MÉKONG SÓNG CUỘN PHÙ SA : chương 9 (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

normal_Angkor_CambodiaCHƯƠNG CHÍN
HAI RỒNG ĐI VÀO ĐẤT MIÊN DỌ THÁM

Nghe cái đồng hồ treo tường gõ một tiếng “boong” khô khan ngân dài, mới đó đã một giờ trưa. Hai Rồng đứng dậy xin phép mọi đi ra ngoài lo chuẩn bị phương tiện và hành trang để vượt sang biên giới, đi vào vùng đất địch dọ thám. Vừa thấy tía bước ra khỏi cửa, thằng Bền vội vã chạy đến, nói:

-Tía cho con đi theo với! Thằng Tư Kê đi với tía con không yên tâm chút nào hết! Có thằng tướng dở đi theo, dầu sao cũng đở ông tướng hay mà tía!

Hai Rồng cảm động, nói:

-Con đi theo, lở như có chuyện gì xảy ra, chỉ làm tía vướng bận tay chân chớ có ích gì. Bảo vệ cho cháu Tư Kê đã là một chuyện khó khăn rồi. Thôi, con lo việc huấn luyện mấy anh em lực điền thay cho tía cũng tốt. À, con đi theo tía xuống ghe, tía có vật nầy muốn giao lại cho con.

Xuống tới ghe, Hai Rồng dỡ tấm ván ghe, lấy dưới khoang lên một cái hộp gỗ lên nước đen bóng, nắp cẩn xà cừ rất đẹp, dài khoảng 6 tấc. Bền hỏi:

-Hộp gỗ nầy đựng bảo vật gì vậy, tía?

Hai Rồng mở nắp hộp, lấy ra hai thanh đoản kiếm nằm trong vỏ bọc bằng da thuộc. Hai Rồng nói:

-Với hai thanh đoản kiếm nầy, tía tung hoành ngang dọc từ sông Tiền đến sông Hậu, từ miền Lục tỉnh tới Sài Gòn, trừ Việt gian, diệt cường bạo, cứu khổn phò nguy. Ngày nay, nhìn thấy con đã trưởng thành, tía rất vui mừng. Tía muốn tặng lại cho con một thanh đoản kiếm để phòng thân, coi như là kỷ niệm của tía truyền lại cho con.

Bền đở lấy, tuốt kiếm ra khỏi vỏ bọc, cầm ngang thanh kiếm để gần cái phên cửa sổ để cho ánh nắng chói chan ban trưa soi lên, lưởi kiếm thật mỏng, phản chiếu ánh sáng màu sắc xanh lạnh và nổi bật hoa văn thật đẹp. Bền khẻ bún ngón tay vào lưỡi đoản kiếm, nó run lên và phát ra tiếng “keng” âm thanh ngân dài như tiếng chuông ngân. Bền nói:

-Đây là thanh bảo kiếm hiếm có, tía giữ lấy để chiến đấu với kẻ thù. Tài nghệ của con không đủ sức để bảo vệ nó. Để thanh đoản kiếm nầy lọt vào tay kẻ xấu là con có tội với tía. Bền tò mò, hỏi: Tía mua cặp bảo kiếm nầy bao nhiêu tiền vậy, tía?

-Cặp bảo kiếm vô giá nầy thuộc về gia đình lão ngư già tên Lê Trọng Nghĩa, ông sống cô độc trong một làng chài hẽo lánh tại một bãi biển ngoài miền Trung. Ông Nghĩa đã già lại là một phế nhân, ông không muốn cặp bảo kiếm nầy mai một nên tặng lại cho tía để tiếp nối sự nghiệp của tiền nhân, kháng chiến chống thực dân Pháp. Nó có giá trị như một ngọn đuốc thiêng của những người thuộc thế hệ Cần Vương, trao lại cho những thế hệ tiếp nối. Bữa nay, tía đi vào vùng đất địch với Tư Kê, chưa biết lành dữ như thế nào. Nếu tía có mệnh hệ gì để hai thanh bảo kiếm nầy mai một là bố đắc tội với ông ấy. Vì vậy, tía trao một trong hai thanh bảo kiếm nầy cho con, coi như là “truyền nhân” của tía. Con hãy sống như thế nào để tía không lỗi đạo với tiền nhân. Con hiểu ý tía rồi chớ?

