Sáu Rổ” . Chú Sáu nói: Sau khi bọn Cộng Sản chiếm Miền Nam thì chú ấy đưa vợ con về Vị Thanh – Hỏa Lựu sinh sống; thỉnh thoảng, chú Sáu Rổ có ghé thăm chú.

Ăn xong bữa cơm trưa, chơi luôn khoảng một xị “nước mắt quê hương” là đầu óc tôi choáng váng; có lẽ, vì đã lâu không uống rượu đế. Tôi ngả lưng trên võng, đánh một giấc cho tới xế chiều. Chú Tám đánh thức tôi dậy, nói:

– Thôi, dậy đi cháu! Sắp chiều rồi, đi rửa mặt cho tỉnh táo, chú dẫn cháu ra thăm mộ thím Tám và anh em tụi nó. Chiều nay, còn nhậu một chầu đặc sản nữa với chú.

Nghe đến nhậu nữa là tôi muốn nhợn. Tôi nói:

– Chú nhậu một mình đi! Con mệt rồi đó!

– Còn gần nửa lít đế! Uống cho hết với con đêm nay rồi chú bỏ rượu luôn, mặt chú thoáng buồn, nói: Lâu lắm mới có con cháu về thăm! Thấy con như thấy thằng Tây! Anh em tụi bây hồi còn nhỏ thương nhau lắm mà! Chú tiếc là nó đã đi lầm đường lạc lối, nối giáo cho giặc Cộng, tàn phá quê hương đất nước!

Chú Tám dẫn tôi ra sau vườn. Cây ăn trái giờ thưa thớt hơn xưa nhiều, chỉ còn lèo tèo vài ba cây đu đủ, cây ổi, cây mận, mít…nhưng cây nào cũng cằn cỗi cả. Nhưng chỉ cây xoài tượng là vẫn còn tiếp tục trổi dậy thành một gốc cây đại thụ mà thân cây một người ôm không giáp vòng. Mộ của thím Tám và anh em thằng Tây chôn ở phần đất tiếp giáp với ruộng, dưới bóng mát cây xoài tượng.

Trời đã vào đầu mùa hè. Cây xoài tượng đang mùa ra hoa muộn. Hoa hình sao có sáu cạnh, to bằng đầu đũa, màu vàng như màu hoa cải, nở bung ra treo đầy trong vòm xoài sum suê lá, xanh ngắt một màu. Một cơn gió nhè nhẹ thoảng qua mang hương xoài ngọt ngào lan rộng một vùng và ngắt những hoa xoài lìa cành, quay tít trong gió như những cánh bướm màu vàng bay lượn. Hoa đậu trên vai tôi và rắc vàng trên những ngôi mộ. Chú Tám đốt ba nén nhang thơm, đưa cho tôi cắm trên ba ngôi mộ, rồi bất ngờ hỏi:

– Thằng Tây bỏ mạng cho cái thứ chủ nghĩa nào đây?

Tôi nói an ủi:

– Tụi con sanh ra trong chiến tranh và trưởng thành trong khói lửa chiến tranh. Tuổi trẻ, con đem thân hiến dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ vì lý tưởng “Quốc Gia” . Còn thằng Tây, nó hy sinh vì lý tưởng “Cộng Sản” của nó. Chỉ có vậy thôi!

– Con dùng chữ trật rồi! Cái chết của thằng Tây không thể gọi là “hy sinh” mà là “đền tội” . Nối giáo cho bọn giặc Cộng Sản Bắc Việt để tàn phá quê hương Miền Nam mình, nó phải đền tội “phản bội” của nó ngày hôm nay, để khỏi đền tội “bán nước” cùng với tập đoàn Lãnh đạo Đảng Cộng Sản ngày mai. Chú Tám cười buồn, nói: Khi mùa săn đã qua, tất cả loại chó đều phải chết thảm như vậy cả! Thôi, con ngồi ở đây chơi với nó! Chú vô nhà làm cơm chiều đãi con nghen.

