Phiếm: HỒN ANH BA DU (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

Trại tỵ nạn Galang II tại Indonesia vào đêm 30 Tết Nguyên Đán Bính Dần (1986). Anh em chúng tôi, một nhóm tù cải tạo và một vài bạn cùng đơn vị lính Miền Tây cùng ngồi quay quần bên nhau uống cà phê, nghe nhạc tiền chiến trong một cái quán cà phê nằm chênh vênh trên một mô đất khá cao như một ngọn đồi thấp để chờ đón năm mới, nhưng chỉ đến 10 giờ đêm thì tản hàng, ai về barrack nấy để nằm trong mùng đón giao thừa…vì quán phải đóng cửa theo đúng qui định của trại tỵ nạn Galang. Đó là một cái Tết tha phương trên hòn đảo xa xôi thật buồn vì nhớ quê hương.

Cái quán cà phê nhỏ bốn bề gió lộng, cơn mưa phùn lất phất bay bay, ánh sáng của ngọn đèn điện vàng vọt hắt hiu không đủ soi sáng những gương mặt u buồn của mọi người. Tiếng nhạc lời ca của vài cô ca sĩ ở hải ngoại không đủ át tiếng thở dài của những người lính một thời chinh chiến giữ nước rồi bị tù đày. Để phá tan sự yên lặng, Trung úy Thới thuộc Sư Đoàn 21/BB, người gọi bạn Sỹ bằng “ông thầy” , anh kể lại cuộc phiêu lưu của anh ta cho anh em nghe. Lúc đó, tôi chỉ cười, nhưng không tin gì cho lắm…

Câu chuyện do Trung úy Thới kể như vầy:

Vào tháng giêng năm 1985. Tôi (Trung úy Thới) móc nối được với một tổ chức đưa người vượt biển tìm tư do tại cửa biển Sông Ông Đốc. Con sông nầy bắt nguồn từ ngã ba sông Tắc Thủ, nơi tiếp nhận nước từ con sông Cái Tàu và sông Trèm Trẹm rồi đổ ra vịnh Thái Lan. Tôi được người trong tổ chức đưa đến thị trấn sông Ông Đốc thuộc thành phố Cà Mau vào khoảng cuối tháng đó, chờ đủ người sẽ ra khơi. Không may, vì biển động nên chuyến đi phải trì hoãn lại. Ban đêm, chúng tôi gồm 12 người được phân tán từng nhóm nhỏ 3, 4 người, ngủ trên những chiếc ghe đánh cá, cắm sào dọc theo theo bờ sông Ông Đốc để tránh tụi công an biên phòng xét hộ khẩu.

Ba hôm sau, biển lặng và trời tối đen như mực, chúng tôi được các ghe nhỏ đưa lên tàu đánh cá lớn đậu ngoài khơi. Khi tàu vừa mới chạy ra cách bờ biển độ chừng 2 km, bất ngờ bị một số người “canh me” từ các chiếc tắc ráng đuổi theo, họ tranh nhau phóng lên tàu khoảng hơn 20 người nữa. Tàu quá tải vì người quá đông, chỉ chạy được thêm 1 km nữa thì bị sóng biển nhồi, lật chìm, nạnh ai nấy bơi vào bờ.

oOo

Tôi tuy là dân Miền Tây nhưng bơi lội kém lắm, bị sóng lưỡi búa ập vào mặt sặc sụa đến khó thở; vì vậy, chỉ biết thả ngửa thân mình trôi bập bềnh theo con sóng đẩy đưa, tới đâu thì tới. Cũng may nhờ trời độ, khi trời vừa rạng đông, tôi trôi tấp vào bờ biển. Phía trước mặt tôi là đám rừng sác ngập mặn bạt ngàn, xanh ngắt một màu, cây mắm, dừa nước, chà là, nhiều nhất là cây đước. Bổng tôi nghe tiếng tàu tuần của bọn công an biên phòng chạy xìn xịt phía xa xa, tôi bèn trườn nhanh vào khu rừng sác ẩn núp. Hồi lâu, nghe có tiếng rìu đốn gỗ đước, gần chỗ tôi trốn không xa lắm, nên tôi đánh liều tiến về hướng đó quan sát cho kỹ. Tôi đếm được tất cả 6 người đàn ông, đầu quấn khăn rằng, bộ áo bà ba màu đen ướt đẵm nước bùn, đang lui cui kéo gỗ chất thành đống. Tôi đoán họ là dân đốn gỗ lậu, chớ không phải bộ đội hay dân quân du kích gì cả, nên tôi mạnh dạn đi về phía họ để nhờ giúp phương tiện vọt về thành phố. Vừa trông thấy tôi, họ giật mình, bỡ ngỡ, hỏi:

-Ông bạn là ai? Tới đây làm gì, vậy cha?