-Dạ, con hiểu! Bền hỏi: Ông Lê Trọng Nghĩa là người như thế nào vậy, tía?

-Ông Lê Trọng Nghĩa là một đảng viên “ĐẢNG VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI” là một trong những người theo chí sĩ Phạm Hồng Thái tìm cách vượt biên giới sang Xiêm. Khi đến địa phận Xiêm, tất cả mọi người cải trang thành thương nhân Hoa Kiều, xuống tàu buôn của người Anh sang Hồng Kông. Sau đó, dùng đường bộ đến tỉnh Quảng Châu bên Trung Hoa. Tại đây, Phạm Hồng Thái được huấn luyện về đường lối hoạt động cách mạng thanh niên Việt Nam du học lúc bấy giờ. Khi tổ chức “TÂM TÂM XÔ do nhà cách mạng Phan Bội Châu khởi xướng được thành hình. Phạm Hồng Thái cùng Hồ Tùng Mậu, Vũ Hải Thu được tổ chức cử đi Thượng Hải, Hồng Kông, Đông Kinh để tuyên truyền cho tổ chức Tâm Tâm Xã. Nhưng, Hai Rồng ngậm ngùi, kể tiếp: Khi viên toàn quyền MARTIAL MARLIN ở Đông Dương sang Nhật Bổn để yêu cầu trục xuất những phần tử cách mạng. Vì vậy, tổ chức Tâm Tâm Xã chỉ định Phạm Hồng Thái ám sát Toàn Quyền Merlin và phái Lê Hồng Sơn theo trợ giúp.

Bền hỏi:

-Lúc đó ông Lê Trọng Nghĩa đang làm gì và ở đâu?”

Hai Rồng nói:

-Mặc dầu không được ai chỉ định. Nhưng, ông quyết định đi theo Phạm Hồng Thái bí mật yễm trợ. Khi phái đoàn của Merlin trên đường trở về Đông Dương, ghé lại Quảng Châu đêm 18 tháng 6 năm 1924 để dự tiệc tại nhà Victoria, nằm ở phía Bắc thành phố Sa Điện. Phạm Hồng Thái cải trang làm ký giả lọt qua hàng rào an ninh vào được bên trong khách sạn, ném một quả bom giữa bàn tiệc làm một người Pháp và ngoại quốc chết ngay tại chỗ, riêng Toàn Quyền Merlin chỉ bị thương nhẹ. Bom nổ, Phạm Hồng Thái thoát được khỏi khách sạn, chạy về hướng Tây Hòa Khẩu bị bọn lính phòng vệ đuổi theo rất ngặc. Và lúc đó, ông Lê Trọng Nghĩa mới xuất đầu lộ diện, với hai thanh đoản kiếm nầy, ông xông vào truy cản bọn lính phòng vệ để cho Phạm Hồng Thái có thì giờ chạy thoát. Những đường kiếm tuyệt kỹ bí truyền của vùng đất võ Bình Định, được Lê Trọng Nghĩa đem ra chiến đấu quyết liệt. Do hành động bất ngờ, xảy ra quá mau lẹ làm cho cả bọn hoảng hốt, luống cuống chưa kịp phản ứng. Ông Lê Trọng Nghĩa xử dụng song kiếm xuất quỉ, nhập thần, vận dụng hết công lực kết hợp với thần, khí, nhãn pháp tung ra những đoàn thế kiếm vũ bảo, đường kiếm phóng ra như mây cuộn, chém xuống như chim ưng vồ mồi, ánh kiếm loang loáng như rồng bay, phượng vũ từng thây giặc Pháp ngã xuống la liệt, đầu lìa khỏi cổ, tứ chi bị đứt lìa, máu đổ linh láng trên mặt đất. Nhưng rồi, mãnh hổ nan địch quần hồ. Cuối cùng, ông bị giặc bắn gẫy chân phải, ngã quỵ xuống mặt đường. Quần chúng cảm phục bản chất anh hùng của người dũng sĩ đất Việt, đồng loạt ào vô hiện trường, để cho người khác cỗng ông trên lưng chạy thoát.”

Bền ngắt lời, hỏi:

-Còn ông Phạm Hồng Thái có thoát thân được không, tía?