Bây giờ chỉ còn một mình tôi ngồi bẹp dưới mặt đất, hai tay chống cằm nhìn đăm đăm tấm ảnh bán thân trên mộ bia của nó: Nguyễn Chánh Tây 1939 – 1981. Nắng chiều nhợt nhạt xuyên qua tán lá xoài, tạo thành những vệt nắng chập chờn, nhảy múa hờ hững trên những nấm mộ đất khô nứt nẻ, lặng lẽ phủ hoa vàng. Trong tiếng gió đồng nội xào xạc, từng cụm hoa xoài lìa cành rải hương theo gió, quyện lấy mùi nhang trầm thắp muộn làm tăng thêm sự tĩnh lặng mênh mông. Và hình như, tôi cảm nhận tiếng khóc ăn năn, hối hận của nó dưới từ dưới đáy mồ lạnh lẽo, ai oán vọng lên.

Bạn Tây ơi! Mầy có nghe thấy gì không? Tiếng chim cu đất gáy thánh thót vang lên từ trong lùm cây xoài tượng đó. Tiếng gáy hai cốt: cúc cú cu, cu cu… quen thuộc như xoáy vào trong tiềm thức của tao, bừng dậy những kỹ niệm của tuổi học trò bên dòng sông Ba Láng. Cũng dưới gốc cây xoài tượng nầy. Hồi đó, mầy đã dậy cho tao những bài học vỡ lòng về cái nghề “gác cu” . Chúng mình đã trải qua một thời ấu thơ lang thang trên khắp cánh đồng, mê mãi theo đuổi những cánh chim trời. Mầy có thấy cánh đồng ngoài kia không? Cánh đồng sau mùa gặt, những cột khói trắng bạc, mùi hăng hắc, cay xòe vẫn còn âm ỷ bốc lên từ những gốc rạ cháy gần tàn, ẻo lả vươn lên trên trời cao, lan tỏa trong nắng chiều. Mùa săn chuột đồng của tụi mình bắt đầu rồi đó!…

Bước chân của chú Tám giẵm lên những chiếc lá vàng khô xào xạc, mang tôi trở về với thực tại. Bàn tay gầy guộc của chú đặt trên vai tôi. Chú nói, giọng hối tiếc:

– Phải chi hồi đó, thằng Tây nó đi theo con thì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã có thêm một tay súng gìn giữ quê hương Miền Nam. Nó có hy sinh vì chính nghĩa “Quốc Gia” thì chú cũng hãnh diện với người đời sau, đã có một thằng con “Vị Quốc Vong Thân”, phải không Phúc?”

Tôi đứng dậy, ôm đôi vai gầy của chú, nói:

– Nghĩa tử là nghĩa tận! Hãy để cho thằng Tây an giấc ngàn thu đi, chú Tám!

Tôi theo chú Tám trở vào nhà. Một nồi cơm bằng đất, chén đũa, một cái cà ràng than củi đang cháy đỏ rực và chai rượu đế đã cạn hết phân nửa đã sẵn sàng ở trên bàn từ lúc nào. Tôi ngồi xuống ghế. Chú Tám trở vô bếp bưng một cái dĩa thịt chuột đồng ướp với muối sả ớt để bên cạnh cái cà ràng. Chú Tám nói:

– Cháu về thăm chú bất ngờ quá! Chú không kiếm đâu ra cá lóc nướng trui hoặc lươn xào lăn để chú cháu mình nhậu một bữa cho đả đời. Thôi thì, ăn một bữa cơm đạm bạc “thịt chuột đồng ướp muối sả ớt, nướng lửa than” . Món ăn truyền thống của đồng bào Nam Bộ từ thuở khẩn hoang lập ấp đó cháu.

Vào mùa gặt, chuột đồng cắn phá lúa nhiều nên con nào cũng mập tròn. Sau khi đem thui chuột với lửa rơm. Chú Tám cắt đầu lột da, bỏ bộ đồ lòng, chân đuôi, rồi rửa sạch đem ướp với muối sả ớt giã nhuyễn. Chú Tám sắp chuột trên cái vĩ sắt trong lúc than trong cái cà ràng cháy đỏ rực. Thịt chuột tươm mở, rơi trên lửa than cháy xèo xèo, bốc khói mùi thơm phứt không chịu được. Chú phết mở hành lên cho thịt không khô, dùng đũa trở mình chuột cho đến chuyển sang màu vàng sậm là thịt vừa chín tới. Chú Tám dùng đũa gấp một con chuột đưa cho tôi, nói:

– Cháu dùng thử một con, coi có vừa ăn không?

