MÉKONG SÓNG CUỘN PHÙ SA : chương 11 (Nguyễn Vĩnh Long Hồ)

soctrang-1966CHƯƠNG MƯỜI MỘT
CỘI RỄ CỦA HẬN THÙ

Cơm nước xong, mọi người họp mặt đông đủ tại phòng khách nhà cậu Hai Bảnh, nghe Hai Rồng thuyết trình kế hoạch đột kích doanh trại của Thạch Sum. Hai Rồng nói:

-Sau khi đến tận nơi quan sát tình hình thực tế, theo như sự nhận định của tôi: đó là một doanh trại lộ thiên, không giống sào huyệt bí mật như chúng ta tưởng tượng. Cái yếu tố nầy giúp cho chúng ta nhiều điều kiện thuận lợi. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có nhiều bất lợi.”

Mười Dần nói:

-Chú Hai phân tích kỹ phần nầy, cho anh em chúng tôi nắm vững vấn đề, được không, chú Hai?

Hai Rồng nói:

-Thuận lợi cho chúng ta là doanh trại không có người canh gác vào ban ngày lẫn đêm, cũng không có cả lô cốt canh gác. Theo tôi nghĩ, cái bờ tường đất cao khoảng 3 thước chỉ nhằm mục đích chống lũ lụt, hơn là bảo vệ an ninh. Thạch Sum ỷ mình võ nghệ cao cường, bộ hạ thiện chiến, chủ quan khinh địch, không đề cao cảnh giác để doanh trại bỏ ngõ. Điều đó giúp cho kế hoạch đột kích vào ban đêm, đạt được yếu tố bất ngờ mà không sợ bị phát hiện, nắm chắc phần thắng lợi. Nhưng, bất lợi cho chúng ta là doanh trại của Thạch Sum dựa vào lòng dân bảo vệ, cái bất lợi là ở chỗ đó. Đối với đồng bào Miên quanh vùng, Thạch Sum là một vị anh hùng dân tộc, một loại anh hùng Lương Sơn Bạc chuyên đánh cướp bọn nhà giàu bất nhân, giúp đở người nghèo. Nếu cuộc đột kích bất ngờ xảy ra, dân chúng bên kia con sông Stưng Svay Riêng là con rạch Long Khốt nối dài, sẽ bơi xuồng qua tiếp cứu, giải vây cho bọn cướp là cái chắc. Chừng đó, nếu chúng ta bắt buộc phải chống trả quyết liệt với họ, chính điều nầy sẽ khoét sâu thêm hận thù chủng tộc Việt – Miên.

Mười Dần quả quyết, nói:

-Tôi nghĩ cứ triệt hạ tên đầu đảng Thạch Sum là giải quyết xong mọi chuyện về biên giới. Nếu như đồng bào Miên có muốn trả thù cho Thạch Sum, cứ việc kéo qua đây. Ta tổ chức phòng thủ chu đáo, cẩn mật thì còn sợ gì ai chớ? Ông Bảnh cho tôi mượn khẩu súng trường mousqueton và một băng đạn. Tui đi với chú Hai qua bên đó, chỉ cần một viên đạn là tui kết liễu đời hắn. Bắn sẻ là nghề của tui hồi trong quân đội viễn chinh Pháp. Tui không tin cái đầu của Thạch Sum chịu nỗi sức công phá của súng đạn tối tân bây giờ! Chú Hai nghĩ sao?

Hai Rồng nói:

-Giải quyết Thạch Sum chỉ là phần ngọn của vấn đề, cội rễ của vấn đề là làm thế nào hóa giải hận thù giữa hai dân tộc Việt – Miên để hòa bình sớm vãn hồi vùng biên giới phía Tây Nam, có lợi cho công cuộc kháng chiến chống thực Pháp sau nầy. Nếu có bắn chết Thạch Sum, chỉ chặt đi được phần ngọn, cái gốc rễ của thù hận vẫn còn tồn tại, nó sẽ đâm chồi khác, một Thạch Sum khác sẽ tiếp tục gây bất ổn vùng biên giới, cho nên bắn chết Thạch Sum là hạ sách. Thượng sách là làm thế nào thuyết phục được Thạch Sum hóa giải thù hận giữa hai dân tộc và chịu chung sống hòa bình với với đồng bào ta sống dọc theo biên giới. Cho nên đột kích doanh trại của Thạch Sum là chuyện bất đắc dĩ.