Tôi chưa kịp trả lời, một người trong bọn họ cười, hỏi:

– Vượt biên, chìm tàu hả, đúng không?

Tôi gật đầu thì một người khác nhào tới, ôm tôi chặt cứng, mừng cuống lên, nói:

-Ê, ông thầy! Em là thằng Thà, lính của ông thầy đây nè, nhớ chưa?

Ở vào hoàn cảnh tôi trong lúc nầy mà gặp được người lính trong đơn vị chiến đấu của mình năm xưa, phải biết là mừng gần chết. Tôi nói:

-Anh nhớ ra em rồi, binh I Lê văn Thà thuộc tiểu đội 1, trung đội 2 do tôi làm trung đội trưởng, đúng vậy không?

-Đúng y chang! Thà nhìn tôi, hỏi: Bộ thầy vượt biển, chìm tàu thiệt hả?

Tôi gật đầu, rồi hỏi lại:

-Đây là đâu vậy, Thà? Gần cửa sông Ông Đốc không?

-Khu rừng sác ngập mặn nầy nằm khoảng giữa không sông Ông Đốc và sông Đồng Cùng, Thà kéo tay tôi lại, giới thiệu với mấy người bạn: “Đây là trung úy Thới, xếp cũ của tao. Ông thầy tao ngày xưa chịu chơi lắm, sống chết có nhau, không bao giờ bỏ anh em. Bây giờ ổng gặp nạn, bằng giá nào tao cũng phải cứu ông thầy. Tụi bây nhớ giữ kín chuyện nầy nghen.”

Một người trong bọn họ, nói:

-Chuyện dĩ nhiên rồi còn phải hỏi, cha nội!

Sau khi tay bắt mặt mừng với mọi người xong. Một người trong bọn họ, lên tiếng đề nghị với Thà:

-Mình ở đây đốn gỗ đã 3 ngày rồi, số tràm và đước nghĩ cũng đủ. Thôi, mầy chống xuồng, đưa ông Thầy về nhà nghỉ ngơi đi, công việc còn lại để tụi tao lo! Cần tao giúp chuyện gì, nói cho tụi tao biết.

-Ờ, vậy cũng được! Thôi, mình về nhà đi ông thầy!

Thà chợt nhớ đến một người, hỏi.

-Còn ông thầy Sỹ? Nghe nói ổng đi tù cải tạo ở miền Bắc về rồi. Có thằng bạn cùng đơn vị, nó gặp ổng ở Cần Thơ và đi nhậu với ổng nữa. Không biết có đúng như vậy không hả, ông thầy?

-Tao nghe nói là ổng vừa đánh một chuyến ở cửa sông Gành Hào. Nhưng, chuyến đó bị bể ổ, ông thầy vọt được bình an vô sự.

Thà nói:

-Để em cho người lên Cần Thơ tìm cách liên lạc với ổng, nếu còn muốn vượt biên thì xuống Cà Mau, tụi nầy sẽ giúp ông thầy hết mình.

Thà là người nhiệt tình và mau mắn. Ngày hôm sau, Thà cho người nhà lên Cần Thơ tìm đến nhà Sỹ thì nhận được mừng là ông thầy Sỹ đã vọt tới trại tỵ nạn Galang rồi. Tình huynh đệ chi binh có khác!

oOo

Phải mất gần 3 tiếng đồng hồ bơi xuồng theo các con rạch nhỏ chằng chịt trong khu rừng sác mới tới vàm rạch Rắn, nơi tiếp giáp với con sông Ông Đốc. Ngôi nhà của Thà nằm trên vàm rạch. Cơm nước xong, Thà hỏi tôi:

-Bây giờ, ông thầy muốn em đưa ra thành phố Cà Mau để trở về gia đình hay ở nán lại đây chờ đánh chuyến khác? Thà nói trấn an tôi: “Ông thầy đừng lo gì cả, thằng A Mành, em vợ của em, nằm trong một tổ chức đưa người vượt biên vùng quận sông Ông Đốc. Đánh chuyến nào lấy ăn chuyến đó!”

-Tôi muốn lắm chớ sao không? Nhưng, tôi ngập ngừng, hỏi: “Chỉ sợ làm phiền đến gia đình anh về vấn đề hộ khẩu; vả lại, tôi đâu còn vàng để trả cho A Mành.”

-Ông thầy cứ yên tâm ở đây, đố cha thằng công an nào dám xét hộ khẩu nhà nầy. Còn tiền bạc không thành vấn đề. Qua Mỹ rồi trả cho nó sau cũng được mà, ông thầy!