Tôi xé cái đùi chuột, đưa lên miệng thổi phù phù mấy cái cho bớt nóng, rồi đưa vào miệng nhai ngấu nghiến. Thịt chuột có mùi vị ngòn ngọt, mở vừa beo béo, vừa mằn mặn và cay cay. Tôi phải thốt lên:

– Chuột đồng ướp muối sả ớt, nướng lửa than đơn giản mà ngon tuyệt cú mèo nghen, chú Tám!

– Cháu bới cơm tấm ra chén, ăn với nó mới đúng điệu miệt vườn đó!

Tôi lua một hơi hết 5 chén cơm tấm với thịt chuột đồng và nhấp môi vài miếng rượu đế đưa cay thì đã no cành hông. Ngoài hiên, nắng chiều đang hấp hối trên rặng bần xanh, dừa nước. Tôi lắng nghe tiếng kêu ríu rít, líu lo quen thuộc của bầy chim sẻ gọi nhau về tổ trong lùm cây xoài, cây mận, cây bưởi… trong lúc chiều về. Trong khắp khu vườn, đâu đâu cũng nghe tiếng chim kêu hót rộn ràng. Tôi bỗng nghe tiếng chim trao trảo hót vang trời trên hàng cây trứng cá ngoài bờ mương: chảo chẹt…chảo chẹt…chảo chẹt… tiếng hót mộc mạc của những chú chim trao trảo như tiếng vở của phèng la chớ không véo von thanh tao của loài chim họa mi hay mơ màng như tiếng gù của loài chim cu của vùng đồng nội. Nhưng, tiếng hót đó đã đeo đẳng theo tôi cho đến tận bây giờ, làm tôi nhớ những kỹ niệm về một thời thơ ấu bên dòng sông Ba Láng. Có những buổi sáng tinh mơ, tôi và thằng Tây mãi mê săn chim trao trảo bằng ná thun, dọc theo bờ sông hoặc trong những khu vườn rậm lá. Hai đứa tôi đi lang thang, đuổi theo tiếng hót của nó suốt cả buổi sáng mà chả săn được con nào, bởi lẽ loài chim nầy rất tinh khôn, vừa thấy bóng người là chúng biến mất dạng trong các lùm cây xa xa.

Chú Tám buông đũa đứng dậy, đi lại tủ thờ lấy cây đèn dầu đặt giữa bàn ăn. Cái ống khói đen kịt, hình như cả năm không được lau chùi. Chú Tám bật diêm quẹt đốt đèn, rồi nhìn hai con chuột đồng còn lại trên cái vĩ sắt, nói:

– Ráng ăn hết đi cháu! Mai nướng lại ăn hết ngon!

– Bao tử căng quá rồi, chú Tám ơi! Tôi vén áo, lấy tay xoa bụng, rồi vỗ bình bịch mấy cái, nói: Thôi, chú để dành cho con, sáng mai ăn dằn bụng trước khi lên đường.

– Ờ, vậy cũng được!

Tôi giúp chú Tám dọn dẹp và mang thức ăn ra cái bếp đằng sau chái hè. Chú Tám ra thăm mộ vợ con và thắp ba nén nhang thơm cho họ vào mỗi buổi chiều tà. Còn tôi lững thững thả bộ ra bờ sông Ba Láng, ngồi dựa lưng vào gốc dừa ngắm hoàng hôn xuống. Tiếng chim vòng vọc kêu chí chóe, bay lượn trên rặng bần xanh lá dưới sông trước khi chui vào tổ ấm treo lủng lẳng trên cành. Nắng nhạt dần trên những tán lá dừa nước đang phe phẩy trong gió. Và những hoa bần màu tim tím mộc mạc như những chiếc đèn lồng nho nhỏ, cũng âm thầm chui vào trong bóng đêm.