Sáu Trí nói:

-Tôi hoàn toàn đồng ý với anh Hai. Nhưng, làm thế nào thuyết phục được Thạch Sum chịu hóa giải hận thù, đó mới là cái tuyệt khó, trừ phi anh Hai đánh bại được hắn, rồi tùy cơ ứng biến đổi thù thành bạn thì may ra.

Cậu Hai Bảnh nói:

-Theo ý tôi, kế hoạch đột kích doanh trại Thạch Sum là phải giải quyết song hành phần ngọn lẫn gốc cùng một lúc. Nếu như, gặp phải tình huống xấu, phải triệt hạ Thạch Sum trước; vì vậy, tôi đề nghị để anh Năm Dần theo hổ trợ chú Hai. Tôi sẽ giao khẩu súng mousqueton cho anh Năm Dần sử dụng, chỉ nổ súng trong trường hợp bất khả kháng mà thôi! Ý chú Hai như thế nào?

Hai Rồng nói:

-Tôi đồng ý với phương sách nầy với điều kiện, khi nào tôi bị Thạch Sum đánh bại, anh Năm Dần tùy nghi hành động hành động và cố gắng đưa tất cả anh em trở về an toàn, hoàn chỉnh kế hoạch phòng thủ biên giới, sẵn sàng chống trả các cuộc tấn công bất thần của đồng bào Miên ào qua biên giới trả thù cho anh hùng của họ bị bức tử. Anh Năm Dần là người có nhiều kinh nghiệm chiến trường, nhân tuyển thích hợp nhứt đứng ra cán đáng việc nầy.”

Cậu Hai Bảnh nói:

-Coi như chúng ta thông qua phần nầy. Bây giờ, chú Hai có thể trình bày kế koạch đột kích sào huyệt của Thạch Sum cho mọi người thông suốt, coi có thể giúp được gì cho chú Hai hoàn thành nhiệm vụ.

Hai Rồng cầm cục phấn trắng vẽ trên tấm bảng đen, sơ đồ doanh trại của Thạch Sum cho mọi người khái niệm tổng quát về doanh trại nầy, rồi trình bày:

-Tôi chọn ngày 14 tháng 4 là ngày bắt đầu lễ hội Chol – Chnam – Thamay để đột kích sào huyệt của Thạch Sum, đây không phải hành động quang minh chánh đại. Tôi chọn ngày nầy vì muốn tiết kiệm xương máu của các anh em. Có hai con đường tiến sát doanh trại của Thạch Sum: bơi xuồng theo đường sông và chống xuồng băng qua đồng lầy. Theo tôi, con đường băng qua đồng lầy sẽ đạt được yếu tố bất ngờ, tuy nhiên tốc độ di chuyển sẽ chậm đi một chút và vất vả hơn. Ý các anh như thế nào?

-Chọn con đường chống xuồng băng qua đồng lầy là hợp lý nhứt, – Mười Dần hỏi: Chú Hai ước tính từ kinh Cái Cơ đến sào huyệt của Thạch Sum bao nhiêu cây số. Nếu chống xuồng băng đồng phải mất bao nhiêu tiếng đồng hồ?

-Tôi ước tính từ 7 đến 8 cây số là cùng, nếu chống xuồng theo cái lạch nước băng qua đồng khoảng 5 tiếng. Vì vậy, khi trời vừa chạng vạng tối là chúng ta xuất phát sẽ tới nơi trước nửa đêm, chừng đó cũng đủ thì giờ cho chúng ta hành động.

Sáu Trí hỏi:

-Anh Hai cho tôi biết, cần bao nhiêu nhân lực?

Hai Rồng nói:

-Tôi chỉ cần khoảng 30 anh lực điền. Tôi và cháu Bền đi mở đường, còn anh Mười Dần và Tư Kê đi đoạn hậu. Cứ ba người ngồi trên một chiếc xuồng, di chuyển theo hàng dọc. Khi đến doanh trại, chia ra làm hai cánh quân: cánh thứ nhứt sẽ do cháu Tư Kê và Bền dẫn 20 anh em cắm chông dọc theo bờ sông, rồi tìm chỗ ẩn núp. Khi nào thấy doanh trại phát hỏa, lập tức đốt cầu tàu.