-Bộ A Mành là VC thứ gộc hả? Tôi ngạc nhiên, hỏi.

-Thằng đó mà VC con mẹ gì!

Thà cười, nói tiếp:

– Em kể sơ sơ cho ông thầy nghe, cơ may nào nó trở thành người có thế lực vùng nầy.

Thà kể chuyện như thế nầy:

Thiệt tình mà nói, hai thằng em vợ của tôi: Thằng anh tên A Thoòng và em tên A Mành. Cả hai đứa nầy, cha Tàu, mẹ Việt gốc Miên, thuộc dạng “xấu dây, tốt củ” . Đến đỗi năm 1980, A Thoòng đến tuổi thi hành nghĩa vụ quân sự, tên bác sỹ VC khám sức khỏe cho hắn cũng không biết xếp nó vào hạng gì. Cuối cùng, ghi vào hồ sơ của nó: “Phần từ rốn trở lên: miễn thi hành nghĩa vụ vĩnh viễn; còn phần từ rốn trở xuống hạng chiến đấu tiên tiến” .

Sau khi A Thoòng, gia nhập lực lượng võ trang nhân dân, nó được điều về thiền viện do đồng chí ni sư Huỳnh Liên trụ trì, phụ trách công tác hộ lý (xin hiểu nghĩa trong sáng). Nữ tướng Nguyễn thị Định cũng thường đến thiền viện đàm đạo cùng Bà Huỳnh Liên. Nhưng, chỉ được một năm thì gia đình nhận được giấy báo tử: “Đồng chí A Thoòng đã anh dũng hy sinh tại thiền viện trong lúc đang thi hành nhiệm vụ vào ngày…” . Nhiệm vụ gì ghê gớm dữ vậy cà?

Năm năm sau đó, A Mành tới tuổi thi hành nghĩa vụ, nó sợ quá, vọt về dưới nầy lánh nạn với vợ chồng Thà, vì phần từ rún trở xuống của A Mành cũng “nặng ký” không thua A Thoòng. Người dân miệt dưới nầy nói đùa rằng: Có một lần, nó đi qua cây cầu khỉ trợt chân té xuống con Rạch Rắn, phần trên rớt xuống nước chỉ nghe một cái “tủm” , còn phần dưới rốn nghe một cái “ầm” , nước văng tung tóe thì phải biết…

Về ở dưới nầy được vài tháng, bà xã tôi chết vì tai nạn chìm xuồng. Còn thằng Mành được móc nối vào trong tổ chức đưa người vượt biển do bà Tám D. cầm đầu; mặc dầu, lúc đó đã ngoài ngũ tuần, nhưng trông vẫn còn mát da, mát thịt lắm. Nghe nói, bà nầy là một trong những bà vợ bé của đương kim Tổng bí Thư Lê Duẩn làm sao tụi công an biên phòng dám đụng tới? A Mành nhờ cái mã khá đẹp trai, lanh lợi làm được việc, nên được bà ta tin cậy, đem về nhà làm quản gia, trông trước, trông sau trong lúc bà ta vắng mặt.

Năm 1986. Sau khi hay tin Lê Duẩn chết, bà Tám D. khóc lóc thảm thiết, cũng để tang cho Lê Duẩn. Bà nầy vốn mê tín dị đoan, bảo A Mành về Sài Gòn mời cho được bà đồng cốt trứ danh xuống huyện sông Ông Đốc để cầu hồn Lê Duẩn cho bà trút tâm sự não nề thân phận làm lẻ.

Lên đến Sài Gòn, A Mành nhờ người giới thiệu nên tìm được một cô đồng bóng năng lực siêu phàm, có thể giao tiếp với người cõi âm, trục hồn người chết để thân nhân nói chuyện. Trả tiền theo thời lượng, cứ một đêm lên đồng bắt đầu từ 12 giờ khuya, giá tối thiểu là một cây vàng. Sau khi ngã giá, A Mành dẫn cô đồng về sông Ông Đốc để phục vụ theo mục đích yêu cầu của bà Tám D.

Đúng nửa đêm hôm đó. A Mành động tánh hiếu kỳ bèn rón rén đi đến phòng ngủ dành cho khách vãng đặc biệt của bà Tám D. để quan sát và nghe ngóng. Trong phòng rực rỡ đèn nến, khói nhang mù mịt. Một bàn thờ được trưng bày huơng án, mâm ngũ quả, hoành phi, hương án viết nguệch ngoạc bằng chữ Tàu và đồ tế lễ. Giữa nền nhà trải chiếu bông, bà Tám D. ngồi xếp bằng đối diện với cô đồng phấn son lòe loẹt, mặc áo tế xanh xanh đỏ đỏ, thêu rồng phượng, đầu phủ khăn voan hồng, mỏng lét. Cô đồng vặn cái máy “cát sét” , rồi mình mẩy uốn éo, giật giật theo điệu nhạc rốc, ráp gì đó. Độ vài phút sau, âm thanh giảm dần, cô đồng giọng the thé, hỏi:

-Chẳng hay dì nữ muốn nhờ ta trục hồn ai lên đây? Cha mẹ, chồng con?