Bên kia sông. Tiếng chổi nhà ai, giờ nầy vẫn còn quét sàn sạt gom lá khô vun thành đống để đốt trên sân, dùng khói un muỗi mòng. Từng cụm khói trắng đục bay tỏa đi khắp nơi. Nhà nhà bắt đầu lên đèn, tỏa ánh sáng le lói lẩn khuất sau các lùm cây. Trên con đường làng, có tiếng chó sủa inh ỏi xa xa, xua tan cái yên lặng buồn thiu của làng quê. Dòng sông Ba Láng vẫn êm đềm lặng chảy, lãng đãng sương bay làm tôi có cảm tưởng như dòng sông đang phập phồng thở khói…Vài chiếc thuyền giăng câu đêm, mái dầm khua nước khe khẻ nhịp nhàng, hướng ra phía chợ vàm.

Chú Tám từ trong nhà đi ra bờ sông ngồi xuống bên cạnh tôi, nói:

– Lâu lắm mới có một ngày vui như ngày hôm nay. Thấy cháu cũng như thằng Tây vậy.

Tôi gợi ý với chú:

– Tại sao chú không về Sài Gòn sống với bác Ba cháu cho vui?

– Chú đi rồi ai chăm sóc mấy ngôi mộ vợ con của chú chớ?

– Chuyện dễ giải quyết quá mà, tôi nói: Trong thời gian vắng nhà, chú có thể nhờ bà con, lối xóm trông nom dùm chú vài tháng được mà! Con hứa, đời sống vật chất của bác Ba và chú. Qua đến Mỹ, anh Hoàng và con sẽ gởi tiền về chung lo.

Chú Tám cảm động, nói:

– Được, chú thu xếp việc nhà rồi lên Sài Gòn ở chơi với anh Ba vài tháng cho khuây khỏa. Anh em bạn già sống với nhau vài tháng hủ hỉ cho vui, chú đưa chai rượu lên miệng tu một hơi cho đến cạn láng, rồi quăng chai rượu xuống sông, nói: Dứt khoát không uống rượu nữa! Thôi, đi vô nhà cháu! Chú buồn ngủ rồi đó!

Có lẽ, men rượu làm cho chú choáng váng. Vừa chui vô mùng là chú ngáy vang như sấm. Tôi thổi tắt ngọn đèn ống khói, căn nhà chìm trong bóng tối mông lung, tôi leo lên nằm trên cái chõng tre đối diện với chú, trằn trọc mãi mà không ngủ được. Bóng đêm phủ lên vườn khuya một một màu đen u tối và hoang vắng. Càng về khuya mà tiếng ve sầu vẫn còn rên rỉ trong các lùm cây hợp xướng có tiếng dế nỉ non; thỉnh thoảng, có tiếng chim vạc ăn đêm, buông tiếng kêu xao xác từ cánh đồng xa vọng về, rồi tôi ngủ thiếp đi từ lúc nào không hay…

Nửa khuya, một cơn giông bất ngờ dội qua vùng nầy, đánh thức tôi dậy. Mấy cột nhà chuyển mình răn rắc, làm tốc mái lá bên chái hè. Mấy tàu lá chuối run lên phần phật, tả tơi trong gió và bụi tre sau nhà chuyển mình, cọ sát vào nhau kêu kẽo kẹt. Cơn mưa rào đầu mùa hạ trút nước xối xả. Tôi vén mùng, đứng dậy, đẩy cái phên cửa sổ lên, nhìn ra ngoài sân mưa giăng trắng xóa, tiếng sấm động đầu mùa vang rền. Cơn mưa vội đến rồi vội đi. Vườn khuya bỗng trở nên sống động khác thường bởi hợp tấu khúc của loài ếch, nhái, ễnh ương… uênh oang, tưng bừng náo nhiệt như mừng đón mùa mưa bắt đầu về vùng đồng bằng.