Bền hỏi:

-Sau khi phóng hỏa đốt cầu tàu, rồi tụi con sẽ xông vào trong doanh trại tiếp chiến với tía, phải không?

Hai Rồng nói:

-Không cần! Nhiệm vụ toán của con là chận đánh tiếp viện từ bên kia sông tràn qua. Thạch Sum rất được lòng dân, khi thấy doanh trại phát hỏa, dân chúng sẽ dùng xuồng vượt qua sông chữa cháy.

Bền gật đầu, nói:

-Bây giờ, con hiểu rồi! Khi cầu bị đốt cháy, bắt buộc họ phải nhảy xuống nước, lội vào bờ sẽ vướng chông. Tụi con sẽ chận đứng họ tại bờ sông để cho tía có thời giờ thanh toán mục tiêu bên trong, phải không tía?

-Chính xác như vậy đó! – Hai Rồng quay sang Năm Dậu, nói: Việc bên ngoài, nhờ anh Năm Dậu giám sát dùm! Còn tôi và 10 anh lực điền, mang theo mỗi người vài bó đuốc tẩm dầu lửa vượt tường đất vào bên trong trại. Cứ 5 người phụ trách đốt một dãy nhà. Tôi phóng hỏa đốt dãy nhà chính giữa. Nếu như, ai thấy Thạch Sum xuất hiện, hãy tránh xa ra, vì anh em không phải là đối thủ của hắn. Riêng cá nhân tôi cũng muốn đấu một trận tranh tài cao thấp để giải quyết cội rễ của hận thù chũng tộc Việt – Miên! Tôi cũng nhắc lại, nếu có giao tranh cố gắng tránh đổ máu.

Tư Long hỏi:

-Chú Hai cần những phương tiện gì và những vật dụng cần thiết gì để phục vụ cho cuộc đột kích sắp tới?

Hai Rồng nói:

-Nhờ anh Tư chuẩn bị cho tôi: 12 chiếc xuồng ba lá để di chuyễn, cứ ba người ngồi trên một xuồng, 40 lít xăng hoặc dầu lửa, mỗi người 5, 6 bó đuốc. Dùng tre hoặc tầm vông, chẻ ra vót nhọn để làm chông cài dọc bờ sông.

-Chú Tư cho biết kích thước và số lượng để tôi lo. Tư Long hỏi.

-Bề dài tối thiểu 8 tấc và khoảng 500 cây chông vót nhọn cũng tạm đủ, – Hai Rồng nói- Đây chỉ là kế hoạch sơ khởi của tôi! Nếu các anh em có ý kiến gì hay sẽ bổ sung vào buổi họp lần sau.

Sáu Trí hỏi:

-Kế hoạch của anh Hai đưa ra, thiên về giải quyết phần ngọn là Thạch Sum và bộ hạ của hắn. Còn phần gốc là cội rễ hận thù chủng tộc giữa người Việt và Miên làm sao giải quyết? Nếu như để cho anh Năm Dần giải quyết Thạch Sum theo cách của ảnh, có ảnh hưởng gì đến sách lược kháng chiến chống Thực dân Pháp sau nầy?

Hai Rồng nói:

-Sau khi tổ chức kháng chiến của lãnh tụ NGUYỄN HỮU HUÂN bị tan rã, phong trào chống Pháp đáng kể nhứt kế tiếp hoạt động vùng đất từ Mỹ Tho về Châu Đốc là do ĐỨC BỔN SƯ NGÔ LỢI lãnh đạo, với sự tham gia đông đảo của tín đồ BỬU SƠN KỲ HƯƠNG và quần chúng. Trong đó hai vật Ong và Khả đã huy động dân chúng tại vùng Thuộc Nhiêu, Cai lậy, Tân Hiệp vào năm 1878, điều khiển cuộc khởi nghĩa tại Mỹ Tho. Hai vị nầy về sau bị Trần Bá Lộc vây bắt. Ngày 29 tháng 5 năm 1878, Trần Bá Lộc ra bố cáo rằng: Ai bắt được ông Năm Thiếp – một bí danh khác của Đức Bổn Sư Ngô Lợi – thì được thưởng 1.000 quan tiền. Nhưng, nhờ vào tinh thần đoàn kết keo sơn giữa tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương và quần chúng bao che, không tiết lộ hành tung của Đức Bổn Sư và tổ chức kháng chiến làm thực dân Pháp bó tay, không thể dò ra manh mối. Ở đây, tôi muốn nói rõ là Đức Bổn Sư có tầm nhìn rất chiến lược là liên kết với kháng chiến Cao Miên để tăng cường nổ lực chống Pháp. Tình hình chánh trị tại Cao Miên vào thời kỳ đó, vương triều nhu nhược. Nhưng, có hai vị hoàng thân là ACHAR SOA và SI -VATHA tổ chức khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Sau khi Achar Soa thất bại, Đức Bổn Sư cùng với hoàng thân Si – Vatha hợp tác với nhau. Sự liên kết nầy được thành hình làm giảm đi tinh thần bài Việt của người Miên rất nhiều. Lực lượng kháng chiến người Miên do hoàng thân Si – Vatha được dân làng An Định giúp đở tận tình và hoạt động kháng chiến của họ tại vùng biên giới Miên – Việt rất hiệu quả và đạt nhiều thắng lợi. Tháng 4/ 1885, quân Si – Vatha tấn công tỉnh Treang và Takeo. Vào tháng 5 năm 1885, liên quân Việt – Miên đánh chiếm đồn biên giới của Pháp tại Phú Thạnh với chiến thuật tấn công chớp nhoáng. Đại úy Ferussec không dám phản công mà phải chờ 200 viện binh của Thiếu tá Goulias mới tái chiếm được đồn Phú Thạnh.

Sáu Trí hỏi tiếp:

-Liên minh kháng chiến Việt- Miên còn mở các cuộc tấn công nào khác không, anh Hai?”

-Sự liên minh kháng chiến chống thực dân Pháp của hai dân tộc Việt – Miên lan rộng sang đến vùng Hà Tiên. Với 400 quân tấn công tỉnh Hà Tiên, đốt chợ và nhiều tên Việt gian làm chó săn cho thực dân Pháp đã bị tiêu diệt, làm tên chủ tỉnh Châu Đốc tức giận, mở cuộc hành quân vào làng An Định, bắt hết dân chúng điều tra lý lịch, mới phát hiện quê quán của họ, hầu hết ở miền lục tỉnh quy tụ về đây. Tên Chủ Tỉnh Châu Đốc nhận định rằng: “158 dân đinh là dân bất hảo, chống đối sự khai hóa của người Pháp từ tứ xứ gom về đây, tất cả đều theo đạo Phật, nhưng là Phật tử nhiệt tâm đến mức cuồng tín. Họ làm ra vẻ chí thú làm ăn, nhưng khi gặp cơ hội là khởi loạn nữa, – Hai Rồng nói: Ngoài ra, các báo cáo khác của Pháp cho rằng: liên quân Việt – Miên hợp tác khá chặt chẽ, đôi bên tự do đi lại như một nước. Quân khởi loạn Cao Miên bất cứ lúc nào cũng có thể kéo hằng trăm người, trang bị súng đạn, gươm giáo, có khi họ cưỡi ngựa…Vì vậy, cuối tháng 5 năm 1887. Pháp quyết định tiêu diệt căn cứ An Định. Một cuộc hành quân qui mô bắt đầu từ 13 đến 29 / 5/ 1887, do một sĩ quan Pháp cưỡi voi chỉ huy, tấn công vào làng An Định, đốt phá chùa chiềng, nhà cửa, tàn phá ruộng rẫy. Kết quả cuộc hành quân đã bắt được 1. 990 người làng An Định đều là dân tứ xứ từ Sài Gòn, Gia Định và Lục tỉnh tới ở. Từ đó làng An Định bị giải tán, sát nhập vào làng Ba Chúc. Năm 1890, Đức Bổn Sư Ngô Lợi qua đời tại Núi Két, vùng Thất Sơn.