-Dạ, con muốn cầu hồn chồng của con?

-Chồng dì nữ tên gì vậy?

-Dạ, chồng con tên Ba Du, bà Tám D. nhìn dáo dác, sợ có người nghe lén, trước khi bật mí điều bí mật: Tên thật của ổng là Lê Duẩn, Tổng bí thư Đảng CSVN, còn Ba Du chỉ là bí danh, chỉ có một mình con biết mà thôi, phải gọi như thế để tránh tai mắt của bọn tình báo Ngụy Sàigòn.

Nghe đến đây, A Mành sợ bị phát giác thì chết với bả, bèn lật đật chuồn ra nhà người bạn thân ở gần đó nhậu. Đêm đó, có lẽ uống quá chén với rượu “hải mã ngâm với tắc kè” , loại rượu ông uống mà bà khen hay. Vì vậy, khi trở về nhà, lúc đi ngang qua phòng bà Tám D. nhìn thấy bà ta đang nằm trên giường ngủ, áo quần sốc sếch, hớ hênh để lộ làn da trắng hếu dưới ánh dầu leo lét, A Mành cầm lòng không đậu, mượn rượu làm liều, vén mùng chun vô, ôm đại bà ta. Bị tấn công bất ngờ, bà Tám D. vùng vẫy kịch liệt, co chân tống A Mành một đạp văng xuống giường. Bà ta rút con dao phay dấu dưới gối, nhảy xuống đất, đè nó nằm ngữa ra, một tay nắm đầu, còn tay kia cầm con dao phay, giơ lên khỏi đầu, miệng quát:

-Mầy đó hả A Mành? Mồ tổ cha mầy, dám làm ẩu với bà hả? Bộ mầy chán sống rồi chắc? Vừa nói, vừa nhá con dao phay định chém xuống, làm A Mành sợ quá tè ướt cả quần. Nó lanh trí nói, giọng nhừa nhựa như người cõi âm: Hồn của anh Ba Du, còn cu thì của A Mành đó bà! Đừng chém, nó vô can bị vạ lây, tội nghiệp nó!

Vừa nghe đến tên Ba Du, Bà Tám D. mừng quá, la lên:

-Anh Ba Duẩn đó hả? Bà ta mừng quá, liền quăng con dao, bồng A Mành quăng lên giường một cái rầm, xé tanh bành quần áo ra, rồi nhảy chồm lên người nó như ngựa lồng… Bà ta quằm cho nó một chập tơi bời hoa lá làm mồ hôi mẹ, mồ hôi con của nó tuôn ra như tắm. A Mành hoảng kinh hồn vía, ráng hết sức bình sanh, xô bà Tám D. ngã sang một bên, ngồi bật dậy, miệng la bài hãi:

-Ông Tổng bí Thư thăng rồi! Ổng thăng rồi bà ơi!…Má ơi cứu con!…

Bà Tám D. nào dễ buông tha, đè thằng Mành nằm dài xuống giường, rồi nhào lên mình nó ôm chặt cứng, hơi thở dồn dập nóng hổi, nói:

-“Ba Duẩn thăng rồi hả? Bà Tám D. giọng hổn hển, nói: Thằng chả muốn thăng đi đâu thì thăng! Thây kệ mẹ thằng chả! Mầy thế chỗ ổng làm Tổng bí thư Đảng luôn đi cho tao nhờ! Ai lên làm Tổng Bí Thư Đảng mà có khả năng được như mầy… làm tao phê quá, tao chịu hết nổi rồi…A Mành ơi! Tới luôn đi…bác tài!…

Mấy chục năm qua rồi, không biết thân phận A Mành bây giờ ra sao? Cứ cái đà đêm bảy, ngày ba, vô ra không kể, chắc A Mành đã “tử trận” như A Thoòng, anh của nó rồi cũng không chừng!…

oOo

Sau nầy, tôi tìm hiểu thêm cuộc đời bí ẩn của Lê Duẩn rất ly kỳ. Lê Duẩn (1907 – 1986) từng là Tổng Bí Thư ĐCSVN, hắn cũng là một tay giang hồ dâm đảng giống như Hồ Chí Minh, là một trong những nhân vật lãnh đạo có trình độ học vấn kém nhất, chưa tốt nghiệp “Tiểu học” . Tánh tình của Lê Duẩn cục mịch, cọc cằn thô lỗ. Do bản chất rất tàn bạo một phần do tự ti mặc cảm thất học, nên Lê Duẩn chủ trương rất tàn bạo đối với quân, cán chính VNCH, đã làm cho cả trăm ngàn sĩ quan của QLVNCH phải chết thảm trong trại cải tạo, phơi thây giữa chốn rừng thiêng nước độc, gieo tang tóc đau thương cho gia đình họ.