Hai Rồng lắc đâu, nói:

-Khi anh hùng Phạm Hồng Thái chạy đến sông Châu Giang thì cùng đường vì trước mặt có con sông lớn ngăn chận! Ông thà chết không để bị giặc bắt, liền gieo mình xuống dòng sông tuẫn tiết. Để trả thù, sau khi vớt được tử thi, Pháp đem phơi thi hài của ông trên bờ sông mấy ngày, rồi mới giao cho nhà cầm quyền Trung Hoa đem mai táng tại chân đồi Bạch Vân. Năm 1925, Tỉnh trưởng Quảng Đông là Hồ Hán Dân cảm phục sự hy sinh cao cả nầy nên cho cải táng di hài của Phạm Hồng Thái vào khu Hoàng Hoa Cương là nơi an táng 72 nhà liệt sĩ Trung Hoa Dân Quốc vào tháng 3 năm 1925.”

Bền hỏi:

-Sau đó, có khi nào tía gặp lại ông Lê Trọng Nghĩa không?

-Sau khi nhận hai thanh bảo kiếm gia truyền nầy do ông Lê Trọng Nghĩa trao tặng. Ba ngày sau, tía có trở lại mái nhà tranh của ông bên làng chài để từ giã xuôi Nam thì mới hay ông đã treo cổ tự vẫn mà hai cánh tay vẫn còn ôm chặt di ảnh của anh hùng Phạm Hồng Thái vào trong lòng. Dân làng chài vô cùng cảm phục tấm lòng trung nghĩa, đem mai táng thi hài của ông Lê Trọng Nghĩa và lập miếu thờ người anh hùng trung liệt dưới chân đồi, Hai Rồng nói: Hoa tự do phải được tưới bằng máu, không phải đi bằng đầu gối trước quân xâm lược, van xin mà có. Con phải tâm niệm điều nầy.

Nghe tía kể, Bền cảm động, rưng rưng nước mắt, nâng thanh đoản kiếm ngang mày, khấn: “Con là Nguyễn văn Bền, nguyện suốt đời hết lòng vì dân vì nước. Xin tổ tiên chứng giám lời thề của con: sống và chết như anh hùng Phạm Hồng Thái!”

Hai Rồng cởi chiếc áo bà ba, vắt thanh đoản kiếm sau lưng, nai nịt chặc chẽ rồi mặc áo vào, nói:

-Thôi, tới giờ tía phải lên đường rồi, mình đi lên bờ, kẻo họ chờ!

Hai tía con Hai Rồng đi tới bờ kinh Cái Cơ đã thấy mọi người đứng chờ. Duy chỉ có Tư Kê là vắng mặt. Chín Dậu sốt ruột, nói:

-Không biết cái thằng mắc dịch nầy, biến đi đâu mất tiêu rồi cà?

Mười Dần cười, nói:

-“Nó đi từ giã con Ngọ, chớ đi đâu! Chú khéo lo thì thôi!”

Thằng Bền chỉ về phía nhà bếp, nói:

-Tư Kê vác nóp trên vai, đi với cô ngọ tới rồi kìa!

Tư Long đưa hai cái “sà rông” màu đen cho Hai Rồng và Tư Kê mặc vào, trông không khác gì người Miên. Ngọ tinh nghịch lấy lọ chảo thoa lên mặt Tư Kê đen bóng lên, nói:

-Như thế nầy mới là ngụy trang chớ phải không, chú Chín?

Chín Dậu nói:

-Mầy ngụy trang cho nó kiểu nầy, tao thấy nó không giống người Miên mà là giống bọn chà và!

Tư Long nói:

-Mấy đòn bánh tét, cơm vắt gói lá sen, khô cá sặc nướng, mấy trái dừa tươi đã lột vỏ để dưới khoang đủ cho hai người dùng trong hai ngày đường.

Hai Rồng nói:

-Bây giờ chúng tôi lên đường là vừa, quay sang Tư Kê, bảo: Thôi, đi cháu Tư Kê!

Tư Kê quay đầu lại, nhìn thằng Bền, nói:

-Khi nào trở về, nhớ dạy em vài chiêu nghe, sư phụ!

Bền nói:

-Được rồi, đi đường nhớ cẩn thận, đừng để người ta phát hiện nghe, Tư Kê.