Tôi chui vô mùng định ngủ tiếp thì xảy ra một hiện tượng lạ lùng. Một đốm sáng lập lòe từ ngoài sân bay vào trong nhà. Đốm sáng nhấp nhái liên tục của một con đom đóm khá to, cở đầu đũa ăn, đang tỏa một thứ ánh sáng mảnh mai, lạnh lẽo như một bóng ma trơi. Trong bóng tối dầy đặc, nó phát ra ánh sáng càng mạnh. Nó đảo vài ba vòng trong nhà rồi bay lên bàn thờ, đậu trên di ảnh của thằng Tây. Trong vùng ánh sáng xanh dờn, ma quái nho nhỏ đó, cũng đủ soi sáng trong khoảnh khắc đôi mắt của thằng Tây đang nhìn tôi. Rời bàn thờ, nó bay qua đậu trên nóc mùng của tôi khá lâu, tiếp tục phát sáng làm tôi có cảm tưởng: nó chính là linh hồn của thằng Tây hóa thành đom đóm về thăm bạn cũ hay muốn gởi gắm cha già lại cho tôi phụng dưỡng chăng?

Bình minh rực rỡ. Tiếng chim sẻ ríu rít kêu dậy ổ trong khắp khu vườn và tiếng gà gáy trong buổi sáng tinh mơ đã đánh thức tôi dậy. Nhà mở cửa từ bao giờ để đón ánh nắng ban mai tràn ngập căn nhà. Tiếng chú Tám đằng sau chái hè nói vọng ra: Dậy rửa mặt, rồi ăn sáng để chú đưa cháu về cho kịp con nước ròng.

Tôi đứng dậy cuốn mùng, ra sàn nước rửa mặt, rồi đi thẳng ra sau vườn viếng mộ bạn lần cuối cùng. Cơn mưa đầu mùa đêm qua làm mặt đất trở nên ẩm ướt và bốc hơi như sương mù, ngưng đọng thành hàng triệu triệu những hạt nước li ti bám trên cỏ cây, hoa lá trong vườn. Tôi ngồi xuống trước mộ bạn, lấy tay lau nước mưa còn đọng trên di ảnh của nó. Tôi khấn: Khi tao sang Mỹ được rồi, tao sẽ thay mầy phụng dưỡng chú Tám cho đến hết tuổi già!

Tôi trở vô nhà ăn sáng với thức còn lại sau bữa cơm chiều hôm qua. Chú Tám rót nước trà vào trong cái tách, đưa cho tôi, nói:

– Uống nước trà nóng cho ấm lòng! Chú bơi xuồng đưa cháu ra chợ Cái Răng!

– Thôi, khỏi đi chú Tám! Con đón tắc ráng trở ra chợ được rồi mà!

– Nói gì đón tắc ráng, chú giọng buồn buồn, tiếp: Tại chú muốn đưa con thêm một đoạn đường nữa. Chia tay nhau lần nầy, biết bao giờ mới gặp lại con!

– Đằng nào rồi cũng chia tay! Chú cháu mình từ giã nhau ở bến sông sẽ đở buồn hơn! Tôi an ủi, rồi đưa chú một món quà đã chuẩn bị trước: À, con có một món quà nho nhỏ tặng chú đây. Mong chú đừng từ chối!

– Con cho chú cái gì đây? Chú vừa nói, vừa mở gói quà gói trong tờ giấy báo, đó là hai khâu vàng y. Chú đưa trả lại tôi, nói: Con mới ra tù, giữ lấy hai chỉ vàng để xoay sở. Anh Ba vừa cho chú 10 ngàn đồng, xài cả năm cũng chưa hết mà con.

– Chú cứ giữ lấy, dành khi hữu sự có mà xài, tôi nói: Cuối tháng nầy con vượt biển rồi. Nếu may mắn tới trại tỵ nạn, anh Hoàng sẽ tiếp tế tiền bạc cho con ngay. Chú đừng có lo mà.