Lê Duẩn người thôn Bích La, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, sinh ngày 7/4/1907 trong một gia đình sống bằng nghề đóng quan tài. Chỉ theo học hết cấp Tiểu học ở Triệu Phong. Năm 18 tuổi, Lê Duẩn xin vào làm cho Sở Hỏa Xa Quảng Trị, phụ trách công việc “bẻ ghi” , cầm cờ hiệu cho xe lửa mỗi khi vào ga. Năm 21 tuổi gia nhập “Việt Nam Thanh Niên Đồng Chí Hội” (tiền thân của ĐCSVN).

Ngày 3/2/1930, Duẩn được cử làm “Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ” . Sau cuộc khởi nghĩa “Sô Viết Nghệ Tỉnh” thất bại, bị Pháp bắt giam ở Hỏa Lò, rồi đày lên nhà tù Sơn La – Nghĩa Lộ (1931 – 1936). Duẩn được Pháp phóng thích năm 1936 và tiếp tục hoạt động. Duẩn được cử làm “Ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ (1937-1939). Năm 1939, Duẩn được vào Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng và được phái vào Sàigòn hoạt động. Lúc bấy giờ, đảng viên cộng sản ở miền Nam chỉ có một nhúm người, Nguyễn Văn Cừ là Tổng Bí Thư và Duẩn dưới quyền của Cừ. Tháng 8/1939, Toàn quyền George de Catroux ra lệnh thanh trừng tất cả đảng viên cộng sản.

Ngày 17/1/1940, mật thám Pháp bắt tại trận Nguyễn Văn Cừ, Võ Đình Hiệu, Vũ Thiên Tân và Lê Duẩn đang họp tại con hẻm số 19 đường Nguyễn Tấn Nghiệm (nay là Trần Đình Xu). Hai ngày sau, Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập cũng bị tóm cổ ở Phan Thiết. Lúc đó, Nguyễn Thị Minh Khai cũng bị sa lưới mật thám Pháp ngày 30/7/1940 tại Hóc Môn.…Lê Duẩn bị Tây đày ra Côn Đảo từ 1940 – 1945.

Vào tháng 9/1945, sau khi Nhật đầu hàng, thì Lê Duẩn rời khỏi Côn Đảo. Kế đó ít tháng, Duẩn được HCM gọi ra Hà Nội nhận chỉ thị. Khi cuộc chiến tranh Việt – Pháp lan rộng ở Nam Kỳ, HCM cử Lê Duẩn với chức vụ Bí Thư Xứ Bộ Nam Kỳ (1946) đi vào Nam. Cùng đi với Lê Duẩn có Lê Đức Thọ để lãnh đạo cuộc kháng chiến. Đến năm 1951, khi Trung ương Cục Miền Nam được thành lập, Lê Duẩn được cân nhắc lên làm Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam. Từ đó, Lê Duẩn vào Nam ra Bắc như con thoi: nào là “rèn quân, chỉnh cán” , nào là kiểm thảo…

Năm 1954, sau khi Hà Nội và Pháp ký Hiệp Định Geneva, thì Duẩn được cài ở lại miền Nam, nằm vùng tại một căn nhà thuộc khu Bàn Cờ, đường Phan Đình Phùng. Để phát động cuộc chiến tranh mới, Lê Duẩn sử dụng một thông hành của một thương gia Tàu, do người vợ hờ tên LKD giới thiệu. Lê Duẩn lợi dụng bà nầy, vì bà ta là vợ chính thức của một thương gia giàu có, vừa làm kinh tài cho cộng sản, mà lại được hưởng phúc “cơm no bò cỡi” . Với thông hành hợp pháp, Lê Duẩn đi đường bộ qua Nam Vang, rồi đáp máy bay Air Azur của Pháp đi Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam, Trung Hoa. Tới đây, Duẩn đổi máy bay về Hà Nội lãnh chỉ thị xong, Lê Duẩn lại đội lốt một sĩ quan liên lạc của Bắc Việt, tháp tùng máy bay của Ủy Hội Kiểm Soát Đình Chiến trở lại Saigon. Sau đó, Lê Duẩn lén về Phụng Hiệp, rồi bí mật trốn ra mật khu ở Cà Mau và Lê Duẩn gặp cô Tám D. tại đây…