Cả hai từ giã mọi người, rồi bước chiếc xuồng ba lá được ngụy trang thành xuồng giăng câu, có mui lợp hình mái nhà, thấp lè tè với đầy đủ phụ tùng của dân sống về nghề hạ bạc như: lưới chài, cần câu, vó cá…Hai Rồng nhổ sào rời bến, bơi đằng lái, còn Tư Kê bơi đằng mũi. Thằng Bền gọi vói theo:

-Tía với Tư Kê bảo trọng nghe!

Sau khi Hai Rồng và Tư Kê rời bến nước, Bền gọi các anh em lực điền ra sân tiếp tục luyện võ nghệ. Thu Hương và các cô thanh nữ đã có mặt trên sân tập từ lúc nào rồi. Vợ chồng ông Bá hộ Bảnh đứng trong nhà nhìn ra sân xem con gái và Bền dạy võ thuật. Ông Bá hộ Bảnh bất ngờ, hỏi vợ:

-Vợ chồng mình không có con trai nói dõi. Tôi thấy cháu Bền thiệt thà, trung hậu, ngay thẳng. Tôi muốn nhận cháu Bền làm dưỡng tử, bà nghĩ sao?

Bà bá hộ cười, nói:

-Tôi cũng có ý nghĩ nầy chưa kịp nói ra, ông đã nói trước rồi! Nhưng, tôi chỉ e cháu Bền không ưng thôi!

Bá hộ Bảnh nói:

-Hay là vợ chồng mình bàn trước với chú Tư Long xem sao đã. Coi ý kiến chú như thế nào, rồi quyết định sau cũng không muộn.

-Ừa, vậy cũng được!

oOo

Nhờ con nước đang lớn, không đầy một giờ sau, cả hai vượt qua khỏi cột mốc biên giới. Càng bơi xuồng vào sâu bên trong lãnh thổ của Miên, thượng nguồn của con sông Stung Svay Riêng hẹp dần và hoang vắng; thỉnh thoảng, mới bắt gặp một vài căn nhà sàn của đồng bào Miên với những hàng cây thốt lốt mọc thẳng tắp trên bờ sông.

Bỗng Tư Kê lấy tay chỉ về phía trước, bên phải dòng sông, nói:

-Chú Hai có thấy rặng cây thốt lốt phía xa xa, dọc theo bờ sông không?

-Chú thấy rồi, cháu! Hai Rồng nói.

-Đó là một cái làng khá đông dân cư sống về nghề nông. Qua khỏi cái làng nầy la sắp sửa vượt qua trại của Thạch Sum, nằm đối diện bên kia sông. Chú cháu mình phải cẩn thận nghe, chú Hai!

Hai Rồng trấn an, nói:

-Ừ, cháu yên tâm đi! Bình tĩnh, không việc gì phải lo!

Khoảng hơn nửa giờ sau, khi xuồng vượt qua khỏi làng nầy. Tư Kê báo động:

-Sắp tới trại của Thạch Sum rồi! Chú Hai nhìn bên kia bờ sông đối diện với làng nầy là trại của đảng cướp Thạch Sum đó!

Hai Rồng chỉ thấy mấy dãy nhà san, nhô lên bờ tường đất cao trên vài ba thước, bao bọc chung quanh trại dùng để ngăn chận lũ lụt hơn là bảo vệ an ninh. Một cái cầu tàu bằng gỗ ván rất bề thế, từ bờ sông chạy thằng vào cổng ra vào doanh trại, được đóng kín bằng bởi hai cánh cửa bằng những thanh gỗ tròn, kết chặc lại với nhau rất kiên cố. Dưới dạ cầu và dọc theo bờ sông cỏ lát và phi lau mọc tràn bờ.

Hai Rồng và Tư Kê tiếp tục bơi xuồng vượt qua khỏi trại một khoảng khá xa, rồi tấp xuồng vào mấy gốc bần cành lá sum sê bên rặng dừa nước, chia nhau mấy vắt cơm nắm ăn đở đói lòng. Tư Kê hỏi:

-Chú Hai biết ai vắt cơm nắm nầy cho chú cháu mình không? Không đợi Hai Rồng trả lời, Tư Kê nói luôn: Con Ngọ nó tự làm lấy đó! Sao, chú Hai ăn ngon không?