Nghe tôi nói, chú miễn cưỡng nhận hai khâu vàng nầy để dành hộ thân. Chú đưa tôi ra bờ sông Ba Láng đón tàu. Khoảng 15 phút sau, một chiếc tắc ráng cập bến. Chú ngậm ngùi tiễn tôi bước xuống tàu. Chiếc tắc ráng từ từ trôi xa, tôi thẫn thờ quay đầu nhìn lại. Chú Tám vẫn còn đứng yên trên cây cầu ván trông theo con tàu, bàn tay khẳng khiu ve vẩy trong nắng sớm. Đó là những cái vẩy tay chào vĩnh biệt. Tôi sẽ chẵng bao giờ gặp lại chú Tám Đông nữa…

Bốn năm sau đó. Tôi nhận được thư của bác Ba từ Việt Nam gởi sang Mỹ báo cho tôi một tin buồn. Mùa hè vừa qua. Chú Tám lên Sài Gòn thăm bác Ba, ông bạn già thân thương, lần sau cùng để chào từ giã, trước khi chuẩn bị một chuyến đi xa. Chú trở về làng nhờ người bốc mộ thím Tám và hai con. Hài cốt của ba mẹ con được chú gói ghém cẩn thận trong manh chiếu mà chú nằm hàng ngày. Và đó cũng là hành trang duy nhất mà chú mang theo trong cuộc hành trình về nơi vĩnh cửu.

Nửa đêm về sáng. Trong lúc mọi người đang say ngủ, chú Tám chất củi khô đầy nhà, rồi nổi lửa đốt nhà. Ngọn lửa cháy bùng lên thật mãnh liệt, chú Tám Đông ôm chặc hài cốt của vợ con vào lòng, tự thiêu trong lửa đỏ. Bọn chính quyền cộng sản địa phương vừa hay tin nhà chú phát hỏa, liền vội vàng kéo đến, ngăn chận không cho đồng bào chửa cháy. Vài giờ sau, khi ngọn lửa gần tàn. Một cơn mưa giông bất ngờ dội xuống làng Ba Láng. Mưa như trút nước từ trên trời xuống. Tro tàn hài cốt của họ quyện vào nhau, cuốn theo nước mưa, thoát ra dòng sông Ba Láng, trôi đi khắp bốn phương trời. Và một mảnh vườn con cùng với cái nền nhà ám khói bị bọn cán bộ cộng sản địa phương tranh nhau chiếm làm của riêng. Thế là xong!

Cái chết của chú Tám Đông làm cho bác Ba thay đổi ý định. Bác trở về quê bác gái ở làng Long Tuyền – Bình Thủy, sống cho hết tuổi già để được chôn bên cạnh mộ bác gái. Và cứ thế mỗi năm, nhân ngày giỗ của chú Tám, bác Ba đều trở về dòng sông Ba Láng, thắp những ngọn đèn lồng, thả trôi theo dòng sông để tưởng nhớ đến họ.

Chú Tám Đông ơi! Chắc có lẽ bây giờ chú đã gặp bác Ba của cháu ở một nơi nào đó trong cõi thiên đường. Cháu hy vọng rồi sẽ có một ngày, quê hương yêu dấu của chúng ta sạch bóng loài cộng nô buôn dân, bán nước. Nhất định, cháu sẽ đưa Lương Hiếu, vợ con, và thằng con trai duy nhất Lê Lương Trường Thọ trở về quê cha, đất tổ góp một bàn tay xây dựng lại Tổ Quốc Việt Nam. Và mỗi năm, nhân vào ngày giỗ của chú. Con hứa sẽ trở lại dòng sông Ba Láng, thắp sáng những ngọn đèn lồng, thả trôi theo dòng nước để tưởng nhớ chú, thím và thằng Tây…

NGUYỄN VĨNH LONG HỒ

This entry was posted in Nguyễn Vĩnh Long Hồ, Truyện ngắn and tagged . Bookmark the permalink.

2 Responses to BÊN DÒNG SÔNG BA LÁNG (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

  1. Tuyen Nguyen says:

    Cau chuyen hay. Cam on

    Like

  2. gary nguyen says:

    Cau chuyen hay…, ket thuc buon nhung day y nghia. Thuong qua Viet Nam Cong Hoa va nhung thang ban Nam Ky cua ngay xua con be. Cam on anh NVLH cho chung toi tim lai duoc nhung ky niem cua thuo con nit coi truong tam song tren dong song cua mien dong bang Nam Bo…

    Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s