Cậu Hai Bảnh nói:

-Việc nầy, tôi có nghe cha kể lại rằng: Giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương được Đức Bổn Sư Ngô Lợi liên kết với người Cao Miên thống nhứt chiến tuyến chống thực dân Pháp. Đó là một sáng kiến độc đáo, đi sát với hoàn cảnh thực tiễn tại miền Tây Nam Bộ cùng với phong trào Cần Vương. Cụ Phan Bội Châu đã đánh giá đúng mức phong trào Cần Vương của Miền Nam; vì vậy vào năm 1903, Cụ Phan đích thân đã vào tận Thất Sơn quan sát.

Hai Rồng đưa ra nhận xét:

-Nếu đem so sánh hai tổ chức kháng chiến của Cố Quản Trần Văn Thành và Đức Bổn Sư Ngô Lợi, tôi thấy hai vị lãnh tụ nầy áp dụng chiến thuật khác nhau: Cố Quản Trần Văn Thành lập chiến khu cố thủ, từ đó làm bàn đạp phóng ra các cuộc hành quân để mở rộng chiến khu như vết dầu loang. Còn Đức Bổn Sư có tầm nhìn chiến lược là liên kết với kháng chiến Cao Miên thống nhứt chiến tuyến, cùng nhau chống kẻ thù chung. Sau nầy, tôi đã nghiệm ra rằng: đó nguyên tắc thỏa hiệp với kháng chiến Cao Miên để thống nhứt chiến tuyến, tạo điều kiện thuận lợi, hướng vào mục đích chung là tiêu diệt quân Pháp! Đây là một bài học lịch sử mà Đức Bổn Sư Ngô Lợi đã thực hiện từ cuối thế 19, đáng cho chúng ta rút kinh nghiệm để giải quyết những rắc rối dọc theo biên giới Việt – Miên.”

-Bây giờ tôi hiểu ý định của chú Hai, – Năm Dần nói- nhưng có một điều tôi thật sự chưa hiểu, lý do tại sao Thạch Sum có tinh thần bài Việt cao độ như vậy?

Câu Hai Bảnh nói:

-Một phần vùng đất nầy do ông bà của tôi khẩn hoang lập từ đầu thế kỷ 20. Tôi mở mắt chào đời ở đây và có nghiên cứu nhiều tài liệu lịch sử về sự hình thành vùng biên giới phía Tây Nam. Tiện đây, tôi xin tóm tắt một vài chi tiết quan trọng trong lịch sử cận đại như sau: “”Ngày 01 tháng 6 năm 1862 (năm Nhâm Tuất). Trên soái hạm DUPERRÉ, Chánh sứ Phan Thanh Giản nghị hội với Bonard. Sau cuộc thương lượng gay go với quân cướp nước thất bại, ông hội ý với Phó sứ Lâm Duy Hiệp và cuối cùng Chánh sứ Phan Thanh Giản bất đắc dĩ phải đặt bút ký HÒA ƯỚC NHÂM TUẤT, nhường 3 tỉnh miền Đông cho Pháp: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường. Tại Cao Miên, vua Norodom nhận sự bảo hộ của Pháp để bảo vệ ngai vàng vào ngày 11 tháng 8 năm 1863, đã khiến một số hoàng thân, quốc thích bất mãn, rút vào rừng núi kháng chiến. Đến năm 1867, Pháp chiếm luôn ba tỉnh Miền Tây: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên và buộc Triều đình Huế ký Hiệp ước Giáp Tuất 1874, nhượng hẳn 6 tỉnh miền Nam cho Pháp làm thuộc địa. Pháp thành lập thêm 2 tỉnh Tây Ninh và Đồng Tháp năm 1867. Do sự thương lượng giữa cố vấn Pháp bảo hộ vua Norodom và đại diện chánh quyền Thực dân Pháp tại miền Nam, một công ước về biên giới giữa Nam Kỳ và Miên được ký vào ngày 15 tháng 7 năm 1873, cụ thể hóa bằng những cột mốc biên giới. Các vùng đất dọc theo bờ biển đặt dưới quyền cai trị của Mạc Thiên Tứ từ giữa thế kỷ thứ 18 bị thu hẹp lại. Các thành phố Kampot và Kompong Som được giao lại cho Miên làm hải cảng, bù lại đảo Phú Quốc được sát nhập vào Nam Kỳ.”