-Ừ, ngon lắm! Mấy nắm cơm vắt nầy, chẳng những giúp cho chú cháu mình đở đói lòng mà còn gói ghém tình thân ái và sự quan tâm của Ngọ dành cho cháu đó, đúng không?

Tư Kê khoái chí cười ngắc nghẻo, nói:

-Dạ, đúng quá xá đi chớ!

-Bao giờ cháu định cưới cô Ngọ, nhớ báo cho chú Hai biết nghe!

-Dạ, chờ khi có bằng khoán đất trong tay, tự mình làm chủ đất dai của mình, khỏi phải đong lúa ruộng như hồi đó là cháu xin hỏi cưới Ngọ làm vợ, Tư Kê nói: Thiệt không ai có thể ngờ rằng, ông Bá hộ Bảnh tốt quá đối với hạng tá điền tay lấm, chân như thế nầy, phải không chú Hai?

-Cháu nói đúng đó! Đối với những hạng đại địa chủ vùng đồng bằng sông Cửu Long, ít có người sớm giác ngộ như ông Bá hộ Bảnh.

-Hồi nãy, chú Hai có thấy cái lạch nước chảy bên hông trại không? Bận về, mình bơi xuồng theo cái lạch nước nầy, rồi dùng sào tre chống xuồng băng đồng trở về kinh Cái Cơ, Tư Kê nói: Với lại, hai bên bờ cái lạch nước, cây cỏ mọc um tùm, mình chống xuồng men theo cái lạch nước có trời mà thấy.

Hai Rồng nói:

-Thôi, cháu đi ra đằng mũi xuồng, chú ngồi đằng lái, móc mồi vào lưỡi câu, thả xuống nước, giả vờ như đi câu để không ai nghi ngờ!

oOo

Đến xế chiều, có một chiếc ghe ngo khá lớn từ Svay Riêng chèo nước ngược hướng về trại. Từ lâu, chiếc nghe ngo của đồng bào Miên là hình ảnh đại diện chop hum sóc, tượng trưng cho sự no ấm. Từ phía xa, Tư Kê đã nhìn thấy rõ cái đầu rồng cao nghệu nổi trên mặt nước. Những phu chèo ngồi dàn hai bên mạn ghe ngo, vung mái chèo đều đặn, chiếc ghe ngo rẻ nước, lướt tới nhanh chóng.

Thoáng thấy người đàn ông, tóc húi cao, đôi mắt long lên rất dữ tợn, cổ đeo vòng cà tha, bên bằng chỉ ngũ sắc và mấy cái nanh heo rừng to bằng ngón tay cái, cong vút treo lung lẳng trước bộ ngực để trần, lộ nước da đen bóng, làm nổi bật bắp thịt ở cánh tay, vai ngực nổi cuồn cuộn như thừng chảo. Hắn vận một cái “sà rông” màu sắc sặc sỡ, ngồi đường bệ trên cái đôn bằng gỗ, đặt chính giữa chiếc ghe ngo. Một gia nhân đứng phía sau, tay cầm một cài lộng màu vàng đứng hầu.

Vừa thấy chiếc ghe ngo lướt tới, Tư Kê lật đật đứng dậy, chấp hai tay trước ngực, rồi gập mình chào một cách kính cẩn, tung hô:

-Krap tul Sana! (Kính chào nguyên soái!)

Thạch Sum ngoáy đầu lại, nhìn Tư Kê rồi gật đầu chào lại, có vẻ rất hài lòng. Chờ cho ghe ngo đi một khoảng khá xa, Tư Kê ôm bụng cười, hỏi:

-Sao, chú Hai thấy cháu đóng kịch có nghề không?

-Cháu vờ cũng giỏi lắm, Hai Rồng khen: Nói tiếng Miên như người bản xứ!

-Cháu học lóm được vài câu tiếng Miên, trong thời gian làm nô dịch cho bọn cướp ở trong trại.

Hai Rồng ngồi trầm ngâm, suy nghĩ kế hoạch đột nhập doanh trại đêm nay, rồi nói với Tư Kê:

-Chờ đến nửa đêm, mình bơi xuồng quay trở lại. Khi gần đến cầu tàu, chu sẽ lặn xuống nước, bơi vào bờ để tìm cách đột nhập vào trại. Cháu bơi xuồng đến đầu cái lạch nước, cắm sào trong buội rậm, chờ chú Hai.