Cô Tám D. chính là cánh tay mặt của Nguyễn Truyền Thanh (bí danh Bảy Lý) sinh năm 1907 tại xã Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ, làm bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ thừ tháng 8/1946 đến tháng 6/1948. Lúc đó, bà Tám D. độ 18 tuổi đã giữ chức “Chủ tịch Ban Chấp Hành Phụ Nữ tỉnh Cần Thơ” . Mùa xuân năm 1948, Lê Duẩn tình cờ gặp nàng tại một phiên họp của Đại Biểu Phụ Nữ Cứu Quốc Nam Bộ tại mật khu ở Cà Mau, nằm tại ấp Thới Mỹ, khoảng giữa Kinh Xáng – Chắc Băng thuộc quận Thới Bình. Lúc đó, Lê Duẩn đã ngoài 42 tuổi vẫn còn mê tít thò lò em Tám D. Hai người lén lút ăn ở với nhau, nhưng không dám chính thức ra mặt, vì kẹt chế độ “4 KHOANG” do bác Hồ đề ra: “Khoang yêu” , “Yêu khoang cưới” , “Cưới khoang đ……” , “Lỡ đ……thì đừng đẻ” .

Vì vậy, sau khi CSBV cưỡng chiếm MNVN, bà vợ chính thức của Lê Duẩn tên Cao Thị Khê, quê ở Quảng Trị được Ba Duẩn cưới lúc 20 tuổi. Nghe nói, bà vợ nầy có máu ghen kinh khủng. Lê Duẩn mà mê ai là người đàn bà phải chết bất đắc kỳ tử. Còn bà vợ chính thức thứ hai là Võ thị Sảnh, người Quảng Nam, con gái của ông Võ văn Kính. Ông Kính là công nhân hỏa xa, đồng nghiệp với Lê Duẩn ở Quảng Trị, bà nầy cũng thuộc loại “chằn ăn trăn quấn” . Võ thị Sảnh gia nhập Đảng Cộng sản năm 1948, xâm nhập vào hàng ngũ Việt Nam Quốc Dân Đảng để mật báo cho Trần Văn Trà lúc đó làm Tư lệnh Quân Khu 4; vì vậy, mà bà Tám D. tránh gặp mặt anh Ba Duẩn cũng phải thôi…”né con sư tử cái và con cọp cái chẳng xấu mặt nào”.

oOo

Ngày 18/1/2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến dự khánh thành “Đền thờ cố TBT Lê Duẩn” tại hồ Kẻ Gỗ, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu lãnh đạo nhiều bộ, ngành Trung ương và quan chức Hà Tĩnh cùng đông đảo người dân trong vùng đã đến dự. Được sự thống nhất của gia đình, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ tỉnh Hà Tỉnh đã quyết định xây dựng đền thờ cho Cố Tổng Bí Thư Lê Duẩn tại hòn đảo giữa lòng hồ Kẻ Gỗ từ năm 2011. Sau 3 năm đầu tư xây dựng đến nay, đền thờ đã hoàn thành và trở thành địa chỉ văn hóa tâm linh hấp dẫn. Để tỏ lòng thành kính và tri ân công lao to lớn của Cố Tổng Bí Thư Lê Duẩn, người dân Hà Tĩnh đã long trọng treo một bảng gỗ sơn son, chữ vàng ngay trước cổng ra vào đền thờ Tổng Bí Thư Lê Duẩn: “TA ĐÁNH MỸ LÀ ĐÁNH CHO LIÊN XÔ, TRUNG QUỐC” .

Thành thật mà nói, trên toàn thế giới chỉ có những tên lãnh đạo “đại ngu” như Hồ Chí Minh và Lê Duẩn, cùng với đồng bọn trong ĐCSVN đều thất học, dốt nát, ngu si đần độn đem nướng cả thế hệ Việt Nam trên 4 triệu người trên ngọn lửa hung tàn của chiến tranh, để phục vụ cho quyền lợi cho hai tên Đế Quốc Liên Xô và Trung Cộng. Và ngày hôm nay, tập đoàn lãnh đạo ĐCSVN chết tiệt với “ĐỈNH CAO TRÍ LỢN” , sau 39 năm cai trị đất nước bằng luật lệ rừng rú, bằng sức mạnh bạo lực, súng đạn, roi điện, còng số 8, ngục tù, tước đoạt những quyền tự do căn bản của con người như tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do biểu tình…bắt bớ, giam cầm những người bất đồng chánh kiến, những người dân yêu nước biểu tình chống bọn Hải quân Trung Cộng, những tên cướp biển Somalia trên Biển Đông, điển hình là vụ Giàn khoan HD-981 vừa xảy ra mới đây.