Năm Dần nói:

-Như vậy, vấn đề biên giới đã ổn định rồi. Nhưng, tại sao người Miên vẫn còn giữ tâm lý “bài Việt” làm gì?

Hai Rồng nói:

-Theo tôi nghĩ cội rễ của sự hận thù chủng tộc Việt – Miên là do vấn đề “kinh tế” mà ra. Đồng bằng sông Cửu Long trở thành khu vực trù phú và giàu có. Trong khi đó, khu vực chung quanh Biển Hồ vẫn còn nghèo xơ xác. Nhìn vào cộng đồng người Việt tại Cao Miên nhờ vào sự cần cù, siêng năng, chăm chỉ làm ăn nên có mức sống và trình độ văn hóa cao hơn dân bản xứ. Sự kiện nầy làm dân Miên ganh tỵ. Nếu như, người dân Việt và dân Miên có mức sống ngang nhau thì tâm lý bài Việt đã không bùng nổ và các vụ người Miên bất thần nổi dậy “Cáp Duồn” tại các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Cần Thơ… đã không xảy ra.

-Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm nầy của chú Hai, – cậu Hai Bảnh nói- Thôi, buổi họp xin tạm ngưng, để chú Hai về nghỉ ngơi sớm, vất vả cả ngày rồi!

Vừa ra khỏi nhà cậu Hai Bảnh, Tư Long vỗ vai Hai Rồng, thân mật nói:

-Tôi mời chú Hai lại đằng nhà sàn uống trà. Nói thiệt, tôi có chuyện nầy muốn hỏi riêng chú Hai!

Hai Rồng hiểu ý, quay sang Bền đang đi bên cạnh, nói:

-Bền à, con đi xuống ghe trước, đừng chờ tía! Chút nữa tía về!

oOo

Trên căn nhà sàn vắng vẻ, cả hai ngồi đối ẩm. Hai Rồng hỏi:

-Anh Tư có chuyện gì cứ nói thẳng, đừng khách sáo nghe!

-Chuyện là như vầy, – Tư Long ngập ngừng, nói- Chú Hai biết gia cảnh của cậu Hai Bảnh rồi đó, chỉ có một cây một trái mà lại là con gái. Ông bà Bảnh nhờ tôi hỏi ý chú Hai là muốn nhận cháu Bền làm dưỡng tử. Sau khi giải quyết vấn đề biên giới, gia đình sẽ đưa cháu Bền về Sài Gòn chung sống. Cậu Hai Bảnh hứa sẽ cho cháu Bền học hành tới nơi, tới chốn để sau nầy giúp dân, giúp nước theo ý nguyện của cháu. Chú Hai nghĩ sao, xin cho biết ý kiến?

-Việc nầy không tùy thuộc ở tôi mà tùy cháu Bền, – Hai Rồng nói- Ông bà Bảnh quả có con mắt biết nhìn người, cháu Bền là một người rất coi trọng tình nghĩa, hoài bảo lớn. Nếu được ông bà Bảnh thương tình nhận cháu làm dưỡng tử, tôi cũng yên lòng. Nhưng tôi e rằng, nó sống trong cảnh nhà cao cửa rộng như một cái lồng son chật chội, không dễ gì giữ được một con đại bàng. Cháu Bền, theo tôi hiểu, nó không tham danh, hám lợi, cháu đã quyết chí đi theo con đường của tôi, xã thân vì đại cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Cháu Bền tuy còn trẻ, nhưng có thái độ và mẫu mực của một trượng phu quân tử: Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất.”

Tư Long nói:

-Nếu chú Hai cho phép, tôi hỏi ý cháu Bền xem sao.

Hai Rồng nói:

-Anh Tư hỏi đột ngột quá, làm nó khó trả lời! Phải cần có thời gian cho nó suy nghĩ. Vì vậy, sau khi giải quyết vấn đề biên giới với Thạch Sum, tôi chèo ghe trở lại cù lao Ông Chưởng một mình để cháu Bền ở lại gia trang cậu Hai Bảnh với anh Tư. Cứ coi như là thời gian thử thách ý chí của nó. Biết đâu cháu sẽ đổi ý định!