Tư Kê đưa ý kiến:

-Thôi, khỏi đi chú Hai, cứ chờ tới khuya là chú cháu mình cứ bơi xuồng vô thẳng cái lạch nước. Dấu xuồng trong đám lau sậy, rồi tìm cách, leo qua bờ đất vào trong doanh trại. Cháu hướng dẫn luồn sâu vào trong trại, không sợ bị phát hiện.

-Nhưng, nếu bị bọn cướp canh gác phát hiện thì sao?

-Cháu đã ở trong trại nầy hơn 3 tháng rồi, rất hiểu rõ lề lối sinh hoạt và thói quen của bọn cướp, cả ban ngày lẫn ban đêm, chẳng có ma nào canh gác cả.

Nghe Tư Kê nói, Hai Rồng vẫn còn ngờ vực, hỏi:

-Rộng rộng lớn, bề thế như vầy mà không có người canh gác ngày đêm mới là lạ. Nếu như bị quân lính của chính phủ tấn công bất ngờ làm sao trở tay cho kịp?

Tư Kê giải thích:

-Theo chỗ cháu biết, dân địa phương sống dọc theo bờ sông và dọc theo con đường số 1 từ Prêk Khsay, qua thị trấn Svay Riêng đến tận Chipu, họ tôn xưng Thạch Sum là Sana như một vị cứu tinh của người nghèo, giàu lòng nghĩa hiệp, chuyên đánh cướp của bọn nhà giàu bất nhân, bọn cường hào ác bá để giúp đở người nghèo; vả lại, võ nghệ của Thạch Sum rất cao cường, bộ hạ thiện chiến. Vậy, còn có ai dám vào hang hùm vuốt râu cọp đâu, chú Hai?

Hai Rồng nói:

-Theo chú biết, thông thường sào huyệt của các đảng cướp dọc theo biên giới Việt – Miên, thường dựa vào địa thế núi non hiểm trở hoặc thành lũy kiên cố để dễ bề phòng thủ . Trường hợp của đảng cướp Thạch Sum là một ngoại lệ: dựa vào lòng dân để bảo vệ họ. Như vậy, càng dễ cho chúng ta hành động.

Tư Kê nói:

-Thôi, bây giờ chú cháu mình thay phiên ngủ, chờ nửa đêm thức dậy đột nhập vào doanh trại theo kế hoạch.

Hai Rồng nói:

-Được rồi, cháu ngủ trước đi! Chú Hai canh chừng cho!

oOo

Gần nửa đêm, Hai Rồng đánh thức Tư Kê dậy, nhổ sào rồi lặng lẽ bơi xuồng về phía doanh trại. Từ phía xa, đã nhìn thấy ánh lửa trại cháy sáng rực, tiếng nhạc ngũ âm vang lên bập bùng, trầm bổng. Tư Kê nói:

-Có lẽ, giờ nầy bọn cướp đang say sưa trong vũ điệu “Lâm Thol” cổ truyền để chuẩn bị mừng ngày lễ sắp đến.

Lúc nhìn thấy chiếc ghe ngo của Thạch Sum đang neo bên cạnh cầu tàu. Tư Kê nói nhỏ:

-Thạch Sum hiện đang có mặt trong doanh trại đó nghe, chú Hai!

-Sao, cháu sợ phải không?

Tư Kê nói cứng:

-Đi với chú Hai không sợ!

Nói vậy, chớ không phải vậy! Lúc bơi xuồng vượt qua cầu tàu, khi rẻ vào vô cái lạch nước là trống ngực nó đánh lô tô, tay chân luýnh quýnh, mồ hồ lạnh toát ra…Tư Kê rùng mình ớn lạnh, ngó dáo dác. Thình lình, nó nghe có tiếng chân người đi sột soạt trong đám lau say mọc um tùm. Tư Kê líu lưỡi, nói ú ớ:

-Có người đi trong đám lau sậy…chú Hai ơi!

Hai Rồng vói tay qua sau lưng, nắm cán thanh đoản kiếm, sẵn sàng rút ra khỏi vỏ…

—>Chương 10

Những chương trước

This entry was posted in Nguyễn Vĩnh Long Hồ, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.