Chế độ CHXHCNVN quả là một chế độ kinh dị, nó được ĐCSVN xây dựng bằng xương máu, mồ hôi nước mắt của giai cấp công, nông vô sản, bốc lột nhân dân đến tận xương tủy. Oán hờn chồng chất, tức nước phải vỡ bờ, thầy tu cũng đứng lên, thật thà chất phác như đồng bào Tây nguyên cũng nổi dậy, nông dân vốn chịu đựng giỏi cũng phải vùng lên, khiếu kiện đòi lại ruộng đất mà bọn cường hào ác bá địa phương, là lãnh chúa một vùng, quyền hành một cõi, tha hồ tác oai, tác quái. Nạn quan liêu cửa quyền gần như hết thuốc chữa. Bạo quyền CS dung túng bọn CAND tra tấn trẻ con, đánh đập cả ông già, bà cụ…không chừa một ai cả. Tham nhũng đã trở thành “QUỐC SÁCH” có hệ thống vững chắc như thành đồng từ “thượng tầng kiến trúc” đến “hạ tầng cơ sở” . Ai tố cáo tham nhũng thì bị chụp mũ phản động, không đi tù cải tạo thì cũng đi tù mọt gông. Những tên chóp bu ĐCSVN như Lê Khả Phiêu, Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Nguyễn Minh Triết, Nông Đức Mạnh, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng…đều trở thành những “tỷ phú đô la” .

Bạo quyền CSVN không tạo được sự đoàn kết dân tộc, thống nhất quốc gia, nhưng không thống nhất được lòng người vì bọn quan cộng sản gốc miền Bắc XHVN cai trị dân MNVN còn tệ hơn thời Thực dân Pháp. Tất cả đặc quyền, đặc lợi của quốc gia đều nằm trong hệ thống quản lý của các tên “Tư bản Đỏ” và gia đình họ. Nông dân vốn đã nghèo còn bị chính quyền lấy cớ “khu quy hoạch” cướp hết ruộng đất, nhà cửa, càng nghèo xác xơ hơn…có một số người phải vay mượn tiền vay, bạc hỏi để giành một chỗ bán thân, đi “xuất khẩu lao động” làm nô lệ cho ngoại bang.

Tập đoàn lãnh đạo ĐCSVN trong thế cùng lực kiệt bị bọn bành trướng, bá quyền Bắc Kinh chèn ép quá đáng. Vì không còn nội lực dân tộc nên phải dựa vào sự bảo hộ của bọn chệt Bắc Kinh để duy trì quyền lực thống trị. Bọn thái thú Hà Nội đã đặt quyền lợi ĐCSVN lên trên quyền lợi Tổ Quốc và Dân Tộc, nên lũ chúng nó không ngần ngại bán nước cầu vinh, bám giữ quyền lực, hầu bảo vệ tài sản kết sù lên đến hằng chục tỷ Mỹ kim. ĐCSVN đã hiến đất, dâng biển của Tổ quốc cho Trung Cộng lên đến con số mà ai cũng phải đau lòng xót dạ và lòng tràn đầy uất hận:

[1] CSVN đã cắt đất nhượng cho TC một dãy đất từ 2 km đến 12 km dọc theo đường biên giới dài khoảng 13.000 km. Như vậy, tổng cộng diện tích đã mất từ 2.600 km2 đến 15.000 km2.

[2] Sau cuộc chiến tranh biên giới Việt – Hoa năm 1979, TC chiếm thêm một số lãnh thổ nữa. Như vậy, TC đã chiếm lĩnh và kiểm soát hầu hết các cao điểm chiến lược miền Thượng Du Bắc Việt. Còn đâu Ải Nam Quan, thác Bản Giốc? Còn đâu ngọn đèo Pha Lũy, cao điểm chiến lược mà Tổ tiên ta dùng để canh giữ quê hương, ngăn chận các cuộc xâm lăng của kẻ thù truyền kiếp Bắc phương.

[3] Lòng dân uất hận lên đến cực điểm, khi bọn lãnh đạo ĐCSVN Mạnh, Lương, Triết và Dũng dâng nốt Cao nguyên Trung Phần cho TC qua dự án khai thác “Bauxite” , một vị trí chiến lược tối quan trọng cuối cùng của Việt Nam.

[4] ĐCSVN đã cho nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn 50 năm với tổng diện tích 305.3533 ha, trong số nầy có Tàu Hồng Hồng Kông, Tàu Đài Loan và Tàu Đại Lục chiếm trên 264.000 ha hay 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới. Đây là hiểm họa cực kỳ to lớn, liên quan đến an ninh nhiều mặt của quốc gia mà mất của cải còn có cơ hội làm lại được, còn mất đất là mất hẳn.