-Như vậy thì hay quá! – Tư Long mừng rỡ, nói- Chú Hai ngồi đây uống nước trà, tôi xuống ghe gặp cháu Bền trước! Hỏi ý cháu xem sao cái đã!

Tư Long vừa bước ra khỏi ngưỡng cửa gặp Sáu Trí, cập nách chai rượu Martel, dẫn theo Mười Dần lơn tơn đi tới. Sáu Trí hỏi:

-Tối hù rồi, đi đâu vậy, cha nội!

Tư Long nói:

-Tôi đi xuống ghe, gặp cháu Bền hỏi chút chuyện mà! Còn hai chú đi tìm tôi có việc gì không?

Sáu Trí nói:

-Cậu Hai Bảnh tặng cho anh em tụi mình một chai rượu Tây, nhậu chơi cho đở buồn. Sao, có gì làm mồi không, anh Tư?”

-Còn mấy con khô sặc và khô cá lóc treo trên dàn bếp! Tự túc nhóm lửa, nướng khô làm mồi nhậu, một chút nữa tui trở lại!” – Tư Long nói.

oOo

Đằng sau chiếc ghe cà dom, giờ nầy còn ánh lửa chập chờn. Tư Long đứng trên bờ rạch, hỏi:

-Đang làm gì đó hả, Bền?

-Dạ, con đang nhúm lửa nấu cháo khuya cho tía! Ông Tư xuống đây nói chuyện chơi!

-Được, ông Tư xuống liền!

Bền đang thò tay xuống rạch, múc nước cho vào cái nồi đồng vo gạo, xong rồi đặt lên cái cà ràng. Tư Long giúp chất thêm củi tràm vào cái cà ràng. Những thanh củi dần dần đỏ hồng lên, phát ra những tiếng nổ lách tách. Bền lấy cái ống tre, thổi một hơi dài vô mấy thanh củi tràm đang cháy, ngọn lửa đỏ bùng lên, tỏa sáng ôm lấy đáy nồi đồng…

Bền nói:

-Để con nướng mấy khúc khô lươn cho ông Tư nhậu nghen!

-Còn rượu đế không, Bền? – Tư Long hỏi.

-Dạ, còn chừng một xị! Ông Tư nhậu đở nghen!

Bền vói tay lên mui lấy mấy khúc lươn ướp sả ớt đang hong khô trên dàn bếp, rồi lấy một thanh tre ghim mấy khúc kho lươn vào nhau, đem nướng. Mùi khô lươn bốc lên thơm phức làm Tư Long thèm nhểu nước miếng, hỏi:

-Xị rượu cất ở đâu vậy, Bền?

-Ông Tư thò tay vô khoang, xị rượu con để trên vách, cạnh chỗ nằm của tía!

Tư Long nghiêng đầu vô cửa khoang, vói tay lấy xị rượu. Bền lấy ngay xâu khô lươn còn bốc khói đưa tới trước mặt. Tư Long xé một miếng khô lươn cho vào miệng nhai trệu trạo cho có lệ, xong đưa xị rượu lên môi, ực một cái, nhắm mắt lại để tận hưởng chất men nồng. Tư Long hỏi:

-Bền à, ông Tư có chuyện nầy hỏi cháu! Mong cháu trả lời thành thật với lòng minh nghen, Bền!

Bền hỏi:

-Chuyện gì có vẻ quan trọng quá vậy, ông Tư?

Tư Long hỏi:

-Ông bà Bá hộ Bảnh muốn nhận cháu làm dưỡng tử, cháu nghĩ sao? Ưng hay không? Nói cho ông Tư biết coi!

Bền hỏi lại ngay:

-Đối với một con người bình thường, khi đã thọ ơn ai thì cái ơn gì lớn nhứt mà suốt đời họ không thể trả nỗi?

Tư Long đáp:

-Ơn cứu tử, phải không Bền?