[5] Với lằn ranh trung tuyến mới áp dụng tại Vịnh Bắc Việt thay thế đường Brévié thì vùng biển Việt Nam bị mất có thể ước tính từ 10% đến 16% (khoảng 12 tới 20.000 km2).

[6] Chuyện mới vừa xảy ra, ngày 25/6/2014, Công ty Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh do Tàu Cộng đầu tư, vừa yêu cầu gởi lên Chính phủ đề xuất đòi thành lập đặc khu tự trị kinh tế gang thép “FORMOSA HÀ TĨNH” với sự tiếp tay của tên Phó Thủ tướng gốc “Chệt rặc” Hoàng Trung Hải, muốn biến Việt Nam thành lãnh thổ “DA BEO” do bọn Bắc Kinh kiểm soát từng phần, trước khi biến Việt Nam thành một quận, huyện của Trung Cộng. Formosa Hà Tĩnh dự kiến số lượng nhân viên đạt tới 15.000 công nhân Tàu khựa, nếu tính cả thân nhân của họ là khoảng 60.000 người, kể như Vũng Áng, Hà Tĩnh sẽ trở thành một Thị trấn gần như Đặc khu Tàu Khựa do Bắc Kinh làm chủ thì còn gì là “Chủ quyền Quốc Gia” ?

Trước đây, tôi có viết một bài “Xin đừng gọi bác Hồ là tên chó đẻ” , vì đặt bác Hồ ngang hàng với giống chó là vô tình xúc phạm đến danh dự họ hàng nhà chó. Có một vài độc giả đề nghị với tôi, nên gọi bác Hồ là đồ “LỢN ĐẺ” vì bộ óc của bác Hồ đặc sệt như tàu hủ, ngu ngốc, đần độn còn hơn giống “LỢN” . Chẳng những HCM, Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh, Nông Đức Mạnh… và tập đoàn lãnh đạo Hà Nội hiện nay, bè lũ 4 tên: Trọng Lú, Sang Ngu, Dũng ngốc, Hùng khờ… đều là cá mè một lứa: “ĐỈNH CAO TRÍ LỢN” , cả bè lũ 4 tên chúng nó, không ăn cơm, chỉ ăn cám sú “Product of China” nên sợ bọn chủ chăn Bắc Kinh còn hơn ông cố nội của chúng nó……Ngày Quốc Khánh của Trung Cộng, mắc mớ gì đến Việt Nam mà Đảng và chính phủ Việt Nam ép buộc dân phải treo cờ mừng ngày Quốc khánh 1 tháng 10 của Trung Cộng?

Cũng đúng thôi! Vì chỉ có giống lợn khi nó còn sống bị thiên hạ chửi, nhưng khi nó chết, trở thành con heo quay được thiên hạ đặt lên bàn thờ thắp hương khấn vái như điên. Trong dân gian nước ta, có lưu truyền một câu đố khá hay: “Con gì khi sống bị người ta chửi rũa nó thậm tệ, nào là “đồ bị thịt” hoặc “đồ ngu như lợn” . Nhưng, khi nó chết, người ta lại thắp hương khấn vái, lạy lục nó?” Câu trả lời chính xác là “con lợn” .

Tuy nhiên, nó chỉ bị thiên hạ chửi lúc khi còn sống và khi nó bị thọc huyết, đút lò…trở thành con heo quay được thiên hạ đặt lên bàn thờ thì địa vị của con lợn được đặt ngang hàng với Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và nữ tướng Nguyễn Thị Định…đó là lý do bọn thái thú Hà Nội đã xây lăng cho Hồ Chí Minh, lập đền thờ cho Lê Duẩn và đền thờ cho cả Nguyễn Thị Định tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre để cho thiên hạ đến đốt hương khấn vái giống như những con…heo quay!

Nghe thiên hạ đồn rằng, ĐCSVN chuẩn bị xây lăng cho cựu Tổng Bí Thư Đỗ Mười sắp đi trình diện bác Hồ một ngày gần đây. Lăng của cụ cũng rất “hoành tráng” không giống như lăng bác, kiến trúc giống như một cái chuồng lợn vĩ đại và theo lời trối của cụ Đỗ Mười thì nên thả vài con heo nọc chạy tung tăng trong lăng để cụ nhớ lại nghề xưa… tổ sư “hoạn lợn” của Việt Nam.

NGUYỄN VĨNH LONG HỒ

This entry was posted in Nguyễn Vĩnh Long Hồ, Vui cười-Phiếm-luận. Bookmark the permalink.