-Chính xác! -Bền nói- Ông Tư biết rồi, con còn mạng sống trên cõi đời là nhờ tía Hai Rồng, đó là cái ơn cứu tử con luôn ghi tâm, khắc cốt. Nay, con vì ham giàu sang, phú quý mà bỏ tía, đi làm con nuôi một ông bá hộ giàu có. Con sẽ trở thành con người “vô ơn bạc nghĩa” trái với đạo làm người. Thử hỏi, một thanh niên đã có bản chất tồi tệ như vậy, ông bà Bá hộ Bảnh nhận làm dưỡng tử để làm gì, phải không ông Tư?

Tư Long nghe thằng Bền hỏi, cứng họng bèn vỗ đùi một cái đét, nói:

-Đúng! Đúng lắm!…Thiệt cha rồng, con rồng quả không sai!

Bền khều Tư Long, nói nhỏ:

-Ông Tư, cho con nhậu thử một miếng coi!

Tư Long mỉm cười, khuyên:

-Cháu còn trẻ, không nên tập uống rượu! Rượu chè be bét chỉ làm hư người, ích lợi gì, cháu!

Bền nói:

-Con gần 18 tuổi đầu rồi, đâu còn trẻ con nữa. Con nghe các kiện tướng trong làng nhậu nói: “Nam vô tửu, như kỳ vô phong”, bộ ông Tư quên rồi sao?.

Tư Long bất đắc dĩ nói:

-Thôi được, cho cháu uống thử một hớp, cho biết cay đắng mùi đời. Chỉ một hớp thôi nghen!

Bền cầm xị rượu đưa lên miệng, tu một hơi. Rượu vừa nồng vừa cay, trôi qua cổ họng, xuống dạ dày, rồi thấm vô máu làm cả người của nó nóng bừng lên, máu dội ngược lên đầu, mấy sợi gân máu căng lên khiến Bền choáng váng, ngồi bệt xuống ghe thở dốc.

-Uống rượu như vậy, không phải cách, – Tư Long nói- Phải uống từ từ, từng hớp một, rượu đế mà, chớ đâu phải nước lạnh!

Nước trong nồi cháo bắt đầu sôi ùng ục, hơi nước bốc lên đẩy nhẹ cái nắp nồi tưng lên, nước cơm màu trắng đục như sửa, sủi bọt trào ra miệng nồi, nhỏ từng giọt trên than hồng, phát ra những tiếng xèo…xèo như miếng thịt nướng tươm mở trên lửa than. Tư Long vói tay bớt lửa.

Bền nhìn dòng nước chảy, rồi trầm ngâm, nói:

-Lạ quá, sao con có cảm giác là tía và con chia tay tại bến nước nầy, không biết bao giờ gặp lại nữa. Hai thanh đoản kiếm là hai vật bất ly thân của tía, mà tại sao tía tặng lại cho một thanh, gọi là vật kỷ niệm?

Tư Long an ủi:

-Cháu biết không, mây bay ở trên trời, bèo dạt trên sóng nước, hợp nhau lại để rồi tan. Con người cũng vậy, họ gặp nhau ở một khoảng đời nào đó rồi chia tay, mỗi người một hướng đi. Sanh ly, tử biệt là chuyện thường tình của người thế gian. Vậy, cháu đừng bận tâm làm gì.

Bền thắp ngọn đèn bão móc trên cây sào tre. Ánh đèn dầu leo lét, hắt hiu hất cái bóng của Bền lướt chập chờn trên sóng nước. Tiếng cú kêu đêm từ mấy lùm cây bên kia con rạch, nghe buồn man mác.

Bền nói:

-Buồn quá ông Tư ơi! Cho con xin một hớp rượu nữa.

Tư Long nói:

-Được, còn một ít rượu trong chai. Ông cháu mình cưa đôi, rồi đi ngủ là vừa.

Bền cầm chai rượu, nói:

-Nam vô tửu như kỳ vô phong! Vô ông Tư!

Ực xong một hớp rượu còn lại trong chai, Bền lật đật chui vào trong khoang nghe, chun vào nóp, đánh một giấc cho tới sáng bét..

—> Chương 12

Những chương trước

This entry was posted in Nguyễn Vĩnh Long Hồ, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.